BERNARD HARING, C.SS.R.
Kinh nghiệm thực tế đầu tiên của tôi với cha sở quê ḿnh – xét trong tư cách là thầy dạy - đă xảy ra khi tôi tham dự lớp giáo lư của ngài. Là một con người rất nghiêm khắc, ngài thường giận dữ đến độ bất nhẫn, sử dụng đ̣n roi để kiểm soát và quản lư đám học sinh – không khác mấy với nhiều nhà giáo thời ấy. Đó là một trong những lư do khiến tôi không bao giờ gần gũi ngài, cũng không nhận được ấn tượng ǵ từ cung cách ngài giảng dạy đức tin Công Giáo.
Năm lên chín tuổi, tôi và các bạn cùng lớp được giúp sửa soạn rước lễ lần đầu, và biến cố này trở thành một kinh nghiệm không vui ǵ đối với tôi. Để đảm bảo rằng bọn nhóc sẽ xưng tội cách trọn vẹn, cha sở kể câu chuyện kinh khủng sau đây – câu chuyện làm tôi sợ điếng người:
Thầy tu già nọ qua đời một cách rất thánh thiện. Sau bài kinh “Requiem”, vị tu viện trưởng bắt đầu bài điếu văn ca ngợi người quá cố. Bỗng dưng, có một tiếng thét lớn từ trong quan tài:
-“Ngừng! Ngừng! Xin hăy ngừng những lời nói vô nghĩa ấy! Tôi đang ở trong hỏa ngục.”
-“Ủa, sao lạ kỳ thế?”, tu viện trưởng hỏi.
Người chết trả lời: “Dạ, lúc con xưng tội lần đầu, v́ xấu hổ, con đă giấu đi một tội!”
Quá run sợ, tôi đă lấy giấy bút, ghi ra một bảng liệt kê dài ngoằng các tội – tội thực và tội tưởng tượng – và bắt đầu xưng thú với hy vọng ‘vuốt giận’ được Thiên Chúa, vị Thiên Chúa mà tôi h́nh dung là rất khắc nghiệt và sẵn sàng tống cổ tôi xuống hỏa ngục bất cứ lúc nào. Niềm háo hức trước đó của tôi đối với bí tích này chợt tắt ngúm ... cho tới khi một cha giải tội khôn ngoan của một tu viện gần đó đă cứu tôi.
Đối lập lại với kinh nghiệm nói trên, tôi có những kư ức dễ thương về người mẹ rất khôn ngoan của ḿnh. Mỗi buổi tối mùa đông, mẹ đọc cho tôi nghe những đoạn Tân Ước đầy cảm kích, những câu chuyện về cuộc đời các thánh, và nhất là những mẩu chuyện về các nhà truyền giáo được viết phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi. Thật vậy, bố mẹ tôi đặc biệt quan tâm đến những tin tức về hoạt động truyền giáo ở nước ngoài. T́nh yêu và ḷng quan tâm của bố mẹ đối với công cuộc truyền giáo là hạt giống nuôi dưỡng nơi tuổi trẻ của tôi một khát vọng trở thành nhà thừa sai rao giảng Tin Mừng tại Phi Châu hay Á Châu. Đó là niềm cảm hứng pha trộn giữa chất lăng mạn của tuổi trẻ và một nhận thức nghiêm túc về ư nghĩa của việc rao giảng Tin Mừng.
Khi tôi lên mười tuổi, việc chuẩn bị rước lễ lần đầu đă được cha sở làm một cách khá hơn. Sau mẹ tôi, chính chị Constantine là người đă giúp tôi nhiều nhất. Mẹ tôi ủy thác tôi cho sự ân cần hướng dẫn của chị Constantine – và vào hôm Rước Lễ lần đầu, tôi cảm thấy rất tự tin để nói với chị: “Em muốn trở thành một vị thánh.” Không chút tham vọng nào, nhưng vốn có tấm ḷng và sự khôn ngoan của một giảng viên giáo lư đích thực, chị tôi đă trả lời một cách đơn sơ: “Nên lắm chứ!” Theo cách nghĩ của tôi, tôi thấy chị Constantine vượt xa cha sở nhiều năm ánh sáng về việc rao giảng cho tôi Tin Mừng ơn cứu độ. Và rơ ràng, chị đă bước đi trên con đường của Đức Kitô; Rồi ở tuổi 51, chị qua đời một cách thánh thiện trong tư cách là một nữ tu Phan Sinh.
Gần 12 tuổi, có lần trong một khoảnh khắc lắng đọng, tôi sà lại chỗ mẹ tôi và hỏi: “Mẹ ơi, mẹ nghĩ ǵ nếu con trở thành một nhà truyền giáo – dù con biết ḿnh phải cố gắng rất nhiều để đạt được điều đó?” Âu yếm nh́n tôi, mẹ khích lệ: “Bernard con, không có vị thánh nào từ trên trời rơi xuống cả. Điều mà những người khác làm được th́ – với sự trợ giúp của ơn Chúa - con cũng sẽ làm được.” Kể từ giây phút đó, tôi quyết tâm hiện thực hóa giấc mơ thừa sai của ḿnh. Tuy vậy, ở lứa tuổi đó, ư niệm làm ‘linh mục ‘ c̣n quá xa vời đối với tôi. H́nh ảnh linh mục bằng xương bằng thịt của cha sở địa phương đă không hấp dẫn tôi chút nào, nhưng ư niệm về một nhà thừa sai rao giảng Tin Mừng th́ ngập tràn trong đầu óc non trẻ của tôi, với bao h́nh dung tuyệt vời. Đằng sau niềm hy vọng ấy, dấu hỏi căn bản vẫn c̣n nguyên đó với tôi: “Trở thành một vị thánh! Tại sao không?”
Ít lâu sau, niềm hy vọng truyền giáo của tôi được củng cố mănh liệt bởi các cha Ḍng Chúa Cứu Thế khi các ngài đến giảng tuần đại phúc tại giáo xứ. Tôi có ấn tượng đặc biệt với Cha Leonard Eckl, người về sau đă trở thành một nhà truyền giáo và được bầu làm Bề Trên Giám Tỉnh Ḍng Chúa Cứu Thế ở Brazil. Ngài có đặc sủng đặc biệt về việc khơi gợi và nâng đỡ các ơn gọi trong thanh thiếu niên. Các câu chuyện của ngài về những chuyến đi truyền giáo trên lưng ngựa để cử hành các bí tích và rao giảng về một Thiên Chúa t́nh yêu tại một số vùng của đất nước ấy đă thu hút sự chú ư của tôi cách mănh liệt và đă củng cố nhiệt tâm nơi tôi.
Nhiều năm sau, khi sắp hoàn thành học tŕnh tú tài, tôi đă manh nha nghĩ đến việc trở thành một nhà truyền giáo Ḍng Tên. Số là, tôi rất ngưỡng mộ nhiệt huyết truyền giáo của các vị ấy: trở thành mọi sự cho mọi người tại các vùng đất Âu Châu. T́m hiểu chương tŕnh huấn luyện của ḍng này, tôi được biết rằng sau giai đoạn tập, có hai hướng được mở ra: các sinh viên có năng lực được khuyến khích trở thành giáo sư, c̣n những sinh viên trung b́nh th́ được mời gọi đi truyền giáo. Biết được điều này, niềm thích thú của tôi đối với Ḍng Tên chợt tan biến – v́ tôi muốn (song đă không đạt được) sự bảo đảm rằng ḿnh sẽ trở thành một nhà truyền giáo chứ không phải là một giáo sư.
Bỏ cuộc với Ḍng Tên, tôi t́m đến tham vấn vị Bề Trên Giám Tỉnh Ḍng Chúa Cứu Thế và dọ ư xem ngài có thể bảo trợ cho tôi trở thành một nhà truyền giáo hay không. Hết sức nghiêm túc, ngài nói rằng ngài có thể cung cấp cho tôi 90 phần trăm cơ hội để tôi hiện thực hóa giấc mơ của ḿnh. Với đầy ḷng xác tín, tôi gia nhập và hoàn thành giai đoạn tập của ḿnh, rồi không lâu sau đó tôi được chỉ thị học tiếng Bồ Đào Nha và nghiên cứu văn hóa Brazil. Cho tới lúc được truyền chức linh mục, tôi đă được chuẩn bị sẵn sàng để sống cuộc đời thừa sai và tôi hân hoan xác tín rằng đó là con đường cụ thể để tôi sống đời linh mục của ḿnh.
Cùng với John Flad – là bạn và là anh họ của tôi - tôi thụ phong linh mục vào tháng 5, 1939. C̣n nhớ, hồi tôi bắt đầu học thần học, mẹ của John (cũng là vú đỡ đầu của tôi) nói với anh ta: “Nếu Bernard, bạn con, dám học thần học, tại sao con không dám hở?” Ở đây có thể nói thêm rằng tôi vốn luôn được coi là kẻ dám liều hơn John; chắc hẳn cũng v́ vậy mà tôi không được kể là một anh chàng ngoan ngoăn lắm. Điều thú vị là khá lâu trước những cải cách của Công Đồng Vatican II, John và tôi đă hăng hái bênh vực cho việc canh tân phụng vụ. V́ thế, xét rằng cả hai cùng đồng hành với nhau trong suốt những năm chủng viện, chúng tôi không thể h́nh dung ḿnh không được phép dâng thánh lễ mở tay đồng tế với nhau. Tuy nhiên, không phải là những kẻ phản loạn, chúng tôi chỉ phê phán các qui định đó một cách ôn ḥa mà thôi. Thật tiếc, mỗi chúng tôi phải làm lễ riêng, người này sau người khác, tại giáo xứ nhà quê của ḿnh.
Hôm ấy trời trút mưa tầm tă, chúng tôi tự hỏi đó là điềm ǵ vậy. V́ John và tôi đều là những con người lạc quan, nên chúng tôi giải thích rằng cơn mưa ấy là một dấu hiệu của ân sủng Thiên Chúa tuôn tràn trên chúng tôi - để chúng tôi có thể trổ sinh dồi dào hoa trái.
Ít lâu sau, lúc tôi chuẩn bị mua vé tàu đi Brazil, Bề Trên Giám Tỉnh bất ngờ gơ cửa pḥng tôi – và tôi hết sức ngạc nhiên về vinh dự này. Đây chính là vị giám tỉnh sáu năm trước đă bảo rằng tôi không cần phải sợ trở thành một giáo sư – và ngài cũng là người thầy đă hướng dẫn tôi học tiếng Bồ Đào Nha và nghiên cứu văn hóa Brazil sau khi tôi khấn lần đầu. Té ra, cơn mưa hồng phúc dịp tôi thụ phong linh mục trở thành một gáo nước lạnh dội lên đầu tôi, khi tôi nghe vị giám tỉnh chậm răi nhấn từng tiếng: “Khi các giáo sư của anh nghe biết anh được chỉ định đi Brazil, họ tỏ ra rất bức xúc với tôi. Họ muốn anh tiếp tục học để lấy học vị tiến sĩ thần học luân lư.” Giật ḿnh, tôi trả lời: “Thưa Bề Trên, một yêu cầu như thế chỉ có thể là sự chọn lựa cuối cùng của con thôi.” Tôi cũng thẳng thắn tŕnh bày thêm rằng tôi không ‘kỵ’ ǵ hơn việc phải học đào sâu loại thần học luân lư mà ḿnh đă được dạy cho trong chương tŕnh đào tạo. Giám Tỉnh lập tức trả lời: “V́ thế, chúng tôi muốn có sự thay đổi. Vả lại, anh không phải đi học ở Rôma đâu! Anh có thể chọn giữa Tubingen và Munich.”
Dù rất trân trọng sự tín nhiệm lớn lao mà các giáo sư dành cho khả năng trí thức của ḿnh, tôi vẫn rất thất vọng v́ các mơ ước và dự định của ḿnh xem như đă hoàn toàn sụp đổ. Chỉ sau này khá lâu tôi mới nhận ra rằng lúc đó bề trên đă trao cho ḿnh một sứ mạng thật quan trọng: tôi phải cố gắng hết sức ḿnh để làm cho việc giảng dạy thần học luân lư thực sự trở thành một phần cốt yếu trong công cuộc rao giảng cho mọi người Tin Mừng về quyền năng và sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa. Vả chăng, lúc đó tôi không thể nào thấy trước rằng việc học và những kinh nghiệm của ḿnh sau này trong chiến tranh sẽ giúp tôi có nhiều cơ hội để thực sự trở thành một nhà truyền giáo như ḿnh vẫn ước mơ.
Nếu ta có thể nói rằng chức linh mục thừa tác thêm một cái ǵ đó cho chức linh mục phổ quát của tất cả những ai đă chịu Phép Rửa, th́ sự “thêm một cái ǵ đó” ấy chắc hẳn nằm ở chỗ: ở mọi cấp độ, các linh mục phải là những mẫu gương của thứ tha, những nhà lănh đạo và những người kiến tạo ḥa b́nh trên con đường tiến tới phi bạo lực và hoà giải. Con đừơng ấy bao hàm một tinh thần hủy ḿnh ra không và sẵn sàng nhận hiểu đúng đắn về thái độ từ bỏ chính ḿnh. Nói cách khác, các linh mục phải là những nhà kiến tạo ḥa b́nh dám nhận mọi hiểm nguy, mọi gánh nặng, mọi hy sinh cần thiết để thi hành sứ mạng của Đức Kitô. Để có được thái độ sẵn sàng và bỏ ḿnh như vậy, các linh mục cần biết sẵn ḷng khiêm tốn cộng tác với mọi người thiện chí nhằm phục vụ cho ơn cứu chuộc con người khỏi tội lụy trong mọi h́nh thức bất công, lầm lạc và bạo lực của nó ở bất cứ nơi nào mà nó có mặt. Điều này hoàn toàn khác hẳn với những thực hành khổ chế có tính trấn áp chính ḿnh vốn bị nhiều người chất vấn – những thực hành này có bao gồm những sự hành hạ chính ḿnh và những đau khổ không cần thiết nhằm mục đích làm nguôi ngoai cơn giận của một vị Thiên Chúa hay báo thù.
Thư Do Thái giới thiệu Đức Kitô như vị thượng tế đầy ḷng trắc ẩn, và chính ḷng trắc ẩn và t́nh thương này thúc đẩy Đức Kitô thương xót các tội nhân. Điểm đặc trưng nơi một người linh mục đích thực là: “Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi v́ chính người cũng đầy yếu đuối; mà v́ yếu đuối, nên người phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, th́ cũng phải dâng lễ cho chính ḿnh như vậy” (Dt 5,2-3).
Tôi có một đề nghị đầy sức chữa trị và đầy an ủi cho các linh mục cũng như cho các Kitô hữu phải khổ sở v́ trằn trọc không biết ḿnh đă xưng thú đàng hoàng mọi tội trọng của ḿnh chưa, không biết ḿnh đă xưng đúng loại tội và đúng số lượng chưa – đề nghị đó là: Bạn hăy tập trung mọi sự chú ư và mọi năng lực của bạn vào việc trở thành một dấu hiệu hữu h́nh và đầy thuyết phục của sự chữa trị, thứ tha và của tinh thần phi bạo lực hết sức có thể! Đó là một loại bí tích đấy! Rồi bạn sẽ được đảm bảo trong đức tin rằng Thiên Chúa tha thứ mọi tội lỗi của bạn. Chỉ khi nào quyết chí bước đi trên lộ tŕnh này, chúng ta mới có thể đóng góp phần ḿnh vào nỗ lực vượt qua cơn khủng hoảng hiện nay xung quanh bí tích của ḥa b́nh và ḥa giải.
Công Đồng Vatican II đă sải những bước dài trên con đường vượt qua năo trạng giáo sĩ trị in hằn bao đời, năo trạng đó đánh giá cao các linh mục và đánh giá thấp người giáo dân – sự phân biệt này dẫn đến nhiều h́nh thức lảng xa và phân biệt trong Giáo Hội. Từ một góc nh́n phụng vụ, tôi thấy những lá chắn ấy chưa bao giờ được ghi nhận rơ ràng hơn thời điểm cách đây ít lâu khi tôi ghé thăm một số nhà thờ ở Ư và nhận thấy các bàn thờ được đặt trên một tầng cao hơn ngay gian giữa của giáo đừơng. Thời ấy, ít khi một linh mục bước xuống vào giữa ḷng Giáo Hội, ngay cả lúc cho rước lễ.
May thay, quyết định của Công Đồng uỷ trao cho mọi người đă chịu Phép Rửa - những Kitô hữu không có chức thánh – các vai tṛ quan trọng trong phụng vụ và mục vụ là một bước quan trọng trong việc phá bỏ các lá chắn ấy. Hiện nay đa số trong chúng ta đều biết rằng chức linh mục không phải là một bước đi lên trong bậc thang xă hội, nhưng đúng hơn, đó là một sự dấn thân đặc biệt để đi xuống, trong khiêm nhường và phục vụ, đến với con người để trở thành “một người trong họ”. Khi làm thế, ư nghĩa của chức linh mục không bị lạc mất. Đúng hơn, có thể nói, chức linh mục được văn hồi, được củng cố và được đào sâu theo chiều hướng trở lại với sự khiêm nhường của Đức Kitô như dấu hiệu căn tính của Ngài là Thượng Tế tốt lành. Chức linh mục phổ quát và chức linh mục thừa tác cùng hướng chỉ đến ơn gọi Phép Rửa của chúng ta là ơn gọi phục vụ cho nền ḥa b́nh Messianic trên trái đất này. <OJ>