Gây Ra Bệnh Hoạn
BERNARD HARING, C.SS.R.
Lm Giuse Lê Công Đức chuyển ngữ
Phải dần dần tôi mới khám phá được rằng thần học luân lư và, tổng quát hơn, sư phạm luân lư có những chiều kích chữa trị và tác động rất đáng kể. Một trong những trách nhiệm quan trọng nhất là giúp cho Giáo Hội, nhất là các linh mục, ngày càng trở nên những tấm gương mẫu mực hơn, những biểu tượng sống động hơn của vị Thầy Thuốc vĩ đại là Đức Giêsu Kitô – bằng việc sống triệt để Tin Mừng về sự chữa trị. Đành rằng các linh mục không giữ độc quyền về sứ mạng chữa trị và mạc khải của Giáo Hội, tuy nhiên họ có thể phục vụ tốt nhất cho dân Thiên Chúa trong việc tiên phong sống sứ mạng chữa trị một cách nhất quán, trong xây dựng cộng đoàn, trong rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng.
Người ta luôn luôn choáng váng khi nhận thấy một nền luân lư sách nhiễu - gây ra bệnh hoạn, phẫn nộ, xét nét và gây hấn - trong Giáo Hội. Nếu có tồn tại những tâm bệnh có nguồn gốc từ Giáo Hội gây phiền hà cho hầu như mọi mối quan hệ chủ yếu với Thiên Chúa, với bản thân và với tha nhân, th́ cần phải có một nỗ lực phối hợp để điều nghiên và sửa chữa tất cả những qui phạm của thần học, nhất là thần học luân lư – vốn không tổng hợp và hội nhập được hai chiều kích chữa trị và mạc khải. Đương nhiên công việc này cũng cần đến một cuộc cải cách các cơ cấu Giáo Hội có tính đàn áp, chẳng hạn những cơ cấu hậu thuẫn cho chủ trương tập quyền đầy quan liêu và cho một quan điểm độc đoán về vai tṛ lănh đạo ở mọi cấp độ. Trong nỗ lực này, khởi điểm của cuộc cải cách phải luôn luôn là những cố gắng hợp tác của chúng ta để hiểu biết thấu đáo Đức Kitô là Đấng Chữa Trị, là Ngôn Sứ và là h́nh ảnh Nhập Thể của Đấng Sáng Tạo.
Nhiều người Công Giáo đă được đánh thức bởi nhận định kịp thời và thích đáng của Karl Rahner rằng: Giáo Hội trước Công Đồng, thật đáng tiếc, đă gán là tội trọng (mortal sin) cho vô số chuyện vặt vănh và vớ vẩn. Trong tư cách là một nhà thần học luân lư trẻ, tôi có lần giảng tĩnh tâm ở Tyrol cho một trăm linh mục. Trong phần dẫn nhập, tôi nói: “Thưa các cha, tôi không có ư giảng về một danh mục các tội trọng.” Một linh mục hạt trưởng cao niên lập tức công khai phản ứng lại: “Nhưng như vậy là không thực tế! Làm sao chúng ta là những linh mục tránh được khả năng phạm tội trọng trong liên quan đến những luật chữ đỏ?” Quan điểm của vị linh mục này phát xuất từ thủ bản Noldin cũ kỹ, trong đó vạch ra vô số qui định về nghi thức mà các linh mục buộc phải tuân hành “nếu không th́ mắc tội trọng”. Chẳng hạn, cho đến năm 1949, Thánh Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích của Vatican c̣n tuyên bố rằng một phụ nữ hay nữ tu mà trong Thánh Lễ tới gần bàn thờ vượt quá lan can cung thánh là mắc tội trọng. Khoảng ba mươi năm sau, có lần tôi vẫn c̣n đụng chạm với một hồng y kiên quyết bảo vệ một luật của Giáo Hội buộc trẻ em trên bảy tuổi phải xưng tội lần đầu trước khi rước lễ lần đầu, v́ người ta giả định rằng trẻ em ở tuổi này có khả năng phạm tội trọng.
Kinh nghiệm ấy nhắc tôi nhớ lại thật rơ những nỗi kinh hoàng thuở ấu thời của ḿnh với vị cha sở khư khư đ̣i chúng tôi xưng thú mọi tội trọng, đe doạ rằng chúng tôi sẽ bị đốt trong lửa và diêm sinh nếu như chúng tôi xưng thú không đầy đủ! Người ta tŕnh bày cho trẻ em – chưa nói là cho người lớn - một khuôn mặt Thiên Chúa kỳ dị biết bao! Rất may là cả lúc đó lẫn bây giờ tôi vẫn không chia sẻ tư tưởng bi quan của Eugen Drewermann. Nhưng ngay cả trong thời đại hiện nay, quyền bính Giáo Hội ở mọi cấp vẫn cần phải quan tâm đến những cảnh báo nghiêm túc của các nhà trị liệu tâm lư có nhiệt tâm và giàu hiểu biết khi họ cảnh giác chúng ta về các chứng bệnh có nguồn gốc từ Giáo Hội, những chứng bệnh có thể phát xuất từ một cái nh́n tiêu cực, sai trái và hà khắc.
Một điều nhấn mạnh mấy cũng không vừa, đó là giáo huấn của Giáo Hội và việc thực hành mục vụ - trong quan hệ với mọi chiều kích và mọi cơ cấu của đời sống - phải được giải phóng khỏi một nền luân lư cứng nhắc và phải được định h́nh lại trong viễn tượng một tổng hợp vững chắc và có tính nhân văn của hai sứ vụ rao giảng và chữa trị. Hơn nữa, tổng hợp này phải đặc điểm hoá việc huấn luyện và đời sống linh mục. Trong khi từ đầu, tôi là một người ủng hộ mạnh mẽ thần học giải phóng, tôi vẫn khẳng định mạnh mẽ sự cần thiết phải bao gồm chiều kích giải phóng và chữa trị trong mọi qui phạm thần học.