Viết bởi Administrator Chủ nhật, 23 Tháng 1 2011 15:44
THỈNH NGUYỆN THƯ
V.- THÁNH LỄ VÀ KINH NGUYỆN GIÁO DÂN :
1. Trong mỗi Thánh Lễ, sau khi truyền phép Bánh và Rượu trở thành Mình Máu Thánh Chúa GIÊ-SU, Chủ Tế tuyên xưng: “Đây là Mầu nhiệm Đức tin”. Cộng Đồng cùng đọc Kinh Tung Hô, cũng mới vừa được sửa đổi 3 Mẫu. Mẫu 1: “Lạy Chúa! chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến." Mẫu 2: “Lạy Chúa! Mỗi lần ăn bánh và uống chén nầy, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, cho tới khi Chúa đến." Mẫu 3: “Lạy Chúa Cứu Thế! Chúa đã dùng Thánh Giá và sự Phục sinh của Chúa, để giải thoát chúng con. Xin Cứu độ chúng con.” (<CôngGiáo.org> Nghi Thức Thánh Lễ) Khiến mỗi nơi đọc mỗi kiểu, đã trở thành lộn xộn khi đi lễ khác nhà thờ, chưa nói tại các Trung tâm Hành hương.
Chúng con xin được góp ý đề nghị: a). Nên dùng một câu duy nhất nào đó để cùng được đọc chung nhau trong hết mọi miền đất nước. Phân Bắc – Trung – Nam, hoặc còn phân biệt Giáo Phận trong phạm vi Kinh Lễ là diều gây niều phiền phức không nên. Cần tránh bớt những “sáng kiến” cá nhân không cần thiết, gây khó khăn trong giờ kinh nguyện cộng đồng, mà Chúa GIÊ-SU và Giáo Hội luôn kêu gọi nên đọc kinh chung.
Trong 3 câu Tung hô trên, việc Loan truyền Mầu Nhiệm Chúa chịu chết, là một “Tín Điều” quan trọng nhất trong tuyên xưng Đức Tin về công cuộc Cứu Chuộc của Đức KI-TÔ chỉ có ở mẫu 1 & 2. Một Tín Điều cần phải được nhấn mạnh và nhắc nhỡ hàng ngày, thì đã không có trong mẫu 3, việc Chúa chịu Chết như một sự kiện tối quan trọng, để nhấn mạnh việc Chúa Phục Sinh. Một sự kiện bắt buộc Giáo Hữu phải tin một cách kiên định và phải loan truyền mọi ngày lại không được loan truyền. Hơn nữa, mẫu 2 khác mẫu 1: có thêm “Mỗi lần ăn bánh và uống chén nầy” và bỏ “Tuyên xưng Chúa sống lại”! Sao không tạo thành một câu đầy đủ ý nghĩa hơn, trong lúc cả 2 câu đều thiếu nghĩa, gây phiền toái cho Cộng Đồng Tín Hữu không cần thiết?
Kinh Tung Hô trong bản dịch 1993: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết, và tuyên xưng Chúa đã sống lại, cho tới khi Chúa lại đến” lặp thêm 2 chữ “đã” nghe quá nặng nề trong khi đọc. Bản dịch 2005: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”, thì đã đánh mất chữ “lại” (lại đến), Vì Chúa GIÊ-SU đã đến rồi, và Giáo Hội chỉ trông chờ ngày Người đến lần thứ 2. Tuy nhiên một trong 2 câu nầy vẫn có vẻ đầy đủ và đơn giản hơn, sao Tác giả nào đó còn soạn thêm nhiều câu mất nghĩa, rườm rà phức tạp để đưa vào Kinh Lễ Cộng Đồng?
Kinh nguyện đọc chung, không nên tùy tiện đặt ra nhiều văn bản, thay đổi, chỉnh sửa, thêm bớt theo ý thích cá nhân, không đồng bộ và duy nhất. Lần thay trước đọc chưa quen miệng, đã có câu mới thay vào! Chả khác mấy những những tay Luật gia còn non kém, là chuyên viên soạn đạo luật trước chưa kịp thi hành, đã có đạo luật sau sửa đổi!
Chúng con cảm nhận Kinh Tung Hô trong Thư Mục Vụ của Gp. Hải-Phòng Năm Thánh Thể 2004-2005: “Lạy Chúa! chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết, và tuyên xưng việc Chúa sống lại, cho tới khi Chúa lại đến" đã gọn nhẹ, súc tích và rất đầy đủ ý nghĩa. Thứ nhất, đã sử dụng chữ “việc” và được lặp lại ở cả 2 nơi. Chữ “việc” ở đây, không phải một từ đệm thừa thãi vô nghĩa, nhưng Chữ việc chính thực là trọng tâm nhấn mạnh một Sự Kiện (events, facts) nhất thiết cần phải được nhấn mạnh. Trong khi cả 2 mẫu dịch 1993 + 2005, đều không có chữ Việc nầy, đã làm yếu đi tính xác định về “cái chết” của Đức KI-TÔ.
Trong 12 điều phải tin đã được các Thánh Tông Đồ cùng tuyên xưng trong kinh Tin Kính đầu tiên tại Giê-Ru-Sa-Lem. Các Đấng đã xác quyết Chúa GIÊ-SU“…chịu đóng đinh (crucifixus) … chết (mortuus) và táng xác (sepultus)… ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại (resurrexit a mortuis)…” Đã xác định cách chắc chắn việc Chúa GIÊ-SU đã chịu chết là một “sự kiện” thứ nhất phải có, để từ đó mới xác định được việc Người Phục Sinh từ trong Kẻ chết là một “Sự kiện” thứ hai. Một Tín Điều duy nhất được 2 lần xác định “Việc Chúa đã chết” và “việc Người đã sống lại từ trong Kẻ Chết”. Hai Sự Kiện Mầu nhiệm như thế, chỉ xảy ra duy nhất ở một Chúa GIÊ-SU, chưa từng có và cũng không bao giờ có xuất hiện trên trần gian nầy với bất cứ một sinh linh nào khác, kể từ ngày tạo thiên lập địa cho đến tận thế. Một Tín điều phải được lặp đi, lặp lại thường xuyên trong mỗi ngày, mỗi Thánh Lễ để tuyên xưng trước Cộng đồng Tín hữu và Cộng đồng Nhân Loại, là điều tất yếu, không thể bỏ qua. Xin các Đấng Bản Quyền đồng nhất lấy một kinh Tung Hô nầy để áp dụng đồng nhất trong cả đất nước Việt-Nam, đừng phân chia Giáo Phận hoặc cục bộ địa phương trong mọi kinh nguyện có tính Cộng Đồng trong nước.
Không như trong Kinh Tin Kính Nicea trong phụng vụ Thánh Lễ: “Người chịu khổ hình (passus), mai táng (sepultus), ngày thứ ba Người sống lại …” Nếu Chúa GIÊ-SU có “chịu khổ hình” và có chịu “mai táng” thật, vẫn chưa chắc Người đã chết thật, thì phải xác tín việc Người đã sống lại quả còn quá mơ hồ. Vì có chịu khổ hình và mai táng, nhưng chưa xác định “Chúa đã chết”. Giao-Điểm Hoa-Kỳ đã tuyên bố Chúa GIÊ-SU được mai táng chỉ vì chết lịm hay chết giấc (unconscious) rồi được hồi sinh, tỉnh lại từ huyệt đá, chứ không phải Phục sinh như Giáo Hội Công-Giáo đã rêu rao! Quả là đồng nghĩa với đoạn kinh nầy, khiến Mầu nhiệm Phục Sinh đã trở thành tối nghĩa, không xác định. (x. MV LN&NĐ).
Cũng như: “cho tới khi Chúa đến”, thì trong Kinh Tung hô của Gp. Hải-Phòng xác định: “cho tới khi Chúa lại đến”. Vâng, Người Công-Giáo trông đợi ngày Chúa đến lần thứ 2, tức ngày Chúa “trở lại”, chứ không trông đợi ngày Chúa đến như Do-Thái-Giáo và Đạo Ngũ-Tuần nữa, vì họ vẫn còn trông chờ Chúa Cứu Thế. Họ chưa tin Đức GIÊ-SU là Đấng KI-TÔ họ mong đợi đã đến rồi! Nếu Công-Giáo vẫn còn mập mờ trông chờ ngày Chúa đến như Do-Thái-Giáo và Đạo Ngũ-Tuần thì chưa có Đạo Chúa KI-TÔ, Đấng mình tin vẫn chưa đến.
b). Kinh Tin Kính trong phụng vụ chỉ tuyên xưng: “có một Phép Rửa để tha tội (unum baptisma in remissionem peccatorum (La-Tinh) hoặc un seul baptême pour le pardon des péchés (Pháp). Như thế Giáo Hội chỉ tin có mỗi Phép Rửa mới tha tội mà thôi, và đã chối bỏ Phép Giải Tội Chúa GIÊ-SU đã lập. Tức đã đồng quan điểm với các hệ phái Tin-Lành (I confess one baptism for the remission of sins” (Tôi tin có một Phép Rửa để tha tội)! Khác với các Thánh Tông Đồ đã tuyên xưng tại Giê-Ru-Sa-Lem. Ngoài phép Rửa Tội mà Chúa GIÊ-SU sai các Ngài phải thực hiện đầu tiên, các Ngài không cần nhắc lại như một điều xác tín, mà chỉ xác định thêm trong Kinh Tin Kính một Bí Tích mới là Bí Tích Giải Tội: Tôi tin Phép Tha Tội (remissionem peccatorum ; forgiveness of sins ; la rémission des péchés)…” Vậy Bí Tích Giải Tội là một Tín Điều được các Thánh Tông Đồ nhấn mạnh, chứ không cần lặp lại Bí Tích Rửa Tội là một điều hiển nhiên chính Chúa GIÊ-SU đã thực hiện khi còn tại thế, là một chuyện dư thừa.
Hiện tại Giáo Hội không còn nhất thiết bắt buộc phải đọc Kinh Tin Kính Nicea trong Thánh Lễ, mong sao các Đấng Bản Quyền cho phép Giáo Dân đọc lại Kinh Tin Kính Giê-Ru-Sa-Lem là nguyên bản mà các các Thánh Tông Đồ là Đồng Tác Giả đã đặt ra đầu tiên. Đầy đủ ý nghĩa và chính xác hơn. Xin cho Phổ nhạc lại Kinh Tin Kính cũ trong phụng vụ Lễ Nhạc xem ra ngắn gọn, súc tích và đầy đủ ý nghĩa hơn kinh Tin Kính Nicea.
c). Trong Thánh Lễ Chủ Tế luôn đọc lời nguyện cầu cho Cộng Đồng tại thế: “Vậy giờ đây, lạy Chúa, xin nhớ đến mọi người mà chúng con dâng của lễ này cầu cho họ: trước hết tôi tớ Chúa là Ðức Giáo Hoàng T..., Ðức Giám Mục T..., chúng con, và toàn thể hàng Giám Mục, sau là tất cả các giáo sĩ, những người xin dâng lễ, những người hiện diện chung quanh đây, và toàn thể dân Chúa, cùng mọi người đang thành tâm tìm Chúa.” (Nghi thức Thánh Lễ 2005). Chúng con thấy có nhiều Vị Chủ Tế chỉ cầu cho ĐTC, Đức Gm, và Gm Phụ Tá Giáo Phận cùng tất cả hàng Giáo Sĩ, mà gạn ra câu “và toàn thể hàng Giám Mục” như có một ý thức cũng “cục bộ” hơn là tinh thần hiệp thông bao gồm cả Hàng Giám Mục khắp Hoàn cầu!
Cũng rất hiếm khi có một Vị Chủ Tế nối tiếp câu “sau là tất cả các giáo sĩ” còn thương tưởng nhớ đến và cầu cho các “Tu-Sĩ”, nhưng tuyệt đại da số đều không quan tâm. Đành rằng trong lời nguyện đã có “và toàn thể dân Chúa” tức đã có các Tu Sĩ. Nhưng nếu hiểu như thế thì ĐTC, Đgm, các hàng Lm. cũng không cần phải nêu lên cách riêng biệt làm gì, vì các Ngài cũng ở trong “toàn thể Dân Chúa” rồi!
Thực tế, xưa nay, qua mọi thời trong giai đoạn Truyền Giáo, và ngay cả ngày nay, Nam Nữ Tu Sĩ vẫn là cánh tay mặt rất quan trọng trong sự tồn tại của của Giáo Hội Toàn Cầu, là những vòng tay dang rộng và nối dài không thể thiếu của Hàng Giáo Phẩm và Giáo Sĩ khắp nơi. Nhưng trong Thánh Lễ, các Cộng Đoàn Tu Sĩ không được các Vị Chủ Tế quan tâm ban cho họ một lời cầu nguyện, để lọ rõ một sự bạc bẽo khá vô tình! Chúng con nghĩ, nếu có thể “sau là tất cả các giáo sĩ” xin thêm vào “cùng các Nam Nữ Tu Sĩ khắp nơi”, để có được một tinh thần thông hiệp toàn vẹn hơn, nhắc nhở Giáo Dân phải luôn nhớ đến các Cộng Đoàn Tu Sĩ, vẫn là hàng Tôn Sư, hàng Tỷ Mẫu của Cộng Đồng Dân Chúa, là những cộng đoàn luôn quan tâm săn sóc và gần gũi Giáo Dân nhiều nhất.
d). Nguyên tắc sử dụng Thánh Vật. Các Nhà thờ Tin Lành chỉ gắn một mẫu Thánh Giá trơn trong nhà thờ, có tính tượng trưng như một phù hiệu, không có nghĩa tôn thờ hay tôn kính. Nhưng Thánh giá là biểu tượng Ơn Cứu Độ, trong các Nhà Thờ Công-Giáo mọi Thánh Giá đều có hình Chúa GIÊ-SU chịu khổ hình, nên Quy Chế Tổng Quát (QCTQ) buộc phải đặt: “Trên hoặc gần bàn thờ, kể cả ngoài thánh lễ, thường xuyên phải có một thánh giá, mà cộng đoàn có thể nhìn thấy rõ ràng”, QCTQ “Mới” còn nhấn mạnh ba lần: “Thánh giá có tượng Chúa Ki-Tô chịu đóng đinh, để nhắc tín hữu cuộc thương khó cứu độ của Chúa”. Như thế, trên Thánh Giá chỉ có mỗi hình ảnh Chúa GIÊ-SU chịu khổ hình trên đó mà thôi, không một hình ảnh nào khác được gắn vào Cây Thánh Giá, kể cả Chúa GIÊ-SU Phục Sinh hoặc Lên Trời, là hình ảnh tiêu biểu sự vinh quang của Chúa sau khi Thắng Trận Khải hoàn, không thể đem treo vào cây Thánh Giá, là hình ảnh khổ đau của Ơn Cứu Độ.
Cơ hồ, tại các bia mộ Nghĩa Trang, người ta còn nhìn thấy nhiều hình ảnh Thánh Giá, đã bị lắm kẻ vô ý thức, khắc in hình ảnh người quá cố ngay giữa Thánh Giá, nơi đầu Chúa GIÊ-SU đã dựa vào. Chúng con nghĩ cách hẹp hòi như là biểu hiện một sự xúc phạm, dù đó là ảnh một Đức Cố Giáo Hoàng, Giám Mục, hay Linh Mục đều không được khắc in vào nơi cực thánh đó, cơ hồ còn hình ảnh Giáo Dân quá cố càng không hiếm. Nếu quan niệm của chúng con được chấp nhận, xin các Dấng Bản Quyền ra lệnh tẩy xóa ngay mọi hình ảnh như thế trên Thánh Giá hiện có ở nhiều nghĩa địa hiện nay.
Chúng con cũng có một ý niệm, Thánh Giá chỉ được tạc, vẻ trên Mũ Triều Thiên Đức-Mẹ, Thánh Cả GIU-SE và các Thánh. Riêng mũ triều thiên Chúa GIÊ-SU, Giáo Hội nên lưu ý giới Hội họa và Điêu khắc gia Công-Giáo không được để Thánh Giá trên Mũ Triên Chúa GIÊ-SU, như tượng Đức Mẹ Mân Côi là một điển hình. Vì Thánh Giá là “giường” Chúa nằm chịu chết, không thể cao trọng đến mức được đặt trên đầu Chúa. Là có phần nghịch lý và bất kính.
e). QCTQ cũng quy định “Không nên đặt nhà tạm trên bàn thờ dùng để cử hành thánh lễ”. Nhưng “Hoặc trong cung thánh, ngoài bàn thờ dâng lễ, nơi thuận tiện hơn, chẳng hạn bàn thờ cũ không dùng để dâng lễ nữa… hoặc trong một gian ngánh thích hợp cho việc cầu nguyện riêng, gắn liền với nhà thờ và giáo dân dễ thấy”. Ngày xưa bàn thờ được đặt sát tường, cuối Cung Thánh, Vị Chủ Tế luôn xây mặt vào trong, nơi Nhà Tạm luôn được đặt phía bên trên bàn thờ Dâng Lễ ngay giữa căn trung Cung Thánh. Nhà Tạm là nơi Cung tòa Uy nghi Chúa ngự. Nhưng Nghi thức Phụng Vụ sau ĐCĐ Vatican II, Vị Chủ Tế quay mặt ra, hướng về phía Cộng Đồng Tín Hữu, để có một ý nghĩa đầy đủ là cùng “Hiệp Dâng Thánh Lễ”, chứ không thể hiểu sai như xưa là Giáo Dân đi “Xem Lễ”. Từ đó Nhà Tạm không thể đặt ngay trên bàn thờ Tế Lễ, che khuất giữa Vị Chủ Tế và Giáo Dân. Từ đó, đã có một số rất ít Nhà Thờ đã đưa Nhà Tạm sang một Bàn Thờ Tiểu, nằm một bên gian ngánh (sacellum), ngoài Cung Thánh như ở tiết 1, đã tạm cho phép.
Chúng con cảm nghĩ, Nhà Tạm là Cung Tòa Chúa Ngự hàng ngày, cần phải được đặt ở một nơi trang trọng nhất trên Cung Thánh giữa căn trung Nhà Thờ như QCTQ đã chỉ định: “Hoặc trong cung thánh, ngoài bàn thờ dâng lễ, nơi thuận tiện hơn, chẳng hạn bàn thờ cũ không dùng để dâng lễ nữa” là hợp lý nhất (tiết 1 Đ. 126)
Ngay Hòm Bia Thiên Chúa, trong đó đựng 2 Bia Đá 10 Điều Răn do chính tay Đức Chúa Trời khắc chữ và trực tiếp trao ban cho Ông MÔI-SEN, đã phải được đặt trong Cung Thánh, nơi trang trọng nhất của Đền Thờ Giê-Ru-Sa-Lem, được gọi là một nơi Cực Thánh. Nhà Tạm ngày nay chính Chúa GIÊ-SU hiện diện ở đó để nuôi dưỡng và ở cùng con cái hàng ngày, lại còn cao trọng vô cùng, còn hơn cả Hòm Bia Thiên Chúa. Hòm Bia chỉ là một hình ảnh Nhà Tạm Tân Ước cũng đã bị cất đi nhiều Thế kỷ trước ngày Chúa Giáng Sinh để nhường chỗ cho Nhà Tạm Tân Ước ngày nay, đó là Ý Mầu Nhiệm của Thiên Chúa. Nhưng sau ĐCĐ Vatican II đã có một vài Thánh Đường, Nhà nguyện lại đặt Nhà Tạm tại “một gian ngánh”, bên cạnh Cung Thánh nhà thờ. Nơi đây không phải là một nơi Cực Thánh như đã đặt Hòm Bia xưa! Đã có kẻ quan niệm đặt nhà Tạm vào một gian ngánh Nhà thờ là đúng, vì nó tượng trưng cho một Tủ đựng lương thực Thiêng Liêng của Linh Hồn!
Mình Thánh Chúa GIÊ-SU không thể hạ thấp xuống thành một loại thịt, cá, mắm muối, như một tủ ăn đời thường để có thể đem đặt vào một nơi xó góc! Vì thế nên đặt Nhà Tạm ngay chính giữa căn trung Cung Thánh, sau Bàn Thờ Tế Lễ, cao hơn đầu Vị Chủ Tế đứng khoản 3 hoặc 4 bậc cấp lên mở cửa Nhà Tạm, như hầu hết các Thánh Đường đã thể hiện từ xưa. Ngoài Chúa GIÊ-SU và 3 Ngôi Thiên Chúa, không còn bất cứ một Thánh vật nào cao trọng hơn. Ngoài Thánh Giá phải có tại Bàn Thờ, còn có thể là Sách Kinh Thánh. Mọi Thánh tượng khác chỉ được xem như những thánh vật trang trí trong nhà thờ, hơn là thánh vật phải có đồng bộ trong thờ phượng.
Cần phải xây một Lễ Đài để đặt các Linh Tượng Biệt kính được Giáo hữu sùng bái cách riêng tại bên ngoài các Thánh Đường, như Trung Tâm Hành Hương La-Vang và nhiều nơi khác. Tránh được cảnh khách Hành Hương không Công Giáo đến vái lạy trước Linh Tượng đặt trong nhà thờ vào giờ Kinh Lễ Cộng Đồng. Thậm chí không thiếu những Giáo Dân quá sùng tín, vẫn quỳ lần hạt, cầu xin tại Tượng đài bên góc trong Nhà thờ, không cần biết là Giờ Chầu trọng thể có Mặt Nhật đặt trên bàn thờ! Vẫn không thiếu Nhà Thờ được đặt Thánh Tượng cách trân trọng vào nơi lẽ ra phải được đặt Nhà Tạm và Thánh Giá. Các Vị Chủ Tế, hầu như kính bái một Thánh Tượng Biệt Kính nào đó, như ở Miếu Mạo, Đình Chùa, còn Mình Chúa hầu như đang nằm ngoài góc xa, bị phai mờ cách thật tang thương. Thánh giá cũng chỉ được đặt bên góc cạnh Bàn Thờ! Đã khiến Giáo Dân lần hồi mất ý thức tôn thờ Thiên Chúa, mà chỉ hướng về Linh Tượng nào đó, còn hơn cả Thiên Chúa, đó là “ngụy tín”!
Một hình thức tôn kính gây gương xấu nghiêm trọng như thế là đặt đá cho Giáo dân vấp ngã, đưa họ đến chỗ rối đạo, đánh mất Đức Tin vào Thiên Chúa. Dám xin HĐGM nghiên cứu, ra một thông cáo quy định thật tỉ mỉ về cách đặt Nhà Tạm, Thánh Giá, Phúc Âm và Linh tượng cho thực thống nhất và đồng bộ. Tránh mọi tùy tiện do “sáng kiến” cá nhân tạo điều nghịch lý.
f). Đã có đôi Nhà Thờ, chỉ có ghế dựa, không còn nhìn thấy Bàn Quỳ (Prie-dieu) nữa. Không thiếu Giáo dân vào Nhà thờ chỉ “quơ quào lấy lệ” Dấu Thánh Giá chưa xong, đã ngồi phệt xuống ghế, không một vẻ định tâm. Bàn Quỳ là một nét đặc trưng của Nhà thờ Công-Giáo. Chỉ nhìn vào Nhà thờ có bàn quỳ là người ta phân định được Nhà thờ Công-Giáo và Chính-thống, tuy hình ảnh thờ tự như nhau. Các Giáo hội khác, Tin-Lành, Anh Giáo, Hồi-Giáo, Do-Thái-Giáo, Phật-Giáo, Ấn-Giáo… đều không biết bàn quỳ là gì. Đến bất cứ Nhà Thờ hoặc Trung Tâm Hành Hương nào, ĐTC trước tiên cũng quỳ trên một bàn quỳ để cầu nguyện. Những Nhà thờ không có Bàn Quỳ, là nói lên rằng ở đó không có Thiên Chúa, khỏi cầu nguyện (sans Dieu pas Prie), nên Lễ nghi thiếu nghiêm trang, ít sốt sắng, dù có một số ít Tín hữu đôi khi không quỳ đi nữa.
g). Ngay trên lối cổng dẫn vào một Thánh Địa, đã đập vào mắt khách Hành hương bốn phương một Tượng Đài Đức Mẹ khá trang trọng, có mái che nghiêm túc do Giáo Dân tự phát, có hương đèn dâng cúng hàng ngày. Một Tượng Chúa GIÊ-SU dang rộng hai tay biểu lộ ý nghĩa “Rex sum Ego” (Ta Là Vua), lại khiêm tốn đứng trên một bệ xi-măng thấp lè tè bên ngoài mái che trên một đám cỏ um tùm cách hơn vài thước cạnh lễ đài Mẹ và tiếp đó là tượng Thánh GIU-SE nặng màu tang tóc! Không khác 2 người Bảo Vệ hay chú Lính lệ gác gian! Thực thê thảm! Một quang cảnh khá lâu năm, nhưng vẫn còn tồn tại ngay tại một Trung Tâm Hành Hương Giáo Phận cách quá vô tư!
Thái độ “Mác-Kê-Nô” vẫn vĩnh viễn được tôn thờ tại đây trên nhiều khía cạnh! Không ai thèm quan tâm dẹp bỏ cảnh đối nghịch Đức Tin. Dù nó đã quen mắt người bản địa, Cha Sở, Cha Phó, Hội Đồng Giáo Xứ, nhưng vẫn là một cái gì xốn xang, cay mắt đối với Khách Hành Hương vạn nẻo! Dù xét ra chưa đến nỗi mất đức tin như ông già con cưng Cụ Xứ Chính Tòa Sài-Gòn. Các Đấng Thừa Sai ngày xưa, đi thăm Giáo Dân, gặp bất cứ bàn thờ nào thiếu tôn nghiêm, buộc phải sửa sang lại, ảnh tượng lôi thôi, sứt mẻ, bị quở trách và buộc phải đập vỡ đem chôn một nơi thích hợp. Không để cảnh dối nghịch Đức Tin đến thế. Các Cha Thừa Sai không hề sống vô tư như người ngoại cuộc, vô quyền! Thực ra, những cảnh tượng nầy cũng phải làm cho Mẹ áy náy, chứ chẳng vui gì!
Một ai đó treo ảnh hoặc đặt tượng Vị Nguyên Thủ Quốc Gia vào nơi không xứng đáng, đến độ bất kính như thế, liệu nhà Hữu Trách có làm ngơ, không thèm hỏi thăm sức khỏe và không có một biện pháp thích nghi? Vâng bao cảnh Phạm Thánh, bao cảnh bất kính gây gương mù gương xấu rất khó tin nhưng có thật trong Công-Giáo mình. Hãy còn đó, vẫn là việc bình thường đối với các Cha Xứ phải quá bận rộn, bon chen với bao công nghìn việc sâu xa và cao cả hơn trách nhiệm bảo trọng Đức Tin cũng như Nhà Thờ Thiên Chúa!
2. a) Cách đây đã non 20 năm, bất thần một lần Bà NGUYỄN-THI NHỨT, người hàng xóm, thuộc một vùng nông thôn Đà-Nẵng, có lẽ nhỏ hơn chúng con vài tuổi, năm nay cũng đã hơn 75, hiện còn sống, đã hỏi một câu mà chúng con không giải thích được: “Em không biết câu “Giê-Su, Ma-Ri-A, Giu-Se, xin cho linh hồn con đặng chết bằng an trong tay Ba Đấng”. Linh hồn làm răng chết được anh hè? Khi học Rước Lễ vở lòng, em nghe các Dì dạy linh hồn chết, là xuống hỏa ngục, thì sao mình xin cho linh hồn được chết bằng an?” Thật quá ngỡ ngàng. Quả trong Sách Mục Lục Địa Phận Quy-Nhơn xưa nay, có 4 câu đọc thêm ở cuối “Kinh Cầu Cùng Thánh Thất". Câu Chị ấy thắc mắc là câu thứ 3. Chúng con có thói quen đọc kinh nầy hàng ngày, nhưng không bao giờ suy hiểu cho tường tận, mới giật mình suy nghĩ… thì ra một người phụ nữ nông thôn, vốn thất học, không biết đọc, biết viết, nhưng lại có tâm tình cầu nguyện và hiểu kinh sách cách sâu xa thấu đáo đến vậy. Thật quá bất ngờ và đáng nễ trọng. Phần con chỉ biết im lặng, không giải thích được, cũng chưa dám tâm sự với ai.
Kế đó không lâu, lại có một vị trong Hội Đồng Giáo Xứ ở đây, lại nêu ra một vấn nạn khác, không kém Chị NHỨT kia, đó là Ông NGUYỄN-NGỢI, vốn là một thành viên trong ban Chức Việc (Hội Đồng Giáo Xứ), nên được người địa phương gọi là Biện ĐẶNG (ĐặNG là tên đứa con đầu lòng được gọi thay “tên tao nôi” của cha mẹ, mà họ gọi là “Tên Tộc”, theo tập tục một vài tỉnh miền Trung rất húy kỵ tên tộc những người đã có con). Ông lớn hơn con một con giáp (12 tuổi), đã qua đời. Ông hỏi: “Trong Kinh Cầu Đức Bà có câu so sánh “Đức Bà như lâu đài Đa-Vit vậy”. Lâu đài Đa-Vít là cái gì cao cả, thánh thiện, vô giá? Nơi đây vốn là nơi tội lỗi ngoại tình của Vua ĐA-VÍT và loạn luân của con trai Ông, lại đem ra so sánh với Đức Mẹ, thì có ý nghĩa thế nào?” Đó là câu 37 trong kinh Cầu Đức Bà (không tính các câu đáp).
Từ đó con bắt đầu tìm hiểu thêm còn nhiều câu kế tiếp: “Đức Bà như tháp ngà báu, như đền vàng, như sao mai sáng” Không giống như sự so sánh với “Hoa Hường Mầu Nhiệm” tức một loại Hoa siêu nhiên, thánh thiêng, trinh khiết, thì không kể, vì không so sánh với loại hoa tầm thường, dù có đẹp đến đâu.
Không một vật thụ tạo nào, dù là Ngôi sao chói lọi đến đâu, cũng không thể đem ra so sánh với Đức Mẹ được. Nếu nói Đức Mẹ là ánh sao mai, là ngọn đèn trong đêm tối, là ánh trăng giữa rừng đêm, là ngọn đuốc soi đường cho kẻ lữ hành, lại có một ý nghĩa khác, không hề có ý so sánh hơn thua. Cơ hồ Đền Vàng nào quý giá, Tháp Ngà nào châu báu bằng Mẹ, thậm chí còn hơn Mẹ để đem ra so sánh cùng Mẹ? Tự nó đã vừa vô nghĩa, vừa nghịch lý. Câu dạo đầu kinh Catina của Đạo Binh Đức Mẹ (Legio Mariæ) cũng có câu: “Kìa Bà nào đang tiến lên như rạng đông, đẹp như mặt trăng, rực rỡ như mặt trời, uy hùng như đạo binh xếp hàng vào trận.”
Đạo binh nào uy hùng hơn Mẹ Thiên Chúa? Mặt trời chỉ là một bầu lửa chói lọi cực nóng, có gì rực rỡ hơn Đức Mẹ? Mặt trăng đẹp như mơ trong ý thơ của các Thi Nhân. HÀN-MẠC-TỬ mơ màng mặt trăng như một cô nàng kiều diễm: “Trăng nằm sòng soải trên cành liễu, đợi gió thu về để lả lơi”. Thực tế mặt trăng chỉ là môt quả cầu toàn đất đá và sa mạc xám xịt, không có mầm sống cho một thực hay động vật nào. Sự phản chiếu của mặt trăng chỉ là một phần nhỏ ánh sáng so với trái đất ta ở gấp nhiều lần, làm sao đẹp bằng Đức Mẹ? Đàng nầy còn tưởng tượng là đẹp hơn, mới đem ra so sánh, như Đức Mẹ không đẹp bằng. Địa Cầu với 29,2% diện tích mặt đất được phủ kín bởi lá rừng, về đêm có hơi sương ướt đẵm, còn phản sáng hơn đất đá, sa mạc mặt trăng. Chưa kể 70,8% diện tích là mặt nước Đại Dương, nên được gọi là "hành tinh xanh". Nếu đứng tại mặt trăng nhìn về trái đất ta sẽ thấy một chiếc gương soi khổng lồ bằng “cái nia” phản chiếu ánh sáng mặt trời, còn chói chang hơn cả Chị Nguyệt gấp trăm lần. Thế mà có ai đó tỏ ra lạc hậu không theo lối sống văn minh, đã bị người đời chê “Xưa như trái đất”! Ấy thế mà Mặt Trăng còn đẹp hơn Đức Mẹ, thì Đức Mẹ còn xấu xí và xưa hơn trái đất cả vạn lần! Mọi sự so sánh khập khiểng nầy, nên bỏ bớt trong kinh nguyện ngợi ca Thiên Chúa, để bớt vẻ ngây ngô thô thiển trong thời đại điện tử, vi tính, phi thuyền.
Trong kinh nguyện thông thường của Giáo Dân, ngoài một vài câu đã được Tín Hữu thâm sơn cùng cốc lại nhìn ra không phù hợp trong kinh nghĩa, thì chưa được các Đấng Bản Quyền quan tâm, hiệu đính. Nhưng còn rất và rất nhiều nữa mà HĐGM còn cần phải quan tâm rà soát lại và càn cho nghiên cứu nhiều hơn. Đơn cử Kinh Sấp Mình (Mục Lục Quy-Nhơn) câu cuối: “Lạy Chúa xin hãy mở miệng lưỡi tôi ra, thì tôi sẽ cao rao những lời ngợi khen Chúa.” Với ngữ pháp Tây phương, từ hãy, thế cách mệnh lệnh (impératì) trong mệnh đề biểu hiện điều kiện (proposition conditionnelle) là bình thường, nhưng tiếng Việt lại có nghĩa là đòi hỏi, là mệnh lệnh. Đối với Cấp trên, có lẽ phải thay chữ “hãy” bằng chữ “xin”, “xin mở miệng…” vẫn đủ nghĩa và đầy lễ độ. Đến mệnh đề chính (proposition principale) lại dùng chữ “thì”, sau mệnh đề phụ (propositon subordonnée) nầy thì nghe không ổn trong ngữ pháp tiếng Việt. Sử dụng chữ “thì” với Chúa quả là nghịch tai, biểu hiện một yêu sách hơn là ý cầu xin. Nếu có thể, nên chỉnh lại chữ “để” thay chữ “thì”: “Lạy Chúa, xin mở miệng lưỡi con ra, để con được cao rao những lời ngợi khen Chúa” có lẽ chuẩn và phù hợp hơn trong tiếng Việt. Khi tỏ ý mình rất ước ao được cao rao lời ngợi khen Chúa, nhưng miệng lưỡi loài người chúng con không đủ sức để làm việc đó, nên dùng thì là mất nghĩa. Cũng như Kinh Hãy Nhớ: “Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh MA-RI-A, là Mẹ rất nhơn từ, xin hãy nhớ…” Nghe sao cũng có vẻ mệnh lệnh quá. Đã qua 50 năm trời vẫn không sửa lại “…xin Mẹ nhớ” cho bớt giọng Tây của các Đấng Truyền Giáo vốn là người Tây. Chữ “hãy” trong tiếng Việt, tuyệt đối không bao giờ được phép sử dụng với Cha mẹ, Ông bà và các Cấp Bề Trên cả trong Đạo lẫn Đời như đã trình bày. Nếu một ai đến thỉnh nguyện Đức Cha, Cha Sở điều gì với lối nói đó, chắc sẽ bị “tiển khách” ngay, mà khỏi cần nghe cho hết câu và đủ nghĩa, sẽ không được đón nhận một sự thương hại nào!
Nếu không là điều xúc phạm, con dám xin HĐGM kiến trình lên Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin nghiên cứu, bỏ bớt những câu kinh thuộc quyền Tòa Thánh không chỉnh nghĩa. Chúng con cũng nghĩ rằng Đạo Binh Đức Mẹ nên tự động bỏ câu dạo đầu kinh Catena trước kinh Magnificat của Đức Mẹ, vì nghe không thích hợp, có vẻ ngây ngô, quê mùa và gây lo ra chia trí người biết suy nghĩ. Hoặc có thể cùng thống nhất chỉnh sửa một câu dạo đầu khác tương tự, hợp lý hơn. Giả dụ: “Kìa Bà nào đang tiến lên tỏa sáng hơn Rạng đông, đẹp hơn muôn vì tinh tú, rực rở hơn mọi công trình sáng tạo Càn khôn, uy hùng hơn các Đạo binh Triều thần Thiên quốc” chẳng hạng.
Trong những dịp Gẫm Đàng Thánh Giá, Giáo dân đọc rất lủng củng, không phân biệt được phải xưng con ở câu nào, và ở đâu phải xưng tôi. Thậm chí Giáo dân đã xưng “con” với tội khi được nhân cách hóa. Chặng thứ 3 đọan cúi cùng: “Lạy Chúa, bởi tội tôi làm cho Chúa phải thân tất tưởi thể ấy! Tội ôi! Từ nầy về sau ai còn tiếc mầy làm chi nữa, mà chẳng dứt bỏ mầy cho xa, cho đặng yêu mến Chúa tôi đã chịu gian nan mà cứu chuộc linh hồn tôi dường ấy!” Một số đọc theo sách. Đa số đọc theo tâm tình của mình đối với Chúa, không xưng tôi mà xưng con: “Lạy Chúa, bởi tội “con” làm cho Chúa…” Thì lẽ ra khi tỏ lộ sự bực tức với tội, họ phải xưng là Ta, là Tao đối với mầy, nhưng các Nhà Truyền Giáo cũng xưng tôi, và thuận miệng giáo dân hiện nay vẫn xưng là “con” luôn cho gọn:“…. Từ nầy về sau ai còn tiếc mầy làm chi nữa, mà chẳng dứt bỏ mầy cho xa, cho đặng yêu mến Chúa “con” đã chịu gian nan mà cứu chuộc linh hồn “con” dường ấy!” mà lẽ ra cũng không thể xưng tôi với tội lỗi theo ngữ pháp Tây Âu. Đã đọc chung, thì mấy ai kịp suy nghĩ để sửa: “… cho đặng yêu mến Chúa “tao” đã chịu gian nan mà cứu chuộc linh hồn “tao” dường ấy” cho đúng nghĩa Mầy và Tao?
Khi phải cầm sách đọc chung những kinh không thuộc lòng, sách in sao người ta đọc vậy. Một số đông có ý thức tâm tình suy niệm, đã tùy nghi sửa cách xưng hô, khiến kẻ xưng con, người xưng tôi lại trở thành lộn xộn. Ngay cả kinh Lạy Cha ai cũng đã thuộc lòng và mọi người đều xưng “chúng con”, nhưng trong các Thánh lễ ngày Thứ Ba, sau Chúa nhật I Mùa Chay, Thứ Năm, sau Chúa Nhật IX Thường Niên và Thứ Tư, sau Chúa Nhật XXVII, Thường Niên, đã có ít Cha Chủ Tế, trong đó có cả các Cha đương nhiệm Giáo Sư Đại Chủng Viện, cũng đã đọc Kinh Lạy Cha (Mat. VI: 9-13 ; Luc. XI: 2-4), đã xưng tôi y hệt như đã in trong sách theo bản dịch Phúc Âm cũ: “Lạy Cha chúng tôi… chúng tôi nguyện… Xin Cha cho chúng tôi…!” điều mà các ngài từng phiền hà Giáo Dân và cả các Thầy đã đọc kinh như con Két…
b) Kinh sách hiện nay không khan hiếm. Không kể các Hội Đoàn Cầu Nguyện, mỗi Giáo Phận, từng Giáo xứ, thậm chí cả xóm Đạo, vẫn có những bản kinh riêng rất là phong phú. Nên mỗi Nhà thờ đều có cách đọc kinh riêng biệt, Giáo dân các nơi đến, khó thể thông hiệp trong kinh nguyện kể cả nguyện ngắm Mầu Nhiệm khi lần hạt Chuỗi Mân-Côi, thì thật đáng buồn. Trong khi Sách Mục Lục là một quyển Kinh bình dân, súc tích và phổ biến khắp cả Giáo Hội Việt-Nam, chỉ có đôi danh từ địa phương, tạo vấp váp khi đọc chung với Bổn Đạo thuộc Giáo Phận khác, thường xảy ra tại các Trung Tâm Hành Hương. Mong được HGM xem xét cho hiệu đính – rất hạn chế – vài chữ Địa phương sai biệt, để trở thành một quyển Kinh Sách Thống Nhất cho toàn Cộng Đồng Dân Chúa Việt-Nam, nhất là điều chỉnh các Đại Từ Danh Xưng phù hợp ngữ nghĩa và tâm tình Văn Hóa Dân Tộc hơn.
Tìm hiểu thâm sâu, Kinh Nguyện trong Mục lục không hề xưa cũ, cục mịch, lỗi thời. Là những lời kinh thâm trầm sâu xa, súc tích hơn một số kinh mới được ra lò. Các Giáo Phận khác không rõ hết, nhưng riêng trong Mục Lục Giáo phận Quy-Nhơn còn có cả Phần Phụ Thêm, dạy phần cốt lõi về “Phép Rửa Tội”, “Thêm Sức”, “Giải Tội”, “Hôn Phối”, đặc biệt “Cách Giúp Kẻ Liệt”, “Cầu Dõi”, “Tẩm Liệm” và “An Táng”. Nếu được sử dụng thống nhất toàn quốc, đỡ bớt sự ngỡ ngàng cho người ngoài Giáo Phận.
Những kinh mới, xin sử dụng duy nhất một mẫu soạn thảo hoặc dịch thuật. Kinh Lần Hạt Lòng Chúa Thương Xót, cũng đã đôi ba mẫu khác nhau, đều được nhiều Đấng Bản Quyền Chuẩn Ấn (Imprimatur), đã trở nên lộn xộn trong các giờ kinh chung, mạnh ai nây đọc, nghe như chuồng vịt không bằng!
Để mọi vấn đề được đồng bộ trong Giáo Hội Việt-Nam, xin Hàng Giám Mục trao quyền thực tế cho mỗi Giám Mục Chủ Tịch từng Ủy Ban trong phạm vi trách nhiệm của mỗi Đấng. Cụ thể tất cả Kinh nguyện, xin nhường Quyền Chuẩn Ấn tuyệt đối cho Đức Giám Mục Chủ Tịch Ủy ban Phụng tự, chẳng hạn. Không một Đấng Bản Quyền nào Chuẩn ký vào phạm vi trách nhiệm cura Vi Chủ Tịch Ủy Ban, đã do chính các Đấng đã tự tay trao quyền. Kiểm tra lại các bản dịch Kinh Thánh thuộc quyền Ủy ban Thánh Kinh. Thánh Nhạc đã có Ủy ban Thánh nhạc. Về hình ảnh Thánh đã có Ủy ban Nghệ thuật Thánh v.v… Xin đừng dẵm chân lên nhau trong mọi phạm vi trách nhiệm. Tự đó đã khiến các Đức Giám Mục Chủ Tịch Ủy Ban chỉ là những Đấng Hữu Danh Vô Thực, nếu không nói là những hình thức trang trí, làm kiển, bù nhìn, chúng con xin lỗi, và vô bổ. Nếu thế thì mọi sinh hoạt trong Giáo Hội Việt-Nam sẽ “Vũ-Như-Cẫn”, không bao giờ đồng bộ, và mãi mãi còn nằm trong ý thức cục bộ, cá nhân. Lôi kéo tinh thần Công giáo ra khỏi tính hiệp thông đầy đủ, mà mặt ngoài tưởng chừng như đã Hợp nhất hoàn toàn! Trách nhiệm đó thuộc về các Đấng Bản Quyền, tiêu biểu là HGMVN.
Việc dạy Giáo Lý, cũng mỗi Giáo Phận một chương trình, một loại sách, thậm chí mỗi giáo xứ, mỗi Cha sở đều có công thức riêng. Không trách nào Cha nầy đến, xé bỏ Chứng Chỉ Cha kia cấp, vì không hợp với trình độ thông thái vượt bặc của cá nhân mình! Dám xin Đức Cha Chủ Tịch một Ủy Ban nào đó thuộc phạm vi trách nhiệm, tóm góp soạn thảo lại một quyển Giáo Lý chung cho cả nước. Không diễ giải dài dòng, chí có tính Toát Yếu thật ngắn gọn, cho học viên dex học thuộc lòng, xem như phần cốt lõi. Địa Phận Quy-Nhơn xưa đã có quyển “Thánh Giáo Yếu Lý” rất ngắn gọn, xuôi tai dễ nhớ, Giáo dân đều thuộc lòng. Việc diễn giải là phần hành của Thầy, Xơ, và các Giảng Viên Giáo Lý. Tất nhiên lớp đứng dạy Giáo Lý phải được qua khóa đào tạo chuyên sâu cùng một chương trình cho toàn Giáo Hội trong cả nước, không phân biệt Bắc, Trung, Nam. Không phân biệt thuộc Gp nầy hay Gp. Khác. Lúc đó Giáo Hội sẽ đi đến chỗ thống nhất và hiệp nhất thật sự cả tinh thần lẫn vật chất về mọi mặt, chứ không còn mang cái vỏ bề ngoài tưởng chừng như tất cả đã hoàn toàn là một (sunt unum omnes) chứ không phải ước gì chúng nên một (ut sint unum) như Chúa GIÊ-SU đã đặt kỳ vọng nơi Giáo Hội ta.
Nói chung, Kinh nguyện trong sách Mục Lục đều là những Áng văn Kiệt tác, vừa gọn nhẹ, súc tích, tâm tình sâu lắng, nếu đem gạn lọc so sánh, chỉ có một số rất ít mẫu kinh mới soạn thảo được sánh bằng, nhưng chưa kể sự đồng bộ của nó. Cách riêng, các Kinh trong Mục Lục, còn có nhiều chất liệu thi thơ xuất sắc, quả đúng là những Bài thơ bất hủ, những kiệt tác văn chương, vừa hùng hồn, vừa tha thiết, là những dòng Thơ Mới, Thơ Tự do nhạc thơ rất đầy âm tiết chuẩn định.
Cùng với công cuộc Truyền Giáo, các Thừa Sai đã nhanh chóng đưa làn gió văn hóa phương Tây vào Việt-Nam. Các Vị Thừa Sai thời đó, trong khi dịch thơ Tây phương, đã sáng tác một số bài thơ theo phong cách Châu Âu đương thời, không theo niêm luật Đường thơ và cho in thành tập, có lẽ đã mở đường cho các Phong Trào Thơ Mới manh nha chuyển hóa từ sau Thế Chiến thứ nhất.
Giới trẻ Tây học thời bấy giờ đã dần dần biến dạng từ lâu, khiến đến PHAN-KHÔI, HOÀNG-NGỌC-PHÁCH, NGUYỄN-VĂN-VĨNH, TRỊNH-ĐÌNH-RƯ… cũng bị ảnh hưởng văn hóa Pháp, họ đã hun đúc nên một Nhà Cách Mạng Thơ Mới tiêu biểu rõ nét là Thi Nhân HÀN-MẠC-TỬ. Chưa hẳn ngày nay đã có mấy bài thơ tả được cảnh oai hùng ngang bằng các bản Kinh văn vận trong Mục Lục xưa của ngày Thẫm Phán:
“Thương ôi!
“Đến ngày Chúa nổi cơn thạnh nộ;
“Ngọn cờ Vua Cả phút trương ra;
“Thánh Giá nhiệm mầu rực rỡ,
“Bổng chốc thế gian ra tro mạt.
“Ấy sự rất nên khủng khiếp, là khi Quan xẻt ngự trường……
“Loa thần kíp giục,
“Tiếng lạ nổi rân,
“Thấu mồ mả muôn dân,
“Bắt tựu trường phán xét…….”
Hoặc:
“Ớ Ngọn Cờ chói lòa rực rỡ,
“Vua Trời Đất kéo lên làm lịnh,
“Là ý nhiệm thẳm sâu cao trọng,
“Thánh Giá bày tỏ trước mặt ta……
“Ấy lời ca Đa-Vít Thánh Vương,
“Phán tiên tri rằng đà ứng nghiệm,
“Người rằng sau các dân dấy loạn,
“Dùng khổ hình giết Đấng Chí Tôn.
“Nay Thánh Giá hóa nên của quới,
“Làm ngai ngự Chúa trị càn khôn.
“A Thánh giá quới trọng tốt lành,
“Thật là cây bửu châu chí thánh,
“Đã dầm nhuốm sắc điều rực rỡ,
“Là bửu huyết Vua cả Thiên đàng.
“Ớ cây cao trọng khôn lường,
“Trong trái đất cây nào dám ví!......”
Cũng như cảnh oai nghi khi Ba Vua triều kiến:
“Kiểng tinh vừa lố rạng,
“Cứu Thế mới ra đời,
“Nhiều thuở châu trầm ngồi ngóng Chúa,
“Đông phương bạc lễ tới xưng tôi,
“Thi ân nhuần trăm họ,
“Giảng phước gội muôn loài…”
Thơ xưa mà hay đến thế, đã kém gì họ HÀN thời danh vào giữa Thế kỷ XX:
“Như song lộc triều nguyên ơn phước cả!
“Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng,………
“Và Tổng lãnh Thiên thần quỳ lạy Mẹ,
“Tung hô câu đường hạ ngớp châu sa,
“Hương xông lên lời ca ngợi sum hòa,
“Trí miêu duệ của muôn vì rất thánh.
“Ma-ri-a! Linh hồn con (nguyên văn là tôi) ớn lạnh!
“Run như run thần tử thấy long nhan,
“Run như run hơi thở chạm tơ vàng……..
“Bút con reo như châu ngọc đền vua,
“Trí con hớp bao nhiêu là khí vị…
“Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí,
“Và trong tay nắm một nạm hào quang…
“Con ưa nhìn Bắc đẩu rạng bình minh
“Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới……..
“Người có nghe xôn xao muôn tinh tú?
“Người có nghe náo động cả muôn trời?…….”
Hầu hết các kinh trong Mục Lục, đều là lời kinh, ý nguyện, âm thơ như thế, không dễ có những bài kinh khác thế vào, thậm chí thơ mới hiện nay, đã có bao nhiêu bài vừa tự do vừa có giọng nhạc như thế?
c) Chầu Thánh Thể. Mình Thánh Chúa được đặt trong Hào quang cho Giáo hữu chầu trọng thể trong Nhà Thờ là một nghi thức tôn thờ Mình Thánh Chúa GIÊ-SU là nghi thức thờ phượng quan trong thứ hai sau Thánh Lễ. Đã được Giáo Hội đặt vào hàng cốt thiết trong phụng vụ. Tuy nhiên, dù rất hy hiếm, vẫn đã có hơn một Họ Đạo lớn, đông đúc Giáo Dân vào hàng nhất nhì trong nước, thì Cộng đồng Giáo dân hầu như không bao giờ biết chầu Mình Thánh Chúa trọng thể là gì, kể cả chưa bao giờ được Cha xứ mở cửa Nhà Tạm cho chầu chỉ một lần trong năm, mặc dù có cả Cha Chính và Phó xứ! Thậm chí Lễ Kính Mình Thánh Chúa, qua bao năm trời cũng không bao giờ được nghe nói đến. Năm 2004-2005 Tòa Thánh đã đặc biệt mở năm Thánh Thánh Thể, dành một năm tôn vinh Mình Thánh Chúa KI-TÔ, có những Giáo xứ đã đặt Mình Chúa suốt ngày, nhưng Giáo dân của chính Họ Đạo nầy cũng không hề bao giờ được chầu trọng thể Minh Thánh Chúa dù chỉ một lần, ngoài tấm bảng treo phát động năm Thánh Thể. Một hình thức trang trí, có vẻ mĩa mai hơn là đề cao nhắc nhỡ Giáo Dân tập trung tinh thần tôn thờ Thánh Thể! Chưa nói đến việc tổ chức Giờ Thánh vào mỗi Thứ Sáu Đầu Tháng, cơ hồ còn nói chi đến việc đặt Mình Thánh vào mỗi Chúa Nhật hàng tuần! Chỉ mỗi Tối Thứ Năm Tuần Thánh là lần duy nhất Giáo dân được chầu Cộng Đồng cách riêng biệt khi Chúa được chuyển sang một góc nhà thờ, tượng trưng cho Vườn Cây Dầu khi Chúa ẩn mình cầu nguyện!
d) Xin buộc những người cho rước lễ là Tu Sĩ hay Giáo Dân, khi trao Mình Chúa phải tuyên đọc trước từng người chịu Lễ: “Mình Thánh Chúa Ki-Tô”. Đã có Giáo Dân cho Rước Lễ không thèm đọc câu nầy, có người hỏi, được trả lời: “Đọc mỏi miệng lắm” (!). Nếu thế, Cha Xứ nên chọn người khác thay thế thì hơn. Trước ĐCĐ Vatican II, chỉ mỗi Vị Chủ Tế cho Rước Lễ mà thôi, nhưng phải đọc một câu dài: “Corpus Domini nostri Jesu Christi custodiat animam tuam in vitam æternam”. Người lãnh nhận phải trả lời “Amen” mới được trao Mình Chúa, nhưng các Ngài vẫn phải đọc và đã đọc đầy đủ cho cả nghìn người vào các ngày lễ trọng tại nơi đô thị, hoặc trung tâm hành hương, mà không ai được trao giúp!
Hiện tại người không Công-Giáo lên Rước Lễ đã trở thành phổ biến, nhất là tại các Khu Hành Hương, Đất Thánh, các Nhà thờ nơi Đô thị. Chúng con xin phép được dâng trình một ý kiến, nếu có thể được xin HĐGM thượng trình Tòa Thánh truyền buộc mọi người khi nghe lời tuyên đọc “Mình Thánh Chúa Ki-Tô”, người Rước Lễ “phải làm dấu Thánh Giá” cùng một lúc thưa “A-men” trước khi được đón nhận Mình Thánh Chúa. Ai không làm dấu được, hoặc làm dấu kiểu quơ quào không đúng, không nghiêm túc, người trao Mình Thánh sẽ từ chối, bỏ qua. Như thế, chắc chắn sẽ giảm được đến 99,9% sự xúc phạm đến phép Thánh Thể đã quá nhiều do người không Công Giáo vì vô tình, hay hữu ý!
|
Người con yêu dấu" đang Cùng Chúa Vào Đời Xin vui lòng liên lạc với |
|
||||||||


