SUY TƯ CỦA TÂM LINH VÀO ĐỜI
Về bài viết Phái Ngũ Tuần của Lm Phêrô Khảm
Bài viết của Linh mục Phêrô Nguyễn Khảm khá hay khiến cho nhiều người công giáo chúng ta đặt lại vấn đề về cuộc sống đạo của chính ḿnh. Nhân tiện đây, Tâm Linh Vào Đời xin mạn phép góp một chút suy tư qua những điểm chính yếu sau đây:
Cách thế Phái Ngũ Tuần áp dụng để lôi kéo tín đồ.
Vấn đề sheep-stealing (ăn cắp chiên).
Rút kinh nghiệm.
Lưu ư: Xin chép nguyên văn bài của linh mục Phêrô Nguyễn Khảm ở phía dưới để quư độc giả dễ theo dơi.
1. Cách thế Phái Ngũ Tuần áp dụng để lôi kéo tín đồ.
Tác giả không nói rơ phái ngũ tuần đă và đang dùng những cách thế nào mà chúng không phù hợp với tinh thần Kitô giáo.
Nhưng đọc tiếp xuống phía dưới, độc giả có lẽ sẽ rất ngỡ ngàng khi thấy 2 đoạn tŕnh bày về phương thế mà phái Ngũ Tuần đă dùng… sao mà QUÁ PHÙ HỢP VỚI TINH THẦN KITÔ GIÁO:
Cách thế thứ nhất:
Tác giả đă viết: Vị Giám Mục Hồng Kông ngồi bên cạnh kể rằng có nhiều người Công Giáo Philippines sang Hồng Kông làm việc, và mỗi Chúa Nhật, họ đến dự những buổi cầu nguyện của phong trào Hiện Xuống chứ không đi dâng lễ. Lư do là v́ ở đó họ gặp được sự đón tiếp rất nồng hậu và cảm thấy được thoát ra khỏi tâm trạng cô đơn của những người phải làm việc xa nhà.
Tại sao vậy? Tác giả nhận xét rất đúng khi phải đối mặt với thực tế phũ phàng:
Không ít tham dự viên nh́n nhận rằng các cộng đoàn giáo xứ Công Giáo thường rộng lớn với nhiều ngàn người, v́ thế khi đến nhà thờ dâng Thánh Lễ, nhiều tín hữu cảm thấy ḿnh như kẻ xa lạ và vô danh chứ không phải là thành viên của một cộng đoàn. Ấy là chưa kể đến một vài người có trách nhiệm Mục Vụ lại thích mang bộ mặt h́nh sự với giáo dân!
Như vậy Phái Ngũ Tuần đă và đang thực hiện lời Thày Giêsu nhắn nhủ: Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hăy yêu thương nhau ; anh em hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương anh em. (Ga 13:34)
Cách thế thứ hai:
Những câu hỏi mà các tín đồ của phong trào Hiện Xuống hay đặt ra cho người khác là:
Bạn đă gặp Chúa chưa?
Bạn đă nhận Chúa Giêsu vào ḷng bạn chưa?
Bạn đă thực sự là Kitô hữu chưa?
Bạn có cảm nghiệm được t́nh yêu của Chúa chưa?
Như thế là họ xóay vào chiều sâu Tâm Linh, mục đích giúp cho người nghe thức tỉnh và nh́n sâu vào tâm hồn ḿnh để nhận ra sự hiện diện của Chúa một cách sống động.
Trong khi đó người công giáo thường hỏi nhau: Bạn tham gia những hoạt động nào trong giáo xứ? hội đoàn nào? ca đoàn nào? hay hội đồng mục vụ? ..mà linh mục Nguyễn Trọng Viên gọi là Đạo Sinh họat.
Như vậy Phái Ngũ Tuần đă và đang thực hiện lời Kinh Thánh: Tv 34:9 Hăy nghiệm xem CHÚA tốt lành biết mấy: hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người !
2. Vấn đề sheep-stealing (ăn cắp chiên).
Với ánh mắt Công giáo, nh́n thấy họ ăn cắp chiên giữa đường phố, thậm chí ngay tại cổng chuồng chiên là sân nhà thờ Đức Bà Saigon như chị Nguyễn Thị xuân đă chia sẻ ở trên, ḷng hàng ngũ chủ chăn nghe sao cay đắng và xót xa.. rồi bèn kết tội cho họ là sheep-stealing (ăn cắp chiên).
Độc giả sẽ âm thầm tự hỏi:
Nếu Đạo Công Giáo chúng ta ngon lành th́ ai mà đi theo Phái Ngũ Tuần làm chi?
Nếu bảo rằng: Thiếu hiểu biết về giáo lư nên dễ bị lung lạc trước những lời tố cáo Giáo Hội không trung thành với Chúa Giêsu và Tin Mừng của Chúa.
Không lung lạc sao được khi thực tế quá cay đắng và xót xa..
· Nhiều tín hữu cảm thấy ḿnh như kẻ xa lạ và vô danh chứ không phải là thành viên của một cộng đoàn khi đi lễ ngày Chủ nhật.
· Ấy là chưa kể đến một vài người có trách nhiệm Mục Vụ lại thích mang bộ mặt h́nh sự với giáo dân!
· Thêm vào đó những vụ các linh mục xâm phạm t́nh dục nổ ra ở Mỹ, khiến Giáo Hội phải bồi thường hàng trăm triệu Đô-la ..
Như thế Giáo Hội có c̣n trung thành với Chúa Giêsu và Tin Mừng của Chúa không???
Tất nhiên không thể vơ đũa cả nắm, nhưng những con sâu quá lớn đó…sẽ dễ dàng lung lạc niềm tin vào Giáo hội. Và kết quả là việc ăn cắp chiên tất nhiên sẽ dễ xảy ra thôi.
Tuy nhiên với ánh mắt Ngũ Tuần, chắc chắn họ xác tín rằng: Chúng tôi đang lắng nghe lời và thực hiện Thày Giêsu đấy chứ:
Mt 10:27 Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, th́ hăy nói ra giữa ban ngày ; và điều anh em nghe rỉ tai, th́ hăy lên mái nhà rao giảng.
Họ sẵn sàng nói về Chúa ở bất cứ nơi đâu và nói say sưa, nói với tất cả xác tín.
Mc 1:17 “Các anh hăy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.”
Rơ ràng là họ chỉ đang thực hiện Lời Thày Giêsu đấy chứ
Họ chủ trương Lưới người chứ không chủ trương ăn cắp chiên. Vị thuyết tŕnh viên kia xót ruột quá nên mới sử dụng từ nghe có vẻ cay cú như thế.
Nếu Thày Giêsu có mặt ngay lúc này , chắc chắn Thày sẽ vỗ về an ủi vị thuyết tŕnh viên ấy: Đừng lo nhé, và..
Lc 9:50 “Đừng ngăn cản người ta. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta !”
3. Rút kinh nghiệm
Đúng như tác giả đề nghị: Chúng ta cần phải nghiêm chỉnh xét ḿnh lại:
Phải tự hỏi chính ḿnh sai ở chỗ nào?
Không biết người Công Giáo có thực sự hănh diện về đức tin của ḿnh không?
Cử hành Phụng Vụ của ta không biết có tác động trên tâm hồn người tham dự không hay chỉ là những nghi thức máy móc, vô hồn?
Trong ḷng Giáo Hội, tín hữu cảm thấy thiếu thốn điều ǵ đến nỗi phải bỏ Giáo Hội mà đi t́m trong những phong trào và giáo phái khác?
Tại sao người ta không t́m thấy câu trả lời trong Giáo Hội Công Giáo mà lại đi t́m ở nơi khác, kể cả người Công Giáo cũng bỏ đạo mà đi theo họ - Phái Ngũ Tuần?
Ta có thể học được điều ǵ từ họ?
Tóm lại
Theo chủ quan của Tâm Linh Vào đời, phái Ngũ tuần đang dùng những cách thế rất hợp với tinh thần Kitô giáo
Cuối cùng là những suy tư dành cho mỗi người trong chúng ta, dù là giáo dân hay tu sĩ, linh mục, tất nhiên là cả giám mục nữa …
Phái Ngũ Tuần
và những thách đố cho Giáo Hội Công Giáo
Lm. Phêrô Nguyễn Khảm
Làng Lagiarô là tên gọi một ngôi làng nằm trên đồi cao, cách thủ đô Seoul của Hàn Quốc khoảng 25 cây số về phía Nam. Lấy tên một người nghèo trong sách Phúc Âm để gọi ngôi làng bởi lẽ ở đó có một trại phong do các tu sĩ Công Giáo điều hành. Gắn liền với trại phong là Nhà Aaron (Aaron House), nhà tĩnh tâm của giáo phận Guang-Dong với khung cảnh hết sức tĩnh lặng và thơ mộng. Khung cảnh tĩnh lặng và sự hiện diện của những bệnh nhân phong gần bên có thể giúp ta dễ trở về với thân phận đích thực của ḿnh trước nhan Thiên Chúa: thân phận của kẻ nghèo.
Cũng chính ngôi làng đó đă được Ban tổ chức chọn làm nơi hẹn gặp cho một khóa hội thảo mang chủ đề Kiếm T́m Sự Hiệp Nhất Các Kitô Hữu: Hiện Nay Ta Đang Đứng Ở Đâu? Cuộc hội thảo này nằm trong nỗ lực của Hội Đồng Giáo Hoàng về Hiệp Nhất, mong muốn chia sẻ cho tất cả các Hội Đồng Giám Mục trên toàn thế giới những thông tin cần thiết trong lănh vực hiệp nhất các Kitô hữu, đồng thời trao đổi với nhau về những định hướng mục vụ cần khai triển. Chính v́ thế, cùng với cuộc hội thảo được tổ chức tại đây dành cho các Hội Đồng Giám Mục Á Châu, những cuộc hội thảo tương tự cũng đă và sẽ được tổ chức tại Phi Châu và Nam Mỹ.
Cuộc hội thảo lần này quy tụ các đại diện của các Giáo Hội đến từ Ấn độ, Bangladesh, Hàn quốc, Hồng Kông, Indonesia, Macau, Myanmar, Philippines, Thái Lan và Việt Nam. Hầu hết là các Giám Mục đứng đầu tiểu ban về Hiệp Nhất trong các Hội Đồng Giám Mục. Chính ra số tham dự viên phải nhiều hơn nữa nhưng v́ nhiều lư do khác nhau, một số đại diện các Giáo Hội địa phương đă không thể có mặt. Đức Hồng Y Walter Kasper, Chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Hiệp Nhất, đích thân chủ tŕ cuộc hội thảo này. Ngài đă có hai bài thuyết tŕnh quan trọng về mặt thần học: (1) Ut Unum Sint và Những Nguyên Tắc Công Giáo về Hiệp Nhất; Ứng Dụng cho Các Giáo Hội tại Á Châu; (2) Phong Trào Đại Kết: Hoàn Cảnh Đang Đổi Thay và Những Thách Đố Mới. Đi cùng với ngài từ Rôma sang, c̣n có một chuyên viên thần học là Đức Ông Juan Usma, cũng đă có hai bài thuyết tŕnh tập trung vào phái Ngũ Tuần hay Pentecostalism. Những bài thuyết tŕnh được tŕnh bày theo hướng đối thoại; v́ thế, sau mỗi bài thuyết tŕnh, các tham dự viên đă đóng góp ư kiến ngay hoặc để làm sáng tỏ vấn đề hoặc để bổ túc ư kiến cho thuyết tŕnh viên. Cùng với những bài thuyết tŕnh, mỗi Giáo Hội địa phương cũng được yêu cầu tŕnh bày cho hội nghị về t́nh h́nh hiệp nhất Kitô hữu trong địa phương ḿnh. Đồng thời, các tham dự viên cũng được chia thành từng nhóm nhỏ, ở đó họ có thể chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm thực tế hơn nữa.
Những Ngỡ Ngàng
Tuy định hướng của cuộc hội thảo là xây dựng sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu nhưng điểm nhấn lại là phái Ngũ Tuần hay c̣n được gọi là phong trào Hiện Xuống (Pentecostalism). Đến từ một đất nước mà ở đó xem ra phong trào này chưa có tiếng vang bao nhiêu, tôi thực sự ngỡ ngàng trước những thông tin liên quan đến sự phát triển và tầm ảnh hưởng của phong trào này trên khắp thế giới, cách riêng tại Á châu. Phong trào này mới chỉ bùng nổ vào những năm 1906-1909 ở Azusa Street tại Los Angeles (Hoa Kỳ), thế mà chỉ sau 100 năm, số tín đồ hiện tại (bao gồm cả phong trào canh tân đặc sủng của Công giáo) đă lên tới 600 triệu người, nghĩa là trở thành cộng đồng Kitô hữu lớn hàng thứ hai, chỉ sau Giáo Hội Công Giáo (1 tỷ 100 triệu) và lớn hơn các Giáo Hội Tin Lành khác. Riêng tại Á Châu, con số tín đồ thuộc phong trào này đă lên tới 135 triệu, phần lớn ở Hàn Quốc, Trung Hoa, Ấn Độ, Indonesia, nhưng cũng khá mạnh tại Philippines, Myanmar và Nhật Bản.
Lại ngỡ ngàng nữa khi biết rằng sự phát triển của phong trào Hiện Xuống đồng thời cũng là mối đe dọa nặng nề cho Giáo Hội Công Giáo, bởi lẽ khá nhiều tín hữu công giáo đă rời bỏ Giáo Hội để gia nhập phong trào này. Từ sheep-stealing (ăn cắp chiên) được thuyết tŕnh viên sử dụng nghe sao cay đắng và xót xa cho dẫu phản ánh khá trung thực cách thế mà phong trào này áp dụng để lôi kéo tín đồ, những cách thế không mấy phù hợp với tinh thần Kitô Giáo. T́nh h́nh này đă là nỗi băn khoăn mà các Giám Mục từ nhiều miền trên thế giới đề cập với Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và Bênêđitô XVI suốt 20 năm qua.
Nỗi ngỡ ngàng cuối cùng là phong trào này đă có mặt tại Việt Nam nhưng bản thân tôi là người Việt Nam lại không nắm được t́nh h́nh. Theo phân tích của các chuyên viên th́ phong trào này đă có mặt tại nhiều nước trong khu vực Á Châu nhưng ở những giai đoạn khác nhau: giai đoạn ấu thơ, giai đoạn đang phát triển và giai đoạn thành công rực rỡ. Theo đó, phong trào Hiện Xuống tại Việt Nam được xếp vào giai đoạn ấu thơ, nghĩa là đă có sự hiện diện và đang t́m đường phát triển. Rồi đây, khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, cánh cửa đất nước sẽ mở rộng cho tiến tŕnh toàn cầu hóa, đây sẽ là cơ hội thuận tiện cho phong trào này phát triển mạnh như tại Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Philippines và Indonesia.
Và Những Bài Học
Những ngỡ ngàng nói trên kéo theo những nỗi e ngại khi tự hỏi: Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam đă biết đến t́nh h́nh này chưa? Đối diện với t́nh h́nh đó, định hướng mục vụ nào có thể được coi là thích hợp và hiệu quả nhất?
Có lẽ phản ứng tự nhiên là lên án, lên án những sai lầm về mặt đức tin cũng như cách thế chiêu dụ tín đồ của phong trào này. Thế nhưng nếu chỉ ngưng lại ở đó th́ liệu có ích lợi ǵ? Chính ở đây, khá nhiều bài học có thể rút ra từ hội nghị này.
Bài học đầu tiên là cần mang lấy một lối nh́n tích cực hơn là tiêu cực, nghĩa là khám phá nơi đó sự hồi sinh tôn giáo. Chính Đức Gioan Phaolô II là người đi bước trước về thái độ này. Trong thông điệp Redemptor Hominis, ngài đă nh́n vấn đề và những thách đố của nó trong bối cảnh của một cuộc hồi sinh tôn giáo khi ngài viết: “Thời đại chúng ta vừa vĩ đại vừa hấp dẫn. Một đàng, trong khi xem ra người ta đang theo đuổi sự thịnh vượng vật chất và càng lúc càng ch́m sâu trong chủ nghĩa tiêu thụ và duy vật, đàng khác ta lại đang chứng kiến sự kiếm t́m ư nghĩa đời sống, nhu cầu đời sống nội tâm, và một khát vọng học hỏi những h́nh thức và phương pháp mới giúp suy niệm và cầu nguyện. Không chỉ trong các nền văn hóa vốn có những yếu tố mạnh về tôn giáo nhưng ngay cả trong những xă hội tục hóa, người ta vẫn kiếm t́m chiều kích thiêng liêng của đời sống như phương thuốc chống lại t́nh trạng phi nhân. Hiện tượng này, cái được gọi là sự hồi sinh tôn giáo, không phải là không mơ hồ nhưng cũng là một cơ may” (số 38). Là một cơ may bởi lẽ người môn đệ Chúa Giêsu có thể giới thiệu cho thời đại này Tin Mừng như là lời đáp trả tuyệt hảo cho những khát vọng căn bản và sâu xa nhất của con người. Thế nhưng vấn đề là tại sao người ta không t́m thấy câu trả lời trong Giáo Hội Công Giáo mà lại đi t́m ở nơi khác, kể cả người Công Giáo cũng bỏ đạo mà đi theo họ?
Câu hỏi đó dẫn đến bài học thứ hai mà hội nghị này muốn mọi tham dự viên quan tâm, ấy là thay v́ trách người th́ phải trách ḿnh, thay v́ vội vă lên án th́ phải tự tra vấn cung cách làm Mục Vụ của ḿnh. Đức Hồng Y Walter Kasper đă nhấn mạnh đặc biệt điểm này khi ngài nói: Phản ứng đầu tiên của ta là phải nghiêm túc xét lại cách làm Mục Vụ của ḿnh. Phải tự hỏi xem tại sao một số người Công Giáo lại bỏ Giáo Hội và trở thành những nạn nhân của các giáo phái và các nhóm ngoài Công Giáo? Chúng ta không nên chỉ dừng lại với câu hỏi: đâu là điểm sai lầm của những giáo phái này, nhưng phải tự hỏi chính ḿnh sai ở chỗ nào? Trong ḷng Giáo Hội, tín hữu cảm thấy thiếu thốn điều ǵ đến nỗi phải bỏ Giáo Hội mà đi t́m trong những phong trào và giáo phái khác? Ta có thể học được điều ǵ từ họ?
Phong trào Hiện Xuống nhấn mạnh đến ba điểm, có thể được tóm tắt bằng ba từ tiếng Anh: believing, belonging, và behaving.
Believing là tin. Dĩ nhiên cả người Công Giáo cũng như tín đồ của phong trào Hiện Xuống đều nhấn mạnh đến đức tin. Thế nhưng điều đáng nói là phong trào Hiện Xuống đề cao cảm nghiệm, cảm nghiệm t́nh yêu Thiên Chúa, cảm nghiệm sự hiện diện và tác động của Thánh Thần, được biểu hiện cách cụ thể qua các đặc sủng, việc nói tiếng lạ, chữa lành bệnh tật thể xác cũng như tâm hồn... Những câu hỏi mà các tín đồ của phong trào Hiện Xuống hay đặt ra cho người khác là: Bạn đă gặp Chúa chưa? Bạn đă nhận Chúa Giêsu vào ḷng bạn chưa? Bạn đă thực sự là Kitô hữu chưa? Bạn có cảm nghiệm được t́nh yêu của Chúa chưa? Đồng thời những buổi cầu nguyện của phong trào này thường đầy cảm xúc, tác động mạnh trên t́nh cảm của người tham dự. Trong khi đó, xem ra phía Công Giáo nhấn mạnh nhiều đến chân lư và có vẻ coi nhẹ cảm nghiệm v́ cho rằng nó nặng cảm tính và dễ mang tính chủ quan. Câu hỏi có thể đặt ra là phải chăng chúng ta đă quá nhấn mạnh đến ư tưởng hơn là t́nh cảm, đến chân lư khách quan (objectivity) mà xem thường sự đáp ứng chủ quan của tín hữu (subjectivity)? Chẳng hạn như trong công tác giảng dạy, ta nhấn mạnh nhiều đến những lư luận mà không quan tâm xem những lư luận đó tác động trên t́nh cảm người nghe ra sao và được đón nhận thế nào. Rồi cử hành Phụng Vụ của ta không biết có tác động trên tâm hồn người tham dự không hay chỉ là những nghi thức máy móc, vô hồn? Nếu khoa tâm lư ngày nay nói với ta rằng không phải những ư tưởng nhưng chính t́nh cảm mới là cái ǵ sâu xa nhất nơi con người và có thể huy động sức mạnh của toàn bộ con người, th́ nhận xét đó lại chẳng nên quan tâm trong cung cách làm Mục Vụ sao?
Thế rồi khi người Kitô hữu đặt niềm tin vào Chúa Kitô, th́ đồng thời họ thuộc về Giáo Hội của Chúa, đó là belonging. Nói về mặt lư thuyết là thế nhưng vấn đề là trong thực tế, người tín hữu có cảm nhận được rằng họ đang thuộc về một cộng đoàn, và được cộng đoàn đó yêu thương, quan tâm chăm sóc không. Không ít tham dự viên nh́n nhận rằng các cộng đoàn giáo xứ Công Giáo thường rộng lớn với nhiều ngàn người, v́ thế khi đến nhà thờ dâng Thánh Lễ, nhiều tín hữu cảm thấy ḿnh như kẻ xa lạ và vô danh chứ không phải là thành viên của một cộng đoàn. Ấy là chưa kể đến một vài người có trách nhiệm Mục Vụ lại thích mang bộ mặt h́nh sự với giáo dân! Vị Giám Mục Hồng Kông ngồi bên cạnh kể rằng có nhiều người Công Giáo Philippines sang Hồng Kông làm việc, và mỗi Chúa Nhật, họ đến dự những buổi cầu nguyện của phong trào Hiện Xuống chứ không đi dâng lễ. Lư do là v́ ở đó họ gặp được sự đón tiếp rất nồng hậu và cảm thấy được thoát ra khỏi tâm trạng cô đơn của những người phải làm việc xa nhà. C̣n vị Giám Mục ở Mindanao, Philippines th́ chia sẻ rằng ngài không phải lo lắng ǵ về phong trào này trong giáo phận của ngài, v́ phần lớn các tín hữu thuộc về những cộng đoàn Giáo Hội cơ bản rất gắn bó với nhau và quan tâm chăm sóc cho nhau những ǵ rất cụ thể trong đời sống. Âu cũng là những kinh nghiệm quư báu cho các mục tử.
Cuối cùng, behaving là lối sống của những ai tin vào Chúa Kitô. Ở đây không muốn nói đến chuyện luân lư đạo đức nhưng chỉ liên tưởng đến điều mà Đức Hồng Y Walter Kasper nh́n nhận rằng người Công Giáo nên học hỏi từ các tín đồ của phong trào Hiện Xuống, ấy là dám tuyên xưng và làm chứng cho đức tin của ḿnh. Cho dẫu không bằng ḷng với cách thế loan báo Tin Mừng và chiêu dụ tín đồ của phong trào này, ta vẫn không thể phủ nhận sự nhiệt thành và ḷng can đảm của họ trong việc giới thiệu Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài cho người khác. Họ sẵn sàng nói về Chúa ở bất cứ nơi đâu và nói say sưa, nói với tất cả xác tín. C̣n người Công Giáo th́ sao? Trong nghi thức rửa tội, sau khi mời gọi người xin lănh nhận Phép Rửa tuyên xưng đức tin, vị chủ sự kết thúc “Đó là đức tin của chúng ta, đó là đức tin của Hội Thánh. Chúng ta hănh diện tuyên xưng đức tin đó trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta”. Thế nhưng không biết người Công Giáo có thực sự hănh diện về đức tin của ḿnh không? Có trang báo nào đó kể rằng trong một lớp học, khi giáo sư hỏi sinh viên nào là người Công Giáo, chỉ có hai, ba cánh tay ngần ngại giơ lên đang khi có ít nhất là 10 sinh viên Công Giáo trong lớp! H́nh như mỗi lần ngồi ăn trong nhà hàng hay ngoài quán chợ, người Công Giáo cũng cảm thấy ngại ngùng khi phải làm dấu Thánh Giá trước bữa ăn. Nghe những nhận xét đó, có người giáo dân phản ứng ngược lại: ngay cả các cha, khi ra ngoài đường, cũng không muốn cho người khác biết ḿnh là Linh Mục Công Giáo nữa là! Mà đă không hănh diện về niềm tin của ḿnh th́ c̣n nói ǵ đến chuyện giới thiệu cho người khác, có chăng cũng chỉ là nói theo bổn phận thôi.
Hóa ra khi thay đổi lối nh́n, ta bỗng khám phá ra nhiều điều ḿnh có thể và cần học hỏi từ người khác. Cùng với những bài học đó, các tham dự viên trong hội nghị được nhắc nhớ về tầm quan trọng của việc dạy giáo lư. Theo các chuyên viên, hầu hết những người Công Giáo rời bỏ Giáo Hội để gia nhập phong trào Hiện Xuống là những người dân sống trong vùng nông thôn hoặc trong những khu ngoại ô nghèo. Và lư do sâu xa khiến họ rời bỏ Giáo Hội là do thiếu hiểu biết về giáo lư. Thiếu hiểu biết về giáo lư nên dễ bị lung lạc trước những lời tố cáo Giáo Hội không trung thành với Chúa Giêsu và Tin Mừng của Chúa. Do đó, Giáo Hội Công Giáo cần phải có nỗ lực mới trong việc giảng dạy giáo lư, đặc biệt là cho giới trẻ, để họ thực sự hiểu biết niềm tin của ḿnh và vững vàng trước những tấn công của bất cứ ai. Theo Đức Hồng Y Walter Kasper, để có thể làm công việc này cách hiệu quả, bước đầu tiên mà các Giáo Hội địa phương phải quan tâm là đào tạo đội ngũ giảng viên giáo lư thật tốt, v́ chính qua họ mà việc dạy giáo lư trong các giáo xứ và các cộng đoàn mới có thể đạt hiệu quả.
Kết Luận
Thách đố và cơ may là hai từ được thường xuyên lập đi lập lại trong hội nghị. Phong trào Hiện Xuống là một thách đố lớn v́ gây ra nhiều khó khăn cho đời sống Giáo Hội. Nhưng cũng lại là cơ may v́ không cho phép Giáo Hội ngủ quên trong chiến thắng, đồng thời thúc bách Giáo Hội đào sâu đức tin cũng như đổi mới cung cách làm Mục Vụ của ḿnh. Vấn đề là làm sao biết vận dụng kairos (thời điểm) này và biến thách đố thành cơ may, thành lễ Hiện Xuống mới. Câu trả lời dĩ nhiên là của Chúa Thánh Thần nhưng cũng không loại trừ sự cộng tác của mỗi người và mọi người trong Giáo Hội, cách riêng là các vị lănh đạo cộng đoàn Dân Chúa £
1 Tất cả các thông tin trong bài này đều được rút từ Seminar for Asian Bishops’ Conferences, Korea 17-21 July 2006, The Search for Christian Unity: Where We Stand Today.
2 Từ Pentecostalism được dịch sang tiếng Việt là Phái Ngũ Tuần hay Phong trào Hiện Xuống, và từ phong trào dễ tạo cảm tưởng về một sinh hoạt chóng qua đang khi Pentecostalism đă có mặt cả trăm năm nay và phát triển rất mạnh. Chúng tôi ư thức điều này nhưng vẫn giữ cách dịch cũ v́ đă quá quen với người đọc.
Phụ Lục
Nhận định thần học của Đức Hồng Y Walter Kasper về phong trào Ngũ Tuần
Yếu tố thần học làm nền của phái Ngũ Tuần là nhấn mạnh đến sự cần thiết của kinh nghiệm cá nhân và tức thời về Thánh Thần. Kinh nghiệm tức thời đó về Thánh Linh là đặc điểm của mọi nhóm Ngũ Tuần và phong trào đặc sủng. Do đó, vấn đề thần học nền tảng cần phải quan tâm khi đối diện với phong trào Ngũ Tuần là phải có một thần học mới và nghiêm túc về Chúa Thánh Thần, đặc biệt là về các ân huệ (đặc sủng) Thánh Thần, về kinh nghiệm thiêng liêng và về sự biện phân các thần khí. Những quy luật hướng dẫn sự biện phân này đă được xây dựng dựa trên Tân Ước và được triển khai sau này trong truyền thống linh đạo (nhất là với thánh Ignatio Loyola). Những quy luật này trở nên quan trọng và cần thiết cho chúng ta.
Đối với khoa Thần Khí học Công Giáo, có hai khía cạnh chủ yếu. Trước hết, phải hiểu về Thánh Thần là Thánh Thần của Chúa Kitô, cho nên phải duy tŕ mối liên hệ nội tại giữa Kitô học và Thần Khí học. Như thế nghĩa là các ân huệ Thánh Thần phải được nghiệm xét xem có phù hợp với Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô và với giáo huấn của thánh Phaolô hay không. Thánh Phaolô đă khẳng định rằng không phải việc nói tiếng lạ hay các phép lạ nhưng chính t́nh yêu mới là ân huệ cao cả nhất của Thánh Thần (x. 1Cr 13). Theo thánh Phaolô, hoa trái của Thánh Thần là bác ái, hoan lạc, b́nh an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền ḥa, tiết độ (Gl 5, 22). Khía cạnh thứ hai cần làm nổi bật là chiều kích cộng đoàn và chiều kích giáo hội của những ân huệ Thánh Thần chứ không chỉ là chuyện cá nhân chủ nghĩa: “Thánh Thần tỏ ḿnh ra nơi mỗi người một cách là v́ ích chung” (1Cr 12, 7).
Theo ư hướng đó, việc canh tân chiều kích đặc sủng trong Giáo Hội Công Giáo đă được Công Đồng Vaticanô II khai mở. Khi triệu tập công đồng, Đức Gioan XXIII đă nói về một lễ Hiện Xuống mới. Cách riêng, Công Đồng đă nói về phong trào đại kết như là ân sủng và sức đẩy của Thánh Thần. Năm 1972, Đức Phaolô VI đă nói đến sự cần thiết của lễ Hiện Xuống liên lỉ cho Giáo Hội. Ngài cũng như Đức Gioan Phaolô II đă nh́n phong trào đặc sủng như cơ may cho Giáo Hội và thế giới. Trong diễn từ ngày áp lễ Hiện Xuống năm 1998 dành cho những người tham dự cuộc gặp gỡ của các phong trào trong Giáo Hội và các cộng đoàn mới, Đức Gioan Phaolô II đă nói: “Cả hai đặc tính cơ cấu và đặc sủng đều thiết yếu cho Giáo Hội”. Năm 2000, Đức Gioan Phaolô II nói đến mùa Xuân của Thánh Thần và lập lại lời cảnh báo của Thánh Phaolô: “Anh em đừng dập tắt Thánh Thần. Chớ khinh thường ơn nói tiên tri. Hăy cân nhắc mọi sự và giữ chắc những điều tốt lành” (1Tx 5, 19-21).
Như thế, ngược lại phong trào Ngũ Tuần ngoài Giáo Hội Công Giáo, phong trào đặc sủng của Công Giáo vẫn ở lại trong cấu trúc bí tích và cơ chế của Giáo Hội. Bằng cách này, phong trào đặc sủng có thể giữ tín hữu ở lại không những trong cộng đoàn địa phương mà cả trong cộng đoàn phổ quát của Giáo Hội hoàn vũ; đồng thời tạo ra được hiệu quả năng động trong đời sống Giáo Hội. (x. Cardinal Walter Kasper, The Ecumenical Movement: Changing Situation and New Challenges).
Nhận định của giáo sư Raymond F. Collins về các ân huệ Thánh Thần
Trong thư 1 Corinto, sau khi tŕnh bày Giáo Hội như Thân Ḿnh Chúa Kitô, thánh Phaolô trở lại với đề tài Ân huệ Thánh Thần (12, 28-31). Trước hết, ngài đưa ra một danh sách các ân huệ, khởi đầu với ba ân huệ: thứ nhất là tông đồ, thứ hai là tiên tri, thứ ba là thầy dạy; tiếp theo là các ân huệ khác: làm phép lạ, chữa bệnh, giúp đỡ người khác, quản trị, nói các thứ tiếng lạ (12, 28). Rồi thánh Phaolô đặt ra một loạt câu hỏi mang tính hùng biện: “Chẳng lẽ ai cũng là tông đồ? Chẳng lẽ ai cũng là tiên tri, ai cũng là thầy dạy sao? Chẳng lẽ ai cũng được ơn làm phép lạ, ai cũng được ơn chữa bệnh sao? Chẳng lẽ ai cũng nói được các tiếng lạ, ai cũng giải thích được các tiếng lạ sao?” (12, 29-30).
Thế rồi, trong chương 14, thánh Phaolô so sánh ơn nói tiên tri và ơn nói tiếng lạ. Chính thánh Phaolô cũng được các ơn này. Tuy nhiên, ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của ơn nói tiên tri so với ơn nói tiếng lạ, và ngài lấy chính ḿnh làm ví dụ: “Tôi cảm tạ Thiên Chúa v́ tôi nói các tiếng lạ nhiều hơn tất cả anh em, nhưng trong cộng đoàn, thà tôi nói năm ba tiếng có thể hiểu được để dạy dỗ kẻ khác, c̣n hơn là nói vạn lời bằng tiếng lạ” (14, 18-19).
Rơ ràng thánh Phaolô quư trọng ơn nói tiên tri hơn là nói tiếng lạ, và ngài đưa ra nhiều lư do để giải thích tại sao “người nói tiên tri th́ cao trọng hơn người nói các tiếng lạ” (14, 5). Những lư do đó là người nói tiếng lạ:
(1) tự xây dựng chính ḿnh (14, 4),
(2) không mang lại ích lợi cho cộng đoàn trừ phi có người khác được ơn giải thích tiếng lạ (14, 6),
(3) nói những lời chẳng hiểu được (14, 9),
(4) trí khôn chẳng thu được kết quả ǵ (14, 9),
(5) cộng đoàn không thể tham gia (14, 16),
(6) chỉ là dấu hiệu cho những kẻ không tin (14, 22),
(7) có nguy cơ làm cho những người ngoài Kitô Giáo nghĩ rằng chúng ta là những người điên (14, 22).
Chính v́ thế, thánh Phaolô yêu cầu phải có trật tự trong cộng đoàn: “Nếu có nói tiếng lạ th́ chỉ hai hoặc tối đa ba người nói thôi, mỗi người cứ theo phiên mà nói và phải có người giải thích. Nếu không có người giải thích th́ phải giữ thinh lặng trong cộng đoàn, mỗi người chỉ nói với ḿnh và với Thiên Chúa thôi” (14, 27-30).
Ơn nói tiên tri là ân huệ duy nhất của Thánh Thần xuất hiện trong cả sáu danh sách các đặc sủng trong Tân Ước. Trong các ân huệ Thánh Thần, ơn nói tiên tri là điều kiện không thể không có trong bất cứ Giáo Hội Kitô nào. Vắng mặt ân huệ này, Giáo Hội không thể tồn tại. Lư do rất dễ hiểu. Vai tṛ của tiên tri là “nói lời Thiên Chúa” (1Pr 4, 11). Không có Lời Chúa, Giáo Hội không thể tồn tại. Tiên tri không chỉ nói bằng lời mà c̣n bằng hành động. Như Chúa Giêsu, tiên tri là người nói nhân danh Chúa và nhân danh Dân Chúa, v́ trong truyền thống Thánh Kinh, Thiên Chúa tự mạc khải Người là Thiên Chúa của Dân.
(x. Raymond F. Collins, The Many Faces of the Church, A Study in New Testament Ecclesiology, New York: The Crossroad Publishing Company, 2003, 40-45).