bannertamlinh

II.- GIÁO DỤC KI-TÔ-GIÁO

PDF.InEmail

 

THỈNH NGUYỆN THƯ (3)

II.- GIÁO DỤC KI-TÔ-GIÁO :

Văn minh Thế giới ngày càng phát triển, đời sống thực dụng càng thôi thúc con người phải bon chen vội vã tranh giành nhau từng đồng tiền bát gạo để cung phụng nhiều tiện nghi sống cho vật chất cá nhân, biến thành một xã hội buông thả, ích kỷ.

Từ đó, người ta chỉ chú trọng đến Giáo Hóa, mở rộng kiến thức phát triển khoa học, mà quên đi Giáo Dục, không rèn luyện con người cách đối nhân xử thế. Ngay trong Giáo hội, hoạt động Giáo dục không đồng bộ. Nhiều Giáo xứ chỉ tập trung vào Giáo lý, cảm thấy tự mãn là quá đủ trong việc chu toàn trách nhiệm.

Thực ra, một con người được Giáo hóa, ăn học đến nơi đến chốn, có kiến thức cao, sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất và tiện nghi sống cho xã hội loài người. Một người được đào tạo chuyên sâu về Giáo lý, sẽ có một tâm hồn trong sáng với một đời sống hy sinh theo tinh thần Bác Ái Ki-Ki-Tô-Giáo, biết xá kỷ vị tha. Nhưng một khi không được Giáo Dục đầy đủ, dù đã trở nên con người Đạo đức đến đâu, họ cũng vẫn là những con người khô cứng, rất kém việc giao tế đời thường.

Tạm so sánh một cách nôm na: Người Trí thức như một Kiến Trúc Sư, người Đạo Đức là một nhà sản xuất sắt thép, người Giáo Dục là chuyên viên trang trí nội thất. Trí thức cao có thể vận dụng trí óc thông minh dựng lên những công trình đồ sộ bằng bất cứ chất liệu gì, chẳng hạn một ngôi nhà Gỗ, Tre, Đất. Nhưng thiếu bàn tay trang trí do Giáo dục, ngôi nhà chỉ là một sản phẩm sù sì, thiếu nét đẹp uyển chuyển, không tạo được sự hoành tráng, nguy nga lộng lẫy. Nhưng thiếu Giáo Lý, là không xi-măng cốt thép, ngôi nhà sẽ khó được vững chắc bền lâu. Không khác một Lễ đài đồ sộ bằng tạp liệu, như một căn nhà đẹp được trổ đục bằng một Tảng Băng, cũng chỉ triển lãm tạm thời rồi tan biến.

Á-Châu ngày xưa, Nho-Giáo đã hoàn toàn chú trọng đến Giáo Dục và Luân lý là nền tảng sống đầu tiên, đã tạo nên những nét đẹp Gia đình, Học đường và Xã hội. Văn hóa Tây-Âu phát triển mạnh mẽ về Giáo hóa chịu ảnh hưởng sâu đậm nền Giáo Dục Công-Giáo La-Tinh.

Chúng con không dám đề cập đến phạm vi Giáo Hóa và Giáo Lý, vì nó đã quá tròn đầy. Riêng về Giáo dục, là những bí quyết thu phục được nhân tâm, tạo được sự kính trọng ở mọi người. Thì ngày nay hầu như không mấy ai còn ý thức để phân biệt rõ ràng Giáo dục là gì, ngay cả trong cuộc sống sơ đẳng nhất tại gia đình, đến trường lớp. Có chăng chỉ còn được tôn trọng và đào tạo kỹ trong lãnh vực Ngoại giao, vì thế mà ngành ngoại giao đã biểu hiện rõ nét đẹp của một con người lịch sự.

Dù không đề cập đến phạm vị giao tế chuyên nghiệp tầm cao như các nhà Ngoại giao, Chính khách. Cũng không đề cập đến tầm hiểu biết của lớp người ăn chơi, tưởng mình là hàng phong lưu quý phái, nhưng khi vào khách sạn nhà hàng gặp bữa “Tiệc Tây”, không biết sử dụng muỗng nĩa dao bàn và đĩa ăn, không biết sớt phần ăn từ tay người phục vụ, không biết đặt dao nĩa thế nào cho đúng chỗ lúc đang ăn và khi xong bữa cho bồi bàn biết phải để lại hay cần dọn đi. Cũng như không mấy kẻ biết lót đĩa tiền thưởng (pourboire) cho người phục vụ với tỷ lệ nào là lịch sự. Có người để lại số tiền lẻ được thối trên đĩa, bất kể ít hay nhiều, đó là hình thức bố thí, trịch thượng. Có người lót đĩa một vài “vé” (tờ 100 đô) để khoe mẻ là Đại gia, Tỉ phú! Đối với Âu Tây, đó là một sự phách lối, vẫn bị kinh thường là dốt nát, kém văn minh. Lẽ ra lớp người cho mình là thượng lưu, quý phái phải biết cái gọi là tỉ lệ thưởng tiền bàn. Đó là nét đẹp văn minh của con người Lịch sự được giáo dục cao.

Nhưng chi nói trong phạm vi cuộc sống đời thường cho giới trẻ ngày nay, vẫn chưa biết được phép Lịch sự cơ bản nhất. Nền giáo dục gia đình hầu như bị mai một cách thảm hại. Em bé đã trên tuổi lên năm, vẫn chưa biết cách ngồi ăn nghiêm túc, biết cầm đôi đủa, chiếc thìa đưa vào miệng cho đúng cách. Thiếu Giáo Dục từ tuổi bé đã đưa con người đến chỗ không còn biết phép Lịch Sự là gì. Người thiếu lịch sự, vô giáo dục, không còn biết uyển chuyển trong giao tế, lịch thiệp trong ngôn ngữ, tế nhị trong cử chỉ, và nết na trong đi đứng ngồi nằm. Không thiếu các Mệnh Phụ Phu nhân ngay khi sánh vai cùng Đức Lang Quân Công cán nước ngoài, chỉ biết đua đòi chọn hàng đắt giá với kiểu may cầu kỳ, hở hang, diêm dúa, lố lăng vẫn tưởng là nghiêm trang lịch sự. Nhưng ăn mặc thế nào cho lịch sự, trang nghiêm, đứng đắn, hầu như không còn mấy người hiểu biết, ngoại trừ phu nhân các nhà Ngoại Giao và các thành viên trong ngành.

Sau ngày vừa Giải Phóng, đã có một Già Làng người Ba-Na, một lần đi họp Huyện, đã hãnh diện trong một chiếc áo dài người Kinh với chiếc khố cổ truyền (!) vẫn ra vẻ văn minh chán! Xin thưa, đây không là một câu chuyện khôi hài. Đã một thời, người ta từng thắt Cà Vạt trên cổ chiếc “Áo Bo” bỏ ngoài quần, mà lẽ ra chỉ dành cho mỗi chiếc áo “sơ mi” được “đóng thùng”, cài nút cổ cẩn thận và phải có dây nịt đàng hoàng, dù có áo Vết hay không.

Nhan nhản ra đó còn khối hình ảnh đang diễn ra trước mắt. Không ai cho phép người lịch sự, văn minh mặc bộ Côm-lê, thắt Cà-vạt, lại đi dép lào, mang sandal, hoặc giày thể thao, dù có đắt tiền. Nhiều “Quý Bà” thuộc giới thượng lưu quý phái, kể cả dân Âu Mỹ, vẫn vận bộ Côm-Lê đắt tiền với đơn độc một chiếc “Ao Lót 3 lổ” (maillot), không sơ mi, dễ trưng bày bộ ngực quý giá. Không khác người Việt đội Khăn Đóng mặc “Quần Đùi”! Con người Lịch sự, có tính Giáo Dục căn bản, không bao giờ tỏ ra dốt nát trong lối trang phục như vậy, đã tỏ ra họ còn “văn minh” hơn cả Người Dân Tộc ở Bà-Nà đi họp Huyện 1975-1976 đấy! Suốt mấy năm trời là Trưởng Phái Đoàn Hội Nghị Ba-Lê, Bà NGUYỄN-THỊ-BÌNH bao giờ cũng được Chính Giới Âu Mỹ kính nể trong sự thể hiện được mình là một Chính Khách qua y phục nghiêm túc chỉnh tề. Phu Nhân Tổng Thống NGUYỄN-VĂN-THIỆU cũng luôn nghiêm túc trong trang phục phụ nữ Việt-Nam, còn hơn Bà Đệ nhất Phu Nhân NGÔ-ĐÌNH-NHU, dẫn đầu phái đoàn Dân Biểu VNCH đi “giải độc” Âu-Mỹ 1963, dù có thành công vang dội đến đâu, nhưng với chiếc áo dài VN thiếu cổ, hở ngực là đánh mất phong cách một Nữ Chính Khách danh giá hơn người.

Các cán bộ Chính Quyền cấp cao, các yếu nhân chính khách, mang giày da, mặc đồ lớn, không vì làm sang, làm đẹp. Các Tu sĩ nam nữ xưa nay luôn mang giày đen, không phải làm đẹp, làm sang, nhưng bắt buộc phải thế để tương ứng với chiếc áo Dòng, còn trang nghiêm hơn cả những “bộ côm-lê” (complet) đắt giá. Nhưng ngày nay cũng đã được thay bằng những đôi dép, kể cả khi Tế Lễ trên Bàn Thánh. Cha Thánh VIANNEY với cuộc sống hết sức khó nghèo, vẫn không bỏ quên đôi giày trong mọi lúc. Đức Thánh Cha và Hàng Giáo Phẩm khắp nơi, vẫn không bao giờ thiếu vắng đôi giày. Các Cộng đồng Dòng Tu Nam Nữ ngày nào, vẫn mặc chiếc áo dòng với đôi giày đen nghiêm túc (St Paul de Chartres, Vincent de Paul v.v…)

Mỗi buổi lễ Mi-sa là một Buổi Lễ Thiết Triều, Chủ Tế là Vị Tiểu Vương thay mặt Chúa, đứng giữa Giáo Dân, “diện” đôi dép không giống ai! Các buổi triều kiến giữa cung đình, Quốc vương cân đai áo mão, không thể thiếu đôi “Hia”. Lễ phục Chủ Tế, không thể thiếu vắng một đôi giày, là nghi thức bắt buộc từ trước thời Phục-Hưng Ki-Tô La-Mã. Nghi Lễ Công Giáo luôn có tính Vương Giả, là Tiên Tri, là Vương Đế. Thánh vật phụng vụ là Chén vàng Đĩa bạc hàng Vương tôn. Nghĩ thế, không rõ chúng con có quá thủ cựu, lạc hậu, không hợp thời chăng? Nhưng có một điều các nhà Ngoại Giao, Chính Khách, các cấp Lãnh đạo chính quyền vẫn chưa hề có ai dám bỏ đôi giày đen cố hữu như nhiều vị Chủ Tế có lẽ chỉ có ở Việt-Nam và một vài vùng còn bán khai nào đó.

Chỉ với một việc giáo dục sơ đẳng, về trang phục, xưng hô, thưa dạ theo khuôn phép Lịch Sự, ngay người Công Giáo ngày nay vẫn không mấy ai xem trọng. Vào Nhà thờ, đến Hội Dòng, vẫn ăn mặc không Tây, chẳng Việt. Vẫn quần dưới rốn, áo trên ngực, khoe bụng, phơi lưng, bày nách, như tại sàn nhảy, chợ trời, nhà hát! “Tam tòng” hãy trả Nhà Nho, nhưng “Tứ Đức” (Công, Dung, Ngôn, Hạnh) của người Phụ nữ trong xã hội càng Văn minh, càng Trí thức càng hiện đại càng cần phải bảo trọng nhiều hơn, nhất là phải thể hiện mình là một Giáo dân Phụ nữ. Để biểu hiện mình là đàn Chiên Thiên Chúa giữa loài người, chứ không phải bầy ngựa hoang vô chủ!

Chúng con nghĩ các Cha nên đặt trọng tâm đào tạo các Giảng Viên Giáo Lý một phần căn bản về giáo dục, nhất là giới nữ hiểu rõ thế nào là Lịch Sự trong phong cách ăn mặc cho phải phép! Để có đủ tư cách và ý thức giáo dục các em trong đào tạo Giáo Lý. Cần tạo được một vẻ đẹp bên ngoài mới tỏ ra được là một con người có nhân cách, dẫu rằng đã được trang bị Giáo Lý, là phần cốt thép bên trong. Ngày nay, người ta đã bỏ quên “Tủ Sách Học Làm Người” của NGUYỄN-HIẾN-LÊ, một thời khiến cho giới Trí thức miền Nam ham mộ, học hỏi trong giao tế và thành công, đã từng trở thành một Xã hội Văn minh thực sự. Trong đó có tập sách “Người Lịch Sự” cũng phần nào tạo được chút ít căn bản cho giới bình dân biết thế nào là trang phục chỉnh tề để trở nên người lịch sự. Nhưng ngày nay, tủ sách đó không còn được mấy kẻ quan tâm, vì lối sống bon chen thực dụng. Giáo Dân thiếu Giáo Dục, không Giáo Lý, đã tự mình biến đổi lốt chiên, thành bầy dê ô tạp! Vì thế Tòa Thánh đã quan tâm đặt lại vấn đề Giáo Dục đồng bộ trong Ki-Tô-Giáo, bằng một Năm Thánh để khởi động lại phong trào đã bị lãng quên.

Trên Tòa Giảng, thay vì giảng dạy Giáo Lý cách chuyên biệt, cắt nghĩa Phúc Âm cách cặn kẽ, có lẽ Cha Sở còn phải quan tâm đến Giáo Dục. Giáo dục Cộng đồng Dân Chúa biết sử dụng những vẻ đẹp bên ngoài, để tỏ hiện nét đẹp của sự Thánh Thiện Tâm Hồn bên trong vẫn là điều tối cần. Cộng vào đó là Giáo Luật, để mọi Tín hữu phải biết và tuân hành Luật Giáo Hội trong việc thực hiện tối thiểu 6 Điều Răn Hội Thánh, trong đó có trách nhiệm “Hiệp Dâng Thánh Lễ”. Phải biết tham dự Thánh lễ như thế nào để được gọi là trọn luật giữ ngày Chúa Nhật. Loại trừ mọi thứ “Lễ vọng”, đứng từ góc xa nhìn vào, “Lễ núp”, nép mình trong một góc xó, gốc cột, vách nhà thờ, mặc dù hãy còn thừa ghế trống. “Lễ Văn Nghệ”, ngồi nhấm nhí ly cà phê cạnh nhà thờ xem lễ. “Lễ Ôm”, đôi trai gái ngồi ôm cứng nhau trên chiếc mô tô, gắn máy, mơ màng trăng sao mây gió, biến khu nhà thờ, Thánh Lễ thành môi trường giao lưu tình cảm! Nhiều Giáo Xứ vẫn ngắm nhìn rất ư là vô tư, nghĩ đó là hình ảnh phô trương thân thế, triển lãm phơi bày lực lượng Công Giáo đông đúc, như là đồ trang trí cho các Thánh Đường văn minh thời đại! Lẽ ra Ban Giáo chức phải hướng dẫn Giáo dân vào trong nhà thờ. Không nên đưa ghế ra sân, nếu trong nhà thờ còn thừa chỗ! Ai từ chối cứ thẳng thắn mời họ ra về, vì không hội đủ tinh thần tập trung trong Hiệp Dâng Thánh Lễ. Ai không thích giữ Đạo cứ tùy nghi không cần lôi kéo để tạo dịp phạm Thánh cho kẻ không có linh hồn, thiếu niềm tin, chểnh mảvieecjgic giữ ngày Chúa Nhật, rồi vẫn chấp tay lên rước lễ tỉnh queo, ngay khi phạm tội trọng vì Hiệp Dâng Thánh Lễ Ngày Chúa Nhật và ngày Lễ Buộc không nên.

Có trình độ Giáo Lý sâu rộng, nhưng không hiểu biết một phần sơ đẳng về Giáo Luật, là nguyên nhân dẫn đến phạm Thánh, là phá Đạo, là hủy diệt Linh hồn, ảnh hưởng đến bao người liên hệ. Giáo Luật cũng là phần căn bản trong giáo dục. Thiếu giáo luật, chẳng khác gia nhân trong một ngôi nhà đồ sộ sống bừa bãi, không ngăn nắp, sẽ gây ra phức tạp và còn phát sinh nhiều điều kinh tởm khác.

Bao đôi vợ chồng phá thai nhiều lần, nhưng vẫn song đôi đi Xưng tội Rước lễ đều đều, vì họ không được biết gì về Giáo Luật đã có lệnh Tuyệt thông mặc nhiên các Tín hữu Công Giáo phá thai trong đó người trực tiếp (thiếu phụ và Bác sĩ) kể cả người đồng lõa (chồng, cha mẹ, ông bà, người mối lái, người biểu quyết và ban hành Luật chuẩn chấp việc phá thai). Một loại tội phạm kinh tởm nhất, nhưng có những Cha sở không bao giờ giải thích, ai không biết cứ bỉnh tỉnh mà xuống hỏa ngục. Phạm Thánh cũng chẳng can gì đến ta! Điều cần phải được nhắc nhở thường xuyên ít nhất mỗi năm vài lần trong một lễ Chúa Nhật và nhờ các Cha Chủ Tế khác nhắc lại trong mọi giờ Lễ đối với những Giáo xứ cử hành nhiều Thánh Lễ trong ngày, đề phòng có kẻ nghe người không. Cha Sở phải có trách nhiệm giáo dục Con Chiên như một Nghiêm phụ. Cha Sở đứng trên Tòa Giảng với trách giảng dạy, chứ không phải giảng giải Phúc Âm thuần túy. Không được phép vô tư như một Cha khách qua đường, hay Cha giảng Tĩnh Tâm, tuần Đại phúc. Cha sở phải gánh nhận trách nhiệm nặng nề trước mặt Chúa, nếu con chiên vấp phạm ngay tình vì không hiểu biết sơ đẳng về Giáo Luật, không biết nhân cách tối thiểu để làm người, người mắc vạ không riêng có mỗi tội nhân.

Vào năm 2005, gia đình chúng con mới đến Sài-Gòn, đã vài lần vào viếng Mình Chúa tại Nhà Thờ Đức Bà. Trước mắt vợ chồng chúng con đã hiện ra nhiều trò lố bịch! Vâng, Nhà Thờ Chính Tòa Tổng Giáo Phận Sài-Gòn không còn là nơi tôn nghiêm thờ phượng, nhưng đã biến thành địa điểm tham quan, du lịch còn tệ hơn Dinh Độc Lập cũ dành cho Du khách. Trong Thánh Đường, người ta đi lại chụp hình kỷ niệm khá nghênh ngang, không buồn dỡ nón. Tay kẹp thuốc lá hút phì phà còn thua khu siêu thị, khách sạn, nhà hàng. Chung quanh không hề có một tấm bảng nhắc nhở những thành phần vô ý thức đôi điều sơ đẳng nhất, để họ biết đây là nơi thờ phượng tôn nghiêm. Chúng con sực nhớ đến Đền thờ Giê-Ru-Sa-Lem, từng diễn ra cảnh buôn bán hổn độn, Kinh Sư, Luật Sĩ chả mấy kẻ quan tâm. Chúa GIÊ-SU đã xua đuổi quân vô đạo, lớn tiếng trách mắng: “Các ngươi đã biến nhà Cha Ta thành hang trộm cướp”. Đền Thánh Giê-Ru-Sa-Lem chưa cao trọng hơn các Thánh đường Chúa ngự ngày nay!

Quanh Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ-Đồng, la liệt những tấm bảng nhắc nhở mọi người ngồi tại các khuôn viên không được quay lưng vào Nhà thờ. Các cơ quan, nơi công cộng có bảng “Cấm Hút Thuốc”, “Giữ Vệ Sinh Chung”. Tại Biên-Hòa có Trường học treo bảng “Xin Phụ Huynh Học Sinh Trang Phục Chỉnh Tề Khi Vào Cổng”. Nhưng Nhà thờ Chính Tòa thì khác. Du khách vẫn được hưởng đủ mọi mặt “Tự Do” và “Nhân quyển” cả về trang phục và mọi hình thức đi lại, đứng ngồi!

Còn khiếp đảm hơn, bất thần đã đập vào mắt chúng con một cảnh rất khó tin nhưng rất thực! Lạy Chúa! Xin chứng giám cho chúng con khi kể lại câu chuyện nầy bằng giấy trắng mực đen! Chúng con đã từng “tận mục kiến thị” từ trong Phòng áo sau Cung Thánh, bước ra một ông cụ cỡ tuổi lục tuần, con người lực lưỡng, khá quắc thước, vẻ có học, nhưng hết sức vô giáo dục! Với vẻ mặt hao hao tự đắc, đi rảo trong khắp Thánh Đường trước mặt khách tham quan đủ mọi thành phần xã hội, khi trên người chỉ vận mỗi một chiếc quần tây dài vải ka-ki màu vàng, trệ dưới rốn. Phần còn lại, không một mảnh vải che da, không sơ mi, không áo lót, lại có vẻ “tỉnh như ruồi”! Cảnh tượng nầy chúng con đã được thấy nhiều lần như thế, cứ mỗi khi đến viếng Mình Thánh Chúa tại “Nhà Thờ Chính Tòa Tổng Giáo Phận Sài-Gòn”!

Là một Giáo dân xa lạ, không biết nhà xứ, Cha, Thầy, Chú ở đâu. chúng con đành chỉ cho một người trung niên thường thấy có mặt trước tiền đường Nhà thờ – không rõ nguồn gốc Giáo dân hay Tu sĩ, vì lúc nầy tất cả đều “xem xem" đồng dạng, nhưng có đủ áo quần hơn cụ già kia đã là người đáng trọng – đề nghị anh vui lòng phản ảnh lên Cụ xứ Chính Tòa, để cảnh đời trần trụi của một Thánh Đường như thế không còn được xảy ra nữa! Chúng con tin rằng Cha Xứ đã không xa lạ gì hình ảnh hàng ngày nầy của Ông cụ giữ nhà thờ thâm niên đã trên tuổi lục tuần. Chắc chắn Ngài cũng đã thấy được đến nghìn lần như thế! Nhưng Cụ Xứ vẫn tỉnh bơ, vì trong thâm tâm Cụ Xứ hẳn đã đủ tin có Chúa KI-TÔ thực sự hiện diện trong Nhà Tạm nầy như lời Ngài truyền giảng, luôn buộc Giáo Dân phải tin, phải tôn thờ, vì đó là một Mầu Nhiệm Đức Tin!

Đúng là mẫu hình các Luật sĩ, Pha-ri-siêu, những phần tử Tiên Tri giả chỉ “giữ Đạo bằng mồm” (!). Chúa GIÊ-SU đã thấy và cảnh cáo trước tất cả rồi: “Dân nầy tôn kính Ta bằng môi, bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân”. (Mat. XV: 8-9) Việc cởi trần lỏa thể là những hình ảnh quen mắt, là chuyện bình thường trước mặt Vị Chủ Chăn? Từ đó, chúng con rất hiếm khi còn dám đến viếng Mình Thánh Chúa tại Nhà thờ Chính Tòa Sài-Gòn nữa. Đúng là “gần Chùa kêu Phật bằng anh”, nhưng trong Nhà Thờ, Ông Từ Cụ Xứ lại gọi Chúa bằng “Mầy” có khác. Còn Cụ Xứ gọi Chúa bằng gì, thì chỉ có trời mà biết! Thật hết ý! Hèn nào khách Du lịch quá khinh thường xem nhẹ Ngôi Nhà thờ Chúa của Tổng Giáo Phận, được Tòa Thánh nâng lên hàng Vương Cung Thánh Đường! Nhà thờ Chúa đã không khá hơn một Nhà hát, Công Viên, Phường Tuồng. Siêu thị, Nhà hàng, là những nơi chưa từng có hành động mọi rợ, khinh thường của một nhân viên phục vụ như ông già, con cưng Cụ Xứ Chính Tòa đáng kính! Ông là ai và Ngài là ai?

Không dám so với các nhà Chùa, Thánh thất, Lăng Ông. Thậm chí căn nhà đặt tượng các “Đức Thánh” trong khu Du lịch Thủy-Tiên… khách tham quan bước vào vẫn kính cẩn, khúm núm, cất nón, nghiêng mình! Khách tham quan bước vào Điện Ông Đồng, Bà Cốt (psychic), vẫn nghiêm trang cất mũ! Nhà thờ Chính Tòa đã thuộc loại cuối cùng, tầm tầm Công Viên, Bãi biển. Chúng sinh, Phật tử vào Chùa, Đạo Hữu vào Thánh Thất, người Lương dân bước vào Đình làng, miếu mạo (shrines), họ rất mực tôn nghiêm, trang phục chỉnh tề, thành tâm tụng niệm. Khách tham quan “quần lồng đèn áo ống thụt” không ai dám bước vào cửa Chùa cách khinh thường vô ý 1thức! Tại sao? Nó đã không thể hiện cách đầy đủ và cụ thể cho việc thiếu Giáo Dục Ki-Tô-Giáo, đã ăn thâm vào ý thức coi khinh của người đời tỏa ra từ Cụ Xứ đó sao!

Trong Thánh lễ, không thiếu những Nhà thờ, Giáo Dân phái đẹp dùng làm nơi quảng cáo “hàng quý hiếm”, tiếp thị thịt da gợi cảm. Quần dài vừa đến trái chân, nịt dưới rốn. Áo “mô-đênh” (model) không tay, không cổ, chỉ vừa quá chấn thủy, thừa đủ chỗ phơi sắc khoe màu cả rốn lẫn bụng, cũng là những kiểu áo không đủ vải che lưng, như sẵn sàng mời mọc khách mua vui ngay trong giờ Kinh lễ! Một biểu hiện vô ý thức, thiếu văn hóa, thiếu giáo dục, thiếu Đức Tin đến thế, vẫn cứ bình thản tồn tại, diễn ra hàng ngày thật tự nhiên. Cha Xứ lẫn các Giáo chức, vẫn bình chân như vại!

Ngày xưa các Giáo Chức nầy được gọi là “Hàng Chức Việc” có lẽ đã thống nhất từ Nam ra Bắc. Có Ông Trùm, Ông Câu, Chánh Trương, Biện Họ, nó có tính biệt lập, không mang màu sắc đồng hóa ngoài đời. Không có ban bệ Hội Đồng, Chủ Tịch, Hội Viên như ngày nay. Tại Đà-Nẵng đã bị Chính quyền địa phương cấm sử dụng danh từ Chủ Tịch HĐGX, nên phải cải lại “Đại Điện”. Tại sao không giữ nguồn gốc độc lập đã có từ thời Ông Cha, lại chạy theo chức vụ ngoài đời gây ra nhiều lẫn lộn. Bắt chước người ta làm gì, cây nhf lá vườn đã quen, cứ thế mà dùng nhưng rất đầy ý nghĩa. Giáo Hội từ xưa vẫn sử dụng danh từ “Bài Sai” để phân bổ các Lm. mà không đồng hóa với danh từ Quyết Định mà chính quyền đã sử dụng mọi thời.

Cha Xứ cần tham quan nhiều chỗ, để tận mục kiến thị sự nhố nhăng khêu gợi kiểu đó chưa từng có tại các nơi Chùa chiền, Thánh thất! Các Cha Xứ có nghi ngờ, xin mời hãy đến mà xem! Tại Giáo xứ Phú-Thượng (Đà-Nẵng) ngày nào, Cha Sở TÔ-MA TRẦN-NGỌC-HƯỜN, đã hơn một lần khiển trách Ban Chức Việc công khai trong nhà thờ: “Quý Chức là những người Có Chức và Có Việc, nên được gọi là “Chức Việc”. Nếu Có Chức mà không Có Việc thì đã trở thành Cức Chó”. Vâng đó là một định nghĩa chính xác cho hết mọi Hàng Chức Viêc Công Giáo khắp nơi, dù mang bất cứ tên gọi gì, cũng vẫn là hàng Có Chức và Có Việc. Các Ông Hội Viên được Giáo dân gọi là Ông Biện. Biện có nghĩa là đặt bày, lo liệu, sắm sửa lễ vật trong phụng tự.

Sao các Thượng Tọa, Khâm Châu có quyền uy đến thế? Sao Giáo Dân lại kém văn hóa hơn Đạo hữu, Chúng sinh. Vậy Đức Tin Cha con mình đã đạt đến mức độ nào so với Tín đồ các Tôn giáo bạn? Một Giáo dân phải qua bao lớp học Giáo Lý Vở lòng, Rước Lễ lần đầu, Bao Đồng, Thêm Sức, Hôn nhân…, trong lúc nhiều Đạo khác… nó vẫn là điều xa lạ! Giáo Dân đã thừa hưởng được một nền Giáo Lý quá căn bản và quy củ rồi ư? Đúng, nhưng chưa đủ, vì trong đó còn thiếu khía cạnh Giáo Dục Ki-Tô-Giáo mà Tòa Thánh vừa dành một năm đặc biệt để nhắc nhở Giáo Hội toàn cầu đã bỏ quên hay nhầm lẫn trong định nghĩa danh từ Giáo Dục, Giáo Hóa, Giáo Lý, Giáo Luật, hoàn toàn không giống nhau, không đồng dạng. Giáo Hội Việt-Nam chưa giáo dục con cái mình cho đủ, đã vội đề cập và hướng đến việc giáo dục Học đường! Hãy kéo khúc gỗ ra khỏi mắt mình trước đã, để thấy được và lấy hộ cái rác trong con mắt anh em!

Chúa GIÊ-SU sai các Tông đồ đi giảng dạy, tìm chiên lạc đưa về ràn chăm sóc thuần hóa, nhưng Ngài không dạy phải trấn áp đưa chúng về ràn, cũng không dụ dỗ, cầu cạnh, mua chuộc bằng mọi giá. Giáo Hội không thu gom người để biểu dương lực lượng, để hù dọa ngăm đe ai. Không dùng số đông để rung cây nhát khỉ. Cần loại ra khỏi ràn những con chiên ghẻ lở bất trị, giữ lại chỉ thêm lây lan phá chuồng bôi bẩn. Chúa GIÊ-SU cần chất chứ không cần lượng. “Các ngươi, nóng ra nóng, lạnh ra lạnh, còn hâm hẩm Ta sẽ mửa các ngươi ra khỏi miệng Ta.” Các Cha Sở cần nghiêm cấm Giáo dân ăn mặc hở hang, quảng cáo, khiêu dâm, gợi dục khi đến Nhà thờ, kể cả ngoài giờ Kinh Lễ. Buộc phải trang phục chỉnh tề, cấm mặc áo 3 lỗ, 2 lỗ, 1 lỗ, kể cả áo Lễ cưới loại nầy. Đối với lớp người thiếu đức tin, không cần níu kéo, mỗi người có bổn phận phải tự lo cho phần rỗi linh hồn mình. Thành phần không có linh hồn, không cần phải cầu mời, năn nỉ. Nuông chiều quá mức, họ giữ đạo cũng chỉ là hình thức bên ngoài, mà tâm hồn không có Chúa, chưa chừng là ức chế buộc họ Phạm Thánh trong Bí Tích Giải Tội và Thánh Thể cũng nên.

Như đã hơn một lần, Phái đoàn Thiền Sư Quốc tế đến triều yết ĐTC trong tu phục cổ truyền, khoác áo trống ngực không tay (hình 5) theo truyền thống Tiểu Thừa Therevada – một hình ảnh Thánh GIOAN TIỀN HÔ thời Cựu Ước – đã được Thánh Bộ Ngoại Giao đề nghị Phái đoàn trang phục kín đáo hơn khi yết kiến ĐGH (hình 6)! Cơ hồ Tín Hữu đến với Chúa, mặc sức phơi bày xả láng! Có hơn gì cảnh JUAN RODRIGUEZ, 24 tuổi, đến từ Staten Island, New York, đã dám trần truồng từ giữa đám đông lao ra, chạy băng qua mặt Tổng thống Mỹ BARACK OBAMA giữa buổi mét-tin (meeting) hôm 10/10/2010, trong khi TT đang gặp gỡ dân chúng ở Philadelphia. Anh này đã bị cảnh sát bắt ngay lập tức. Đó là căn bản Văn Hóa Giáo Dục trong nền Văn Minh của Hoa-Kỳ. Nó không thể đến với Giáo Hội, như đã manh nha xuất hiện trong một số Nhà thờ. Cánh Sát Mỹ đã tóm cổ ngay. Nhưng trong Nhà thờ Chính Tòa Sài-Gòn đã có người lõa thể hàng Thập Kỷ qua thì không ai dám động!

Không biết bao lâu nữa, trong chuyến ĐTC Tông Du đến VN, Hàng Giáo Phẩm, Giáo Sĩ có dám để cho giáo dân mặc tình phơi bày trình diễn nét văn minh thời đại đến triều kiến ĐGH (?) hay đòi buộc phải trang phục chỉnh tề, nghiêm túc? Đức Giáo Hoàng không hơn Chúa, thì Giáo dân không được phép lố lăng! Vâng, đó chính là đặc tính Giáo Dục Ki-Tô-Giáo cần phải quan tâm ngay từ hôm nay, dù đã muộn màng.

Text Box: (Hình 5)   Trang Phục Phật-Giáo Tiểu Thừa Text Box: (Hình 6)   Phái Đoàn Phật Giáo Quốc Tế Yết Kiến ĐTC

Xin HĐGM phát động một phong trào “Phục Việt”, là động viên cộng đồng Nữ Giáo Dân Việt-Nam nên phục hồi phong hóa cổ truyền Việt-Nam. Động viên họ đến Hiệp dâng Thánh Lễ, phải chỉnh tề trong y phục Việt-Nam, nên mặc áo dài như đã có nhiều Giáo Xứ áp dụng thành công rực rỡ và toàn diện. Là thể hiện được tính giáo dục cộng đoàn, hội nhập phong tục tập quán văn hóa Dân Tộc. Áo dài Phụ Nữ VN vốn là một trong những loại y phục rất hy hiếm vừa tôn nghiêm, vừa lả lướt, sít sao, tạo nên những đường cong tuyệt mỹ hơn bất cứ loại y phục phụ nữ nào và không kém phần kín đáo. Đã lộ rõ nét đẹp nhẹ nhàng duyên dáng của người phụ nữ Việt-Nam, được dư luận thế giới ham mộ quan tâm và đánh giá cao.

Trong những ngày lễ trọng, kính Mình Thánh Chúa, Giáng Sinh, Phục Sinh, Tết Nguyên Đán, nếu được xin kêu gọi, động viên giới Đẹp nầy đội khăn đóng 12 vành, là loại trang phục lễ nghi duy nhất của người Việt còn lại cho đến ngày nay. Nó sẽ trang điểm thêm cho người đẹp càng đẹp hơn trong cả dáng vẻ bên ngoài lẫn phong cách và sự thanh khiết bên trong với vẻ trân trọng, tôn nghiêm và quý phái của người Á Đông, mà xưa nay chỉ có các Mệnh phụ và Nữ giới Cung đình mới được sử dụng. Về sau đến các cô dâu xứ Huế. Rồi lần lượt là các toán thanh nữ biểu diễn tại các Đại Lễ Hội, hoặc đón rước các Yếu nhân, Quốc khách, hoặc tiếp tân các Nhà Hàng Khách sạn lớn trong tiệc cưới hiện đại. Nó trang trọng đến thế, duyên dáng đến vậy, thu hút đến vậy, sao Giáo Hội Việt-Nam không quan tâm. Cha xứ chỉ cần lên tiếng động viên và đứng ra tổ chức giai đoạn đầu cho các Hội Đoàn nữ, điển hình làm mẫu. Sau kêu gọi tập thể, tuy không bắt buộc ai, nhưng chắc chắn đại đa số nữ giới, kể cả các Bà đã trên U 60 cũng sẽ hưởng ứng một cách tích cực.

Đã một thời ông cha ta đã sử dụng nó trang bị cho các cô dâu thêm phần trang trọng và xinh đẹp hơn trong ngày lễ cưới! Một nét đẹp trang trọng không thể có trong phục sức cầu kỳ, đắt giá của bất cứ dân tộc nào. Thật uổng phí một hình ảnh có chất lượng nghi lễ trang nghiêm thùy mị cho phái đẹp đến thế lại bị mai một lần hồi. Lại thích sưu tầm áo thụng, mũ cánh chuồng của phường tuồng hát bội để đưa vào nghi lễ Công-Giáo tôn nghiêm! Hầu hết các mệnh phụ và thanh thiếu nữ Việt-Nam rất muốn sử dụng nó, nhưng không ai dám một mình, đơn phương ăn mặc trang trọng đến thế ở bất cứ lúc nào, ngoại từ các Mệnh Phụ Cung Đình ngày trước. Xin hãy tạo cho Phái Đẹp Công Giáo Việt-Nam trở thành những Tân Nương Nước Trời, những Nàng Dâu Giáo Hội, mà trong Phúc Âm Chúa Giê-Su luôn đề cao vai trò Tân Nương và Tân Lang.

Nếu ngày nay, người ta chạy theo “mốt”, đã gần bỏ hẳn áo dài, nếu được Giáo Hội phục hồi, điều chắc chắn tương lai sẽ là y phục đặc trưng cho Phái đẹp Công-Giáo Việt-Nam và một số Mệnh phụ Phu nhân không Công Giáo, hy hữu cũng chỉ còn xuất hiện trong các tổ chức Đại lễ hội quốc gia. Được thế là Giáo Hội đã duy trì và bảo tồn một vẻ đẹp truyền thống, đúng phong tục, tập quán Dân Tộc không để bị mai một mất đi, mà không là kiểu hội nhập lai căng nào. Nếu được phát động đồng bộ như một vài Giáo xứ đã tiên phong kêu gọi nữ giới mặc áo dài vào nhà thờ đã thành công, thì việc tổ chức đội Khăn Đóng vào ngày Đại Lễ còn dễ dàng hơn nhiều. Chúng con tin chắc sẽ được tuyệt đại đa số các giới phụ nữ Công Giáo Việt-Nam, cả Kinh lẫn Thượng sẽ hưởng ứng khi họ có điều kiện may sắm được. Cha Sở và quý Chức có thể kêu gọi sự hổ trợ cho một vài người thiếu điều kiện tài chính, không khó.

Nếu dùng Âu phục, cả nam lẫn nữ, dù có áo “Vết” hay không – ngoại trừ một vài kiểu áo khác như “Đại Cán”, “Vét-canh” (vescal) – đều buộc phải bỏ áo “sơ-mi” trong quần. Phải nịt quần trên rốn cách nghiêm túc như Cha NGUYỄN-VĂN-ĐÁN, từng là Giám-Đốc Đại Chủng Viện Huế, đã phát động thành công khi còn là Cha Chính Xứ Phú-Thượng sau ngày Giải Phóng. Các Ngài đã tạo được một hình ảnh Giáo Dục Ki-Tô-Giáo tích cực nhất. Tạo được nhân cách cho từng Giáo Dân, nhất là nữ giới. Lối trang phục nghiêm túc, cũng là một phương pháp kéo xã hội ngoài đời lần hồi giảm bớt vẻ ăn mặc lố lăng, kiểu cách như dân đĩ điếm. Lúc đó Thánh đường đã dẹp đi được cảnh ô tạp chợ búa, rạp hát, nhà hàng, sàn nhảy, bia ôm. Xin các Đấng Bề Trên tha thứ. Phần chúng con không dám nói nhiều và nói hết ở đây.

Đặc biệt, tất cả Bổn Đạo trong Giáo Xứ cùng 3 Chi Họ trực thuộc, Ngài từng nhớ tên mỗi người một, mấy con, tên gì, bao nhiêu tuổi. Người chưa quên tên một người con nào, dù đã rời khỏi Phú-Thượng những 15 năm rồi. Đến đâu nghe có người Phú-Thượng, dù xa hay gần, Ngài đều tìm đến tận nhà thăm hỏi. Liệu dã có mấy Lm. có tình Cha như thế. Thậm chí có Cha đã hơn 10 năm ở xứ vẫn chưa biết tên một con chiên, ngoại trừ quý chức trong giáo xứ, nhưng cũng chưa biết vợ con họ là ai, mấy người! Ấy thế thì làm sao hiểu nỗi được tâm tư nguyện vọng của Giáo dân, và làm sao ý muốn Cha sở được sớm hình thành?

Về phía các Cộng Đoàn Dòng Tu Nam Nữ, chúng con cảm nghĩ, ngoại trừ những cộng đoàn phải “xâm nhập” vào những vùng Truyền Giáo nguy hiểm, còn các các Hội Dòng sống tập trung thành Cộng Đoàn nên có một Tu Phục riêng biệt. Tu phục sẽ chiếm được một vị trí quan trọng trong lòng Giáo Dân và ngoài đời hơn là Tu sĩ không tu phục. Những chiếc áo dài hoặc bộ vết đắt tiền, không làm cho người ta quý mến bằng chiếc áo dòng tu. Sự tiếp xúc với Giáo dân kể cả người ngoài Công Giáo, các Tu sĩ nửa chừng chưa hẳn đã được gần gũi, được tin cậy để thu lượm được nhiều thành quả trội vượt hơn những những tu sĩ có hình ảnh Biệt Tu khi tiếp xúc với mọi thành phần xã hội. Họ vừa được kính trọng, tin tưởng và được tôn mến hơn. Đó là điều chắc chắn, ngay cả hầu hết các Cha và mọi người cũng đã cảm nhận được điều đó một cách rõ ràng, chỉ có điều không ai để lộ hoặc nói ra lời mà thôi.

Các Tu sĩ nên trở về lại với chiếc áo Dòng truyền thống, không nên tạo ra mẫu mã tùy hứng. Xin trả lại chiếc áo vết đời thường, áo dài Việt-Nam và áo đầm Âu-Mỹ cho người đời, không chen lấn vào phạm vi trần tục, để giữ vẻ trong sáng một đời tu. Hãy đem về cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa, và trả lại CESAR những gì là của CESAR.

Nhận thấy có nhiều Cộng Đoàn Nữ Tu kềnh càng với chiếc “Lúp” quá rộng vành, cơ hồ lớn hơn nón Huế, như Cộng đoàn Nữ Tử Bác Ái VINH-SƠN PHAO-LÔ, vướng vấp trong công việc thường ngày, nhất là trong ngành Y tế, nên Đức PHAO-LÔ VI trong ĐCĐ Vatican II đã tỏ ý chung nên thay đổi kiểu cách bất tiện trong tu phục, chứ không có nghĩa yêu cầu phải cắt ngắn tu phục thành áo đầm. Chính Người và các Đấng Kế Nhiệm, hàng Giáo Phẩm, Giáo Sĩ các hội Dòng vẫn sử dụng áo Dòng dài đến mắt cá chân, không hề cắt ngắn, đó là một bằng chứng hùng hồn để nói lên sự ngộ nhận của một số Cộng Đoàn Nữ tu. Đáng tiếc!

Những Giáo phận còn nghiêm nhặt, Đạo vẫn thịnh hành trong tình Đại gia đình ấm cúng. Những giáo phận buông lỏng vô tư, giáo dân càng xô bồ điên đảo loạn cuồng, phá chuồng quên Đạo. Chúng con chỉ dám nói quên đạo, chứ không dám nói bỏ Đạo, bán Đạo, xuyên tạc và vu khống, làm nội ứng phá Đạo, như một số Lm. vô kỷ luật phản bội Đức Tin.

Gia đình quá nuông chiều, con cái luôn vô giáo dục, phải mất nết hư thân, bụi đời, mất dạy, vô luân, bại lý, bất hiếu, bất trung, bỏ Đạo. Chủ chăn chăn dắt đàn chiên, nhưng không nhắc nhỡ, giáo dục, răn dạy nghiêm khắc hơn ở mọi lúc, mọi nơi, không phải là hình thức tôn trọng Tự Do, Nhân Quyền. “Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho ngào" là nguyên lý Tổ Tiên để lại, dù bất cứ giai đoạn nào, nếu có khác, chỉ là hình thức áp dụng mà thôi. Chủ trương “Vô Vi” là chối bỏ trách nhiệm của một người Cha, của Vị Mục Tử. Là hãi sợ, là yếm thế, là phó mặc đàn chiên cho sói rừng xé xác. Tạo môi trường cho chúng ngày càng xa ràn lánh Chủ. Bao kinh nghiệm mất mát tại Âu-Mỹ là bài học đắt giá ngày nay. Như đã có Lm. người Việt tại Mỹ, vì chạy theo xu hướng Chính Trị, đã dám bôi nhọ lăng nhục Đức Hồng Y trên mạng, bất chấp Đức Tin, bất cần Giáo Luật mà Thánh Phao-Lô đã từng cảnh cáo, đó cũng là một khía cạnh vô giáo dục, dù có học thức cao, kể cả có trình độ Thần Học Công-Giáo!

Nhiều Quốc gia, hiện tại đã hoàn toàn xa lạ với nguyên tắc “Tiên học Lễ, Hậu học Văn”, đã trở thành “Tiên Học Phí, Hậu học Ăn”. Trước khi học phải là Học phí. Chưa học đến đâu, đã lo nghĩ đến việc tìm khoa dễ hái ra tiền! Những hiện tượng thiếu Giáo Dục Ki-Tô-Giáo, đã biến lúa rơi rụng tràn đồng, cũng không còn Thợ Gặt để thu hoạch. Đã diễn ra cảnh đâm cha chém chú, con chưởi Cha, trò giết Thầy, Nhà thờ phải bỏ không phát mãi. Hậu quả từ tinh thần các Chủ Chăn thay hình đổi lốt, đua đòi thế tục, khiến xã hội xem thường, bất kính. Qua sự cố Tgp. Boston, các linh mục Mỹ đều cảm thấy tủi nhục từ hậu quả của nạn cởi trả áo tu đã hàng thế kỷ qua! Các Cha đã kêu lên: "mắc cở quá, khi ra đường không dám xưng là linh mục và đeo cổ trắng nữa".

Đã thế thì còn tìm đâu ra kẻ có đủ niềm tin vào Cha sở, để tình nguyện sung vào hàng Thừa Tác, vì bản thân đa số các Cha đã xé bỏ áo tu, để tự bán rẻ đời tu, đánh mất chỗ đứng giữa xã hội, cũng không còn chỗ đứng trong trái tim Giáo hữu! Đó chưa phải phải một bài học rướm máu cho Giáo Hội đã để Giáo Sĩ mặc tình xem thường áo tu? Không giống các nước Á – Phi, tinh thần Giáo dân vẫn còn nhiệm nhặt (careful) còn tồn đọng từ thời các Nhà Truyền Giáo thánh thiện ngày xưa. Nên vẫn còn giữ được nguyên lòng tin yêu và tôn kính hàng Giáo Sĩ và Tu Sĩ. Lòng kính yêu đó đã được thể hiện cách đầy đủ, nên vẫn chưa thiếu người tình nguyện nhập Tu vào Dòng, Triều và Đan Viện, là sự hy hiếm ở Âu Mỹ ngày nay, vì tại đó không còn tính Nghiêm Phụ và Từ Mẫu giữa Cha Con, Gia Đình, Thân Tộc. Đã đánh mất tính chất Đại Gia Đình. Tự mình tìm sự “bình đẳng” giữa chợ đời, ăn nhậu vui chơi bằng mọi hình thức với mọi đối tượng, đã trở thành “bạn bè” với con cái. Những con chiên ghẻ chốc, thanh niên lãng tử chợ trời, đôi khi còn được xuề xòa nhân nhượng, chưa kể đến hình thức thâm tình, khiến lời truyền giảng trở thành lờn, không còn đủ trọng lượng của một Vị Cha. Chưa nói đến việc vứt bỏ áo tu xả thân vào nhiều dịch vụ tài phiệt, lo vinh thân phì da của một Cha sở chỉ biết luồn lách chạy theo danh vọng trần gian, tình và tiền. Nếu xem nhẹ giáo dục, thiếu Tu Đời là đánh mất Tu Tâm, sẽ sớm đi vào vết xe đổ Âu-Mỹ trong gang tấc, e khi còn tệ hại gấp nhiều lần, vì dân trí Á – Phi còn thua xa dân trí Âu Mỹ gấp trăm lần!

Chúng con rất đồng cảm và tâm đắc với Cha, vì quá nóng lòng trước những biểu hiện của một vài Lm. trẻ VN ngày nay, nên Ngài đã cứng rắn đề nghị: “nên thận trọng hơn trong việc tuyển chọn ứng viên về đường lối và chương trình giảng dạy, chúng ta không được phép huấn luyện đào tạo những người chưa trưởng thành về nhân bản thành những Linh mục hay Tu sĩ trước khi thành người của Giáo Hội, người của Chúa. Phải thực sự là những con người theo đúng danh nghĩa là người… Nhà trường của chúng ta hiện nay, ngay từ mẫu giáo không quan tâm đến vấn đề nhân bản… bầu trời vẫn đục ấy đã chụp xuống trên cả những mái nhà chủng viện hay tu viện, vì thế mới có chuyện đồng tính luyến ái, chuyên lạm dụng tình dục trẻ em…” (Vẫn Còn Đó Những Ước Mơ của Cha THIỆN-CẨM, OP. trên Tuần báo CG&DT số 1786, ngày 9.12.2010). Chúng con nghĩ còn cần phải tuyển chọn Giáo Sư Đại Chủng Viện và Học Viện CG một cách thận trọng và nghiêm khắc hơn nữa, không lấy học hàm học vị làm tiêu chuẩn, nhưng chọn Giáo Sư khôn ngoan, Đạo Đức, khiêm tốn, và biết vâng phục, tất nhiên là những vị cũng đã có một khả năng và trình độ tương xứng nào đó, vẫn hơn các Cha “quá thông thái” nhưng lắm ý đồ.

Nhận Ứng Viên không cần phải tuyển chọn đến mức khắc khe như Cha THIỆN-CẨM đòi hỏi, vì sản phẩm được hình thành đúng khuôn mẫu của nó. Cần loại bỏ ngay những loại Giáo sư phản bội Đức Tin, tranh chấp chức vị, gián điệp Sa tan, tay sai ma quỷ, áp đảo Giáo Phận, thì sẽ không có những khuôn hình hàng loạt Lm. mất dạy tương tự đã gây hoang mang cho Giáo Hội như Cha THIỆN-CẨM và Cộng Đồng Dân Chúa phải khóc hổ ngươi, nhưng cười lại ra nước mắt!

Vốn “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” là lẽ đương nhiên. Các Đan Viện, Dòng Tu, đặc biệt Dòng Xa-Lê-Diên (Salésien DON BOSCO), không những đón nhận mà còn tìm mời các phần tử hư hỏng ngoài xã hội vào để giáo dục, rèn luyện và đã không thiếu những người xin nhập dòng, đã trở thành những Tu sĩ, Lm, gương mẫu, thánh thiện. Đan viện Biển Đức cũng thế, không từ chối bất cứ một thành phần xã hội đen nào muốn hiến mình làm Đan Sĩ. Điển hình tại Thiên-An (Huế), đã tiếp nhận một con người du thủ du thực khét tiếng. Xuất thân từ một bến xe thuộc Giáo phận Vinh. Cậu ta là thanh niên con một đại gia, có cửa hàng buôn bán vàng bạc đá quý. Nghe như ông thân sinh cũng bị sập tiệm vì vàng bạc trong nhà không cánh mà bay đi hết. Cậu cũng đã được “Tốt Nghiệp Tú Tài” (tái tù) đôi ba lần, toàn thân như một bức tranh được khắc chạm không thiếu một loại hình ảnh gì có thể được xem là thời trang và hấp dẫn nhất đối với cậu. Cậu cũng được các trung tâm cai nghiện đón tiếp nhiều lần, đã trở thành khách hàng “trung thành và thân tín” lâu năm!

Nghe như lần chót, cậu được cai nghiện tại Đan Viện Thiên-An Huế. Sau khi hết nghiện, cậu tình nguyện xin được ở lại “tu” để làm “Đan Sĩ”! Đức Đan Phụ chấp nhận ngay mà không cần đắn đo, suy nghĩ! Một chuyện lạ trên đời, không ai ngờ con người xuất thân từ Sân tàu, Bến Xe với đủ mọi mùi đời khủng khiếp nhất, lại trở thành một Đan sĩ nhân đức, gương mẫu và Thánh thiện. Sau khi được Vĩnh khấn, đã chính thức trở thành một Đan sĩ thực thụ. Một giấc mơ, bản thân Thầy vẫn chưa dám nghĩ sẽ có ngày được toại nguyện như thế. Nhưng tiếp sau Thầy được Đức Đan Phụ chọn cho thụ phong Linh Mục! Đó là Cha TRẦN-VĂN-AN. Là một Linh mục Đan sĩ, nhưng vì “ngựa quen đường cũ” Cha cũng không quên “anh em bạn đồng môn” cùng số phận như bản thân Cha ngày nào. Cha đã xin Đan Phụ cho được mở một trại giáo dục lớp trẻ bụi đời như Thánh DON BOSCO từng thực hiện. Nhưng Linh Đạo Thánh BIỂN-ĐỨC là một Đan viện khổ tu, không sinh hoạt xã hội như các dòng khác, nên Cha bị từ chối. Vì thế, Cha được Đức Đan Phụ thỉnh xin Tòa Thánh cho hưởng Phép Chuẩn, gia nhập vào hàng Linh mục Triều để tiện bề nâng đở cải tạo thành phần thiếu may mắn như Cha hằng mong ước. Hiện Cha đang phục vụ tại Giáo Phận Vinh. (chúng con không biết tên Thánh. Họ và chữ lót có đúng hay không nữa, ai nghi ngờ xin kiểm tra lại Đan Viện và xin cho lời đính chính những điều sai sót).

Chúng con xin lỗi đã xúc phạm đến Cha hơi nặng. Điều có thì ít mà điều thiếu cũng còn nhiều. Nhưng chúng con tin chắc rằng Cha cũng không muốn che giấu cuộc đời hư hỏng của mình, nên cũng không e ngại một ai còn muốn phanh phui nhắc đến. Chúng con dám xin Cha rộng lòng tha thứ và chúc lành cho chúng con.

Đó là chúng con muốn đề nghị các Đấng Bản Quyền nên: thận trọng hơn trong việc tuyển chọn,Giáo Sư giảng dạy, không phong chức Linh mục hay Tu sĩ trước khi họ được giáo dục trở thành người có Nhân bản thực sự để xứng đáng làm người của Giáo Hội, người của Chúa, làm Cha của mọi người. Phải thực sự là những con người theo đúng nghĩa là “Người”. Nếu cần giữ lại vài năm nữa để giáo dục thêm, rồi phong chức vẫn hơn. Không nên tính lượng cho nhiều nhưng thiếu chất. Cha THIỆN-CẨM có khác là không thu nhận ứng sinh chưa xứng là con người, thì không đúng với thực trạng Cha TRẦN-VĂN-AN đáng kính, là điển hình. Linh mục nên thánh hay không là hoàn toàn tùy thuộc vào sự giáo dục và phương cách giáo dục của Đại Chủng Viện, Dòng Tu, chứ không tùy thuộc vào ảnh hưởng giáo dục lúc ở chợ đời.

Trước đây, muốn trở thành một Linh mục Triều, ứng sinh phải nhập tu từ 12 tuổi, có khi chưa qua tiểu học ngay từ lớp 8, vừa được giáo dục kỹ từ tuổi ấu thơ, vừa học văn hóa đúng chương trình cổ điển của Bộ Quốc Gia Giáo Dục ngoài đời. Còn phải học Giáo Lý, Đạo Đức, ngoại ngữ chính là La-Tinh, Pháp và Anh cho đến hết lớp 12 ra thi ra tú tài toàn phần. Sau đó mới được đưa lên Đại Chủng Viện 8 năm, trong đó có 2 năm đi xứ, 2 năm Đại Cương, 2 năm Triết Lý và 2 năm Thần học., với trình độ Cử Nhân của cả 2 khoa. Tổng cả 16 năm tròn, nếu việc học hoàn toàn trôi chảy, nhân cách tốt, đạo đức tốt, biết khiêm tốn, tuân phục và hiến thân.

Ngày nay, hầu hết các ứng sinh sau khi tốt nghiệp Đại Học, qua thời gian thực tập tại giáo phận rồi mới chinh thức được vào Đại Chủng Viện với 6 năm Triết và Thần Học. Như thế chưa có thời gian giáo dục cho đủ. Thậm chí các Cha Giáo Sư cũng không thiếu những Cha chỉ có tấm bằng Tiến Sĩ nầy, Giáo Sư nọ, nhưng vẫn còn đầy đủ bản chất vô giáo dục, thiếu Đạo Đức, mất Đức tin, không Vâng phục và hãnh tiến. Dám xúc phạm đến các Đấng Bề Trên, chạy ngã sau cầu cạnh, tranh chấp Chức Vụ trong Giáo Hội, bên cạnh còn có nhiều cuộc sống bê tha bừa bãi. Những khuôn mẫu do LU-XI-PHE nặn ra sản phẩm làm sao trở thành RA-PHA-ÊN! Dẫu điêu khắc có khéo tay lắm, cũng vẫn còn để lại một cái đuôi không nhém nổi! Ngoài Giáo Dân, không ai đập phá nỗi nhà thờ. Ngoài Lm, không ai cấm cản, xua đuổi được Giáo Dân xa lìa Chúa, Ngoài Giám Mục, không ai phá hủy Đức Tin và sự hiệp nhất của Giáo Hội toàn cầu. Đó là một Nguyên lý và cũng là một Chân lý.

Hàng Giáo Phẩm nên ân cần nhắc nhở các Giáo Sĩ loại bỏ gấp tư tưởng Ký-Lục, Pha-Ri-Siêu Do-Thái để khỏi đón nhận lời chúc dữ của Thánh GIOAN TIỀN HÔ: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các ngươi cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa...? Đừng tự bảo mình rằng: “Chúng ta có Tổ Phụ Ap-Ra-Ham. Vì, tôi nói cho các ngươi hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá nầy nên con cháu Áp-Ra-Ham. Cái rìu đã đặt sát gốc cây ; bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa”. (Mat. III: 7, 9-10) Đó là lời cảnh cáo nặng nề, không phải những tiếng dội trong rừng vắng, là tiếng kêu trong hoang mạc.

Không thiếu các Cha Già lề mề, cẳn nhẳn, quan liêu, khép kín, ít muốn tiếp xúc với con chiên, tránh né ngồi Tòa. Còn đào tạo thêm cho Cha phó trẻ, vốn đã kiêu căng hách dịch, còn thêm hách dịch kiêu căng với địa vị là Ông Cha. Đã có những Giáo xứ phải thỉnh cầu Tòa Giám Mục chuyển mời “Cha mình” đi nơi khác do não trạng quan trường, không được giáo dục đủ, để biết “đối nhân xử thế”. Không biết khiêm tốn là gì, không biết người biết ta. Không biết chung quanh mình có bao nhiêu người lớn tuổi đáng bậc Cha, Ông, bao nhiêu người đáng bậc Thầy, hàng Sư phụ đều vẫn cúi tôn xưng Cha Con đậm đà tình nghĩa, thì chính bản thân các Ngài, một vài Cha trẻ, cũng không thiếu một số Cha già đều ngoảnh mặt ngó lơ, không buồn gật đầu khi Giáo dân cúi gập mình chào kính, có khi tuổi tác cao hơn cụ thân sinh nhà mình! Đó là căn bản Giáo Dục tại các Đại Chủng Viện ngày nay cần phải nghiên cứu kỹ lại!

Có Cha mới đến nhận xứ, đã xé bỏ các giấy Chứng Chỉ Giáo lý Hôn Nhân do Cha sở cũ ký cấp. Bắt buộc phải học Giáo Lý lại mới được hiệp lễ Hôn phối! Không rõ Ngài học từ đâu ra mà thông thái đến vượt quá Cha sở cũ, cũng bậc Cha Ông mình! Những câu chuyện đau lòng đó, tưởng khó tin nhưng có thật. Không rõ các Đấng Bản Quyền có thấu tỏ cho Tín Hữu, Giáo Dân không, và các Đấng đã có thái độ nào?

Nói sao cho hết chuyện đời trong hoàn cảnh Giáo Hội Việt-Nam ngày nay! Chúng con thỉnh cầu, trong những trường hợp nặng nề như vậy, các Đấng Bản Quyền nên rút ngay Cha sở về Tòa Giám Mục để có lớp “Bổ Túc Giáo Dục”, gởi lại ĐCV để “Đại Tu”, biết khiêm tốn và biết khôn ngoan, loại bỏ bớt tính cố chấp trong tinh thần “Giáo Sĩ Chế” như Cha THIỆN-CẨM đã cảnh báo, để Giáo dân khỏi mất sự bình an tâm hồn, và có thể Phạm Thánh chưa chừng. Nếu nghiêm trọng hơn, có thể gởi đến các các Đan-Viện để “Tái Thiết ” cả móng lẫn nền, rồi cho ra xứ lại vẫn không muộn và vô hại, nếu không nói là thêm phần ích lợi cho cá nhân Lm, cho Giáo Hội và cho sự bình an của con chiên. Giáo dân luôn trung thành đón nhận và nhất quyết tôn gọi các Đấng là Cha, chứ không chịu nổi các Đấng “Làm Cha”. Hãy còn đó, Đức Cha P.X. NGUYỄN-QUANG-SÁCH, Giám Mục Chính Tòa Đà-Nẵng đã hơn một lần nói với chúng con: “Đất nước lấy dân làm gốc, Giáo phận vẫn lấy Bổn đạo làm nền”.

Theo đề nghị của Cha THIỆN-CẨM, chúng con xin ăn có nói thêm: Nên tăng thêm ít năm nữa để đào tạo chuyên sâu về giáo dục căn bản cho các ứng viên Lm. Tu sĩ và phải được các Cha có trình độ và tính Giáo Dục cao để đảm trách tại Các Đại Chủng Viện, Học Viện. Rèn luyện cho mỗi Chủng Sinh phải biết phép lịch sự tối thiểu về lời ăn tiếng nói, về lối đi đứng xưng hô, chào mời, về lối ăn mặc đúng cách, để có đủ ý thức trong giảng dạy và giáo dục con chiên bổn đạo. Chiếc áo Dòng không đủ khả năng để biến thành phép lạ. Nhưng vứt chiếc áo dòng, thì còn xảy ra nhiều cảnh tồi tệ, càng thảm thương hơn nữa.

Chúng con cũng xin các Cha trẻ, đứng trên Tòa Giảng đừng bao giờ xưng “Con”, vì với cương vị Chúa KI-TÔ (Alter Christus) đang giảng dạy cho mọi người. Các Cha nên xưng tôi là đủ. Chưa có một Viên chức chính quyền nào xưng con trước buối mét-tin, nơi công cộng. Nếu xưng con, cộng đồng giáo dân thanh thiếu niên và trẻ em sẽ cảm thấy mình bị lạc lỏng, bị bỏ quên, như Cha chỉ chủ tâm nói với các “U” cao tuổi mà thôi.

Cũng thế, trong Tòa Giải Tội, các Cha không nên tự xưng con hay tôi, như: “Con tha tội cho ông, cho bà, nhân danh Cha và Con và Thánh thần”. a) Cha Giải tội không cần biết, và cũng không nên biết, không được biết tội nhân quỳ ngoài Tòa là ai, tuổi nào. Tội nhân nào cũng ước ao như vậy nếu phải lúc xưng cái tội quá nặng và đáng xấu hổ, vì thế đã có một màn che để tránh gây bối rối ngại ngùng cho người xưng thú dễ giấu tội trọng.

b) Không phải cá nhân “Cái Tôi”, “Cái Con” của Lm., của Gm. và cả cùa ĐTC đã có quyền tha tội cho ai, mà chính chức Linh Mục đời đời của các Đấng mới có quyền tha tội. Chưa có một vị Chánh án nào tuyên bố “Con (hay tôi) tha bổng cho Ông, cho Bà” cả, dù trước một cụ già đã còng lưng. Tại Tòa Giải Tội, vị Quan Tòa lẽ ra nên tuyên bố “Ta tha tội cho ngươi, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” là đúng chức năng và ý nghĩa Đức KI-TÔ đã giao phó. Nhưng để nhẹ nhàn và tình cảm hơn, các Cha có thể thay: “Cha tha tội cho con…” dù Lm. trẻ đến đâu, và người quỳ trước mặt có cao niên lớn tuổi đến tầm cở nào, kể cả đó là GM hay ĐTC cũng vẫn là tội nhân tự đến xưng thú tội mình, thì không thể là Ông, là Thầy, là Cha đối với một Vị Linh Mục ngồi Tòa Giải Tội, trong trường hợp khó xưng hô trước các Đấng, thà đọc tiếng La-Tinh: “Ego te absolvo a peccatis tuis in nomine Patris, et Filii, et Spiritus Sancti. Amen”, khỏi cần phải phân định rạch ròi. Chúng con không có ý thức tôn nâng các Cha để tiếp tục tự cao tự đại. Nhưng muốn phân định rõ Thiên Chức của hàng Gp và Gs phải rõ ràng từng lúc trang trách nhiệm của mình, không có sự lẫn lộn như trong sự giao tế đời thường.

Rất nhiều tượng Mẹ đã khóc ở nhiều nơi, kể cả chảy nước mắt bằng máu. Ngay tại Tp. HCM, Tượng Đức Bà trước Nhà thờ Chính Tòa Sài-Gòn, cũng đã một lần Mẹ khóc! Đám đông tụ tập suốt đêm, CA phải điều động lực lượng bố trí canh phòng để bảo vệ an ninh Thành phố. Có kẻ tin, có người không. Tin hay không không phải vấn đề bàn cãi. Tuy nhiên cần phải xét, Đức Mẹ đã khóc, nếu có, vì ai? Đã không thiếu Giáo Dân và Giáo Sĩ cho rằng Mẹ khóc vì thấy thế giới đã sản sinh quá nhiều tội lỗi, nhiều tổ chức bất lương, nhiều bạo lực Tôn giáo. Chà đạp Nhân quyền, chối bỏ Lương tâm, tẩy bỏ mọi thứ Luân Thường, Đạo Lý…!

Tưởng ta không bao giờ được “bán cái” cho người, chạy tội cho mình! Bà Mẹ nào cũng chỉ than khóc vì con cái hư hỏng, sa đọa, tội lỗi. Bận tâm gì phải khóc vì hỏa ngục loạn cuồng? Mẹ khóc vì con cái Mẹ cả Lm. lẫn Giáo Dân không biết cải thiện đời sống, bê tha nhục dục, không tự thấy được mình để sám hối, không tự đấm ngực ăn năn, chỉ biết ngồi lên án, phê phán người khác, quên cạy khúc gỗ trong mắt mình! Không làm những lời mình nói, không nói những điều mình hiểu, không hiểu điều mình học, không học ngay cả những điều mình tin, và không tin cả những điều mình dạy. Cần phải tự xét lấy tội lỗi bản thân, hơn là đổ tội cho người khác quanh mình. Đừng lấy người làm bình phong nấp mặt.

Hoa-Kỳ cho phép phá thai 22/1/1972. Tượng Mẹ Fatima Thánh Du Quốc Tế, tháng 7/1972 đã khóc nhiều lần ở New Orleans, được báo chí đăng tải và phổ biến khắp hoàn cầu. Đức Tgm. HANANN, Đấng Bản Quyền bấy giờ đã chấp nhận cho giới Khoa Học xét nghiệm những giọt nước tiết ra còn đọng trên đôi khóe mắt Mẹ và kết quả cho thấy là những giọt nước mắt của con người. Nhiều ảnh chụp đã được truyền đi khắp nơi. Nhưng Chính quyền Hoa-Kỳ hãi sợ đã láy sang một ý nghĩa chính trị khác, cho rằng Mẹ Khóc vì đau buồn do nạn Cộng Sản phát triển, hoành hành nhiều nơi. Đánh lạc hướng để củng cố một “Chế Độ Vô Luân” đang phát động những phong trào tàn sát, bất lương, vô đạo bằng Pháp Luật (Phá Thai, Hôn nhân đồng giới tính, Con cái có quyền giết Cha Mẹ Ông Bà dưới hình thức cho an tử) theo khung hình Sa Tan Hỏa Ngục, ngày càng triển nở!

Kinh nghiệm đã chứng minh, Nữ Danh nhân Thế giới, Tiến sĩ HÊ-LÊ-NA KHEO-LƠ (Helen Adams Keller, 1880–1968). Một Nhân vật đã thoát bàn tay tử thần từ tấm bé do một cơn sốt ác tính, thân nhiệt đã lên đến độ tử vong như một phép lạ, khi các Bác sĩ đã phải khoanh tay ngồi chờ hơi thở cuối cùng của con bệnh.

Vốn là con một gia đình nề nếp, đạo đức, nhưng KHEO-LƠ đã phải đánh đổi cái chết với những cố tật trầm kha “Đui Mù và Câm Điếc”. Đã trở thành một phế nhân khi mới được một Năm Rưỡi tuổi đời, chưa kịp thừa hưởng một nền Giáo dục Ki-Tô-Giáo. Cố tật quái ác đã biến Bà thành bất trị, nóng nảy, cáu gắt, hung dữ. Từ đó Bà không còn cảm nhận được lời ru của mẹ, tiếng gọi của cha. Đã hơn 6 tuổi ấu thơ được lớn lên trong tối tăm, mù mịt, sợ hãi và giận dữ. Luôn bùng lên những cơn cuồng nộ ngút trời. Đập phá những thứ gần mình và cào cấu bất cứ ai đến gần. Người ta cảm nhận Bà đã sống hoang dại như một con thú nhỏ, có lẽ cuộc sống của Bà còn khốn khổ hơn cả những con thú vì chúng còn được thấy, được nghe và được tỏ lộ đòi hỏi của mình bằng ngôn ngữ đồng loại. Riêng Bà, sống trong một màn đêm dày đặc, không ánh sáng, không màu sắc, không âm thanh. Không nghe một tiếng động chung quanh, cũng không nói được điều mình cần có.

Mọi người đều bất lực trong việc tập cho Bà chỉ chịu ngồi tử tế trong bữa ăn, và đừng bốc hốt mọi thứ trên bàn. Như định mệnh run rủi, Thân mẫu HÊ-LÊ-NA đã tìm được và mời về cho con gái một nàng Tiên nữ, AN-NA XU-LI-VÂN (Anne Sullivan) một Tín Hữu Ái-Nhĩ-Lan, để chia sẻ và đùa vui với con mình như một người tớ gái giữ em, tất nhiên với giá lương rất hậu, hơn là một Gia sư trên danh nghĩa.

AN-NA XU-LI-VÂN (1866 - 1936).cũng là người gần như mất hết thị lực vào năm lên năm. Sự mù lòa của bà cũng là di chứng của một trận sốt, nhưng không giống trường hợp của HÊ-LÊ-NA . Mẹ bà qua đời khi bà vừa tròn 10 tuổi, để lại hai chị em cho người cha say sưa đốn mạt! Chị em bà phải đưa vào trại Tế Bần Công Giáo. Hai năm sau, em trai bà cũng chết tại đây. Tuy phải sống với một cuộc đời bất hạnh, nhưng còn nhờ sự kiên trì giáo dục và giáo hóa của các Nữ Tu, ra đi với một phần vốn liếng đó, Bà đã bắt đầu theo học tại Học viện Y khoa Perkins. Trong thời gian học tại Perkins, bà đã trải qua hai cuộc phẫu thuật mắt và lấy lại một phần thị lực đủ để đọc mỗi lần vài trang sách. Bà đã tốt nghiệp khóa Gia Sư vừa lúc gặp được Thân Mẫu HÊ-LÊ-NA đón về, mục đích cho con mình có bạn trong cảnh mù lòa tăm tối, hơn là đặt niềm tin vào giấc mộng vàng hoang tưởng.

Nhưng không ai ngờ chính cô đã trở thành một Vị Thiên Thần xuất thế. Cô đã trở thành một Nhà Giáo thời danh thực sự vĩ đại nhất hoàn cầu. Bà đã giáo dục thành công Cô Nương bất trị của gia đình nầy. Hơn tháng đầu với tất cả sự chịu đựng đầy nhức nhối cho cuộc đời một thanh nữ tưởng đâu không vượt nỗi. Nhưng Vị Thiên Thần nầy đã kiên trì chịu đựng, giáo dục thuần hóa tính tình cô học trò nhỏ hơn mình 14 tuổi. Bắt buộc phải chịu khuất phục để biết chấp nhận vâng lời, giảm dần phần hung dữ, đập đánh, cắn xé người chung quanh. Lần hồi, biết sử dụng đúng cách cầm muỗng, nĩa, dao bàn và khăn ăn như một người lớn. Chỉ thế thôi, đã là một công trình vĩ đại! Quả là một sứ mạng đầy khó khăn đầy gian nan khi hàng ngày phải đối đầu với những thói hư tật xấu do sự “tăm tối” và tính khí thất thường của cô học trò bất hạnh, để uốn nắn được một bản chất đã gây bối rối và thất vọng cho hết mọi người.

Dần dà cô đã kiên trì phát minh phương pháp dạy cho HÊ-LÊ-NA biết cảm nhận được những từ ngữ và chữ viết bằng đôi ngón tay mình vẽ trên bàn tay cô học trò “Thực vật” không nghe, không thấy và không tỏ lộ được sự hiểu biết của mình bằng lời nói. Lần hồi cô cô học trò đã đọc được chữ dành cho người mù (Braille), tập cho HÊ-LÊ-NA đặt ngón tay mình trên miệng cô, để lần hồi cảm nhận như “nghe” được âm thanh và hiểu rõ được những gì cô truyền đạt qua đôi môi của cô. Từ đó cô học trò đã hoàn toàn tỉnh táo, trở nên một cô bé có giáo dục được thể hiện qua cử chỉ và hành động. Điều kỳ lạ, ngón tay KHEO-LƠ không cảm nhận, không nghe thấy được gì trên đôi môi người khác, dù dó là Thân mẫu mình, ngoài đôi môi AN-NA XU-LI-VÂN. Họ đã sớm trở thành đôi bạn chí tình, thân thương không thể xa rời nhau nửa bước, đã kéo dài suốt 49 năm trời, trọn một cuộc đời cho đến ngày một trong 2 người an giấc nghìn thu.

Một điều kỳ diệu đã xảy ra. Khi KHEO-LƠ sắp tròn 8 tuổi, đã trải qua hơn 1 năm được rèn luyện dạy dỗ tận tình, biết đọc được chữ Khiếm thị, AN-NA liền dẫn em tiếp tục học tại trường Perkins, nơi có các loại sách chữ nổi cho các trẻ em bị mù-điếc khác! Tất nhiên phải qua sự thông ngôn của vành môi diệu kỳ AN-NA bằng ngón tay trỏ của mình. HÊ-LÊ-NA đã vượt trội về các môn toán, địa lý, sinh học, tập đọc, còn cùng với AN-NA học được cả bơi lội, chèo thuyền, cưỡi ngựa, đi xe (không biết theo kiểu nào)!

Đến năm 1904 KHEO-LƠ là người mù-điếc đầu tiên trong nhân loại được tốt nghiệp Đại Học đồng thời với AN-NA. Nghĩa là HÊ-LÊ-NA học đến đâu, XU-LI-VÂN cùng song hành học theo đến đó. Tuy không nghe, không thấy gì, nhưng HÊ-LÊ-NA luôn được mời đến dự các buổi trình diễn Đại Nhạc Hội. Bà lại tỏ ra rất thích thú và đam mê cách đặc biệt các buổi trình diễn nầy. Thưởng thức được mọi âm thanh, tiết tấu nhạc trình diễn nhờ ngón tay mình đặt trên đôi môi huyền diệu của AN-NA và qua ngón tay AN-NA kẽ vạch trên lòng bàn tay mình. Từng được mời đi thuyết giảng tại 39 nước trên thế giới, tất nhiên phải có XU-LI-VÂN tháp tùng, làm thông ngôn dịch thuật qua ký hiệu do KHEO-LƠ kẽ trên lòng bàn tay mình.

Năm 1920 với sự phấn đấu không mệt mỏi, KHEO-LƠ đã thành lập được Hội người mù toàn nước Mỹ, và lan rộng trên khắp thế giới, vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. KHEO-LƠ trở thành một biểu tượng của tinh thần tự lực phi thường. Tuy suốt đời phải sống trong bóng tối và bị khép kín trong một thế giới im lặng đến khủng khiếp, nhưng Bà vẫn cống hiến hết sức mình nhằm đem niềm vui đến với người tàn tật trên khắp hoàn cầu. Do đó chẳng những Bà đã được các Tổng thống Mỹ như GROVER CLEVELAND, BENJAMIN HARRISON, WILLIAM MCKINLEY, THEODORE ROOSEVELT, WILLIAM HOWARD TAFT, FRANKLIN D. ROOSEVELT, JOHN F. KENNEDY đã mời đến diện kiến tại Tòa Bạch Cung. Còn nhiều vị nguyên thủ Quốc Gia cũng đã đón mời, trong đó có Cố Tổng Thống NGÔ-ĐÌNH-DIỆM đã đón chào Bà tại Dinh Độc-Lập Việt-Nam Cộng-Hòa, khi Bà đến chủ sự lễ chấp nhận Hội Người Mù Việt-Nam được chính thức trở thành Chi nhánh Hội Người Mù Quốc Tế. Bà cũng trở thành bạn của những con người nổi tiếng như ALEXANDER GRAHAM BELL, CHARLIE CHAPLIN, MARK TWAIN.

Bà cũng là một người bảo vệ Hòa Bình, đòi quyền đầu phiếu và bảo vệ Nữ Quyền. Bà là hiện thân một con người Xã Hội, con người bào chữa cho lao động, tham gia Công nhân kỹ nghệ thế giới (Industrial Workers of the World). Các đấu tranh của bà chống lại các cuộc chiến của Hoa-Kỳ và sự Bình đẳng Xã hội thường không được tôn trọng. (Phỏng theo Helen Keller, mạng vi.wikipedia.org/ và The Story of My Life (Tiểu Sử Đời Tôi), tác phẩm của chính Bà, xuất bản 1903).

Nếu HÊ-LÊ-NA KHEO-LƠ đã trở thành một Danh Nhân Thế Giới, một Ân nhân của xã hội, thì loài người còn phải tôn AN-NA XU-LI-VÂN lên hàng Vĩ Nhân của mọi thời với tất cả sức lực, kiên trì, chịu đựng vượt quá khả năng một con người yếu đuối bệnh tật!

Chúng con muốn nhấn mạnh câu chuyện khác thường của AN-NA XU-LI-VÂN và HÊ-LÊ-NA KHEO-LƠ như là một bằng chứng hùng hồn để chứng minh rằng muốn đối mặt với mọi nguy nan bất hạnh, con người cần phải biết kiên trì Giáo Dục là tiêu biểu cho mọi Phép Lạ có thể xảy ra. Nếu không được hưởng thụ một sự giáo dục căn bản tối cần thiết từ AN-NA XU-LI-VÂN, thì HÊ-LÊ-NA KHEO-LƠ cũng chỉ nằm xuống trong đời sống thực vật không hơn kém. Tất nhiên Giáo Hóa, Giáo Lý, Luân Lý, Pháp Luật đều hoàn toàn vô nghĩa đối với một con người không có căn bản Giáo dục làm nền. Sẽ không học được một chữ nào, không tạo được một nhân cách, biến đổi Bà trở thành một con người Đạo Đức cũng như một Danh Nhân Thế Giới.

Đó chính là nền tảng Giáo Dục Ki-Tô-Giáo, các Giáo sĩ Truyền Giáo, các Vị Thừa Sai Ba-Lê đã tích cực trong giảng dạy. Nhưng ngày nay đã có nhiều hiện tượng như bị bỏ quên, vì quá nhân nhượng, rồi theo đó Giáo Luật cũng bị đánh ngã hoàn toàn. Cầu mong Giáo Hội cần đặt nặng lại vấn đề Giáo Dục Ki-Tô-Giáo, tiếp tục sứ mệnh cao cả của XU-LI-VÂN thì Giáo Hội sẽ gặt hái được nhiều thành quả lớn lao trong tương lai. Đã đến thời người ta lơ là, bỏ đạo, dẫu có lôi kéo lại, cũng chỉ là những cái xác không hồn, còn có thể làm lũng đoạn, đánh phá Giáo Hội dưới bộ mặt một Giáo Dân, một Linh Mục. Rồi sẽ đến lúc xây dựng lại một thế hệ mới trong Giáo Hội mạnh mẽ hơn, khi người Tín Hữu được hưởng một nền Giáo Dục Ki-Tô-Giáo căn bản như xưa, sẽ có một nhân cách rõ ràng, tất trở thành một người Công Giáo tốt để xây dựng một Giáo Hội vững mạnh hơn. Giáo Dục Ki-Tô-Giáo là điều tiên quyết phải được dặt lên hàng đầu một cách đồng bộ, trước cả Giáo Hóa, Giáo Lý và Giáo Luật, khi đó Giáo Hội mới hướng đến nền Giáo Dục Học Đường.

Từ đó, ta phải xác định rằng, chỉ có Giáo dục mới đào tạo được con người có “nhân cách”, là cửa ngỏ đưa vào các con đường thành công vĩ đại. Tiên học lễ, hậu học văn, trước tiên phải đào tạo nhân bản cho con người, thứ yếu là giáo hóa, làm cho con người khỏi đần độn, rồi mới đến truyền đạt Giáo Lý là đầu mối đào tạo con người có Đức Tin, và Giáo Luật, giáo huấn con người giữ đạo và trở nên thánh thiện, không có hình thức đãi đưa bằng môi miếng theo lề lối lịch sự thói đời. Giáo Dục là nền tảng làm cho con người bảo vệ và phát triển Đức Tin. Giữ được sắt thép không bị rỉ sét ăn mòn.

Trẻ em bỏ học, hư hỏng, lêu lổng chơi bời, du thủ du thực là hậu quả của sự lơ là việc giáo dục đầy đủ và toàn diện. Nhiều người trí thức, học rộng tài cao, nhưng suốt đời đàn đú lưu manh, sống trong bê tha trụy lạc, ăn nói lỗ mãng, tục tằn, phức tạp như CHARLIE NGUYỄN, BÙI-KÝ, dẫu có thành danh (danh tốt hay danh xấu), cũng chẳng thành Nhân để đáng được xã hội xem là con người có giáo dục (x. MV LN&NĐ). Đó là thực chất biểu hiện những con người vô giáo dục, hoặc thiếu căn bản giáo dục. Đã thiếu giáo dục, thì Giáo Hóa, Giáo Lý, thì Giáo Luật cũng chẳng ăn thua. Chỉ trong thể xác lành mạnh mới sản sinh đươc Tâm hồn lành mạnh mà thôi. “Sana Anima, in sano Corpore”.

Sao chép của KHÁCH THĂM

 

Vietnam

free hit counters

Người con yêu dấu"

đang Cùng Chúa Vào Đời

Xin vui lòng liên lạc với

 tamlinhvaodoi@gmail.com

 

Công ty Tư vấn Tiếp thị Quốc tế

Thiết Kế Web- Truyền Thông

Du học - Di trú- Đòan tụ

Công ty Tổ chức Sự kiện

Mọi vấn đề thắc mắc, báo sự cố website. hướng dẫn sử dụng... xin liên hệ:
Châu Hoàng: 0903097363.
YAHOOID  : hoangplc85
SkypeID  : hoangplcito
Công ty tổ chức sự kiện
Tân Sơn Hoàng

   
     
     

40 Giây Lời Chúa

 

Lễ Chúa Ba Ngôi
 
 
HIện Xuống
 

Vọng Hiện Xuống
 
 
 
 
 
 
 
 

HIỂU VỀ TRÁI TIM (CHỜ 10 GIÂY)