GIÁO HỘI cần LOẠI LINH MỤC NÀO ?

 

 

Những Người Li Dị

đáng nể phục hay đáng kết án

 

 

BERNARD HARING, C.SS.R.     

 Lm Giuse Lê Công Đức chuyển ngữ

 

 

Mối quan tâm của tôi đối với những người li dị không phải là kết quả của các nghiên cứu lư thuyết – mặc dù tôi vẫn nh́n nhận công việc nghiên cứu có vai tṛ rất quan trọng. Đúng hơn, mối quan tâm này của tôi phát xuất từ hai nguồn:

Một là, từ t́nh thương và niềm kính trọng của Đức Giêsu đối với những con người đứng bên lề cuộc sống, những người bị coi là hư hỏng -

Hai là, từ vô số các kinh nghiệm của bản thân tôi với những người li dị.

Nỗi thất vọng cùng cực nỗi khổ đau tâm cảm của quá nhiều người li dị thiết tưởng cũng đă đủ lư do không chỉ để thúc đẩy niềm cảm thông nơi các linh mục mà c̣n để dẫn Giáo Hội tới một cách suy nghĩ mới. Gần như ở khắp những nơi trên thế giới mà tôi đă đi qua, các bạn tôi – nhất là những tu sĩ nam nữ – đă giới thiệu những người li dị đến gặp tôi, hoặc đă bày tỏ với tôi những nỗi quan tâm của họ đối với những người li dị mà họ quen biết. Tôi nhớ có lần, một giám mục Phi Châu giới thiệu chính em trai của ngài, một người li dị, đến gặp tôi. Giám mục nói với người em ḿnh: “Chú hăy làm theo những ǵ Cha Haring khuyên chú làm!”

Những nỗi khổ đau cùng cực của những người li dị – thường đa số họ là những người rất đáng nể phục – luôn luôn làm tôi trằn trọc và suy nghĩ về những Lời này của Đức Kitô: “Những ǵ các ngươi làm cho một trong các anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đă làm cho chính Ta” (Mt 25,40). 

Tôi cảm kích sâu xa trước tấm ḷng của Đức Giêsu đối với người phụ nữ Samaria – người phụ nữ mong muốn có được một đời sống nghiêm túc, nhưng đă bị khước từ bởi năm người đàn ông. Trong truyền thống Do Thái lúc bấy giờ, một “người đàng hoàng” sẽ không bao giờ tiếp xúc với một phụ nữ như thế. Đức Giêsu đă không chỉ khôi phục lại ḷng tự trọng và phẩm giá cho chị mà, hơn thế nữa, Ngài đặt chị làm một tông đồ của Ngài. Trong tư cách là một môn đệ Đức Giêsu, tôi không thể nghĩ đến những con người khốn khổ ấy mà không đồng thời nghe âm vang Lời Đức Giêsu: “Tôi đến không phải để xét xử, nhưng là để chữa trị” (x. Ga 3,17; Lc 19,10).

Trong đa số các trường hợp li dị mà ḿnh tiếp xúc, tôi cảm nhận đó là một nỗi mất mátnỗi đau bi thảm hơn là một tội. Từ kinh nghiệm và suy tư của chính ḿnh, tôi ngày càng xác tín rằng phương thức oikonomia của Giáo Hội Chính Thống phù hợp với Thánh Kinh hơn so với hữu thể luận (ontologism) đầy tính pháp lư của giáo thuyết Công Giáo hiện đại. Tôi cho rằng chúng ta nên liều chấp nhận khổ sở (khổ sở do bị hiểu lầm và khổ sở do bị chỉ trích) để dám suy nghĩ lại và định h́nh lại việc săn sóc mục vụ nhằm giúp chữa trị những con người khốn nạn và mang đầy thương tích này. Trong tư cách là các thừa tác viên của Đức Kitô đối với dân Ngài, phải chăng chúng ta không thể h́nh dung rằng Đức Giêsu đă viết tên của chúng ta – tên bạn và tên tôi – trên đất và nói: “Ai trong các ngươi sạch tội, hăy ném đá chị ấy trước đi!” (Ga 8,7-8)? Xin mở ngoặc để nói thêm ở đây: nhiều người li dị đến gặp tôi không thể bị gọi là những kẻ ngoại t́nh – theo bất cứ nghĩa nào!

Người linh mục đích thực không phải là một quan ṭa cũng không phải là một robot bị đóng hộp trong những phạm trù phán quyết quá đơn giản. Phần ḿnh, thú thực tôi rất xấu hổ nếu cảm thấy ḿnh hơi thoáng nghiêng về ư nghĩ rằng những người li dị và tái hôn là những người “đang sống trong t́nh trạng tội trọng một cách khách quan” sau khi họ đă chịu đựng quá nhiều nỗi khổ đau và ô nhục trong biến cố găy đổ hoàn toàn cuộc hôn nhân thứ nhất của ḿnh.

Săn sóc một cách chữa trị cho những người li dị, đó cũng là một trắc nghiệm đo lường quyết tâm đại kết của Giáo Hội. Các Kitôhữu Chính Thống và nhiều Kitôhữu thuộc các giáo hội Cải Cách khác rất choáng váng trước sự khắc nghiệt của những giám mục và linh mục Công Giáo cố khư khư bám vào một hữu thể luận nặng tính pháp lư lỗi thời để cắt xén, bóp méo hoặc thay thế hoàn toàn nhăn quan của Thánh Kinh về tính bất khả phân ly bằng lối suy nghĩ và kiểm soát quá đơn giản hóa và quá nhũng nhiễu của họ. <OJ>