Cứu Độ
Cao Phương Kỷ
Cứu Độ là Nguyện Vọng, là Niềm Hy Vọng lớn lao sâu xa nhất của nhân loại. H́nh như có cái ǵ bất ổn, trục trặc, lo âu, dày ṿ tâm trí con người. Sánh với vũ trụ bao la, con người chỉ là hạt cát nhỏ bé; tuy là cây sậy yếu ớt, nhưng lại là “cây sậy biết suy nghĩ”. Suy nghĩ về nguồn gốc, dĩ văng, về thế giới hiện tại đang sinh sống, và về tương lai vô định. Thế giới này, nhân loại đây, cho dầu xinh tươi tốt đẹp, nhưng vẫn c̣n đầy khuyết điểm, bất toàn cần sửa đổi, sửa chữa. Nhất là tội ác vẫn c̣n tràn lan, hoành hành dữ dội. Do đó, muốn sống an vui, con người cảm thấy cần phải được cứu thoát khỏi cảnh lầm than, khổ cực này. V́ khó có thể cứu lấy ḿnh, nên con người đă chạy đến t́m nương ẩn nơi các tôn giáo, để được hướng dẫn trên con đường giải thoát, cứu độ. Trong ĐOẠN I, ta đặt câu hỏi: Tại sao cần cứu độ ? Và các tôn giáo đă đưa ra những giải pháp cứu độ như thế nào ?
TẠI SAO CẦN CỨU ĐỘ?
Mọi người chúng ta cần được cứu độ, v́ sống thiếu hạnh phước về tinh thần và thể xác. Các vị được mệnh danh là “Cứu nhân Độ thế”, các vị Tiên tri, các nhà đạo đức mô tả t́nh trạng hẩm hiu, bất hạnh của kiếp người như sau: Con người ngụp lặn trong Đau khổ. Có bệnh mới cần chữa trị. Do đó, Đau Khổ và Cứu Độ đi đôi với nhau. Căn bịnh tinh thần sinh ra đau khổ, chính là: Tội lỗi! Cho nên muốn được giải thoát khỏi đau khổ th́ phải Tỉnh ngộ. Với một niềm Tin mănh liệt, ta hy vọng sẽ có thể biến đổi cuộc đời và kiếp người thành tốt đẹp hơn.
ĐỜI LÀ BỂ KHỔ
Đau Khổ là sự thật khách quan do thiên nhiên tạo ra, hoặc do chính con người gây ra. Bệnh tật, già nua, chết,... băo lụt, cuồng phong, động đất, cháy, v.v. là những thiên tai, khó có thể chế ngự, hay tránh được. Nhưng vẫn không nhiều và ghê gớm cho bằng những tai nạn và đau khổ do con người làm cho chính ḿnh và cho tha nhân như: chiến tranh, loạn lạc, tù đầy, vi phạm nhân quyền, ly dị, phá thai, bóc lột, trộm cướp, chết đói, v.v. Đôi khi ta đă nông cạn và bất công qui tội cho “ÔngTrời”, cho số kiếp đă gây ra những đau khổ trên. Cuộc chết đói rùng rợn do hạn hán một phần nhỏ, nhưng do nội loạn, cướp bóc của băng đảng một phần lớn. Chiến tranh, thánh chiến giữa các giáo phái, phá thai, li dị v.v phần lớn do tính ích kỉ kiêu ngạo của con người gây ra. Ngay cả đau khổ do thiên tai cũng có thể xoa dịu, giảm bớt đi một phần nào, nhờ ḷng bác ái trợ giúp, an ủi của những vị hảo tâm, khắp thế giới.
Đau Khổ đi liền với Cứu Độ. Trong cảnh nô lệ, tù đày, dân chúng mong mỏi một vị cứu tinh xuất hiện để giải phóng quốc gia, dành lại nền độc lập tự do. Hàng ngàn hàng vạn người lớn trẻ em, “xương bọc da”, ruồi bâu đầy mặt mũi, nằm co quặp chờ chết đói, chết khát..., khát vọng mong đợi ḷng thương xót của nhân loại ra tay cấp cứu.
Kinh nghiệm về Đau Khổ, nhất là những đau khổ tinh thần, không làm ta bi quan, thất vọng. Trái lại, nó khiến ta phải nh́n nhận sự thật phũ phàng về sự bất toàn của thế giới này, và về sự hư hỏng, đồi bại của kiếp làm người cần được sửa chữa, cứu nguy. Muốn bớt khổ, ta phải hoàn thiện bản thân và thay đổi nếp sống. Chính Đau Khổ kêu gào giải phóng nhân lọai khỏi kiếp lầm than. Đau Khổ tạo niềm Tin: v́ tin tưởng mănh liệt rằng: “Sau cơn mưa, trời lại nắng”. Kinh nghiệm Đau Khổ không làm ta nhụt nhuệ khí, nhưng thôi thúc ta, nếu muốn sinh tồn, th́ phải vươn lên. Ta không tự cứu được, th́ nhờ người khác giúp. Nếu là công việc vượt quá khả năng nhân loại, ta cần cầu xin Ơn Trên phù hộ. Bởi đó, ư nghĩa chân thật của Đau Khổ không làm con người nản ḷng, ch́m đắm, nhưng giúp ta vươn tới niềm Tin Siêu Việt (66).
Ư THỨC VỀ TỘI LỖI
Có biết Khổ, mới cần Cứu Khổ. Có biết bịnh, mới cần chữa trị. Thường Đau Khổ là ác quả, ác nghiệp bởi tội lỗi sinh ra. Cho nên, muốn đem lại an vui, hạnh phúc th́ phải giải thoát con người khỏi ṿng nô lệ, xiềng xích của tội lỗi. Thiếu ư thức về tội ác th́ không thể cứu độ được. Ngày nay một số người, nhất là giới trẻ, đă mất ư thức về tội lỗi, không c̣n biết phân biệt điều phải điều trái, cho nên tội ác tràn lan gây đau khổ, tang tóc khắp nơi.
Có tội ác mới cần cứu độ. Tội Ác là một thực tại hiện hữu trong con người và ở chung quanh ta. Ta phải chứng kiến mỗi ngày, từng giây từng phút trong đời sống. Chỉ cần theo dơi tin tức trên báo chí, trên đài truyền thanh, truyền h́nh, cũng đủ thấy biết bao thảm cảnh do tội ác gây ra. Tin vui th́ ít, nhưng “tin buồn” như li dị, phá thai, chửa hoang, du đăng, nghiện hút, đánh nhau, thù hận, ḱ thị... th́ “rất dồi dào”! Tội ác là một huyền nhiệm khó hiểu, khó giải thích. Các tôn giáo, các triết lư đă đưa ra nhiều cách thức cắt nghĩa về bản tính hư hỏng của nhân loại như: Tội nguyên tổ (Thiên Chúa giáo), Mê lầm, Dục vọng (Phật giáo ), v.v. Trong mỗi người chúng ta như có sự giằng co, căng thẳng liên miên giữa tốt và xấu, thiện và ác. Ta làm điều thiện th́ thấy khó khăn cần cố gắng, nhưng thích hướng chiều làm điều ác hơn. Kinh nghiệm cho thấy: “ăn vụng”, cảm thấy “khoái khẩu” hơn! (miễn là không bị bắt quả tang). Nhiều khi ta biết đó là điều xấu, v́ lương tâm ngăn cản, ta không làm, nhưng rồi ta lại cứ làm; khi khác, ta biết việc đó là tốt, ta muốn làm, nhưng sau đó ta không làm nữa!
Nói đến tội ác là phải đề cập vấn đề cá nhân Tự Do quyết định và hiểu biết như khi biết là điều xấu, nhưng cứ làm. Tội ác c̣n được phân loại: tội nhẹ và tội nặng, tội riêng cá nhân phạm và tội của tập thể đồng phạm như tội của cả gia đ́nh, tội của cả nước, tội chung của cả nhân loại. V́ tội ác là một thực tại gắn liền với bản tính nhân loại, nên các tôn giáo cứu độ đều giảng dạy về Hỏa ngục, Âm phủ, nơi giam cầm các tội nhân cùng với Quỉ Vương Satan, chuyên Lừa đảo và Cám dỗ nhân loại vào con đường tội lỗi diệt vong. Các tôn giáo cứu độ cũng đặt ra lễ nghi Sám hối, Đền tội để giúp cá nhân hay tập thể hối hận về những lỗi lầm đă phạm và đền bù những thiệt hại đă gây ra; cũng lập ra nghi thức Xưng tội và Tha tội để tội nhân khiêm nhượng và thành tâm nh́n nhận lỗi lầm của ḿnh và xin ơn Tha thứ. Một vài phong trào đạo đức, đôi khi v́ quá bi quan về bản tính đồi trụy hư đốn của nhân loại, nên đă phác họa những bức tranh ghê gớm rùng rợn về tội lỗi và h́nh phạt khiến ta phải sợ mà đừng phạm tội nữa. Nhưng thiết nghĩ đối với sự yếu đuối, dễ sa ngă của con người, ta nên tỏ thái độ thương xót, khoan dung, tha thứ và cứu vớt hơn là chê ghét, kết án, hất hủi. Nên tránh hai thái độ cực đoan: một là, lương tâm bối rối, sợ tội quá đáng, khiến tâm thần bấn loạn, tuyệt vọng; hai là, mất ư thức về tội, sống hoàn toàn buông thả theo dục vọng, thú tính. Bởi vậy, muốn được cứu độ, giải phóng khỏi xiềng xích của tội ác, ta phải có lương tâm ngay lành, biết phân biệt điều phải, điều trái và cố gắng làm điều thiện, tránh điều ác (67).
TỈNH NGỘ, HỐI CẢI, CANH TÂN
Không nhận lỗi hoặc biết có tội nhưng ngoan cố không chịu sửa đổi, th́ không thể có tha thứ, cứu độ được. Đấng Tạo Hóa không cần “hỏi ư kiến” khi dựng nên ta. Nhưng nếu muốn cứu độ ta th́ cần sự tự do đáp ứng của ta. Do đó, hối cải là điều kiện cần thiết để lĩnh ơn Cứu Độ. Đây là giai đoạn gây cấn nhất trong đời sống, đ̣i buộc ta phải “lột xác”, từ bỏ con “người cũ” hư hỏng để trở thành con người mới. Theo gương các nhà đạo đức, các vị thánh nhân, ta như phải “chết” cho “cái Tôi” ích kỉ, cho cái “Giả Ngă” đắm ch́m trong dục vọng, để như sống lại với con người đổi mới hoàn toàn, với cái “Chân Ngă” tinh tuyền. Trong phương pháp tu đức, nhờ chuyên chú vào việc suy niệm, tĩnh tọa, tĩnh tâm... ta có thể tiến tới trạng thái xúc cảm mănh liệt có sức mạnh thiêng liêng hoán cải hoàn toàn (Metanoia ) tâm hồn, giúp ta nh́n thấy rơ Chân Lư của cuộc đời .
Con người đă được đổi mới, dă được giác ngộ, từ nay sống đời sống mới. Tuy bề ngoài, cách sinh hoạt vẫn giống như mọi người khác, nhưng ư nghĩa đối với cuộc đời, hoàn toàn khác xưa. T́nh tư dục lăng loàn, cái tôi tham lam ích kỉ đă bị tiêu diệt, nhường chỗ cho mối thiện tâm tự do phát triển. Từ nay, con người đă được tỉnh ngộ, hoàn toàn sống cho lư tưởng mới. Do đó, nếu không thật sự đổi mới, th́ không thể lĩnh ơn Cứu Độ được. Nếu hột lúa gieo xuống đất không mục nát đi th́ nó không thể sống lại, nẩy nở thành cây lúa mới, trổ thêm nhiều hột lúa mới. Đời sống con người cũng vậy, cần phải “chết” đi cho dĩ văng đen tối, để “sống lại”, hiên ngang, tự do trong đời sống mới, đạo đức, thánh thiện.
NIỀM TIN SIÊU THOÁT
Kinh nghiệm “Đời là bể khổ”, và “bản thể hư hỏng” của con người, không phải là quan niệm bi quan, chán đời, tuyệt vọng. Trái lại, v́ đau khổ nên con người mới vùng lên để được giải thoát khỏi kiếp lầm than. Tự thâm tâm, con người ư thức được số phận của ḿnh, nên tin tưởng mănh liệt rằng sự Cứu Độ có thể thực hiện được. Bởi v́, mọi sự vật trên vũ trụ này, cuối cùng, đều có một chủ đích và được nâng đỡ để lĩnh ơn Cứu Độ. Có Khổ mới cần cứu giúp cho hết khổ. Đau Khổ chỉ là phương tiện, Cứu Độ mới thực sự là cùng đích của cuộc đời. Con người phải vượt trên mọi phương tiện, trên Đau Khổ để tiến tới Giải Thoát, Cứu Độ Con người đau khổ, tự đáy tâm hồn, luôn ước vọng siêu thoát vào nơi cực lạc như Toà Sen, Niết bàn, Thiên đàng... Con người luôn vượt “cái Tôi” hạn hẹp nhỏ bé, để siêu thoát và đặt niềm tin vào một Quyền Lực Siêu Việt ra tay phù giúp, cứu độ. Bởi đó, chính sự Đau Khổ và ḷng ước vọng giải thoát đă tạo nên niềm tin vào một Đấng Siêu Việt, cứu nhân độ thế, thi ân giáng phúc. Ḷng mong đợi một Đấng Cứu Thế, một Vương Quốc Thái B́nh thịnh trị, một Tây Phương Cực Lạc, một Thiên Đàng Vĩnh Phúc, vẫn là những giấc mơ, những ước vọng lớn lao của nhân loại xưa nay (68).
CỨU ĐỘ TRONG PHẬT GIÁO
Phật Thích Ca đă căn cứ vào kinh nghiệm hiện hữu để t́m ra con đường Cứu nhân Độ thế. Ngài vốn là con vua Tịnh Phạn thuộc ḍng họ Thích ca (Sakya), nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu), miền trung Ấn Độ. Ngài sống trong cung điện nguy nga tráng lệ, cưới vợ đẹp, chung quanh toàn là những bậc quư tộc giầu sang. Nhưng một hôm, ra ngoài hoàng thành dạo chơi miền thôn dă, Ngài đă phải kinh ngạc v́ nh́n thấy tận mắt những cảnh tượng rùng rợn phơi bầy ra khắp lề đường: nào người chết, già nua, bệnh tật, kẻ hành khất đói khát. Thực tại phũ phàng đó khiến Ngài rất cảm động, buồn sầu, và suy tư. Mặc dầu bị vua cha ngăn cản, Ngài quyết từ bỏ cảnh giầu sang giả dối nơi cung điện để t́m con đường cứu giúp người đau khổ. Lang thang khắp mọi nơi, t́m kiếm các vị tu khổ hạnh để thụ giáo, nhưng Ngài vẫn chưa t́m ra ánh sáng Chân lư! Một hôm đến bờ sông Ni Liên Thuyền (Nackayaur), được nàng mục nữ đem sữa dâng cúng. Ngài dùng xong, thấy thân thể khỏe mạnh, xuống sông tắm, rồi lên ngồi dưới gốc cây đại thụ Bồ đề (Bodhi) để nhập định. Một đêm, bỗng hốt nhiên đại ngộ, thành Phật (Buddha). Do đó, chữ “Phật” không phải là “tên riêng”của một người, nhưng là danh từ chung chỉ người được giác ngộ. Bất cứ ai cũng có thể “thành Phật” được, nếu được giác ngộ! V́ thế, danh từ Phật có nghĩa là Giác Ngộ. Sau khi hoàn toàn giác ngộ, thành Phật, thành Đạo, đắc Đạo nghĩa là đă t́m ra cái chân tướng của cuộc đời, Ngài đi chu du khắp miền sông Hằng (Gange) để thuyết pháp. (69).
Cái Chân lư sâu thẳm Ngài t́m thấy khi tỉnh ngộ, thành Phật, chính là: đời là Khổ. Đó là một kinh nghiệm thực tại không thể chối căi được! Nhưng không chịu bó tay! Chính v́ đời là Khổ, nên phải ra tay Cứu khổ, Diệt khổ, và phải cố gắng t́m ra nguyên nhân phát sinh ra Khổ. Hy vọng sẽ được giải thoát khỏi Khổ, nếu theo con đường tu luyện dẫn đến Niết bàn.
Trong Đoạn II này, ta sẽ đề cập đến giáo lư căn bản nhất của Phật Thích Ca về Cứu Độ là: “Tứ Diệu Đế”, tức là bốn Chân lư nền tảng của Phật Giáo. Trong mỗi đoạn, ta sẽ giải thích từng Chân lư như: Khổ Đế là ǵ? Tập Đế đă dùng những lư thuyết về Nghiệp Báo, Luân Hồi, Thập Nhị Nhân Duyên, để giải nghĩa như thế nào? Diệt Đế hay Niết Bàn là ǵ? Sau cùng, Đạo Đế, tức Bát Chính Đạo là con đường dẫn tới Giải Thoát.
Chữ “Đế” có nghĩa là Chân lư. “Tứ Diệu Đế” là bốn chân lư huyền diệu mà Phật Thích Ca cảm nghiệm được khi tỉnh ngộ. Đây là những chân lư nền tảng, là tinh hoa và đặc điểm của Phật giáo. Tứ Diệu Đế là một lư luận đơn giản, rơ ràng, dễ hiểu, và thực tế về một chương tŕnh tu luyện trung dung, để giúp giải phóng con người thoát khỏi cảnh lầm than đau khổ, nhất là chữa bệnh tinh thần cho nhân loại. Kế hoạch Cứu độ này gọi là “Trung Đạo”, v́ tránh hai thái cực: một là thái độ ăn chơi phóng đăng trụy lạc của người đời, hai là đời sống tu tŕ quá khắc khổ, hành hạ thân xác của giới đạo sĩ thời bấy giơ. (70).
KHỔ ĐẾ
Có thể nói: Khổ là cái ǵ hiển nhiên, quá thông thường nên hầu như người ta chẳng thèm để ư tới nữa. Nhưng nếu suy nghĩ một chút, ta sẽ thấy con người đau khổ về nhiều phương diện. Như Phật Thích Ca nhận định: sinh, bệnh, lăo, tử là Khổ. Có những đau khổ do thiên tai gây nên như băo, lụt, hỏa hoạn, v.v., nhưng phần lớn những đau khổ là do chính con người gây ra như: chiến tranh, trộm cướp, giết người, v.v., những đau đớn về vật chất, thể xác như: đói khát, bịnh tật, v.v. Nhưng sự đau khổ về tinh thần mới thật lớn lao như: cái ta ưa thích th́ không được, điều ta ghét bỏ th́ phải hứng chịu. Ta đau khổ trong tâm hồn, v́ cuộc đời bấp bênh, trôi nổi, lúc tan lúc hợp, biến chuyển không ngừng, không có ǵ là bền vững trên thế giới này như văn chương Việt nam có câu:
“Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương!” (Cung oán)
Nói tóm lại, Khổ mà Phật Thích Ca nói đây là cái Khổ tâm lư, là những xúc động, cảm động tâm lư khiến tạo những t́nh cảm như yêu thích, ghét bỏ, lo lắng, ưu phiền, sợ hăi. Phật không thể “giải thoát” ta khỏi: sinh, bịnh, lăo, tử, theo nghĩa vật chất, thể lư được v́ chính Phật cũng phải chịu những cảnh đó. Nhưng Phật chỉ đề ra những phương thế giúp ta thoát khỏi những phiền năo, ưu tư trong tâm lư mà thôi. Nhân loại đau khổ do t́nh cảm Yêu/Ghét gây ra nhiều hơn là đau đớn về bịnh tật, chiến tranh, đói khát. Thương yêu một người mà không lấy được người ấy, ghét cay ghét đắng mà phải chung sống suốt đời! Thật là khổ sở! Đời người “già” đi là chuyện thường t́nh. Nhưng sao lại quá lo lắng để “dấu tuổi”? Thân xác béo tốt phương phi, nhưng tâm hồn th́ khô héo, lo âu v́ tội lỗi! Giầu, nghèo, ai cũng mang những nỗi khổ riêng trong tâm hồn. V́ cái Khổ tâm lư do t́nh cảm Yêu/ Ghét gây ra đă gắn liền với bản tính nhân loại, cho nên ta phải kết luận rằng: loài người đau khổ v́ bản tính đă ra hư hỏng, cần có thuốc chữa trị! (71).
TẬP ĐẾ
Muốn chữa bịnh cho thân thể, y sĩ cần t́m ra nguyên nhân đă gây ra căn bịnh như các con vi trùng, vi khuẩn, v.v. Chữa bịnh về tâm lư, tâm thần cũng vậy. Phật Thích Ca cho rằng những sự Khổ năo trong tâm hồn con người đều do một căn nguyên mà phát sinh ra, đó là Dục Vọng, tức là ḷng ham muốn của nhân loại. Ba thứ ham muốn làm ta phải đau khổ: một là, ham muốn về giác quan, nhục dục như ăn uống và tính dục (sex). Hai là, ham sống. Chữ “sống” ở đây không có nghĩa đời sống thường, nhưng là đời sống t́nh cảm, là những cảm xúc do t́nh cảm yêu, ghét tạo ra trong tâm hồn, làm ta mất sự b́nh an. Ba là, ham muốn tích trữ của cải giầu sang. Phật Thích Ca đă dùng những quan niệm như: Karma (Nghiệp), Samsara (Luân hồi), luật Nhân-Quả, Thập Nhị Nhân Duyên, để giải nghĩa thêm quan niệm: Dục T́nh, Dục Vọng hay ḷng Ham Muốn là nguyên nhân sinh ra Khổ.
1. NGHIỆP (Karma)
Ta nên biết rằng những lư thuyết như Karma, Samsara, luật Nhân-Quả là những quan niệm đă có lâu đời trong tư tưởng triết lư và tôn giáo của Ấn Độ, trước khi Phật ra đời. Do dó, Phật không sáng tác, nhưng đă mượn những lư thuyết của người đương thời để biện minh cho học thuyết của ḿnh.
Theo triết lư Ấn Độ, Karma, dịch là Nghiệp, có nghĩa ǵ? Karma ít nhất có ba ư nghĩa thông dụng:
a. KARMA, NGHIỆP là ǵ?
Theo nguyên tự, KARMA, nghĩa là một hành động, hành vi thông thường như: ăn, ngủ, đi lại, v.v. Nhưng trong tôn giáo luân lư, chữ Karma chỉ một hành vi có giá trị luân lư tốt hay xấu. Ví dụ: hành vi xấu thuộc ngũ giới như: Sát sinh, đạo tặc, tà dâm, vọng ngữ, tửu, đều có Karma. Những hành động tốt như làm phúc bố thí gây nên thiện nghiệp. Không chỉ hành vi sinh ra Nghiệp, mà cả ư nghĩ (ư nghiệp), và lời nói (ngữ nghiệp) cũng tạo ra Karma.(72).
b. Luật Nghiệp-Báo
Theo nghĩa luân lư, Karma, Nghiệp, trở thành một Luật: đó là Luật Nghiệp-Báo, nghĩa là bất cứ hành vi luân lư nào, tốt hay xấu đều có báo ứng, có thưởng hay phạt. Theo triết lư Ấn Độ, Luật Nghiệp-Báo là Luật phổ biến, bất di bất dịch của vũ trụ như Luật Trọng lực (gravity). V́ bị Luật Nghiệp-Báo chi phối, nên hiện giờ ta phải trả giá cho những việc đă làm trong quá khứ và ta sẽ phải trả giá trong tương lai cho những việc ta đang làm bây giờ. Những việc xấu gọi là “ác nghiệp”, việc tốt là “thiện nghiệp”, việc đă làm là “túc nghiệp”, việc đang làm là “hiện nghiệp”. Nghiệp c̣n chia: “tự nghiệp” nghĩa là tự ḿnh tạo ra nghiệp cho ḿnh, và ảnh hưởng đến người khác, “cộng nghiệp” là nghiệp chung của cả xă hội cộng lại, và ảnh hưởng trên cá nhân như câu ca dao: “Anh hùng tạo thời thế”, hoặc “thời thế tạo anh hùng”. Nghiệp không bị thời gian hay không gian hạn chế, không phải chỉ riêng cho mỗi cá nhân, nhưng có Nghiệp của cả gia đ́nh, và Nghiệp chung cho cả nước nữa. Tóm lại, Luật Nghiệp-Báo là Luật luân lư phổ biến chi phối mỗi cá vật và toàn thể vũ trụ nữa. Tất cả sáu môn phái triết lư Ấn Độ, kể cả môn phái của Phật Thích Ca và Jainas, cũng đều công nhận Luật Nghiệp-Báo. Luật Nghiệp-Báo là tự động, tự trị hay do Đâng Tối Cao (Tạo Hóa) chỉ huy, kiểm soát? Những môn phái triết lư như: Jaina, Sankhya, Mimamsa, và Phật Thích Ca cho rằng Luật này có tích cách tự trị. (73).
c. Ai bị Luật Nghiệp-Báo chi phối?
Theo triết lư Ấn Độ, những người chưa được Giải thoát khỏi Dục vọng, ḷng Ham muốn th́ vẫn bị Luật Nghiệp-Báo điều khiển, v́ họ vẫn c̣n nghĩ, làm, nói chiều theo những xúc động t́nh cảm yêu/ghét gây ra. Họ có thể làm điều tốt như bố thí, nhưng do ḷng vị kỷ, óc tư lợi, t́nh yêu thích mà ra. Họ đă tạo nên “thiện nghiệp” để khi “tái sinh” th́ được thưởng công, được làm “thần thánh”, nhưng ngay cả bậc “thần thánh”, theo niềm tin b́nh dân, cũng chưa hoàn toàn được giải thoát khỏi Dục vọng. Do đó, chỉ có một hạng người được thoát khỏi Luật Nghiệp-Báo chi phối là những ai đă được Tỉnh ngộ, đă hoàn toàn Diệt Dục, nghĩa là công việc họ làm hoàn toàn vô tư, không hy vọng thưởng hay phạt, có công hay không có. Nếu có chăng, đó là sự b́nh an trong tâm hồn, v́ đă làm điều nghĩa! Những hành vi vô vị lợi, nghĩa là đă vượt trên Dục T́nh ích kỷ Yêu/Ghét, giống như cái hột đă khô héo, không c̣n đủ sức sinh ra hoa quả mới nữa!
2. LUÂN HỒI (Samsara).
Theo triết lư Ân Độ, chữ Samsara có nghĩa là trôi nổi, linh đinh, vô định như “cánh bèo trên ḍng nước”, như “hoa trôi man mác biết là về đâu” (Kiều). Con người xiêu bạt vô định không phải do tự động, nhưng v́ bị lôi cuốn, bị hấp dẫn bởi những đối tượng của giác quan, bởi Dục vọng tham lam những khoái lạc do sự vật bên ngoài gây nên. Sự trôi nổi liên miên từ đời nọ sang đời kia, gọi là “Luân Hồi”, Samsara. Do đó, có chữ “Tái sinh” (rebirth), v́ chết không phải là hết, là chấm dứt đời người! Nhưng đời sống hiện tại (hiện nghiệp) vừa là kết quả của đời sống quá khứ (túc nghiệp), vừa là nguyên nhân cho kiếp sau. Đời sau này, vừa là kết quả của đời hiện tại, vừa là nguyên nhân cho đời kế tiếp, cứ như vậy chạy quanh không ngừng. Bánh xe Luân Hồi, sinh, tử, tái sinh vận chuyển luôn măi! Đó cũng gọi là chuỗi Nhân-Quả dài vô tận! (74).
Tái sinh là ǵ? Tại sao có lư thuyết Tái sinh? Trong triết lư Ấn Độ, con người có nhiều kiếp sống khác nhau, ở quá khứ xa xăm, ở hiện tại, và c̣n rất nhiều trong tương lai. Đó là quan niệm “đầu thai, lộn kiếp” (reincarnation). Ngoài đời sống hiện tại, một người có thể đầu thai trở thành nhiều kiếp sống khác như làm thần thánh, người khác, quỉ, làm súc vật như câu: “làm thân trâu ngựa đền ngh́ trúc mai” (Kiều) (nghĩa là, v́ nợ t́nh đối với người yêu, nếu đời này chưa đền được th́ nguyện kiếp sau chịu phạt làm súc vật để trả nghĩa lại). Lư thuyết tái sinh giúp giải đáp ba thắc mắc của người b́nh dân Ấn như: Tại sao có sự chênh lệch, không công bằng trên đời này, như kẻ giầu, người nghèo, kẻ đau khổ, bịnh tật hơn nguời khác? Thưa, kiếp hiện tại là kết qủa của kiếp trước. Nếu kiếp này khổ là v́ kiếp trước đă có ác nghiệt, nên báo ứng ở kiếp này. Tại sao phải lánh dữ, làm lành ở đời này? Có luân lư hay không? Tại sao người làm ác th́ giầu sang, kẻ hiền đức th́ đói khổ? Thưa, kiếp sau sẽ biết: kẻ lành được thưởng, người dữ bị phạt! Có thể trở thành thánh nhân, hoàn toàn thánh thiện ở đời này không? Thưa, khi chết, không ai dám tự phụ coi ḿnh đă vẹn toàn, nhưng c̣n cần lập nhiều công phúc ở những kiếp khác nữa!
Ngoài ư nghĩa trên, Tái sinh ở nhiều kiếp sống khác nhau, Tái sinh c̣n nghĩa tâm lư nữa! Theo triết lư Ấn Độ, th́ các hiện tuợng trong vũ trụ, đặc biệt của con người, đều là những biểu hiện của cái TÂM mà ra. Cái Tâm đầy Dục vọng nên phát hiện ra bên ngoài những ư nghĩ, lời nói, việc làm xấu. Trái lại, cái Tâm tốt, sẽ biểu lộ ra bằng ư nghĩ, lời nói, việc lám tốt. Có thể nói: cái Tâm là nơi chất chứa các kư ức tốt xấu, ác nghiệp, thiện nghiệp mà danh từ triết lư gọi là Tâm Thức, Tiềm Thức, Tạng Thức, Bát Thức, Nghiệp Thức hay A-lai-da Thức (Alaya-Vijnana). Thức này Tập họp tất cả các Nghiệp của vạn vật (vạn pháp) và của ta. Đó là nơi kết Tập lại các Nghiệp quá khứ, hiên tại, tương lai. Do đó, muốn sửa đổi, muốn thanh luyện cái Tâm, th́ không cần phải “tái sinh, lộn kiếp”, nhưng có thể thực hiên ngay ở kiếp hiện tại. Chữ “Tái sinh”này có nghĩa tâm lư, v́ là thay đổi tâm trạng con người thoát khỏi vương vấn, trói buộc của Dục t́nh .
Phật Thích Ca, khi mượn triết thuyết Ân Độ để áp dụng cho triết lư riêng, Ngài đă theo ư nghĩa tâm lư đối với chữ Karma và Tái sinh, v́ chỉ có nghĩa tâm lư này mới thích hợp với ư nghĩa của “Tứ Diệu Đế” mà thôi. Ngài không muốn bàn luận ǵ về đời trước hay đời sau, nhưng chỉ chú trọng vào việc giải thoát con người ở đời này, và bây giờ. Không cần đầu thai kiếp sau làm con heo! “Con heo” ở đây theo nghĩa bóng là “lợn ḷng” (không phải "ḷng lợn", "ḷng heo"), là một Tâm trạng, đó là ḷng ham mê nhục dục, cần phải thanh tẩy khỏi Tâm Trí ngay bây giờ, nếu muốn được an vui trong Tâm thần, khỏi dâm dục ám ảnh, quấy nhiễu(75).
Nhưng tại sao trong Kinh Điển đă ghi chép những lời Phật Thích Ca giảng dạy, và Ngài đă kể những truyện cho dân chúng nghe về việc Tái sinh từ đời này sang đời kia? Tại sao Phật giáo b́nh dân vẫn tin ở viêc luân hồi lộn kiếp, và c̣n cho rằng Phật đă có 550 tiền kiếp? Tại sao Ngài không cấm đoán? Có phải Phật giáo b́nh dân khác với Phật giáo chính thống không? Để giải đáp thắc mắc đó, các nhà nghiên cứu Phật học cho rằng Phật đă dùng phương pháp Upaya, nghĩa là tuỳ cơ ứng biến, tuỳ bịnh cho thuốc, “tuỳ căn cơ mà thuyết pháp”. Mục đích là giải thoát con người khỏi Dục vọng. Là một nhà giáo dục, Ngài hiểu biết tâm lư của đám b́nh dân, và muốn dùng những giá trị cổ truyền để tŕnh bày một học thuyết mới. Ngài chỉ giảng dạy giáo thuyết chính thống cho những ai sẵn sàng lĩnh hội được mà thôi! Đối với người b́nh dân, tŕnh độ hiểu biết c̣n thấp th́ Ngài dùng lối cắt nghĩa thông thường, miễn là giúp họ đạt được cứu cánh là sự giải thoát khỏi ṿng Luân hồi, Nghiệp-Báo! (76).
3. LUẬT NHÂN-QUẢ. THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN.
Trong đoạn này, ta sẽ bàn luận về mối quan hệ giữa các Karma, Nghiệp với nhau như thế nào, để làm nên Chuỗi Nhân-Quả. Tại sao Vô minh là nguyên nhân đầu tiên sinh ra đau khổ?
a. Danh từ: Nhân, Quả, Duyên.
Nhân là hột giống có năng lực sinh ra Quả. Ở đây, chữ Nhân, Quả theo nghĩa bóng chỉ những sự vật làm nguyên Nhân để tạo điều kiện sinh ra một sự vật khác như kết Quả. Duyên là ǵ? Duyên là sự vật hỗ trợ giúp cho Nhân sinh ra Quả. Như hột lúa là Nhân sinh ra cây lúa là Quả, th́ đất, nước, phân bón... trợ giúp cho hột lúa thành cây lúa, gọi là Duyên. Chỉ có Nhân mà không có Duyên, th́ không sinh ra Quả được. Cho nên khi nói đến Nhân, phải hiểu ngầm có cả Duyên đi kèm. (77).
b. Thập Nhị Nhân Duyên
Thập Nhị Nhân Duyên là một Chuỗi 12 ṿng xích Nhân-Quả, liên quan lệ thuộc lẫn nhau, cái này là Nhân của cái kia là Quả, đồng thời cái Quả lại là Nhân của cái kế tiếp là Quả của nó. Chuỗi Nhân-Quả luân chuyển không ngừng giống như bánh xe quay! Đó là Thuyết Nguyên Do Tương Thuộc (Theory of Dependent Origination). Tại sao có thuyết này? Nguyên Nhân đầu là ǵ?
Vạn sự vạn vật trong vũ trụ, kể cả con người, không vật nào có bản tính riêng biệt, nhưng bất cứ vật nào cũng phải lệ thuộc vào vật khác như điều kiện để phát sinh ra nó. Bất cứ hiện tượng nào xẩy ra cũng phải có nguyên lai gây nên. Các nhà Phật học đă áp dụng thuyết đó để t́m duyên do của sự đau khổ như sau: Kinh nghiệm thực tại cho thấy, già nua, bịnh tật, lo lắng, cô đơn, thất vọng, thất t́nh, chết là Khổ (Jara-marana). Vậy Khổ bởi đâu mà ra, phải có duyên do, nguyên Nhân. Có Khổ (12), là v́ có Sinh (11). Khổ là Quả, mà Sinh là Nhân. Nếu ta đă không sinh ra, th́ làm sao c̣n thấy Khổ được! Sinh (jati) lại dựa vào điều kiện phát sinh ra nó. Có Sinh, v́ có Hữu (bhava) (10), là khuynh hướng muốn trở nên một cái ǵ. Sinh lại là Quả của Hữu là Nhân. Có Hữu, v́ có Thủ (upadana) (9), là bám bíu vào các sự vật ở đời này, khiến ta ham muốn sống. Có Thủ, v́ có Ái (trsna) (8), là khát vọng hưởng thụ các sự vật,tai nghe, mắt thấy. Có Ái, v́ có Thụ (vedana) (7), là những cảm giác khoái lạc do ngũ quan gây nên, làm ta khao khát. Có Thụ, v́ có Xúc (sparsa) (6), là sự tiếp xúc với các đồ vật. Có Xúc, v́ có Lục nhập (sada-yatana) (5), là năm ngũ quan và manas (ư thức) hay là nhăn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ư, va chạm với cảnh vật. Có Lục nhập, v́ có Danh Sắc (nama-rupa) (4), là Tâm thức (nama) và thân thể, giác quan (rupa) giúp con người nhân thức được sự vật. Có Danh sắc, v́ có Thức (vijnana) (3), là ư thức. Thức ở đây là Alai-a Thức, là Tâm Thức, Tiềm Thức, nơi tập họp, chứa chấp các “Nhân”, các hột chủng tử để sinh ra ta và vạn vật. Nhưng Thức đầu thai trong ḷng mẹ chỉ là Quả của Hành (samskara) (2), là t́nh trạng sau cùng của đời dĩ văng, tập họp tất cả các Quả của quá khứ để tạo điều kiện cho đời hiện tại sắp sửa xuất hiện. Có Hành, v́ Vô Minh (avidya) (1), là ngu dốt không biết được chân lư về bản thân ta và về vũ trụ. Chính Vô Minh, sự Mê Lầm đă la nguyên Nhân, là động cơ đầu tiên tạo nên Tái sinh, Luân hồi. (78).
c. Vô Minh Là Ǵ?
Theo triết lư Ấn Độ, ư niệm Avidya, được dịch nghĩa là Vô Minh. Vô Minh là không biết rơ ràng, thông suốt, là Mê Lầm về bản thể của ta và của vũ trụ. Vô Minh là chưa Tỉnh Ngộ. Hết Lầm lạc, được hoàn toàn Tỉnh Ngộ th́ gọi là Bodhi, Bồ đề. (V́ thế, Gautama Tỉnh Ngộ thành Phật ở dưới gốc cây, nên mới gọi cây ấy là cây Bồ đề). V́ Mê Lầm mà sinh ra Tái sinh, Luân hồi, Nghiệp Báo, đau Khổ. Tỉnh Ngộ, Giác Ngộ, hay Giải thoát (Mukti, Moksa), là chặn lại Bánh xe Luân hồi. Giải thoát là trạng thái hoàn hảo, hạnh phúc, hết mọi lo lắng ưu phiền. Đối với một số nhà tư tưởng Ấn Độ như Jainas, Sankhyas, Advaita Vedantins và Phật Thích Ca, th́ Giác Ngộ, Giải Thoát có thể thực hiện được, ngay bây giờ và ở đời này (hic et nunc).
Khi mượn ư niệm Avidya, Vô Minh của triết lư Ấn Độ để áp dụng vào việc giải thích nguyên nhân sự đau khổ, Phật đă tiến xa hơn chân lư trong Tứ Diệu Đế. Thật thế, đời là Khổ. Nhưng tại sao Khổ? V́ Dục T́nh, Dục vọng, Ham muốn! Tại sao Ham muốn? V́ Vô Minh, Mê Lầm không hiểu rơ về bản thể chân thật của ta và của vũ trụ. Do đó, nguyên nhân sâu thẳm của đau khổ, chính là Vô Minh. Thế nào là Mê Lầm về bản thể thật của ta và của vũ trụ? Mọi sự trong vũ trụ là tan hợp hợp tan thay đổi liên miên, là Vô Thường, nghĩa là không có ǵ là”thường hằng bất biến”. Cả con người cũng vậy! Chẳng có Bản Ngă, chẳng có cái “Tôi”, nhưng là “Vô Ngă”. Ta Khổ, v́ Ngộ nhận Lầm lạc! Đáng lẽ ra phải coi đời là Vô Thường, th́ lại cho đời là Thường Trụ (không thay đổi); đáng lư phải nh́n nhận tâm thân ta là sự tập họp của Nhân-Quả, nên biến chuyển luôn luôn, Vô Ngă, th́ ta lại bám bíu vào cái “Tôi” bất biến, Chấp Ngă! V́ Chấp Ngă, nên phân biệt Tôi khác với Tha Nhân, Bạn-Thù, Yêu-Ghét, Đó là cái “Tâm-sai-biệt”, Óc kỳ thị (discriminatory), Thức Nhị Nguyên (dualist conscience). (79).
d. Bản Tóm Lược 12 Nhân Duyên
Các nhà nghiên cứu về Phật học cho rằng: thứ tự và số 12 Nhân Duyên thay đổi trong các bài giảng của Phật. Có thể là v́ “tam sao thất bản” chăng? Giả thiết là các Nhân Duyên phải tương thuộc lẫn nhau, nhưng sự liên hệ từ ṿng này sang ṿng kia không rơ ràng nhất thiết phải xẩy ra như vậy. Khi giảng thuyết, Phật Thích Ca thường tŕnh bày học thuyết một cách đơn sơ dễ hiểu cho người b́nh dân. Do đó, người ta nghi ngờ không biết Phật Thích Ca có thật sự dùng h́nh thức rắc rối khó hiểu của Thập Nhị Nhân Duyên để truyền đạt tư tưởng không? Lại nữa, căn cứ vào cách nối kết giữa các ṿng Nhân-Quả, người ta có thể chia 12 Nhân Duyên ra: đời quá khứ, ṿng 1, 2; đời hiên tại, ṿng 3 tới 10; đời tương lai, ṿng 11, 12. Nhưng như đă nhận định ở trên, Phật Thích Ca không ám chỉ sự Tái sinh ở các đời trước hay sau khi chết, nhưng 12 Nhân Duyên là những Tâm trạng, Tâm T́nh khác nhau trong một đời người ở thế giới này, có thể xẩy ra ngay bây giờ.
(1) Vô Minh (Avidya)
(2) Hành (samskara): Đời Quá Khứ
(3) Thức (vijnana)
(4) Danh-Sắc (nama-rupa)
(5) Lục-Nhập (sadayatana)
(6) Xúc (sparsa)
(7) Thụ (vedana)
(8) Ái (trsna)
(9) Hữu (Upadana)
(10) Thủ (bhava): Đời Hiện Tại
(11) Sinh (jati)
(12) Lăo,Tử (jara-marana): Đời Vị Lai
DIỆT ĐẾ: NIẾT BÀN
Đây là điểm quan trọng nhất trong Tứ Diệu Đế, v́ cả ba chân lư, Khổ Đế, Tập Đế, Đạo Đế, đều có một mục đích là dẫn đến sự Giải Thoát, Tỉnh Ngộ tức là diệt được đau khổ, diệt hết Nhân-Quả, Nghiệp-Báo, để nhập Niết Bàn. Ta sẽ bàn rộng ư nghĩa siêu h́nh của Niết bàn ở đoạn sau. Bây giờ ta thử định nghĩa Niết Bàn là ǵ? Niết Bàn theo phái Tiểu thừa và phái Đại thừa khác nhau thế nào? (80).
Niết Bàn, âm ra bởi tiếng Phạn (sanscrit) là Nirvana,hay tiếng Pali, là Nibbana. Niết Bàn là danh từ phổ thông chỉ sự Giải thoát khỏi đau khổ. Theo nguyên tự, Nirvana có nghĩa là tiêu diệt, vắng lặng, b́nh an, “nguội đi”. Ở đây, hiểu nghĩa là các Dục vọng, Dục t́nh nóng hổi, thiêu đốt tâm can, phải nguội đi để tâm hồn được phẳng lặng b́nh an không bị khấy động.
Niết Bàn không nên hiểu theo nghĩa thụ động, tiêu cực, bi quan. Nhập Niết Bàn không phải là vào cơi hoàn toàn hư vô, là tiêu diệt sự sống! Chỉ diệt đời sống Dục Vọng nung nấu thôi, c̣n con người đă được Tỉnh ngộ vẫn tồn tại.
Trong Phật học, ta lại gặp thấy ư niệm về Nirvana gồm hai nghĩa như khi t́m hiểu chữ Samsara, Luân-hồi, Tái sinh. Theo phái Tiểu Thừa và người Phật tử b́nh dân, th́ Niết Bàn là một cơi sống hoan lạc sau khi chết. Do đó, mới có quan niệm “xuất thế”, xa lánh cuộc đời phồn hoa quyến rũ, để vào nơi tịch mịch thanh vắng mà tu hành, tu Định (Thiền Định). Khi tu Định, nghĩa là dập tắt được lửa Dục vọng, th́ nhập Niết Bàn “tương đối, tạm thời” ở đời này. Chỉ sau khi chết, khi ngũ căn, lục thức bị tận diệt, th́ mới vào được Niết Bàn vĩnh viễn, tuyệt đối. (tục lệ tự thiêu hay thiêu thân là để trừ diệt căn thân, nguồn gốc của mê vọng, không cho hóa kiếp nữa!
V́ Phật Thích Ca luôn giữ thái độ “im lặng” không bàn đến những ǵ sẽ xẩy ra ngoài đời sống hiện tại, nên phái Đại Thừa cho rằng Niết Bàn có thể thực hiện ngay ở đời này, không “xuất thế”, nhưng cần “nhập thế”. Niết Bàn chỉ là Tâm trạng thanh lọc hết những Dục Vọng vương vấn để Tâm Hồn hoàn toàn tự do, an b́nh, phẳng lặng. Đó là Tâm trạng viên măn, trưởng thành của các vị đă được Tỉnh Ngộ, thành La hán (Arhat). Từ T́nh trạng Samsara, Luân Hồi đổi sang Niết bàn, xẩy ra ngay ở đời hiện tại trong Tâm Trí mỗi cá nhân. Đấy là sự biến đổi về tŕnh độ Ư thức Giác Ngộ, từ hiện tượng Mê Lầm hoàn toàn bị Dục Vọng quấy phá, đột ngột biến sang Tỉnh Ngộ do Trí Tuệ Bát Nhă (Prajna) thông hiểu chân lư của cuộc đời.
Nhưng cũng có nhà Phật Học giải thích rằng: Phật không đề cập đến số kiếp sau khi chết, th́ không có nghĩa Phật cho rằng “chết là hết”, là hoàn toàn hư vô, trống rỗng, không c̣n ǵ nữa! Nhưng, khi chết rồi, các vị đă được Tỉnh Ngộ vẫn c̣n tồn tại cách nào đó mà ta không biết được rơ ràng, v́ kinh nghiệm Niết Bàn là kinh nghiệm riêng, không thể truyền đạt, diễn tả dược, nhưng chỉ ai đă kinh nghiệm mới cảm thấy mà thôi.
Cũng có nhà nguyên cứu Phật học cho rằng: trong thâm tâm, có thể Phật không tin linh hồn sẽ tồn tại sau khi chết. Nhưng v́ chúng sinh rất sợ sự hư vô trống rỗng, nên Phật đă tránh, không trả lời thẳng câu hỏi của đồ đệ về số phận các vị La hán (đă được Tỉnh Ngộ), sau khi chết. Nếu nói thẳng ra sự hiểu biết của ḿnh, sợ rằng chúng sinh sẽ thất vọng mà không muốn thực hành Đạo của Ngài nữa. Và như thế, là “ giết chết” người ta. (81).
Giả thiết Phật Thích Ca không muốn bàn luận về số kiếp tương lai của những ai đă được Tỉnh Ngộ sau khi chết, thử hỏi việc nhập Niết Bàn ở đời này có ích lợi ǵ không? Nếu bao đau khổ trên đời này là do Dục vọng và Mê lầm về bản tính con người và vũ trụ gây nên, th́ việc Diệt Dục, phá Tái sinh, Luân hồi để nhập Niết bàn sẽ đem lại Tâm trạng thư thái, b́nh an, vui tươi thản nhiên cho tâm hồn, sẽ tạo cho kẻ được Tỉnh ngộ một nhân cách thanh cao, hoàn toàn vô vị lợi, trưởng thành. Nếu có kiếp sau, th́ kiếp này vẫn phải tu tỉnh, tiêu diệt các Dục vọng xấu xa, mới mong được Hạnh Phúc viên măn ở đời sau. Do đó mới có câu: “Tu là cội Phúc, T́nh là giây Oan” (Kiều). (Chữ “tu”, nghĩa là”sửa” như “tu thân”, sửa ḿnh; nếu theo Tiểu Thừa, th́ Tu là “xuất gia tu hành” (xuất thế); c̣n theo Đại Thừa, Tu chỉ là sửa đổi lại Tâm cho trong sạch, không để cho T́nh tư dục quấy phá, ở bất cứ chỗ nào, ngay bây giờ (nhập thế)(82) .
ĐẠO ĐẾ: BÁT CHÍNH ĐẠO
Nếu Giải thoát con người khỏi đau khổ là chủ đích, th́ Bát Chính Đạo là tám phương thế, tám “Đường” (Đạo) dẫn đến Tỉnh Ngộ. Theo truyền thống Ấn Độ, các triết gia đều cho rằng triết lư xuông hay chỉ có lư thuyết không đủ, nhưng c̣n cần phải thực hành nữa! Do đó, từ cơi Samsara tiến vào Nirvana là một con đường gian khổ, công phu tu luyện. Không phải một sớm một chiều mà Đắc Đạo được! Cũng theo truyền thống Ấn Độ, các phái triết lư đều chú trọng đặc biệt đến việc suy niệm liên lỉ, gọi là tu Định (sammasamadhi) làm phương tiện tiến đến Giải thoát. Việc quan trọng thứ hai là luôn luôn kiểm soát T́nh tư dục không cho nó lăng loàn và bắt nó phải theo lư trí điều khiển. Sau đây là tám con đường chân chính, gọi là Trung Đạo, giúp dẫn đến Giải thoát. Ai muốn nhập Niết Bàn th́ tự ḿnh theo con đường ấy. Phải tự cứu lấy ḿnh, không ai có thể cứu giúp được! Sau đây là tóm lược thứ tự “Bát Chính Đạo”(83).
1. Chính Kiến: thành thực tu Đạo
2. Chính Tư Duy: thành thực suy xét
3. Chính ngữ: thành thực nói năng
4. Chính Nghiệp: thành thực mà làm việc
5. Chính Mệnh: thành thực mà mưu sinh
6. Chính Tinh Tiến: thành thực mà mong tới
7. Chính Niệm: thành thực mà tưởng nhớ
8. Chính Định: thành thực mà ngẫm nghĩ
TOÁT LƯỢC CÁC ĐẶC ĐIỂM:
Trên đây là cố gắng tŕnh bày một cách trung thực tư tưởng của Phật Giáo về Cứu Độ. Nhưng, v́ Phật Thích Ca đă từ chối không muốn bàn luận về các vấn đề siêu h́nh như Đấng Tạo Hóa, số phận con người sau khi chết..., nên sau ngày Phật nhập diệt, Giáo lư Nhà Phật liền chia ra nhiều tông phái như Tiểu Thừa, Đại thừa..., với nhiều ư kiến khác nhau, nhiều cách giải thích đối chọi nhau. Vả lại, Phật Thích Ca đă coi việc thuyết pháp là “phương tiện” (Upaya), nghĩa là phải tùy tŕnh độ trí thức mà giảng dạy, “tuỳ bệnh mà cho thuốc”, “tuỳ căn cơ mà thuyết pháp”, miễn sao tín đồ đạt được mục đích là an tâm học đạo. (84).
Cho nên hiểu biết được một cách chính xác thế nào là tư tuởng chính thực do Phật Thích Ca muốn, không phải là điều dễ dàng! Hơn nữa, trong lịch sử Phật Giáo, các nhà nghiên cứu thường thấy xẩy ra sự khác biệt giữa lư thuyết và thực hành. Trong thực tế, cũng tương tự như tín đồ của các tôn giáo khác, người ta thấy các Phật tử b́nh dân tin tưởng như: có kiếp sau, linh hồn bất tử (“chết là thể phách, c̣n là Tinh Anh”), có thưởng (Ṭa Sen ), có phạt (Âm phủ ), coi Phật Thích Ca như một Vị Thần có thể ban ơn giáng phúc, v.v. Nhưng trên b́nh diện lư thuyết của Phật Học, ta lại thấy những môn phái chủ trương Phật giáo là vô thần, Phật không thể cứu ai được, mọi người phải “tự giác”, “tự độ”, Niết bàn chỉ có bây giờ và đời này, “vô ngă”, tức không có linh hồn bất tử, chết là hết(85)v.v.
Sau đây thử toát lược một số Đặc Điểm mà đa số các Môn Phái, và tín đồ phật tử có thể công nhận:
1. Chú trọng vào nội Tâm, v́ cho rằng vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều phát xuất tự Tâm: “Tâm sinh Vật”. Do đó, về phương diện thực hành, phải lo dùng Lư Trí Hiểu Biết để kiểm soát và thanh luyện Tâm Hồn khỏi T́nh Tư Dục quấy phá, v́ mọi sự đau khổ đều do Tâm Trí sai lầm mà ra. Cũng v́ một lư do đó, Phật giáo đặt nặng việc suy niệm (meditation), để t́m hiểu căn do những khổ năo ở đời. Nhờ sự hiểu biết sự thật về bản tính con người và về vũ trụ mà được Giải thoát. Đó là phương pháp Cứu Độ nhờ Giác Ngộ (Hiểu Biết), “Tự Giác”, để đánh tan Mê Lầm, “Vô Minh”. (86).
2. Do đó, không đặt ra vấn đề “Lịch Sử Cứu Độ”, cũng không coi Phật Thích Ca là một biến cố Lịch Sử độc nhất. Nhưng chủ chương “Tự Giác”, “Tự Độ” (self-salvation): mỗi người phải tự cứu lấy ḿnh. Phật Thích Ca hay bất cứ vị Thánh nào (Bồ Tát), chỉ làm “gương sáng” cho ta bắt chước để noi theo, chứ không hề thi ân giáng phúc cho ai. Vả lại, khi c̣n sống, Phật Thích Ca không tự xưng là đă lĩnh sứ mệnh bởi một Quyền Lực Linh Thiêng Tối Thượng nào. Theo lịch sử Phật giáo, măi sau này, v́ ḷng mộ mến, các đệ tử đă “thần thánh hóa” Ngài. (87).
3. Cần Giải thoát ở đời này, ngay bây giờ. Chỗ nào, lúc nào có đau khổ là t́m cách chữa trị liền. Không đặt vấn đề số phận tương lai của các vị đă được Tỉnh ngộ, sau khi chết. Phật Thích Ca giữ thái độ “im lặng”, không bàn luận, không trả lời những câu hỏi như: Người đă đạt được chân lư (Tathagata) có c̣n sống nữa, sau khi chết không? Thế giới này vĩnh cửu hay không vĩnh cửu? Hồn và Xác như nhau hay khác nhau?(88) v.v.
4. Do đó, “Tứ Diệu Đế” là một thang thuốc cấp cứu chữa bệnh tinh thần cho nhân loại, nhằm phát triển nhân cách từ ấu trĩ dốt nát ngu muội tiến đến trưởng thành, khôn ngoan. Muốn được vậy, cần “Tu Tâm Luyện Tính”, “Cải Tà Qui Chính”. Đặc biệt chú trọng đến “Thiền” (Dhyana, Zen), như Tọa Thiền. Nhập Niết Bàn có nghĩa là vẫn sống cuộc đời trần gian này, nhưng Tâm Tính và Ư Nghĩa cuộc đời th́ đổi mới. (89).
5. Những quan niệm như:” Karma” Nghiệp, Nghiệp-Báo, “Samsara” Luân Hồi, Nirvana Niết Bàn... là những tư tưởng đă có sẵn trong Triết Lư của Ấn Độ. Các Môn Phái Triết Học khác như Yoga, Sankhya, Vedanta, Carvaka... đều dùng chung những ư niệm trên. Phật Thích Ca cũng dùng những lư thuyết đương thời, nhưng diễn giải cho thích hợp với chủ thuyết riêng(90).
6. Tuy là giới hạn vào cuộc đời hiện tại, và chỉ trông cậy vào sức của con người, nhưng các nhà nghiên cứu về Phật Giáo đă nhận thấy rằng: con đường Giải thoát của Phật Giáo là một cố gắng vĩ đại của sức lực con người để t́m cách tự cứu lấy ḿnh. Do đó, mặc dầu Phật Thích Ca “im lặng”, tránh không trực tiếp bàn luận những vấn đề thuộc siêu h́nh, nhưng những tư tưởng trong Giáo Thuyết của Phật Giáo đă có những hệ luận về siêu h́nh, v́ tự chúng đă hướng về một cái ǵ Cao Cả, và Siêu Việt, Siêu Thoát (Transcendance), vượt trên thế giới vật chất này. (91).(coi:Ư thức Siêu Thoát trong Phật Giáo, trang 318, ở dưới).
CỨU ĐỘ TRONG THIÊN CHÚA GIÁO
Nếu ta đặt câu hỏi với dân chúng : Tôn giáo là ǵ ? Đạo là ǵ? Ta sẽ được những câu trả lời khác nhau. Chẳng hạn, Đạo dạy tôn thờ “Ông Trời”, Thượng Đế, Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, hay các vị Thần Thánh. Người khác cho rằng Đạo là những lễ nghi cúng tế, tụng kinh, rước kiệu, hoặc Đạo là một giáo hội gồm các chức sắc như Giáo hoàng, Giám mục, Linh mục, tu sĩ nam nữ hay Thượng tọa, Đại đức , Nicô, hoặc một uy quyền do dân chúng uỷ thác để bảo vệ những giá trị luân lư cho xă hội, hoặc Đạo là một thế lực bán-chính trị để củng cố sự thống nhất của cộng đồng hay quốc gia, v.v.
Trên đây là thẩm định giá trị về một số đặc tính của Đạo. Nhưng có một định nghĩa quan trọng, đụng chạm tới yếu tính của tôn giáo, đó là: Đạo giúp giải phóng con người khỏi kiếp lầm than khổ hải, phần hồn, phần xác, đời này và đời sau. Khía cạnh này cũng quan trọng ngang bằng hoặc đi đôi với nhận định: Đạo là mối liên hệ, là niềm tin nơi Vị Chủ Tể vũ trụ càn khôn. Đạo chính là ĐƯỜNG Cứu độ và Giải thoát nhân loại khỏi cảnh u mê tối tăm, tội lỗi và dẫn dắt con người tiến tới kết hiệp với Đấng Siêu Việt, trong tự do, hạnh phúc, vinh hiển. Do đó, tôn giáo có nhiệm vụ cải hóa, giáo dục và thức tỉnh con người mê man trong tội ác. Đạo cũng lo chữa trị bệnh tâm thần, để giúp phát triển nhân phẩm cao quư của con người lên bậc thiện toàn, “nhân linh ư vạn vật “(92) .
Trong Đoạn III này, sẽ t́m hiểu xem Thiên Chúa Giáo quan niệm thế nào về Cứu Độ như: Ư niệm về Cứu Độ là ǵ? Tại sao đặt trọng tâm vào vấn đề “Lịch Sử Cứu Độ”, hơn các tôn giáo khác? V́ lư do nào Chúa Cứu Thế, tự bản tính là Thần Linh, đă tự nguyện xuống thế làm Người, để chịu chết chuộc tội cho nhân loại? Nếu muốn lănh nhận Thiên Ân Cứu Độ của Chúa Cứu Thế, th́ cần những điều kiện ǵ?
Ư NIỆM VỀ CỨU ĐỘ
Suốt ḍng lịch sử Thiên Chúa Giáo, trong Thánh Kinh Cựu Ứơc, Tân Ước, trong lễ nghi phụng vụ, đặc biệt trong Mùa Giáng Thế (Advent), tức thời gian chuẩn bị cho ngày Chúa Cứu Thế Giáng Sinh, ta thường được nghe những bài “Sấm Kư” của các vị Tiên Tri thời Cựu Ước tiên đoán về ngày Chúa Cứu Thế sẽ ra đời. Cảnh trang hoàng từ trong Thánh Đường ra các đường phố, trung tâm thương mại, những bài thánh ca quen thuộc, những hang đá với đèn sao, những cây thông lấp lánh... tất cả đều bộc lộ niềm khát vọng, chờ đón Thiên Ân Cứu Độ cho toàn thể nhân loại!
V́ trọng tâm của Đạo Thiên Chúa nhằm mặc khải, biểu lộ T́nh Thương vô hạn của Đấng Tạo Hóa, đă tạo dựng và muốn cứu độ con người tội lỗi, đau khổ, nên Kinh Thánh và khoa thần học đă dùng nhiều danh từ để diễn tả ư niệm về Cứu Độ .
a) Chữ CỨU ĐỘ, dịch nghĩa của chữ “Salvation”, tiếng Hy lạp là “Soter” chỉ người chữa bịnh, người cứu giúp. Cứu Độ bao hàm ư nghĩa một t́nh trạng suy đồi, nay được sửa lại nguyên vẹn như xưa, nhờ sự giúp đỡ, cứu vớt của một vị Cứu Tinh, ra tay “cứu nhân độ thế”. Theo quan niệm Cứu Độ trên, th́ con người không thể tự cứu lấy ḿnh được, cần phải nhờ một Đấng Cứu Thế giúp đỡ. Chữ “Đấng Cứu Thế”, dịch nghĩa bởi chữ “Salvator” (Latinh) và chữ này dịch ư từ chữ Do thái là “Yehoshua, Joshua”, hay “Josue”. Chữ Yehoshua có nghĩa là: “Thiên Chúa (Yahweh) là Cứu Độ”. Do chữ Yehoshua mà phiên âm ra là “Jesus”, hay GIÊSU (tiếng Việt). Do đó, chữ “Giêsu” có nghĩa là: “Thiên Chúa là sự Cứu Độ”, hay “Giêsu” chính là Chúa Cứu Thế. Dùng chữ “Giêsu”, hay chữ “Chúa Cứu Thế”, cũng cùng một nghĩa. Có hai cách phiên dịch các bản văn ngoại quốc sang Việt Ngữ: một là cách phiên âm, như trường hợp ở đây, từ Yehoshua, Jesus, âm sang Việt ngữ là “Giêsu”; cách thứ hai là dịch theo ư nghĩa của nguyên tự, như “Yehoshua” (Do thái) có nghĩa là “Cứu Độ”, nên chuyển ư nghĩa đó sang Việt Ngữ là “Chúa Cứu Thế”. Cách thứ hai này, xưa gọi là “cách nghĩa”, v́ dùng ư nghĩa, ư niệm của từ ngữ Việt để diễn đạt ư tuởng của danh từ ngoại quốc.( Nên tránh kiểu phiên âm các “tên riêng” từ chữ Hán sang tiếng Việt, v́ kiểu này vừa khác xa âm của tiếng ngoại quốc, lại mặt chữ có vẻ “kỳ cục”, vô nghĩa, chẳng hạn, chữ “Jêsus”, âm từ chữ Hán sang tiếng Việt đọc là “Gia tô”!).
Ta quen gọi “Chúa Cứu Thế” là “CHÚA GIÊSU KITÔ”. Vậy chữ “KITÔ” bởi đâu mà ra? Chữ “Kitô” được phiên âm từ tiếng Latinh, “Christus” và Hilạp, “Christos”. Chữ này dịch ư từ chữ Do thái “Mashiah”, có nghĩa là “kẻ được xức dầu”. Theo tập tục thời Cựu Ước, các vị vua được xức dầu, khi phong vương và các vị thượng tế, khi phong chức. Dân Do Thái vẫn mong đợi một vị anh quân đă được Thiên Chúa hứa ban, nhất là trong thời kỳ bị người Lamă đô hộ. Họ hy vọng vị đó sẽ được Xức dầu phong vương để giải phóng dân khỏi ách nô lệ và thiết lập một vương quốc độc lập tự do (coi Lc 24:21, Acts 1:6) Sau này, thời Giáo Hội sơ khai, các tín hữu ưa thích dùng danh hiệu “GIÊSU KITÔ” (Acts 2:33-36). Các danh hiệu khác cũng được dùng như: “Con vua David” (Mt1:1, Lk1:32,69) hay “vị tiên tri” (Acts 3:22, 7:37). Dĩ nhiên, ư nghĩa của chữ Mashiah (Messiah) đă được thanh lọc để mặc một nội dung thiêng liêng, không theo nghĩa trần tục. Chính Chúa Giêsu tự nhận Ngài là Mashiah (Messiah) (Mark 14:60...) mà thiên hạ mong đợi. Ngài là Vị Cứu Thế giải phóng nhân loại khỏi ách nô lệ tội lỗi, là Hoàng Tử ḥa b́nh, đem lại an vui hạnh phúc và thiết lập một Vương Quốc trường tồn vĩnh cửu: đó là “Nước của Thiên Chúa” (basileia tou theou); những người công chính, đă được giác ngộ, cải tà qui chính, sẽ ở trong Nước do lề luật Chúa cai trị. Theo Thánh sử Luca thuật lại, (Lc 1:30-34), việc đặt tên là Yehoshua, Joshua, Josue (Yahweh là Cứu Độ) đă được loan báo trước: “Thiên thần thưa với Trinh nữ Maria : Maria cứ an tâm, v́ Maria đẹp ḷng Thiên Chúa. Maria sẽ thụ thai và sinh một con trai, và sẽ đặt tên cho trẻ ấy là Yehoshua . Hài nhi đó sẽ nên cao trọng, sẽ được gọi là Con của Đấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho ngôi báu Đavít, tổ phụ, sẽ trị v́ nhà Giacóp măi măi, và Nước của Ngài sẽ tồn tại muôn đời”. Thánh Luca viết tiếp, (Lc 2:21): “Đến ngày thứ tám, người ta làm phép cắt b́ cho con trẻ và đặt tên là Yehoshua (Giêsu), tên đă được Thiên thần chỉ bảo trước khi thụ thai”.
Danh xưng “Chúa Cứu Thế”, hay “Chúa Giêsu Kitô” cũng cùng chỉ một Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm Người để chuộc tội cho nhân loại. Chữ “CHÚA”, bởi đâu mà ra, và có ư nghĩa ǵ? Chữ “CHÚA”, trong danh xưng “Chúa Giêsu Kitô”, có nghĩa là THIÊN CHÚA, chỉ Thần Tính của “Chúa Cứu Thế”. Chữ “Chúa”, dịch nghĩa từ Latinh “Dominus”, và từ Hilạp “KYRIOS”, có nghĩa là “Thiên Chúa” (Lord, Ruler). Trong thời kỳ Cựu Ước, các dịch giả Kinh Thánh dùng chữ “Kyrios”, để dịch ư và thay cho chữ Do thái “Yahweh” (danh xưng của Thiên Chúa, nhưng cấm không được đọc tên đó, v́ ḷng tôn kính). Trong thời Tân Ước, Giáo Hội sơ khai dùng danh xưng “KYRIOS” để tôn vinh, ca tụng “GIÊSU KITÔ”, có ư tuyên xưng “Chúa Cứu Thế” là Thiên Chúa. Nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng hướng dẩn, th́ ta mới biết mà tin tưởng như vậy(1 Cor 12:3, 1 Cor 16:22). Bởi vậy, khoa thần học và Thánh Truyền mới dùng danh hiệu “CHÚA GIÊSU KITÔ”, để nhấn mạnh Thần Tính của Ngài, mặc dầu một số người trong Giáo Hội, trong Hội Đường (Synagogue), và hoàng đế phản đối.
Cũng nên nhận định thêm về cách xưng hô trong Việt ngữ như danh xưng: “Đức Chúa Giêsu Kitô”, “Đức Chúa Trời”,... Chữ “Đức” ư nghĩa là ǵ, và có ư nghĩa tôn giáo không? Theo cuốn “Việt Nam Tự Điển”( Imprimerie Trung Bắc Tân Văn, 1931), chữ “Đức” được định nghĩa như sau: “Tiếng gọi tôn các bậc vua chúa thần thánh: Đức vua, đức Thánh, đức Phật, đức ông , đức bà”. (trang 197). Do đó, chữ “Đức”, không có ư nghĩa đặc biệt về tôn giáo, thần học, v́ áp dụng cho mọi người đáng được tôn kính, cả trong đạo và ngoài đời. Chữ “Đức” không ám chỉ hay biểu lộ tính chất thần linh. Bởi vậy, theo ư nghĩa thần học của Công Giáo, thiết tưởng ta chỉ được phép dùng danh xưng như: “Đức Chúa Giêsu Kitô”, hay “Chúa Giêsu Kitô”, hoặc “Chúa Kitô”, “Chúa Giêsu”, nghĩa là luôn phải kèm theo chữ “CHÚA”. Những kiểu xưng hô đă được “rút ngắn”, như: “Đức Giêsu Kitô”, “Đức Kitô”... có thể vô t́nh đă bỏ quên yếu tố “Thiên Tính” (CHÚA) như Đức Tin và Thần Học dạy, và có thể đặt “CHÚA GIÊSU” vào hàng các bậc vĩ nhân, anh hùng, nhưng cũng chỉ thuộc loài thụ tạo chăng? (93).
b) Thần học Thiên Chúa Giáo c̣n dùng danh từ CỨU CHUỘC, ( Redemption). Chữ Cứu Chuộc bao hàm ư nghĩa lỗi lầm (tội nguyên tổ và tội cá nhân phạm). Nhưng v́ loài người không thể tự chuộc lại tội lỗi lớn lao, đă cả dám từ chối ḷng yêu thương vô hạn của Chúa, nên cần Chúa tự ư ra tay cứu chuộc, nhờ Thập Giá của Chúa Giêsu Kitô. Ḷng thương xót vô hạn của Chúa luôn muốn cứu độ nhân loại, đă được thể hiện trong lịch sử nhờ biến cố Giáng thế làm người và chịu nạn chịu chết của Con Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô. (94).
c) Danh từ GIẢI THOÁT, hay Giải Phóng, (Liberation, dịch bởi chữ Latinh liberare, liber, nghĩa là làm cho tự do). Theo nguyên tự, chữ này chỉ việc cứu vớt những người nô lệ và tù nhân khỏi cảnh giam cầm để hưởng tự do. Theo nghĩa rộng, nghĩa bóng, Giải phóng, Giải thoát, là từ một t́nh trạng bị áp bức đè nén, con người được vùng lên, bẻ gẫy mọi xiềng xích trói buộc, cản trở để tiến tới tự do phát triển. Trong xă hội hiện đại, chữ Giải phóng áp dụng vào việc mở mang kinh tế, xây dựng nền độc lập quốc gia, chống bệnh tật nghèo đói, v.v. Theo nghĩa tôn giáo, Giải thoát, Giải phóng, chính là cứu vớt nhân loại khỏi ách nô lệ tội lỗi, ma quỷ, hỏa ngục... để giúp tâm trí con người t́m ra ánh sáng Chân Lư, và phát triển nhân phẩm đến bậc thiện toàn(95).
SỰ QUAN TRỌNG CỦA “LỊCH SỬ CỨU ĐỘ”
Đối với Thiên Chúa Giáo, tính chất “lịch sử” rất quan trọng, v́ Kế Hoạch Cứu Độ nhân loại được tuần tự diễn ra trong thời gian, từ nguyên nhân khởi thuỷ, qua các biến cố, các nhân vật lịch sử và cuối cùng được kết thúc nơi biến cố duy nhất là việc Con Thiên Chúa giáng thế làm Người để cứu chuộc thiên hạ.
1. Ư Niệm về Lịch Sử :
Thiên Chúa giáo tin vào Vị Chúa Tể vũ trụ càn khôn xếp đặt và điều khiển mọi vật mọi loài theo một trật tự và một hướng đi để tiến đến cùng đích của chúng. Từ b́nh diện thiên nhiên như tinh tú, địa cầu, thời tiết, cỏ cây, cầm thú, nhân loại, vươn lên b́nh diện siêu nhiên: tất cả mọi loài thụ tạo đều do một Bàn Tay Chúa Quan Pḥng an bài. Các diễn biến lịch sử đều nhằm vào một cùng đích (telos): Vị Chúa Tể vũ trụ vừa là Nguyên thủy (ALPHA) và Cứu Cánh (OMEGA) của mọi loài. Ngài đă an bài xếp đặt mọi biến cố của Lịch Sử Cứu Độ, trong tôn giáo cũng như ngoài thế tục, để được kết thúc nơi Con Người-Chúa Cứu Thế, khi thời gian đă được viên măn. Chúa Cứu Thế là biến cố lịch sử duy nhất của vũ trụ, và của nhân loại. Bởi vậy, theo Thiên Chúa Giáo, Lịch Sử Cứu Độ cũng giống như tấn tuồng mà Thiên Chúa là Tác Giả: nguyên nhân mở màn, các biến cố, các diễn viên, và cuối cùng kết thúc nơi Chúa Cứu Thế.
Hơn nữa, ư niệm về Lịch sử liên quan với ư niệm về Bản vị, Ngôi vị, Nhân vị. Hai quan niệm này đi liền với nhau. Thần học Thiên Chúa giáo nhấn mạnh ư niệm Ngôi Vị của Thiên Chúa, nên cũng diễn giảng sâu rộng về việc Thiên Chúa can dự vào các biến cố của ḍng lịch sử nhân loại. Vũ trụ càn khôn , kể cả nhân loại, không phải do một thế lực hay một luật lệ khắc nghiệt, vô-bản vị điều động một cách tiền định, nhưng do một Thiên Chúa, như một người Cha đầy t́nh thương dẫn dắt nhân loại tiến đến một cùng đích là được lĩnh Ơn Cứu Độ, và Giải Thoát khỏi cảnh hư nát, diệt vong.
Theo Kinh Thánh và Thần học Thiên Chúa Giáo th́ Thiên Chúa, v́ T́nh Thương vô hạn, vô vị lợi, đă hoàn toàn tự ư muốn cứu độ hết mọi người, không trừ một ai (coi 1 Tim 2:1-6 và Mt 26:28, Mk 10:45, Rom 11:31, Mat 23:27, Lk 19:41). Kinh Tin Kính có câu : “V́ loài người chúng tôi, và để cứu rỗi chúng tôi, Người (Chúa Giêsu Kitô ) đă từ trời xuống thế...”. Do đó, chẳng những Chúa Kitô chịu chết để chuộc tội cho các tín hữu, cho những ai đă được Ân Huệ nhận biết Chúa, nhưng cho hết mọi người ngoại giáo, lạc giáo, vô thần, tất cả những ai đứng ngoài Hội Thánh cũng được Thiên Ân đủ để lĩnh Ơn Cứu Độ. (96).
Tại sao ư niệm “lịch sử” được nhấn mạnh trong chương tŕnh Cứu Độ ? V́ Chúa muốn cứu độ mọi người và Ân Huệ Cứu Độ của Chúa phải được thực hiện một cách cụ thể trong Lịch Sử của nhân loại. Lịch sử Cứu Độ, theo nghĩa tổng quát, bao gồm tất cả những kinh nghiệm về Cứu Độ, Giải Thoát của nhân loại từ xưa tới nay, từ thời trước Chúa Cứu Thế ra đời, và những kinh nghiệm của các tôn giáo ngoài Thiên Chúa Giáo. Những kinh nghiệm tôn giáo đó như chuẩn bị cho một biến cố độc nhất, vĩ đại nhất là sự xuất hiện của Chúa Cứu Thế trong lịch sử nhân loại. Do đó, loài người hi vọng đón nhận Hồng Ân Cứu Độ trong lịch sử, và Ân Huệ Cứu Độ đó mang tính chất lịch sử v́ được ban xuống khi thời gian đă viên măn. Có thể nói một cách tổng quát, toàn thể lịch sử, tôn giáo cũng như thế tục của nhân loại đều được sửa soạn để đón nhận Thiên Ân Cứu Độ. Bởi đó, Lịch Sử là Thiên Ân, Thiên Ân là Lịch Sử! Thật vậy, ta nhận thấy biết bao Ân Huệ mà Đấng Tạo Hóa ban cho thế giới này. Chẳng hạn, sự duy nhất của giống người, dầu khác mầu da chủng tộc. Theo triết gia và nhà cổ sinh vật học Teilhard de Chardin, mỗi người có “cái khiếu về hiện hữu” (le gout de l'être, the taste for being). Năng khiếu này là một Ân Huệ Chúa ban để giúp ta cảm nghiệm được sự hiện hữu, hiện diện của Chúa trong các sự vật. Thần Linh không ở ngoài lănh vực nhân sinh, nhân sự, nhưng ở khắp mọi nơi. Nhờ năng khiếu biết cảm nghiệm sự Linh Thiêng, con người có thể nh́n thấy ánh sáng Thần Linh chiếu qua các vật hiện hữu. Bởi đó, nhiều sử gia đă nhận thấy sự trùng hợp kỳ diệu của các nền triết học, tôn giáo đông -tây xuất hiện đồng thời vào thế kỉ thứ 6 thứ 5 trước khi Chúa Cứu Thế mở đầu một kỉ nguyên mới. Bên tây phương, ở Hilạp, có Héraclite (535-475), Pythagore (570-496), Plato (428-348), Socrates (470-399), Aristotle (384-322); bên đông phương, vào thời Xuân thu (772-481) có Khổng Tử (khoảng 552 và 479) và Lăo Tử (khoảng 570 và 490); bên Ấn độ, có Siddhartha Gautama tức Phật Thích Ca (khoảng thế kỉ 6). Các nền văn minh cổ thuộc miền Cận đông, Tiểu Á, Ai cập, các đế quốc Hi lạp, La mă kế tiếp nhau... tất cả như để chuẩn bị cho ngày quang lâm, giáng thế của Chúa Cứu Thế. Ngài đến để hiệp nhất các nền văn hóa, văn minh, và triệu tập toàn thể nhân loại vào một mối (coi Chú thích: Bản lược đồ: Lịch sử đạo đời đồng qui về Chúa Cứu Thế).
2. Lịch Sử của Dân Tộc được Tuyển Chọn
Như vừa tŕnh bày ở trên, đó là Lịch Sử Cứu Độ theo nghĩa tổng quát. Dưới đây, ta sẽ t́m hiểu Lịch Sử Cứu Độ chính thức hay đặc biệt. Để thực hiện việc Cứu Độ nhân loại, Thiên Chúa đă đặc biệt tuyển chọn một dân tộc, là dân Do thái, để chuẩn bị kĩ càng hơn cho biến cố độc nhất vô nhị: Chúa Cứu Thế là Con Thiên Chúa giáng trần. Lịch Sử Cứu Độ đặc biệt này bắt đầu khi Thiên Chúa kư kết một Giao Ước (Covenant) với Tiên tri Maisen (Moses), vị Lănh đạo dân Do thái. Thiên Chúa đă muốn dùng Giao Ước lịch sử, đặc biệt kư kết với dân tộc nhỏ bé, làm phương thế để đạt tới cùng đích phổ quát là kết nạp tất cả mọi người về cùng Chúa, nhờ Con Thiên Chúa giáng thế làm Người. Do dó, có thể nói, “LỊCH SỬ CỨU ĐỘ” đặc biệt này là một giai đoạn lịch sử đặc biệt xuất phát tự ḍng Lịch Sử Cứu Độ phổ quát, v́ trong Cựu Ước (Old Covenant, Old testament) cũng đề cập đến Nguyên nhân Cứu Độ và ḷng mong đợi một Vị Cứu Tinh, chẳng những cho dân tộc được tuyển chọn để chuẩn bị là dân Do thái, mà c̣n cho toàn thể nhân loại nữa!
a. Giao Ước là ǵ ? Tại sao gọi là Cựu Ước, Tân Ước?
Chữ “Giao Ước” dùng trong Kinh Thánh dựa theo kiểu mẫu khế ước mà các dân tộc cổ thường kí kết giữa vị quân vương và các chư hầu. Do đó, danh từ Giao Ước( Covenant) bao hàm ư nghĩa hai bên trao đổi lẫn nhau. (Danh từ “Testament”, nghĩa là “tờ chúc thư” (last will and testament), không diễn tả yếu tính của sự Giao Ước là trao đổi giữa đôi bên). Khi Giao Ước tại núi Sinai được kí kết, th́ một bên là “Yahweh” hứa sẽ yêu thương và bên kia, dân Do thái cũng phải đáp lại, bằng sự phục tùng và trung thành. Khi làm lễ kư Giao Ước, th́ giết thú vật, lấy máu để tế. Đó là Giao Ước thời xưa, gọi là thời Cựu Ước ( Old Covenant, Old Testament). Từ khi Con Thiên Chúa giáng thế làm Người, th́ Hồng Ân Cứu độ của Chúa cũng được gọi là một Giao Ứớc, Giao Ước Mới, Tân Ước (New Covenant, New Testament ), v́ một bên là Chúa ban Hồng Ân Cứu độ, bên kia là nhân loại được cứu rỗi nhờ ḷng tin vào Chúa Cứu Thế (coi Heb 7-10). Trong thời Tân Ước, không dùng máu súc vật khi giao kết, nhưng nhờ Máu Chúa Giêsu Kitô đă đổ ra trên Thập Giá để cứu chuộc (Mk 14:24, Lk 22:20, 1 Cor 11:25).
b. Hợp Nhất giữa Cựu Ước và Tân Ước
Toàn bộ Kinh Thánh được chia ra Cựu Ước và Tân Ước. Cựu Ước gồm nhiều tập sách nhỏ mà nội dung là những sự kiện và những lời tiên tri, tiên đoán về sự xuất hiện của một Mashiah sẽ đến để thiết lập Vương Quốc Thiên Chúa. Các vị Tiên tri, là những Phát ngôn viên ( Prophets) được Thiên Chúa soi sáng, chỉ dẫn để rao giảng, dạy đỗ, cảnh cáo dân chúng biết trung thành tuân giữ lời Giao ước, v́ Nước Thiên Chúa đang tiến lại. Tân Ước là những tập sách ghi lại những Lời rao giảng của chính Chúa Cứu Thế. Ngài là Lời Giao Ước đă dược thực hiện. Ngài chính là Lời (Verbum, Word) Thiên Chúa hóa thành Huyết Nhục, thành Người, và cư ngụ giữa chúng ta (Jn 1:14 ), v́ Nước Thiên Chúa, tức là Hồng Ân Cứu độ đă kề bên. Hăy tỉnh ngộ, hối cải và tin vào Tin Mừng Cứu độ (Mk 1:15). Do đó, Cựu Ước và Tân Ước không phải không liên quan với nhau. Có thể nói, Cựu Ước và Tân Ước là một, v́ Cựu Ước dọn đường, tiên đoán những điều sẽ thực hiện trong Tân Ước, khi thời gian viên măn đến .
c. Cựu Ước Tiên Báo về Tân Ước
V́ tính chất duy nhất giữa Cựu Ước và Tân Ước, như vừa tŕnh bày ở trên, và v́ có bàn tay Thiên Chúa Quan Pḥng điều khiển , hướng dẫn lịch