Viết bởi Administrator Chủ nhật, 23 Tháng 1 2011 15:02
THỈNH NGUYỆN THƯ (2)
Với 6 tiểu mục nầy, dám xin các Đấng Bề Trên và Cộng Đồng Dân Chúa rộng lượng cho phép chúng con “bộc bạch tất cả những gì đã dồn nén mà không buộc phải dè dặt”.
Sự dè dặt tế nhị là cần thiết, nhưng quá dè dặt luôn đẻ ra nhiều tiêu cực. Sự e ngại, chính là chướng ngại vật ngăn chặn Sự thật và Chân lý khi không dám nói hết nỗi lòng. Mọi luồn lách quanh co che giấu, là còn tránh né e sợ Sự Thật, là chưa tuyệt đối tin tưởng vào lòng bao dung của Giáo Hội và các Đấng Bề Trên, là tự làm thương tổn Cộng Đồng và Bản Thân. Sự thật chính là kim chỉ nam của Chúa KI-TÔ. Bày tỏ hết sự thật lòng mình cảm nghĩ, dù đúng dù sai bao giờ cũng vẫn là trách nhiệm Lương Tâm, dám xin các Đấng Bề Trên và Cộng Đồng dủ lòng tha thứ những gì bản thân chúng con phạm phải, có thể vì vô tình hay do trình độ văn hóa cộng với tâm trạng bức xúc bị dồn nén, cũng như không từng trải trong kinh nghiệm soạn thảo, viết văn.
I.- CANH TÂN GIÁO HỘI :
Suốt chiều dài Lịch Sử, tuy GH cũng đã trải qua nhiều khúc ngoặc đen tối đau thương, nhưng chưa phải đối mặt với tình trạng bi thảm xuất phát từ hàng ngũ Lm. đến mức trầm trọng như ngày nay, tạo nhiều đau đớn cho ĐTC và Giáo Hội Toàn Cầu!
Tinh thần ĐCĐ Vatican II đã bị đánh lạc hướng, bị lạm dụng, GH cần phải áp dụng kỷ luật theo Truyền Thống, mà ĐCĐ Vatican II không quy định thay đổi hoặc hủy bỏ. Không nên buông lỏng, để mặc ai trá hình lèo lái tinh thần “Canh Tân Giáo Hội” như một “Phong trào Đổi Mới Tư Duy”. Canh Tân không có nghĩa là “Cải Tổ”.
Hàng Giáo Phẩm và Giáo Sĩ cần đón nhận mọi lời phê phán đầy nhiệt tâm của hàng Thức giả cả Đạo lẫn Đời. Cần trân trọng lời phê phán của Công Luận, Báo Chí, tuy trong đó có nhiều biểu hiện hằn học, đả kích của một vài phe nhóm, cá nhân cố tình đánh phá GH bằng nhiều hình thức xuyên tạc và phóng đại. Nhưng đại đa số các Tổ Chức Quốc Tế, Tôn Giáo, Quốc Gia vẫn nóng lòng đau xót đang hướng đến tinh thần xây dựng GHCG Toàn Cầu với tất cả tình cảm thân thương nhất. Bằng chứng, các cuộc Tông Du của ĐTC, mọi Quốc Gia, mọi Tổ Chức, mọi Tôn Giáo đều hướng về Người như một Cấp Lãnh Đạo Tinh Thần Duy Nhất và cao cả nhất của loài người, mà chưa hề có một Vị Nguyên Thủ Quốc Gia, một Nhà Lãnh Đạo Tinh Thần nào được Cộng Đồng Thế Giới đón chào một cách nồng nhiệt, trân trọng và ngưỡng mộ đến như vậy.
Vì thế, ta không nên đơn cử vài hiện tượng vu khống của một thiểu số bày điều xuyên tạc, bôi nhọ, để bao biện, chạy tội cho mình, khỏa lấp những sai trái cụ thể đã thực sự phát sinh trong lòng GH ngày nay. Mọi biện minh, không thể dập tắt được dư luận, mà chỉ khơi dậy cho nó bùng nổ thêm lên. Bao giờ hàng Giáo Phẩm còn cố bảo vệ sĩ diện hão, cố chạy quanh, còn chối bỏ sai trái, chưa chịu tự thú trước bình minh, chưa thành tâm đấm ngực ăn năn với tất cả sự xác tín “Nostra maxima culpa” (Lỗi tại chúng tôi mọi đàng) theo tinh thần Đức GIOAN PHAO-LÔ II, là còn bao che cho điều sai trái, còn chối bỏ sự thật phũ phàng, không đáng được Công luận buông tha.
“Nhân Vô Thập Toàn” là quy luật muôn đời. Cộng Đồng CG trần gian vẫn không ngoài lệ. Chưa bao giờ và cũng không bao giờ GHCG thoát khỏi tính yếu đuối, sự sai phạm, thiếu sót của con người về phương diện nầy hay phương diện khác. Chúng con xin vô phép được nói thế trước khi đi sâu hơn.
Trên Thế Giới, không thiếu những nhà Tu Hành còn đam mê Tham Chính. Bao Giám Mục, Linh Mục ham ứng cử, tranh cử từ Tổng Thống, Quốc Hội, Hội Đồng Tỉnh, Huyện đến Thị, Xã, Phường, tiếc rằng chưa có Hội đồng Thôn, Ấp, đã trở thành một cơn dịch bộc phát tham vọng ngày nay. Thực sự GH không bỏ công sức đầu tư cho hàng Giáo phẩm và giáo sĩ để đảm nhận những trách vụ Thế quyền! Trong chuyến Tông Du tại Phi-Luật-Tân vào khoảng thập niên 70 của Tk. XX, Đức Cố Giáo Hoàng PHAO-LÔ VI đã nặng lời khiển trách nhiều Giáo Sĩ Phi-Luật-Tân đã dấn thân quá nhiều trong các chức vụ Chính quyền. Người yêu cầu các Lm. phải chọn một trong hai, Giáo Quyền hoặc Thế Quyền, Giáo Sĩ, hay Quan Viên.
Bên cạnh đó, ngày nay, đã phát sinh không hiếm Lm. buông mình sa ngã Xâm Phạm Tình Dục Trẻ Em! Cũng không thiếu một thiểu số Lm. đã phí phạm 16 năm đào tạo để trở thành một Linh mục Phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Giáo Hội, một chức vụ hầu hết xã hội – không riêng người Công-Giáo – đều tôn gọi là “Cha”, nhưng vì ham miếng đỉnh chung, đã biểu hiện những hành động còn nhức nhối và đáng ghê tởm hơn, không do tính yếu đuối của con người, nhưng do bản chất phá hoại Giáo Hội bị đối phương, điển hình là Tam Điểm, mua chuộc cài vào xưa nay. Những “Ông Cha” đã chối bỏ Đức Tin, tạo bè, kết phái, thậm chí công khai phản bội, bao vây, xúc phạm các Đấng Bản Quyền trong trách vụ GH trao phó! Rồi cũng đủ khôn khéo luồn lách xoay chiều đổi gió, kịp thời biến dạng trá hình trở lại là những Vị Chủ Chăn “Tài+Đức”, âm thầm phá hoại ngay trong lòng Giáo Hội như những trái bom nổ chậm “GIU-DÀ” (Judas Iscariot) luôn chờ thời bộc phát! Đó mới là những phần tử nguy hiểm khốn cùng trong Cộng đồng Công-Giáo nói chung, nhưng ngày nay vẫn chưa một ai bị loại trừ.
Công Luận Báo Chí là những bản Cáo Trạng đáng được mọi người lắng nghe! Một cơ hội cho ta tự nhìn lại mình và để kịp thời bổ sung khắc phục. Ta không nên ngần ngại khi phải nói “toạc móng heo” mọi sự, để đáng được Thiên Chúa thứ tha và được sự cảm thông trước loài người. Bao giờ còn né tránh, còn che đậy, là bấy giờ còn chịu nặng áp lực trong Đạo ngoài Đời. Giáo Hội không phải cúi đầu nhường bước cho bọn người Chăn Chiên giả, các Gm. Lm. Tam-Điểm trá hình đã xuất đầu lộ diện. Giáo Hội cần phải có đủ biện pháp cảnh giác đề phòng, nhất thiết phải cứng rắn và đủ can đảm loại trừ không thương tiếc.
Tạo gương xấu công khai. Chỉ tội “Tư Hôn”, thường xuyên phạm Điều răn thứ VI, gây gương mù gương xấu đã mặc nhiên phải bị tuyên án Treo Chén (Suspensio) trên nguyên tắc Tiền Kết (Latæ sententiæ) chưa nói đến hình thức liên viễn và công khai. Chưa nói đến hình thức liên viễn, kể cả dám thách thức các Đấng Bản Quyền và Giáo Hôi bằng cách công khai tổ chức trọng thể tiệc mừng “Đầy Tháng”, “Thôi Nôi” để trình diễn “Con Hoang” cách hảnh diện như một kết quả tất yếu trong hôn nhân hợp pháp giữa chợ đời, còn phải bị trừng phạt nghiêm khắc hơn (GL.1395 tiết 1)!
Cơ hồ có những Lm. đã xúc phạm Chúa Thánh Thần bằng những hành động và ngôn ngữ phản bội, tạo gương mù gương xấu về Đức Tin. Là những hành vi nguy hiểm hơn cả các Lm. EDMOND PARIS, PETER DE ROSA, ALBERTO RIVERA, MALACI MARTIN… đã bị Vạ Tuyệt thông (Excommunicatio) và đã trắng mặt ăn thua, xuyên tạc, vu khống, đả phá Giáo Hội công khai trên nhiều mặt, không còn là ký sinh trùng bí mật xâm nhập đục phá trong cơ thể, gây ung thư cho Giáo Hội Toàn Cầu.
Nhưng đến ngày nay, họ hãy còn giữ quyền chăn dắt đàn Chiên Chúa! Vẫn hao hao tự đắc, dám ngang nhiên Cử Hành Thánh Lễ, vênh váo rao giảng Tin Mừng “Phi Phúc Âm” tại các Trung Tâm Hành Hương. Xuất hiện trên lễ đài những ngày Tĩnh tâm Giáo Phận, gây mất bình an cho Tín Hữu thập phương! Cành nho tự mình đã tách khỏi thân cây, cần vứt ra ngoài cho người đời thẩy vào hố rác! (Gio. XV: 4-6). Những Lm. nầy, xét ra còn gây nguy hại cho Giáo Hội, và nguy khốn cho Giáo dân hơn lớp Lm. xâm phạm tình dục trẻ em như các Lm. công khai đánh phá Giáo Hội ghi trên rất nhiều lần.
Giáo Hội nên sẳn sàng đón nhận sự phẩn nộ đã biểu hiện trên nét mặt mọi người từ mọi phía. Đó mới là vấn đề cần đặt ra. Không thiếu Đấng Bản Quyền không dám “Treo Chén” kịp thời, đuổi về vườn các Lm. đã để lộ nguyên hình ngay những ngày đầu chớm nở. Cần cách ly để tránh hậu quả lây lan thành ung nhọt dây chuyền dễ trở thành phe nhóm cho người giật dây đạp qua Giáo Luật. Dám ngổ ngáo vỗ ngực xưng danh xúc phạm, đối đầu với cả Thánh Linh Thiên Chúa theo sự thúc đẩy của ác thần. “Của Thánh đừng quăng cho chó ; ngọc trai chớ liệng cho heo, kẻo chúng dày đạp dưới chân, rồi còn quay lại cắn xé anh em.” (Mat. VII: 6).
Tuy không được xét đoán, kẻ xét đoán sẽ phải bị xét đoán. Mọi tội lỗi đều được Thiên chúa xét tha, nếu biết thành tâm ăn năn sám hối. Gương xấu phải có, nhưng khốn cho kẻ làm gương xấu, lại không có một biểu hiện sám hối công khai. Có những tội được đền ở Tòa trong, nhưng có những tội phải đền ở Tòa ngoài, phải làm việc đền tội công khai, đó là giáo Luật. Có những trọng tội Thiên Chúa đã tha, nhưng con người không quên được. Có những trọng tội con người tán trợ, nhưng Thiên Chúa còn ghi đậm nét trong “sổ vàng”. Mọi cái nhìn của Giáo dân, và biện pháp trừng phạt của GH, không có nghĩa là sự xét đoán thay quyền Thiên Chúa, nhưng cũng là sự cần thiết phải có để bảo toàn trật tự Giáo Quyền, và cất đi gương xấu công khai.
Biện pháp Treo Chén, Giam Tòa, Tuyệt Thông, không phải là một vấn đề phán xét linh hồn của một cá nhân, mà là một sự “công nhận hành động gương mù gương xấu” công khai, cần cảnh cáo, cho đến khi có biểu hiện sám hối cụ thể! Điều khủng khiếp nhất của con người có lương tâm, còn lý trí, không do vì treo chén, tuyên vạ tuyệt thông, thua thiệt, tai nạn, chết chóc, nhưng chính là sự triền miên bị “Lương Tâm bất an” và “hãi sợ lòng mình” khi não trạng họ chưa trở thành chai lỳ sắt đá.
Những Lm. như thế, nhưng khi nằm xuống, cũng đã không thiếu những bài Điếu văn sướt mướt khóc kể “công trọng nghĩa dày” như một anh hùng lỗi lạc đã vực dậy cả Giáo Hội Việt-Nam thoát khỏi giờ hấp hối không bằng! Cụ thể một Lm. Tổng Biên Tập một tờ Báo mênh danh CG đã tố cáo Giáo Hội và nguyền rủa các nhà Truyền Giáo, mà chúng con đã không thể kiềm chế được, phải viết thư gởi trực tiếp đến Ban Biên Tập tờ báo vào ngày 17 tháng 3 năm 2008, đồng thời đã sao gởi lên Tòa Tgm. Giáo Khu Sài-Gòn, và Đức Cha Chủ Tịch HĐGMVN để “Kính thẫm tường”.
Trong buổi Họp Báo tại Đại Chủng Viện Giáo Hoàng ở Santiago ngày 12.4.2010, Đức Hồng Y TARCISIO BERTONE, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã đặt vấn đề khi nói đến những bê bối trong hàng ngũ Lm: “Điều quan trọng là cần cung cấp các “hướng dẫn thích hợp” (con đóng ngoặc kép và nhấn mạnh) và phải biết chấp nhận sự thật của quá khứ. Hơn thế nữa, còn cần phải đào tạo toàn diện các Nhân Đức cho các Ứng Sinh muốn chịu chức Lm. để ngăn chặn các hành vi tương tự sẽ xảy ra trong hiện tại và tương lai”. Nói thế, không có nghĩa Đức Hồng Y cho rằng chương trình đào tạo Lm. xưa nay là chưa toàn diện các Nhân Đức. Trọng tâm Đức Hồng Y muốn nhấn mạnh ở đây là Giáo Hội còn phải có những “hướng dẫn thích hợp” hơn, cần phải “nghiên cứu” nhiều hơn nữa nguyên nhân suy đồi nầy. Không vì tinh thần cởi mở của ĐCĐ Vatican II mà hàng Giám Mục buông xuôi, thả nổi để hàng Giáo Sĩ đi đến quá trớn, không có biện pháp ngăn chặn. Cần chận đứng mọi thủ đoạn thả sâu khoét trái phá hoại trong lòng GH, vô hình chung đã đẩy GH đến bờ vực thẳm, dễ biến GH thành một Cộng Đồng tạp nhạp vô tổ chức mất Đức Tin!
Cha Nguyễn-Hồng-Giáo, OFM, cũng từng ray rứt: “…đó là thời gian khủng hoảng hậu Công Đồng Vaticanô II (con nhấn mạnh) – khủng hoảng về đức tin, về căn tính của linh mục và tu sĩ, về kỷ luật đời sống của hàng giáo sĩ (bị buông lỏng)”. (CG&DT số 1754, 29.4.2010, Cha NHG. đóng ngoặc đơn).
Vâng, khai mở Đại Công Đồng Vatican II, Đức GIOAN XXIII chủ xướng tinh thần “Canh Tân Giáo Hội”, mục đích vạch ra một Phương hướng mới. Tân trang và chỉnh đốn Giáo Triều La-Mã, mở rộng phương hướng Truyền Giáo với tinh thần thận trọng và chặt chẽ hơn, tẩy rửa, lau chùi, quét dọn Tòa Nhà Giáo Hội được trong sáng, gọn nhẹ và mới mẻ hơn.
Muốn thế, mọi Cơ cấu tổ chức Giáo Hội phải được củng cố mạnh mẻ vững chắc, tận tâm và tích cực hơn trước nhiều lần. Tích cực hiện đại hóa công cuộc phát triển nền Văn Minh Ki-Tô-Giáo trên quy mô Toàn Cầu hơn nữa. Biết dung hòa với Phong Tục Tập Quán từng Dân Tộc. Cần gắn kết tinh thần Ki-Tô-Giáo với mọi Tôn Giáo thật thông thoáng và chân thành. Đối thoại với mọi tín ngưỡng, củng cố Tín Lý Đức Tin Công-Giáo. Phối hợp tinh thần tiến tới Hiệp Nhất Ki-Tô-Giáo. Kiên quyết đòi hỏi Cộng Đồng Quốc tế, tiêu biểu là Liên Hiệp Quốc phải tuyệt đối tôn trọng Nhân Quyền, đó là Quyền Sống và quyền Tự Do của con người, trong đó có quyền Tự Do Tôn Giáo, như tinh thần bản Tuyên Ngôn ĐTC đã Ban hành cụ thể. Cắt giảm những hình thức cồng kềnh và giảm bớt kỹ luật quá nhiệm nhặt ở một số Đan Viện, Dòng Tu.
Vì thế, GH xưa nay luôn Trẻ trung, đi trước mọi thời đại. Không hề bị già cỗi, bảo thủ, lạc hậu, lỗi thời, thoái hóa. Nhưng ĐCĐ Vatican II bị các thành phần G/sĩ cấp tiến trong GH ngộ nhận Canh Tân Giáo Hội là “Đổi Mới Tư Duy” !!! Tạo cơ hội cho nhiểu thành phần phá hoại lợi dụng làm con thiêu thân. Gây Phong Trào theo chiều hướng Cấp Tiến, thay đổi Tư tưởng, chuyển hóa Đức tin Ki-Tô-Giáo 180o! Cố biến thành một cuộc “Đại Cách Mạng Công-Giáo Toàn Cầu”. Nhiều phe nhóm thù địch luồn lách bằng mọi cách để phá hoại, tẩy bỏ Giáo Luật, chuyển đổi Tập Quán Đại Gia Đình Giáo Hội thành Chế Độ Chính Trị Quốc Gia, mệnh danh là “Dân Chủ hóa Giáo Hội”!
Họ xem như cơ hội mới, để xây dựng một mô hình “Đại Cách Mạng Đức Tin Công-Giáo” như một sự “Cải Tổ Tư Tưởng Văn Hóa” vĩ đại nhất xưa nay! Muốn biến dạn Cơ cấu Tổ chức Đại Gia Đình Công-Giáo “hội nhập” với xã hội trần thế thành một Thể chế Chính Trị trần gian. Đòi dân chủ hóa, đòi quyền bầu cử. Trong tương lai còn đòi quyền ứng cử vào chức vụ Giám Mục, Cha xứ (?), khi đó mới dễ bề gây bè phái, lũng đoạn đập tan GH ra từng manh mún trên mọi mặt, một khi không còn Lm. đủ trình độ Triết lý Thần học. Không còn hình ảnh Cha Sở - Con chiên. Đó là chương trình lâu dài của Đạo Sa-Tan đang xuất hiện.
Ta cần khẳng định muốn biến Giáo Hội thành một thể chế Dân Chủ là điều không bao giờ có, vì Giáo Hội không hề là một tổ chức chính trị, hoặc một Hiệp Hội nào ngoài đời. Giáo Hội vốn dĩ là một Đại Gia Đình Công Giáo. Không một gia đình nào tổ chức bầu cử chọn Gia Trưởng là thuộc hệ tư tưởng phản Luân Thường Đạo Lý. Với tinh thần đó, Giáo Dân luôn tôn gọi các Đấng Chủ Chăn và Công Đoàn Tu sĩ là Cha, Mẹ, Dì, Cô, Anh, Chị không riêng chỉ có ở Việt-Nam, mà trên toàn thế giới. Anh, Mỹ, Pháp vẫn tôn kính tôn xưng là Père, Father, Mère, Mother, Frère, brother, Soeur, Sister…
Ngoại trừ việc bầu cử Tân Giáo Hoàng, lá phiếu Cử Tri Đoàn (Hồng Y) là có giá trị tuyệt đối, nhưng với tỷ lệ phải đạt được trên “tối đa tuyệt đối” (2/3+1). Ngoài ra, tại các Cộng đoàn Tu Sĩ, mọi hình thức biểu quyết, chỉ có tính cánh “tham khảo” của các Đấng Bề Trên, hơn là bầu chọn có tính quyết định.
Các Đấng Bề Trên từng am hiểu giá trị tư cách đạo đức đối với từng Thành viên trong Cộng đoàn một cách toàn diện, hơn là sự đánh giá của mỗi thành viên, cách phiến diện vừa do ảnh hưởng cảm tình cá nhân, bạn bè, quen thân, đồng hương, chưa nói tình trạng bị mua chuộc một cách thâm kín nào đó.
Tuy nhiên Bề Trên vẫn lấy biểu quyết chung để soi rọi lại quyết định của mình. Nhưng quyền tự quyết vẫn thuộc Bề Trên, mà không phải căn cứ vào kết quả bỏ phiếu. Ngoại trừ một khi kết quả bầu chọn hầu như hoàn toàn trái ngược với quyết định của Bề Trên một cách tuyệt đối, Bề Trên hoặc chấp nhận kết quả biểu quyết, hoặc thỉnh thị Đấng Bề Trên trực tiếp cao hơn, để tránh sự sai lầm của mình trên cương vị Bề Trên.
Nếu Tu Sĩ đòi hỏi một chiều hướng dân chủ nào đó, đả kích Bề Trên thiếu Dân Chủ, là biểu hiện sự phản lại tinh thần Tu Trì. Đức tính Vâng phục và bỏ mình là sự đòi hỏi cao nhất của giới Tu hành. Tu Sĩ là những người tận hiến, tự bản thân đã chối bỏ mọi quyền lợi vật chất lẫn tinh thần cá nhân, ngoài một quyền lợi Thiêng liêng và tối tượng từ Thiên Chúa thông qua Đức Tin mà thôi.
Đổi Mới Tư Duy là một chủ trương Cách Mạng Tư Tưởng, phá bỏ mọi hệ thống ý thức cố hữu còn tồn đọng. Tự cho phép mình chuyển hóa nhận thức, thay đổi cách nói, cách làm. Rõ nét hơn, có quyền phá bỏ các quy chế truyền thống đã định hình nếu cảm thấy có phiền hà cho bản thân. Gieo rắc tư tưởng “tẩy bỏ” Tu Phục, là thể hiện đời sống hòa đồng, bình dân, bình dị, dễ giao tiếp gần gũi với mọi tầng lớp xã hội. Một lập luận mỵ dân mới, nấp dưới lớp sơn “Sống Đạo Giữa Đời”! Là manh nha trần tục hóa hình thức Tu trì, đả phá chế độ Độc Thân Lm. và lần hồi tiến tới việc giải tán Dòng tu. Dụng tâm tỉa cắt dần từng phần rễ bàn đến đuôi chuột, buộc tàn cây Đại Thụ GH phải héo rụng rồi tự mình gục ngã.
Đức GIOAN PHAO-LÔ II không hề cởi bỏ Phẩm Phục Giáo Hoàng, nhưng vẫn bình dân, bình dị, gần gũi, thân thương với mọi người còn gấp vạn lần các Linh Mục Triều mặc áo vá, vứt bỏ giày Tây! Thế giới đã ca ngợi Ngài là “Người Bình Dân Vui Tính Nhất Hành Tinh”.
Hầu hết hàng Linh Mục Triều nước Pháp, đã cởi bỏ Tu Phục trước tiên, tự giải thoát bản thân ra khỏi “kiếp Tu Hành” lạc hậu! Sau thời gian dạo phố Sài-Gòn, một vị Tgm. Pháp khi về nước đã viết thư cám ơn Đức Tgm. NGUYỄN-VĂN-BÌNH, cũng không quên đề nghị: “Xin Đức Cha cấm các Lm. không được mặc áo dòng đi ra phố: nó chướng quá! Ra phố thì mặc “xi-vin” như mọi người.” Cha NGÔ-PHÚC-HẬU nhận xét: “mắt Tây thì thấy chướng, chứ mắt ta thì chưa chắc.” Vâng, ngược lại, tuyệt đại đa số, không riêng Giáo Dân mà hầu như người đời vẫn thấy nghi ngờ và chướng mắt đối với các Tu Sĩ vứt bỏ Tu phục. Thay hình đổi dạng, lách mình hòa trộn giữa phố, trên đường là che dấu hình ảnh vị Mục Tử, đấng Chăn Chiên.
Nhờ sớm “thức thời” như thế, ngày nay nước Pháp đã thể hiện rõ nét là một “Trưởng Nữ Giáo Hội Toàn Cầu” (!) nhờ quá trình vận động vứt bỏ Tu Phục, kéo theo nhiều Tu Sĩ Mỹ–Âu! Trào lưu ấy đã thâm nhập vào Á – Úc – Phi không ít! Kết quả đi đến sự phát mãi Nhà thờ, không giống như Phi – Á, Lm. vừa mới cởi bỏ áo tu, chưa đến độ chín mùi. Đành rằng “Chiếc Áo không làm nên Thầy Tu” (L’habit ne fait pas le moine), nhưng Tu phục chính là hàng rào ngăn cách, là thành trì che chở các Nhà Tu.
Phủ trên mình Tu Phục là không dễ dàng giao tiếp “thân mật bình dân” với xã hội loạn cuồng điên đảo. Không bị vướng víu trong các khách sạn, nhà hàng. Không dám ngồi bên bàn nhậu ở hàng quán với vóc dáng một ông Cha!
Nếu không sợ quá lời, chúng con dám quả quyết đã có không ít Cha Xứ uống rượu như “hủ chìm”, trữ rượu trắng bằng “canh”, chứa bia hàng “kết” trong Nhà Xứ, như điều kiện cần thiết cho các cuộc tiếp tân giao tế hàng ngày với Giới chức Đạo Đời, kể cả lớp trẻ bình dân, bổn đạo! Thậm chí còn có Cha vẫn chưa đủ bình tỉnh khi đứng đồng tế trên Bàn Thánh. Mặt mày đỏ ửng, thân người lắc lư, như không đủ sức đứng vững trên đôi chân mình. Hiện tượng đó đã thành phổ biến trong một số Giáo Phận, nhất là Miền Nam. Đó là con đường dẫn đến sa đọa, dâm ô. Đã đưa một số Lm. “vào thế”. Các Đấng Bản Quyền đã từng cảnh cáo, nhưng hầu như phải khoanh tay bất lực!
Chối bỏ Tu Phục, là chối bỏ Tu Tâm. Mặc cảm với Áo Tu là mặc cảm Đời Tu. Đặc biệt, chiếc Áo Chùng đen Lm. Triều, là một loại “phẩm phục” của hàng Giáo Sĩ thuộc hệ thống Hành Chính Giáo Quyền như Áo chùng Tím, Áo chùng Đỏ của hàng Giáo Phẩm phải trang phục hàng ngày.
Nói chung Tu phục các Dòng tu Nam Nữ CG, truyền Thống đã được nghiên cứu rất kỹ từ lâu đời, gần như một loại thời trang không kịch cỡm cũng chưa lỗi thời. Trái lại còn lắm kẻ thèm thuồng ganh tỵ đến nỗi nặng lời đả kích, phỉ báng, trong lúc giới Tu hành các Tôn Giáo khác không mấy ai quan tâm. Đã không thiếu người trí thức ngoài đời thích mặc áo Cổ hở, y hệt kiểu áo “Bán Tu” (Half Clergyman) loại Dã Chiến (field combat) các Lm. chuyên dùng thay thế áo Chùng thâm. Từng là một kiểu áo dòng may ngắn, cài “Phô-Côn” (faux col) trắng như áo “sơ-mi-vết”, có thể bỏ ngoài quần như áo vết vẫn không mất lịch sự, hoặc bỏ trong quần như áo sơ-mi khi khoác ngoài một “áo vết” như có nhiều Gm. hay dùng. Có khác là các Nhân vật đời không cài được Phô-côn trắng, vì không dễ tìm mua ở thị trường, và cũng không mấy ai muốn lộ liễu hơn để trở thành lố bịch.
Hiện đã có nhiều kiểu áo Bán Tu “cải tiến” của Lm. – thường trắng hoặc màu – may hoàn toàn theo kiểu áo Sơ-mi. Riêng cổ đứng 2 lớp, cài nút cổ lớp trong, lớp ngoài chừa hở khoảng 3-4 phân để cài lồng một miếng nhựa nhỏ, cứng mỏng như vỏ chiếc “canh trắng” đựng rượu cắt ra, thay Phô côn kiểu cũ. Kiểu áo nầy, tất nhiên phải được nai nịt gọn gàng, vì nó là một chiếc áo sơ mi thuần túy, chỉ khác cổ hở 2 lớp mà thôi. Hiện tại đã có Cha trẻ đang là “Nhà Thiết Kế Thời Trang” cho Áo Bán Tu thêm nhiều mẫu mã cải tiến có tính cầu kỳ cải lương hơn, để chạy theo kịp thời đại văn minh! Đã hướng tới may theo kiểu Áo Tàu, cài khuy thắt nơ, thắt bướm (hình1). Nhưng nói chung, không kiểu nào trang nghiêm hơn kiểu Áo Dòng Tu Sĩ, cách riêng áo Dòng La-Mã, cổ hở cài Phô-Côn hiện hàng Giáo Phẩm và Giáo Sĩ đang dùng.
Hầu hết các Thầy Đại Chủng Viện, Tập Sinh các nhà Dòng, kể cả các vị Tân Lm. vừa nhận nhiệm vụ Phó xứ, vẫn muốn mặc áo Dòng. Nhưng thấy lạc lỏng bên cạnh các Cha già đã mặc cảm Áo Tu! Bao người lạ mặt đã bối rối thẹn thùng khi cúi chào Ông Từ Nhà thờ ăn mặc khá chỉnh tề là Cha, và chào Cha Xứ đứng cạnh bằng “chú”, vì Ngài nấp mình sau bộ y phục “khiêm tốn”, khá lề mề! Coi mặt bắt hình dong là thói đời thường có “Quen sợ dạ, lạ “lộn” áo quần”!
Có một Cha xứ đến ban Bí Tích Rửa Tội và Thêm sức tại nhà cho một Tân tòng yếu liệt, vẫn ăn vận quần tây với chiếc áo sơ-mi màu cháo lòng bỏ ngoài quần, mang trên cổ dây Các Phép (Stola)! Thật đúng hình ảnh Vị Chủ Chăn “bình dị” còn khó nghèo hơn cả Cha Thánh VIANNEY là một Lm. không bao giờ thiếu chiếc áo dòng, dù có sờn vai rách cổ, vá víu nhiều nơi!
Thậm chí, khi đến Nhà Hưu dưỡng Giáo Phận, đón rước trọng thể thi hài một Linh-Mục quá cố về an táng tại Giáo Xứ mình, Cha Chủ Lễ cũng ăn vận chiếc quần Tây, mang dây Các-Phép tím ngoài chiếc áo “sơ-mi” màu cháo lòng cố hữu, bỏ ngoài quần khi cử hành “Nghi lễ” đón rước (!) trước hàng chục Linh Mục, Tu Sĩ ăn vận Tu Phục trang trọng chỉnh tề và hàng trăm Giáo Dân cũng áo quần nghiêm túc, giày da, cà vạt!
Đã không thiếu người bức xúc kháo nhau: Cùng là Bí Tích, nhưng khi trọng khi khinh. Khi cử hành Bí Tích cách nghiêm trang trọng thể, lúc qua loa lấy lệ cho xong, kiểu đuổi ruồi qua đám giỗ! Làm sao giải thích rõ được cho Giáo Hữu sự quan trọng và cần thiết của bảy Phép Bí Tích Chúa GIÊ-SU đã lập và Hội Thánh truyền dạy phải đặt niềm tin và tuyệt đối tôn trọng, trong đó có Bí Tích Rửa Tội và Thêm Sức! Còn xem nhẹ hơn Bí Tích Hôn Phối, bao giờ cũng se sua rườm rà trân trọng! Không rõ hình ảnh nầy có biểu hiện ý thức coi khinh một Lm. quá cố, xem thường các Cộng đoàn Tu hành và hãnh tiến trước Con chiên Bổn đạo!
Đã có người bảo “Không dấn thân vào hang cọp, không bắt được cọp con!” Ngoại trừ các Nam Nữ Tu Sĩ Dòng Tiểu Đệ Thánh CHARLES DE FOUCAULD mới dám mạo hiễm vào hang cọp với bao nhiêu thử thách nặng nề gấp trăm lần các Đan Tu, Nhà Kín. Đầu tiên tại VN là Đức Cha NGUYỄN-KIM-ĐIỀN, Cố Tổng Giám Mục Huế, từng là một Lm. gần 20 năm làm phu “Đạp Xích-Lô” giữa thành phố Sài-Gòn, không hề biết đến áo tu. Sống hòa đồng thân mật với hầu hết giới Công nhân Thợ thuyền. Cư dân Thành Phố – cả đạo lẫn đời – chỉ biết Người là Lm. khi Tòa Thánh vinh thăng lên Giám Mục Cần Thơ 1961!
Các Nữ Tu Tiểu Đệ sinh hoạt đủ loại ngành nghề bình dân nhất: tiệm may, bán tạp hóa, phục vụ quán ăn, tạo điều kiện tiếp xúc, ăn ở với gái lang thang, bụi đời, kỹ nữ. Lần hồi biến đổi họ trở về cuộc sống lương thiện.
Nhưng không đơn giản để sống trong hoàn cảnh trái khoáy hư hư thực thực, một phần Tu hai phần Đời nầy, nếu không được rèn luyện tinh thần Đạo Đức cách vững vàng để đủ sức sống trong một môi trường khắc nghiệt. Các Tu sĩ luôn ăn chay nhiệm nhặt, hãm mình đền tội, mới khỏi vấp ngã, làm rơi rụng một đời Tu. Tòa Thánh đã rất dè dặt để chuẩn y một Luật Dòng hoàn toàn sống chung đụng giữa đời dưới những mái nhà bình dân khó nghèo chật hẹp, nhưng quá tự do, không một chiếc áo Tu làm “công sự phòng thủ” cá nhân giữa chợ đời.
Hiện tại các Tu sĩ Truyền Giáo Nam-Nữ tại các Giáo Hội Thầm Lặng, bắt buộc phải trá hình đổi dạng, nhưng với một đời sống đầy chông gai nguy hiểm, bắt buộc các vị phải luôn tỉnh thức, cảnh giác đề phòng. Điều tiên quyết, không bao giờ có một ai được cho phép mình ăn nhậu say sưa, chén anh, chén chú, chén chị, chén em cách bê tha phức tạp giữa đời.
Cất Áo Tu để sa đà ăn nhậu, không phải là hình thức vào hang cọp để bắt cọp con và bắt luôn cọp Mẹ, như một sỗ các Lm. tự biện minh cho đời sống khá bê tha của mình. Đó là liều mình, tự hiến thân làm mồi ngon cho thú dữ!
Đó là những hiện tượng manh nha phá giới. Lần hồi biến dạng đổi đời, trở thành một nhóm Lm cấp tiến bê tha. Nhóm xâm phạm tình dục trẻ em đều thuộc hàng Lm. chối bỏ áo tu, bê tha ăn nhậu! Công-Giáo là một GH duy nhất Tông Truyền, trước sau là một, Đông Tây là một, không chấp nhận Cấp Tiến cũng không chủ trương Bảo Thủ. Chỉ có Canh tân củng cố, không có Cải tổ Đổi đời.
Đã xảy ra ở nước ngoài, một Lm. đã “dấn thân” vào hang bắt cọp, không dễ dàng bắt được loại cọp khó chơi, loại Cọp Tam-Điểm đồng dạng có sừng. Đã một lần bị gài đến say bí tỉ, quỵ ngã ngay trên bàn nhậu, được “Đồng Bạn chí thân” thuê một phòng Khách sạn, âu yếm dìu “xác chết tim còn đập” vào đặt nằm chung giường với một cô gái bán dâm, trẻ đẹp tuyệt trần! Sau khi tỉnh dậy, Ngài được cho xem mấy tấm hình với tất cả mọi sự hở hang cần thiết của một xác chết đang ngủ lịm với vị Thần Men! Kèm theo những lời hăm dọa tống tiền, còn bị khống chế tinh thần nhiều mặt. Nếu không chấp nhận những điều kiện cần thiết, các tấm ảnh đắt giá sẽ được sang gởi cho Tòa Giám Mục và công khai hóa trước Bổn Đạo dân làng. Tất nhiên hậu quả là phải im lặng tuân hành, hoặc phải đi đến con đường cùng “chấm hết”!
Vào một ngày Chúa Nhật, trên Tòa Giảng, Cha đã đủ khiêm tốn, “xưng tội công khai” với con chiên giữa nhà thờ! Xưng nhận sự sa ngã và mọi lỗi lầm sai trái bản thân. Xin được Giáo Dân tha thứ và cầu nguyện cho Ngài nhiều hơn. Thậm chí Ngài không hề chữa mình đã bị gài bẫy cho đỡ phần xấu hổ, dù đó là sự thật.
Cả Cộng Đồng Giáo xứ không một ai cầm được nước mắt. Lòng tin yêu tôn kính của Giáo Dân đối với Cha càng tăng cao gấp bội. Như một lời thách thức khiến đối phương phải tiu nguỷu lặng im, cụt hứng. Mặc nhiên đã vô hiệu hóa mọi thủ đoạn thâm độc, đành chịu mất trắng cả vốn lẫn lời với một khoản chi xưa nay không nhỏ cho một mưu đồ tính toán dài lâu!
Một bài học dành cho mọi người. Khiêm tốn và chân thành thú tội là một mẻ thắng lớn trước mọi đối thủ khủng khiếp nhất. Sự khiêm tốn khôn ngoan cần cho các cấp Lãnh Đạo Giáo Hội, các Đấng Bản Quyền nên khuyến khích hàng Giáo sĩ, và cũng cần áp dụng con đường đó để chiếm phần ưu thế vô địch để chiếm hữu các tâm hồn cho chính mình. Lấy Kinh Cáo Mình làm vũ khí vạn năng. Dám xưng tội công khai, không bao biện, tránh né? Thuộc cấp càng mến yêu tôn kính, đối phương sẽ tự động giải trừ binh bị, không hề bị mất mát một điều gì.
Có những trọng tội được giải thầm kín tại Tòa Trong, có những tội phạm gây gương xấu, phải được đền giải ở Tòa Ngoài, có những Đấng vì Đức Khiêm nhường, đã tự nhận trách nhiệm về phần mình. Đã có Giáo Hoàng dám ngỏ lời xin lỗi trước Nhân loại, tự thú tội không chỉ đơn phương do một phía, đã gây rúng động khắp Thế giới, đã biến hận thù thành yêu thương. Mua được sự tôn kính tuyệt đối của mọi Quốc Gia, Tôn Giáo. Đã đưa ngôi vị Giáo Hoàng lên đến tuyệt đỉnh Tin yêu.
Nếu Giáo Dân đã dám xưng tội với Lm, thì các Đấng Bản Quyền cũng không nên né tránh, dám công khai hóa mọi vấn đề trước Công Luận Đạo Đời, là một nét đặc thù của GH xưa nay. Lúc đó mọi áp lực vô hình tự nó sẽ triệt tiêu, ta không cần phải bận tâm đối phó hay chịu lép vế lách mình. Lúc đó hàng Giáo Phẩm mới có đủ uy quyền Lãnh Đạo, vô hiệu hóa các loại màng nhện ung thư đang hoành hành trong cơ thể Giáo Hội và các Giáo Phận nói chung bởi những loại ký sinh trùng không vắng mặt nơi đâu, ngay cả trong hàng ngũ Giáo Phẩm và Giáo Sĩ toàn cầu.
Mọi người không mấy ai cố chấp, nhưng không chịu được một cá thể nào đó cứ tưởng lấy vải thưa che được mắt thánh, nên định kiến nội bộ ngày thêm sâu đậm. Một ời xin lỗi công khai, cũng chả phanh phui thêm điều gì mới mẻ hơn điều mọi người đã biết, nhưng được bù lại một lòng mến yêu, tôn kính và tin cậy hơn cho đối với thuộc cấp. Các Hồng Y, Giám Mục, đã có vị nào trong sáng, vô tội, không gục ngã trên con đường đầy chông gai, cạm bẫy? Vì tất cả đều là con người, một con người yếu đuối. Hãy khiêm tốn tự thú công khai trước Hội Đồng Linh Mục Giáo phận những thiếu sót, sai trái, lỗi phạm của mình, những bản tính trái khoáy bản thân, để xin được cảm thông và hợp tác, dù đó là những sự việc không còn xa lạ trước mắt ai, nhưng thiếu lời tự thú, lại khó được cảm thông và chấp nhận. Các Cha Sở cũng cần thấy mình còn nhiều sai lỗi trong trách nhiệm, yếu đuối trong cuộc sống, cũng nên công khai tự thú, nhận trách nhiệm về phần mình và khắc phục sửa sai, kêu gọi sự đối thoại và cộng tác của Giáo Dân. Giáo xứ sẽ phát triển ngay một tình Phụ tử vốn có, sẽ thâm sâu và đưa Giáo xứ tiến lên cách vững mạnh hơn trước nhiều lần. Bỏ mọi tư tưởng “Ban ơn”, “Bố thí”, “Xin cho” kiểu xã hội ngoài đời, cái mà HĐGM đã từng phản đối, là xa lìa là đánh mất sự hợp tác của con cái!
ĐCĐ Vatican II chưa hề hủy bỏ Tu Phục vốn đã có từ Thế Kỷ I CN. Đức Thánh Giáo Hoàng A-NA-LÊ-TÔ (Anacletus) không phải vô cớ để ấn định rõ tu phục “trang bị” cho Giáo Sĩ phải sử dụng hàng ngày như một loại vũ khí bất ly thân. Nhưng dần dà Tu phục ngày càng bị bỏ quên khinh thường, Tu Luật càng thêm lỏng lẻo. Thế Kỷ XVI Đức XI-TÔ XV (Sixtus) truyền cải tổ nếp sống Hội Thánh cách nghiêm ngặt hơn! Đến cuối Thế Kỷ XVII, Tu phục hầu như được gởi vào các Viện Bảo Tàng, bị xem là đồ cổ! Đức IN-NÔ-SEN-XI-Ô XII (Innocentius) một lần nữa đã cứng rắn truyền buộc tất cả Lm, Tu sĩ đều phải mặc Áo Dòng khi ra khỏi phòng và xét mình hàng ngày trước giờ ngủ. Tinh thần tu đã trở lại như thời buổi các Thánh Tông Đồ. Tuy nhiên đến Thế Kỷ XIX, tại Âu-Châu cũng đã có nhiều hiện tượng xé rào, cách riêng là Giáo Hội Pháp. Năm 1846 Đức Mẹ đã hiện ra tại La Salette, một xóm nhỏ hẻo lánh trên triền núi Alpes, phía Nam Thủ Đô Ba-Lê, đã cảnh cáo: "... Các Linh Mục, những Thừa Tác Viên của Con Mẹ, vì cuộc sống ác độc của chúng, do sự bất kính và khô khan của chúng khi cử hành các Nhiệm Tích Thánh, vì yêu tiền bạc, vì ham danh và lạc thú, các Linh Mục đã trở nên hố chứa phân dơ bẩn. Đúng vậy, các linh mục đang đòi báo thù, và sự báo thù đang treo lơ lửng trên đầu chúng… thế giới sẽ có một thứ Hòa Bình giả tạo. Người ta chỉ nghĩ tới vui chơi………" (trích Đức Mẹ hiện ra tại La Saltte. Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi. (Nguon:www.thanhlinh.net.www.kinhmungmaria.com/.../4DucMeHienRaTaiLaSa lette.162141845.htm).
Đau đớn thay, chính Đức Mẹ đã lên án: “các Lm. đã trở nên hố chứa phân dơ bẩn…. vì cuộc sống ác độc của chúng…..” chứ không ai khác. Điện đài, Báo chí, Công luận vẫn chưa mạt sát, chưa nặng lời hơn Mẹ! Và Mẹ không chỉ nhắc nhở than trách một lần tại La Salette.
Tu sĩ chối bỏ Tu Phục là chối bỏ Tu Tâm, hạ thấp Thiên Chức của mình, biểu hiện tinh thần Tu đang trên đường tụt dốc, đã đẻ ra cảnh Giáo Dân trần trụi giữa nhà thờ! Chúng con sẽ xin đơn cử sau. Một Tgm. CG, đã ở độ tuổi U 71 vì không cưỡng nỗi dâm tình, EMMANUEL MILINGO đã sống sượng công khai ăn nằm với Bà SUNG, một phụ nữ Hàn quốc lỡ thời, có thể là một quả phụ ở tuổi 43. Ông dám phản bội lời Khấn Trọng Thể, không hề cảm thấy e thẹn và mặc cảm với các Lm. Tu sĩ thuộc quyền, đã từng được mình phong chức và ngồi nhận lời tuyên khấn trọng thể. Không biết ô nhục, khi quỳ trước một nữ Mục sư SUN MYUNG MOON, Giám mục một Đạo Bản Làng để chịu phép Hôn Phối. Hậu quả của việc chối bỏ áo tu!
Các hộp đêm, phòng ngủ, quán nhậu, bia ôm, tất nhiên không một ai nhìn thấy bóng dáng một chiếc Áo Tu, là môi trường dẫn đến mọi tội phạm Thiên Chức. Mọi tội lỗi trong cảnh tệ đoan xã hội đã hoàn toàn xuất hiện trong lớp Tu Sĩ chối bỏ áo tu, ưa tục hóa trá hình. Dẫu có những chiếc áo dòng vấp ngã, nhưng rất hy hiếm, không đồng loạt đại trà như Tổng Giáo Phận Boston Hoa Kỳ, để phải phát mãi cả Tòa Tổng Giám Mục bồi thường các nạn nhân đã đến con số 572.507.094 Mỹ kim không đủ, còn dự tính đến cả đôi tỷ mới may lấp đầy! Tổng Giáo phận còn tiếp tục đóng cửa hàng loạt nhà thờ để bù vào chỗ thiếu. Đó chỉ mới xét phần thiệt hại về vật chất. Còn tinh thần?
Còn hậu quả phát mãi hàng chục Thánh Đường thì sao? Giáo dân sẽ kinh nguyện dâng lễ, viếng chầu ở đâu? Cha xứ, Giám Mục cũng chỉ là nhân vật Quản lý tài sản Giáo Hội, giáo xứ, đâu phải tư sản cá nhân, ai được phép chuyển đổi, dâng hiến, bán cho tùy nghi. Nó là mồ hôi nước mắt của nhiều đời ông cha Giáo dân để lại, việc phá bỏ bán mua phải được đại da số Giáo Dân chấp nhận. Hành động cá nhân các Lm. phải tự chịu trách nhiệm về bản thân mình, kể cả tù tội. Nhà thờ không thể đem ra gán nợ đền bù cho tội phạm Lm, một hành động phi lý cả Đạo lẫn Đời. Hậu quả cởi bỏ áo chùng thâm là ở đó!
Ai dám bảo đảm người đội “Mũ Bảo Hiểm” sẽ trở thành bất tử? Sẽ không chết trước các tai nạn lưu thông? Xe bọc thép vẫn bị lật nhào khi cỡi phải Mìn chống xa hay lãnh quả pháo B 40, đã trở thành đống sắt co rúm giữa chiến trường. Vâng, mìn không chống nỗi, phóng pháo đành phải chịu thua, nhưng mảnh bom, đầu đạn chắc chắn không đáng ngại. Nếu một đôi viên đạn lọt vào khung cửa nhỏ gây tử vong cho binh sĩ, cũng là điều hy hiếm. Mọi tai nạn lưu thông không gây tử vong cho người bị nạn, đều tránh được chấn thương sọ não đến 90% hay còn hơn nữa, nhờ có mũ bảo hiểm nghiêm túc trên đầu, khỏi trở thành người bất toại, hoặc phải sống một đời thực vật suốt chuỗi ngày còn lại. Ai lý luận thế nầy hay thế khác, đều là quyền của họ.
Áo dòng không trừ được tội lỗi cho người cố tình phạm tội, nhưng cũng hạn chế được đến mức tối đa, luôn nhắc mình là Lm. để biết giữ mình nhiệm nhặt hơn. Không đổ gục đại trà như một đôi nơi Âu Mỹ, vì đã cởi bỏ Áo Tu trước Việt-Nam hàng bao Thế kỷ. May ở đây cũng chỉ mới “tập tò” chưa lâu lắm, chưa đến nỗi chai lỳ mặc cảm như lời Giám Mục Pháp đã biên thư than phiền với Đức Tổng BÌNH, để các Lm mặc áo dòng ra phố thì chướng mắt lắm! Vâng, dẫu có chướng mắt nhưng khỏi bán nhà thờ!
Giáo dân phải biết thẳng thắn, dũng cảm phản ảnh những sai quấy của vị chủ chăn mình lên Đấng Bản Quyền thì mới canh tân Giáo Hội được, phải có một cái nhìn khác hơn với Cha Xứ ưa ra đường thiếu chiếc áo chùng thâm, ngoại trừ giờ thể thao, thể dục, tắm biển và cùng lắm là nơi tiệc cưới tại các khách sạn, nhà hàng, nhưng tôi thiểu cũng phải có chiếc áo “Bán Tu”, để giảm bớt được chén tạc, chén thù, chén chú, chén anh với những câu hô “Dô” liên tục! Nếu hàng Giáo Phẩm và G/sĩ vẫn còn cái ý muốn bao che cho nhau tùy tiện, không dám vạch áo cho người xem lưng, thì những ung nhọt đó ngày càng bất trị, thành các bướu ung thư di căn tập thể. Tương lai Giáo Hội là ở trong tay những người giáo dân và con em của họ sau này, nhất là giới trẻ đã sống và được đào tạo trong những thể chế Dân Chủ Tự Do thì họ sẽ không chấp nhận bất cứ một sự bao che nào cả. (phỏng theo View Full Version, http://ww w.datviet.com/archive/in dex.php?s=cac8ffdd9f290ea226cf3623e85b4952>)
“Hôm Nay Bạn, Mai Tôi”. Vết xe đổ của Đức Hồng Y BERNARD LAW hãy còn đó. Dù có bị cách chức, loại trừ, tên tuổi vẫn muôn đời khó phai nhòa trong ký ức Giáo Dân. Là sự cảnh tỉnh cho hàng Giáo Phẩm, cho các Đức Giám Mục VN và vùng Phi – Á. Nếu Thượng không bất chính, thì hạ không tắt loạn. Nếu Thượng khoái côm-lê vết, thì hạ phải quần “Din”, áo kiểu. Cứ thế thì Vương Cung Thánh Đường Sài-Gòn, Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc cũng phải có một ngày phát mại trả nợ cho Lm. và Giám Mục đã mất chất tu. Chưa nói đã đi vào con đường tin vơ thờ quấy phát xuất từ trung tâm Thánh Mẫu La-Vang. Giám Mục là Vị Giáo Hoàng Thứ Hai trong Giáo Hội, nhưng không được hưởng Đặc Ân Bất Khả Ngộ, nên không có quyền thay đổi Tín Lý Đức Tin và Tượng thờ biến dạng. Đấng có toàn quyền và tuyệt đối trong Lãnh Hạt, cũng có trách nhiệm hoàn toàn và tuyệt đối về mọi hiện tượng xuất phát trong Lãnh Hạt mình. Phải gánh chịu mọi trách nhiệm về Đức Tin con cái trước Thiên Chúa và Đức Thánh Cha.
Không thiếu Dòng tu đã biến Áo Dòng thành “Áo Đầm”, cũn cỡn vừa quá gối, lỡ ngắn, lỡ dài với đôi vớ trắng rất hợp thời trang, đủ để biểu diễn cặp giò thon thả với những cặp Chân Voi gồ ghề đồ sộ! Một số Dòng Tu đã chán ngán Tu Phục! Vào Nhà Thờ, đi Rước Lễ, các Nữ Tu vẫn áo Sơ-mi bỏ ngoài quần, không khác “Ô-xin” đến rạp hát, rảo chợ trời. Đã đánh mất lễ giáo truyền thống Á-Châu, cũng chẳng phù hợp lễ tiết Tây-Phương, buộc phải bỏ áo sơ mi dài tay (chemise manchette) vào trong quần, dù nam hay nữ! Còn tìm đâu ra vẻ nghiêm trang của kẻ Tu hành, ngay cả khi vào Nhà Nguyện, Thánh Đường và khi lên Rước Lễ!
Những lúc mừng Cha, rước Giám Mục, tất cả đều ăn vận Tu Phục chỉnh tề thẳng nếp! Không rõ tu Chúa hay Tu Cha, ai là Đấng ta thờ? Sư Sãi, Tăng Ni, kể cả các Chú Tiểu “quét lá đa”, dù ngoài đường phố, trên tàu xe, trong Lễ hội, tại Học đường, không bao giờ cởi bỏ áo Tu, không cần biết đẹp xấu, hợp thời hay lạc hậu. Về mặt nầy, tinh thần Tu CG hầu hết đã sa sút đến thê thảm. Đã đủ cho mọi người nhìn rõ “tâm tu” từng Tôn Giáo hiện nay.
Một khi đã biểu hiện tinh thần tha hóa, làm sao không đẻ ra những hành động đau buồn biến thái! Sau những ngày Tỉnh tâm, Cha, Thầy đổ ra đường cũng quần “gin”, áo “bun”, Nữ Tu cũng quần tây áo kiểu, không kém phần mát mẻ thoải mái, khó phân biệt hơn thua với giới trẻ ngoài đời! Tại các Học đường văn minh, có quy củ giáo dục, Thầy Cô không bao giờ ăn mặc lẫn lộn với “Học trò”.
Trong một buổi Tĩnh tâm tại khu Tiểu Chủng Viện cũ Sài-Gòn, do Cha TRầN-ĐÌNH-LONG (SSS) Chủ giảng. Cha đã kể một câu chuyện nửa hài nửa thật về mình: Một lần khá vội, phải vượt qua mặt một chiếc xe 2 bánh, đã vướng nhẹ một phụ nữ cùng chiều. Chị ta “nổi dóa” hét lớn: “Cái thằng…” Cha đã vội quay lại định xin lỗi khi chị chưa kịp xổ hết loạt đạn cuối cùng. Vừa nhận ra Ngài, vị Lm. chị từng nghe giảng Tĩnh Tâm. Chị bẽn lẽn, vừa kịp phanh lại tràng pháo hãy còn dài, gục đầu cười chào lớn: “Cha!” Ngài ghép lại vừa đủ câu nói của chị: “Cái Thằng Cha!” Ngài tiếp, phải chi có chiếc áo Dòng, phản ứng của chị sẽ khác đi! Cả nghìn người tham dự Tĩnh tâm vỗ tay vang dội Hội đường!
Chúng con cảm nhận, sau những chiếc áo Cà Sa kia, chắc chắn đã không có từ “thằng, con, gã” được xổ ra từ miệng ai, dù nạn nhân có là khác Đạo hay bất cứ thuộc thành phần xã hội nào. Các nữ sinh Ni-Cô đã không bao giờ bị thanh niên chọc ghẹo sỗ sàng trên đường phố trong bộ quần áo màu nâu! Không một Viên chức Công An nào thiếu lịch sự, đành nặng lời lỗ mãn với một Vị Khâm Châu Cao Đài ăn vận chiếc áo trắng dài khi bị tạm giữ. Một Mục Sư lên tàu xe, chưa từng ai nhường chỗ mời ngồi, chỉ vì chiếc áo không giúp họ nhìn ra nhà Truyền giáo. Tuy không cần điều dó, nhưng cũng giúp người tránh khỏi tiếng mầy tao, nhục mạ, ngang hàng khi sơ suất, cũng tránh được nụ cười nữa khóe đối với kẻ biết rõ đó là Ông Cha.
Hình thức bên ngoài, từng thay đổi tư cách con người. Thực tế đã cho thấy một đáp số chung: khi Bản thân diện bộ cánh “Côm-Lê”, “Cà-Vạt” với đôi giày bóng loáng, tất nhiên con người sẽ trở nên chững chạc từng bước đi, từng cử chỉ, từng lời nói. Lối giao du có khác hơn trong bộ quần Gin, áo Bun, sơ mi vá víu bạc màu và lẹp bẹp kéo lê một đôi dép rẻ tiền. Không hề dám ngồi xổm bên lề đường, tu ngon lành một chén đậu hủ. Nếu là “Quần lồng đèn, áo ống thụt” thì còn có những biểu hiện… hết biết! Một khi vận bộ Quốc Phục, quần trắng, áo dài đen, lại có thêm chiếc khăn đóng trên đầu, dù là một tay chơi bời trác táng, cũng không thiếu vẻ thận trọng đạo mạo như một Nhà Nho, không dám vào quán bia ôm thư giản! Cơ hồ khi khoác trên người bộ Tu phục, càng tỏ hiện tư thế Đạo đức trong sáng, nghiêm trang gấp bội, không xé gió tung trời ngay cả trong phòng ngủ! Vâng “Chiếc áo chùng không làm nên Thầy Tu”, nhưng nó đã bảo vệ được tư cách Nhà Tu, tránh được cảnh “cá mè một lứa”. Không xuất hiện cảnh “bún đầy tràn” giữa Cha con, Thầy trò, Dì cháu, Chị Em!
Thời gian đầu mới tiếp quản Thủ đô Hà-Nội, các cấp Cán bộ Trung ương vừa theo thói quen, vừa noi gương “giản dị” Ct. HCM, đều ăn mặc xềnh xoàng, lè phè đôi dép râu cố hữu, áo sơ mi sờn cổ, không cà vạt. Chủ Tịch khiển trách: “Bác khác, các cô, các chú khác, không được ăn mặc như Bác. Ta còn thiếu thốn, không đòi hỏi lễ phục đắt tiền, nhưng phải ăn mặc chỉnh tề đúng phép. Cô chú nào có điều kiện cứ đóng “côm-lê”, áo dài tươm tất để quan khách Quốc Tế khỏi ngộ nhận ta hời hợt khinh thường.”
Giả thuyết các Chư Tôn Thượng Tọa PG ăn vận thường phục đón tiếp Phái Đoàn CG do Đức Hồng Y Tgp. Sài-Gòn trong Phẩm phục tôn nghiêm trịnh trọng, thì Giáo Dân sẽ không có suy nghĩ gì? Có thể vì “Lòng Bác Ái” mà phải vô tâm không cần chấp trách! Nhưng, Phật Giáo vẫn còn một nét đẹp truyền thống Tôn Giáo trong tinh thần tôn trọng lẫn nhau, không hề phủ Đời lên Đạo để tiếp đón ĐHY (hình 2). Đủ nói lên lòng trọng khách của quý Chư Tăng, Thượng Tọa, thật đáng được trân trọng tôn vinh.
Trong khi thù tiếp các Phái đoàn Cán bộ Chính Quyền trang phục chỉnh tề, quần áo đóng thùng tươm tất, giày vớ trang nghiêm cũng như các phái đoàn Tôn Giáo đầy trịnh trọng trong Áo Chức Tôn Giáo, đã có Lm, Cha xứ mặc chiếc áo sơ mi, lè phè kéo lê đôi dép! Ai khinh thường và ai thiếu lịch sự? Một cử chỉ cần xét lại lời khiển trách của Cố Ct. HCM. Tiếp phái đoàn càng cao, càng trở nên bất nhã. Mỗi hình ảnh, thể hiện một ý nghĩa khác nhau.
Không phải chúng con vạch áo cho người xem lưng, nhưng thực tế đó đã nhan nhản khắp nơi, chỉ không ai dám nói, dám tỏ thái độ công khai trực tiếp. Nhưng không phải đa số người không khó chịu. Chính tai chúng con và nhiều người cũng đã được nghe vài điều dị nghị từ trong Đạo đến ngoài Đời.
Tâm lý, mọi thành phần xã hội vẫn muốn được các cấp Lãnh Đạo Giáo quyền và Chính Quyền mọi cấp, đón tiếp mình cách nghiêm túc theo trang phục Đạo – Đời. Mục Sư Tin-Lành, truyền thống đã đời hóa hoàn toàn, trang phục chỉ có mỗi bộ Côm Lê Cà Vạt của các Đại gia và Viên chức ngoài đời. Các cấp Lãnh đạo tinh thần Do-Thái-Giáo, Hồi-Giáo, Cao-Đài vẫn có đời sống gia đình vợ con, không thuộc giới Tu hành như Công-Giáo, Chính-Thống, Phật-Giáo, Ấn-Giáo… nhưng vẫn có Biệt Trang Lãnh Đạo Tinh Thần riêng biệt, không hề lẫn lộn Đạo-Đời phức tạp.
Trang phục nhà tu chính là nét đẹp các Bậc Tu Hành. Một Tu sĩ vận bộ cánh ngoài đời, dù có hợp thời trang, đắt tiền cũng chả giống ai. Một Cấp Tướng, một Sĩ Quan diện côm lê giữa hàng quân, không áo mão cân đai, không hơn chú Binh Nhì vô Quân Kỹ! Công An, Cảnh Sát không ăn vận Sắc Phục không được phép thi hành công vụ. Nhìn Quân trang biết Tư cách. Quân kỷ không nghiêm, Quốc phòng suy thoái.
Một Giáo dân được diện kiến với Cha xứ trong bộ thường phục, như cảm nhận có cái gì thiêu thiếu tình thân thương và chắc chắn bị giảm bớt phần nào lòng kính trọng. Ngoại trừ một số Giáo dân đặc biệt là “bạn thân” Lm, mới ưa thù tiếp thật thân mật, ngang vai đồng vế, để dễ bề chén tạc chén thù, xưng hô xả láng, khỏi cần giữ kẽ Cha con. Nhưng đó là hàng khách cá biệt, không thuộc phạm vi đối nhân xử thế.
Khi chiêm ngưỡng mẫu ảnh Phái Đoàn Hội Đồng Giám Mục Hoa-Kỳ trong phẩm phục Gm. tại Huế (hình 3), “dường như” có toát ra một vẻ Thiên uy trong sáng, còn thể hiện rõ nét lòng tôn trọng của các Đấng đối với Hàng GMVN.
So với tấm ảnh Phái đoàn Quốc hội Canada thăm 2 Linh mục (hình 4), đã khó phân biệt được vai vế đâu là Linh Mục và đâu là Chính Khách. Đánh mất lòng tôn trọng một phái đoàn cấp cao và tính tự trọng của một Lm. Dù có mặc chiếc Áo “Bán Tu”, cài “phô côn” đi nữa, cũng đã biểu lộ một Tu Sĩ “Nửa Tu”, chỉ dâng hiến nữa người cho Chúa, và xin dành phần còn lại cho mình! Thực tế, hàng G/Sĩ nước Pháp đã thực sự đánh tan một vai trò Trưởng Nữ Giáo Hội Toàn Cầu! Đã làm phai nhạt lần hồi ý thức “Tu Thân Tận Hiến”. Từ Áo “Bán Tu” (Half-Clergyman) đã có nhiều Lm đi đến “Bán Tu” (Selling-Clergyman). Đã dám bán cả Tu lẫn Đạo, kín đáo biến đời Lm. làm tay sai tuân phục Sa-Tan, bình tỉnh sống công khai như người trần tục kể cả có con riêng như không ai hay biết! Còn vận động nhiều dịch vụ gây lợi nhuận kếch sù cho cá nhân vẫn nấp bóng Giáo Hội để huênh hoang khoe mẽ.
Ngoại trừ các Lm. tại các Giáo Hội Thầm Lặng, các nước Truyền Giáo Sơ khai, các Cộng Đoàn Biệt Tu (Tiểu Đệ). Cách riêng các Lm Tuyên Úy Quân Đội – thuộc các Binh chủng tại các nước có Chế độ Tự Do, Nhân Quyền – phải vận Quân phục dấn thân đến cả giữa rừng sâu núi thẳm, trong cảnh bom gầm đạn rít để tìm đến từng Linh Hồn Chiến binh tử thủ, tất nhiên phải vận Quân phục hay Thường phục ngoài đời. Áo Bán Tu nam cũng như “Bờ Lu” (blouse) Nữ, chỉ phù hợp cho các Tu sĩ sử dụng khi lao động chân tay đỡ phần vướng víu, vẫn không thể thay thế Tu phục thường ngày trong mọi lễ nghi và giao tế. Đó là một loại trang phục “cải tiến” có tính tạm thời, không khác hình ảnh loại xe Công Nông cải tiến chạy rong trên đường phố mà dân nghèo đang tận dụng, đã đánh mất vẻ đẹp Thành phố, lại sử dụng như phương tiện trình diễn trong cưới hỏi. Thời điểm đó đã qua rồi!
Với 2 mẫu ảnh 3 và 4, tất nhiên ai cũng có thể đánh giá được giữa sự trịnh trọng, thân thương và đáng kính ở hình 3 với mẫu hình số 4 để lộ tính xô bồ hãnh tiến, đánh mất Thiên Chức được giao. Đúng là một nét đẹp hội nhập không biểu lộ tinh thần Sống Đạo giữa đời, nhưng là một nét “Hóa Đạo” thành “Đời”. Một hình thức biểu hiện sự “mặc cảm đời tu”, thích đội lốt Đời che mặt Đạo, đi ngược lại tinh thần đưa Đạo vào Đời như ĐCĐ Vatican II đòi hỏi. Giáo dân cũng chẳng cảm nhận được chút thơm lây hoặc sự hãnh diện nào do sự “khiêm tốn trịch thượng” của 2 Lm. đang hòa mình hội nhập nét đẹp “Siêu Văn Hóa” trần tục nầy! Không rõ Thực khách dự Tiệc cưới sẽ phải trả lời làm sao một khi đối mặt với Ông Chủ nếu bị gạn hỏi:“Đã có sẵn Áo Cưới Ta trao, sao ngươi khinh thường không thèm mặc?”
Tại “Địa phận” Kon-Tum ngày trước, có số các Cha người Thượng, khi về với gia đinh thôn xóm, các Ngài chỉ đóng mỗi chiếc “khố” truyền thống theo tập quán Dân tộc, cùng hòa đồng với bà con Bản làng! Đấng Bản Quyền khiển trách, các Lm. Pháp và Kinh đều không chấp nhận hình ảnh trái khoáy nầy, khi các Ngài không bao giờ dùng thường phục dù bất cứ ở đâu. Do đó, việc truyền chức Lm. cho người Dân Tộc đã bị hạn chế. Giáo Phận Kon-Tum đã vắng bóng người Thượng làm Lm. Xét ra nếu các ngài vì tinh thần hòa đồng Dân tộc, hội nhập văn hóa cổ truyền, cùng nhau đóng khố tất cả, từ trong bản làng cũng như khi về chầu Đức Thánh Cha có nên chăng?
Nhưng xét cho cùng, quần tây, sơ-mi, áo vết, cũng chỉ là thường phục truyền thống của người Âu-Mỹ, có giá trị gì hơn chiếc khố truyền thống của Đồng bào Thượng? Sao Giáo Hội Việt-Nam lại chấp nhận tính truyền thống nầy và loại trừ tính truyền thống khác, và cả hai cũng không phải của mình? Nó không biểu hiện tính kỳ thị chủng tộc, không phân biệt đối xử, không đánh mất tính bình đẳng và lòng bác ái đối với Đồng bào thiểu số sao? Các Tu sĩ người Kinh, sao vẫn ăn vận Âu-phục từ trong nước cũng như xuất ngoại ngay cả khi về La-Mã? Sao không một G/sĩ nào vận y phục khăn đen, áo dài để thể hiện Dân Tộc Tính? Sao không ai chấp nhận cho hàng G/sĩ người Thượng đóng khố theo truyền thống Dân tộc họ, vừa bình dân, bình dị, vừa gọn nhẹ và mát mẽ hơn? Hay vì chiếc khố quá rẻ tiền?
Vốn là nhà Tu hành Công Giáo, càng không nên tranh chấp, mưu cầu chức vụ từ trong Đạo lẫn ngoài Đời. Một Giáo sĩ nào chỉ mơ màng làm Bề Trên, lên Giám Mục, thăng Hồng Y, kế nhiệm Giáo Hoàng đều không phải là tôi trung của Đức KI-TÔ, đừng đòi hỏi Ngài cho được ngồi bên hữu hoặc bêu tả Ngài. Tại Giáo phận Đà Nẵng, đã có Lm. trắng trợn tranh chấp lên Giám Mục, dám công khai nói với Đức Cha P.M. PHẠM-NGỌC-CHI: “Lm người Quảng-Nam (bao gồm cả Đà-Nẵng) chỉ có mình con là Tiến sĩ”. Từ đó các Lm. trong Giáo phận cả Gs lẫn Ts, mỗi khi gặp ngài đều cúi chào: “Con xin chào Cha Tiến sĩ ạ”. Đến khi Đức Cha P.X. NGUYỄN-QUANG-SÁCH được tấn phong Gm Phó Đà-Nẵng 1975, Lm. Ts nầy suốt cả năm sau đó trong thánh lễ chỉ dâng lời cầu cho mỗi ĐC. P.M. PHẠM-NGỌC-vafloaij loại Đức Gm. Phó ra ngoài. Đợi đến lúc bị con chiên phản đối, ngoại trừ các ông bà già bệnh tật và trẻ con, còn hầu hết đều bỏ đi lễ nhà thờ khác, ngài Ts sĩ mới bất đắc dĩ mở lời cầu cho ĐC Phó Giáo phận. Sau đó Giáo dân trở về lại dâng lễ tại giáo xứ! Khi Đức Cha GIU-SE LÊ-VĂN-ẤN, đương kim Cha Sở Chính Tòa Đà-Nẵng, được tòa thánh vinh thăng lên Giám Mục Xuân-Lộc, vị Lm. Tổng Đại Diện Giáo Phận cũng tỉnh bơ nói với nhiều người nhiều người chung quanh: “Lẽ ra chức Giám Mục là của “tau” đó”. (!)
Tại Tổng Gp Sài Gòn, Đức GIU-SE VŨ-DUY-THỐNG được bổ nhiệm lên Gm Phụ tá từ năm 2001, nhưng không thiếu vài Lm. vốn là Gs. Đại Chủng Viện cũng không bao giờ dâng lời nguyện cho Đức Tân Giám Mục cùng với Đức HY trong Thánh Lễ. Tuy vậy, mỗi lần gặp Đức Gm phụ tá, các Đấng vẫn không thiếu vẻ se sua khúm núm! Nhưng có lẽ cũng nghe được dư luận Giáo dân “chòm ong nhóm kiến” sao đó, mãi cho đến năm 2006, các ngài mới lần lượt rủ nhau dâng lời cầu cho Đức Gm. Phụ tá của mình! Đó là những gương mù gương xấu, cần phải được vứt bỏ ra ngoài hàng ngũ Giáo sĩ! Đừng quá lộ liễu để cho Giáo dân nhìn thấy bản chất hám lợi, cầu danh của mình, để phải bị đánh giá quá nhẹ một người Cha! Mỗi Lm. chính là một “Alter Christus” tức một Đức KI-TÔ Khác, chứ không phải “Khác Đức KI-TÔ”.
Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội Toàn cầu, không có ranh giới lãnh thổ, không có Giáo Hội Âu-Tây, Giáo Hội Tàu, Nga, Việt! Truyền thống là Giáo Hội Công Giáo Toàn Cầu vốn đã không hề phân biệt màu da sắc tóc. Chúng con dám báo động rằng, hiện nay đã xuất hiện rõ nét tư tưởng manh nha thành lập Giáo Hội Tự Trị, xé lẻ Dân Tộc ra khỏi Cộng Đồng Công Giáo La-Mã. Rồi từng Giáo Phận tự trị, và phân tán từng Giáo xứ, cuối cùng sẽ biến thành Đạo Bản làng, Đạo Bộ lạc, Đạo Thôn ấp vung vãi khắp nơi để trở thành vô tổ chức. Đũa đã mở ra từng chiếc, thì trẻ con vẫn bẻ gãy được mà vứt đi. Nếu Hội Đồng Giám Mục không cảnh giác kịp thời, thì điều đó sẽ đến và phải đến, vì Việt-Nam đã có Mẹ riêng, Chúa riêng, Thần Thánh riêng, còn có hình ảnh Lính Khố đời xưa đội mũ gõ đã nhập cuộc giết Chúa. Tự nó đã khiến người ta nghĩ rằng Lịch Sử Ơn Cứu Độ, cũng chỉ là câu chuyện vẻ vời giả tạo, để đánh lận con đen.
Còn đâu nữa tinh thần hiệp thông, hợp nhất. Đó chính là viễn ảnh ĐCĐ Vatican II đã thấy trước và đặt trọng tâm Canh Tân Giáo Hội. Nhưng từ đó đã có những phần tử phá hoại đã trá hình luồn lách, pát động phong tròa cởi bỏ áo tu, biến Canh Tân thành Cải Tổ. Con cái ma quỷ bao giờ cũng khôn ngoan hơn con cái Đức Chúa Trời. Chim Bồ Câu bao cũng đơn sơ trong trắng ngay lành, không bù với sự khôn ngoan quỷ quyệt của con rắn, nó có thể chui luồn đủ mọi ngỏ ngách hang sâu bụi rậm. Xin HHĐGN cần cảnh giác chỉnh sửa ngay kẻo quá muộn. Xin xem đây là một lời cảnh báo với tất cả lương tri Công Giáo. Xin hãy bảo toàn tính duy nhất và vĩnh cữu của Giáo Hội Đức KI-TÔ cho đến ngày thế mạc. Xin hãy là một Tảng Đá Phê-Rô Khổng Lồ và muôn thuở.
Tại các nước Phát triển, đã có quy củ Pháp Lý vững chắc, các Giới chức đặc biệt như Nhà Giáo, Quan Tòa, Luật Sư, Y nghiệp, đều được xem là những Chức năng cao quý giữa đời. Đã từng được quy định sử dụng một loại sắc phục riêng khi thực thi trách vụ, tương ứng chức năng Tôn Giáo. Họ có đặc quyền được sử dụng Áo, Mũ nghiệp vụ như một “Thiên Chức” giữa đời. Nó biểu hiện vẻ trang trọng thanh cao để nhắc nhở chính mình đang hành sử một “Trách nhiệm Thiêng liêng”! Khác với các Chức nghiệp, Nghiệp vụ đời thường. Nhưng ngày nay các hệ thống Pháp Lý và Giáo Dục trong một số Quốc gia đã biến dạng. Cán cân Công lý và Đạo đức Giáo dục không còn nữa! Người ta đã chạy theo cuộc sống thực dụng của Cơ chế Thị trường. Bao tội phạm được xét tha, lắm nạn nhân bị đưa lên đoạn đầu đài vì khổ nghèo, không phe cánh. Con cái bất hiếu với Cha mẹ, Học trò đánh giết Thầy cô ngày thêm nở rộ! Bệnh nhân phải mất mạng vì thiếu tiền chi trả viện phí. Từ đó, vì mặc cảm, họ đã tự lột bỏ hết những loại áo biểu tượng một Thiên chức lương tâm cao đẹp, đã gieo mầm cho mọi hậu quả thê lương! Tự họ đã thấy mình không còn xứng đáng.
Trong các chuyến Tông Du, giả thuyết ĐGH cũng khoác lên người bộ “Côm-lê” đắt giá, khác nào Phượng hoàng ráp cánh Diều hâu. Làm sao bay vút đến tận trời xanh, đậu được trên những ngọn cây cao chót vót, đỉnh núi chọc trời để phóng tầm nhìn đến khắp muôn phương Thế giới? Làm sao lan tỏa được tình thương Nước Trời cho mọi nước, mọi dân? Có còn nét tiêu biểu là Đấng Đại Diện Thiên Chúa giữa trần gian với địa vị một Thủ Lãnh Tôn Giáo Toàn Cầu? Còn được mọi người ngưỡng mộ đến tận cùng, mà không hề bị ganh tỵ so đo? Còn thu đạt được những thành quả vượt trội hơn bất cứ cuộc hành trình nào của các Vị Nguyên Thủ Quốc Gia, các cấp Lãnh Đạo Quốc Tế, như công luận xưa nay từng theo dõi, ghi nhận, đưa tin? Chúng con sẽ giới thiệu cụ thể trong tác phẩm “LẮNG NGHE VÀ NHẬN ĐINH VỀ GIAO-ĐIỂM” (LN&NĐVGĐ) sắp hoàn thành.
Linh Mục Tu Sĩ, không thể đóng vai Mục Sư đồng dạng. Trong các Hội thảo Quốc tế, sự xuất hiện dù một chiếc áo Chùng Thâm, như một sự hiện diện của Giáo Hội Toàn Cầu. Có một cái gì trang trọng, vượt trội hơn sự xuất hiện hàng chục vị thuộc hàng Giáo Phẩm và Giáo Sĩ nấp mình trong những bộ Âu-phục quý giá. Nếu phái đoàn Công-Giáo đã đánh mất tự trọng, thiếu tự tin, mặc cảm phẩm phục, là tự mình dánh mất mình, đánh mất sự kính trọng của mọi người, dù cả trong vai trò Ngoại giao Tòa Thánh. Họ sẽ đánh mất cả hồng ân Thiên Chúa chở che “Ai hổ ngươi Ta trước mặt thiên hạ, Ta sẽ hổ ngươi nó trước mặt Cha Ta mà chớ!”
Cha NGÔ-PHÚC-HậU, một trong số Lm. hiếm hoi, từng lặn lội khắp hang cùng ngỏ hẻm với cuộc đời Truyền Giáo đầy chông gai, đã đón nhận bao khó khăn không kém các Giáo Sĩ Thừa Sai thời sơ khai Truyền giáo. Cha cũng là một Lm. thời đại, hiếm khi muốn sờ đến chiếc áo Chùng thâm.
Vào những ngày đầu trên miền đất lạ, Cha gặp không ít khó khăn khi muốn tìm một Con Chiên lạc để dừng chân, làm bàn đạp cho những ngày Truyền Giáo đầu tiên. Cha kể lại: “Hôm nay mình đi tìm người Công-giáo, để từ đó mình đến với Lương dân. Làm thế nào để tìm được họ? Mình mặc áo dòng rồi cứ thả bộ trên đường dọc theo bờ sông… Bổng có tiếng la lên: – Cha! – Ông có đạo hả? – Dạ…” Như dân tìm vàng đã khui được hầm! Cha mừng quá, bụng bảo dạ: “Áo Dòng ơi, ta không thích màu đen tang tóc của ngươi. Nhưng ta cần ngươi, vì nhờ ngươi mà ta tìm ra được những người anh em thân yêu đang trôi dạt trên mảnh đất Năm-Căn ô hợp nầy!”
Cha kể tiếp một lần bay xa từ Nam ra Bắc, khi ngồi vào bàn ăn của Tòa Tgm. Hà-Nội, Cha cảm thấy toát mồ hôi lạnh, thiếu điều muốn độn thổ giữa một căn phòng toàn Áo Chùng thâm, duy mình Cha khoác chiếc sơ-mi không giống ai! Sau đó Đức Cha NGUYỄN-VĂN-THUẬN kéo áo Cha nói nhỏ: “Lần sau, Cha vui lòng mặc áo dòng, vì Đức Hồng Y muốn thế.”
Cha còn kể: “Đến Sơn Tây tôi vẫn cũn cỡn với chiếc áo Sơ-mi cụt tay. Tối hôm đó vào Nhà Nguyện đọc kinh. Bổng có tiếng động nhẹ ở phía sau. Tôi quay lại thấy một chiếc áo dòng vắt ngang trên thành ghế. Tôi hiểu đó là một lời nhắc nhở khéo léo.”
Cha cũng nhìn thấy Cha sở nhà thờ Cây-Quéo mặc chiếc áo dòng bạc màu đang đạp chiếc xe cọc cạch, chở một nhà Sư mặc áo Cà Sa tà tà lăn bánh trên con đường đất. Cha cho là một hình ảnh thật quá dễ thương và khó tìm. Nhưng Cha chưa làm được!
Vâng! Nếu phải cởi áo dòng, để chở một Nhà Sư, kê vai vác giúp hành lý một cụ già, cỏng một em bé thương tật, khuân vác đồ cứu trợ nạn nhân bất hạnh, khiêng chuyển một Sản phụ cần cấp cứu đến phòng sinh, ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu với Thân hào Bồi Bái tại một Đám Giỗ Đình Làng, nào có ý nghĩa gì! Những hình ảnh đó Giáo Dân đã từng làm, cũng chỉ là cảnh đời thường, chẳng là ngọn đèn soi dẫn cho ai! Phải chi được thể hiện trong một chiếc áo chùng thâm, dưới hình ảnh một Lm, mới là một tấm gương chói sáng. Nó không hề là kiểu giả hình, quảng cáo, tiếp thị, tuyên truyền, nhưng chính là một Gương sáng thấm đậm tình người mà Chúa GIÊ-SU đòi hỏi. Đèn sáng đừng đặt trong lu. Một hình ảnh nhắc nhở giáo dân hơn vạn lời răn dạy, cũng khỏi phải trá hình hội nhập Văn hóa với ai…
Nhưng Đức TRỊNH-VĂN-CĂN ra đi, Tổng Giáo Phận Hà-Nội ngày nay cũng xuất hiện ít Lm. thích phá giới kiểu Miền nam “Phi Tu-sĩ”.
Cha NGÔ-PHÚC-HẬU còn nhớ như in lá thư của một cụ già đã viết gởi đến Cha, mang nặng niềm mơ ước, khiến Cha cảm thấy quá nhột nhạt: “… Dù áo Dòng không làm nên thầy Tu nhưng Thầy Tu phải mặc áo Thầy Tu. Cũng như anh Bộ Đội thì phải mặc quân phục. Chiếc áo dòng, “tạo được sự kính nễ của nhân dân” (con mở ngoặc kép). Các vị sư lúc nào cũng mặc áo cà sa và còn để đầu trọc nữa, có mất mát gì đâu. Mặc áo dòng giúp Giáo Sĩ và Tu Sĩ giữ mình giống như áo giáp bảo vệ người chiến sĩ.”
|
Người con yêu dấu" đang Cùng Chúa Vào Đời Xin vui lòng liên lạc với |
|
||||||||


