CHƯƠNG II
DUNG MẠO CÁC CỘNG ĐOÀN KITÔ TIÊN KHỞI
TRONG TƯƠNG QUAN VỚI THÁNH PHAOLÔ
6. Gương mặt xă hội của các cộng đoàn kitô tiên khởi.
7. Tương quan giữa thánh Phaolô và tín hữu thuộc các cộng đoàn kitô tiên khởi.
8. Thương con cho roi cho vọt: phương pháp sư phạm của thánh Phaolô.
9. Phaolô, vị tông đồ gặp nhiều chống đối.
10. Con đường thập giá của thánh Phaolô.
ĐỀ TÀI 6.
GƯƠNG MẶT XĂ HỘI
CỦA CÁC CỘNG ĐOÀN KITÔ TIÊN KHỞI
Qua các thư của thánh Phaolô chúng ta biết được nhiều dữ kiện trong chiến thuật truyền giáo của thánh nhân. Chẳng hạn như chọn các thành phố làm căn cứ rao giảng Tin Mừng, thành lập các cộng đoàn và trung tâm hoạt động, để từ đó đi truyền giáo cho các vùng chung quanh. Nhưng liên quan tới gương mặt của các cộng đoàn này như: số tín hữu được bao nhiêu, họ thuộc các thành phần xă hội nào, cộng đoàn có các cơ cấu ra sao, tín hữu đă tham dự vào cuộc sống và sinh hoạt của thành phố như thế nào, chúng ta chỉ có được một ít tin tức vụn vặt và gián tiếp. Thật ra, các thư của thánh Phaolô chỉ chú ư tới các vấn đề ḷng tin và cuộc sống kitô, chứ không nhằm miêu tả cơ cấu xă hội của cộng đoàn. Sách Tông Đồ Công Vụ lại càng cung cấp cho chúng ta ít tin tức hơn về khía cạnh này, nếu không nói là không có ǵ.
Tuy nhiên, qua một vài nét chấm phá thu lượm được trong các thư của thánh Phaolô, người đọc cũng có thể h́nh dung ra phần nào gương mặt của cộng đoàn Kitô tiên khởi. Trước hết, nó là loại cộng đoàn ”tại gia”. Bởi v́ thánh Phaolô cho biết các tín hữu tụ tập nhau trong nhà của một người để cử hành nghi thức bẻ bánh tức bí tích Thánh Thể, cầu nguyện chung với nhau và nghe giảng dậy. Trong chương 16 thư gửi tín hữu Roma, thánh nhân gửi gắm nữ Phó tế Phêbê cho cộng đoàn và xin họ giúp bà trong mọi việc, v́ bà đă là ân nhân của nhiều tin hữu và của chính thánh nhân. Phaolô cũng gửi lời chào thăm mọi cộng sự viên của ngài, đặc biệt là Prisca và Aquila, và giáo hội tụ họp trong nhà của hai người. Trong chương 16,19 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô thánh Phaolô cũng chuyển lời chào của các giáo hội Tiểu Á và giáo hội Roma tụ hop tại nhà Prisca và Aquila tới họ. Trong thư viết cho Philêmôn từ trong ngục, Phaolô cũng gửi lời chào giáo hội tụ họp tại nhà ông (Plm 2). Sở dĩ các Kitô hữu tiên khởi đă phải tụ tập nhau tại nhà một người, v́ sau khi xảy ra biến cố đoạn tuyệt giữa Do thái giáo và Kitô giáo, các Kitô hữu bị khai trừ khỏi hội đường do thái và không có chỗ hội họp và cầu nguyện nữa. Nếu nhà của một tín hữu đă đủ chỗ để đón tiếp các tín hữu, th́ chúng ta có thể kết luận rằng các cộng đoàn kitô tiên khởi đă chỉ là các nhóm nhỏ, nghĩa là một thứ ”giáo hội tại gia” thực sự.
Liên quan tới các thành phần cấu tạo Giáo Hội, bài viết về cộng đoàn Côrintô của học giả G. Theissen giúp chúng ta có một khái niệm đại cương. (Soziale Schichtung in der korinthischen Gemeinde. Ein Beitrag zur Soziologie des hellenistischen Urchristentum, ZNW 65 (1974) 232-272). Cộng đoàn Côrintô gồm hai thành phấn tín hữu: một số ít các anh chị em giầu, khá giả, và đa số c̣n lại là người nghèo. Chính thánh Phaolô cho chúng ta biết điều này khi viết trong chương 1,26 thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô: ”Anh chị em hăy suy tư về ơn gọi của anh chị em. Trong anh chị em không có nhiều người thông thái, và trên b́nh diện nhân loại, không có nhiều người quyền thế, cũng không có nhiều người thuộc hàng qúy tộc”. Trong cùng thư, ở chương 7, thánh nhân cho biết trong số các tín hữu có nhiều người là nô lệ. Và ngài khuyên mọi người cố gắng sống xứng đáng theo địa vị của ḿnh. Điều quan trọng duy nhất là mỗi người hăy tuân giữ giới răn của Chúa, c̣n chuyện là tín hữu do thái đă chịu cắt b́ hay là người không do thái không cắt b́, điều đó không quan trọng. Ai ở địa v́ nào lúc được Chúa kêu gọi, th́ cứ ở nguyên địa vị ấy. Bạn được Chúa gọi vào đạo khi c̣n là nô lệ ư? Đừng lo! Trái lại, ngay cả khi bạn có thể trờ thành người tự do đi nữa, hăy tận dụng điều kiện là nô lệ của ḿnh. Bởi kẻ đang làm nô lệ mà được Chúa gọi tức là được Chúa giải phóng. C̣n kẻ đang ở địa vị tự do mà được Chúa gọi vào đạo, th́ phải coi ḿnh là nô lệ của Chúa Kitô. Chúa Kitô đă chuộc anh chị em bằng gía rất cao, v́ thế đừng làm nô lệ người đời (1 Cr 7,17-24). Danh sách kitô hữu, như viết trong chương 16 thư gửi giáo đoàn Roma, cũng cho thấy nhiều Kitô hữu hồi đó là các anh chị em nô lệ. Nói chung, đa số Kitô hữu của Giáo Hội tiên khởi thuộc lớp người b́nh dân trong xă hội. Điều này cũng dễ hiểu, v́ Tin Mừng của Chúa Giêsu là Tin Mừng yêu thương và công bằng. Trước mặt Chúa mọi người đều là con cái, có cùng phẩm gía là h́nh ảnh của Chúa, do đó đều được trân trọng và qúy mến như nhau. Và đó qủa thật là Tin Mừng giải phóng đối với các anh chị em thuộc các giai tầng thấp kém bị khinh miệt và gánh chịu nhiều thiệt thời hơn trong xă hội loài người.
Một số tin tức khác cho chúng ta biết cơ cấu nội bộ của các cộng đoàn Kitô tiên khởi. Trong chương 5 thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica thánh Phaolô cho thấy trong cộng đoàn có một số vị lănh đạo. Thánh nhân khuyên tín hữu trọng kính và hết sức qúy mến các người đă từng khó nhọc v́ họ, hướng dẫn và dậy bảo họ trong con đường theo Chúa, cũng như lo lắng làm mọi việc v́ họ. Tiếp đến thánh nhân khuyên mọi người hăy biết răn bảo kẻ lười biếng, an ủi người nhát sợ, nâng đỡ người yếu đuối và nhin nhục mọi người, cũng như biết cẩn thận, không lấy ác báo ác, không trả thù kẻ khác, nhưng luôn luôn xây dựng và làm điều thiện cho nhau, luôn luôn vui vẻ, liên lỉ cầu nguyện, và cảm tạ Thiên Chúa trong mọi lúc. Và đặc biệt thánh nhân khuyên mọi người đừng dập tắt Chúa Thánh Thần, đừng khinh chê lời các ngôn sứ, nhưng hăy biết xem xét mọi sự, giữ lấy điều tốt và xa lánh điều xấu (1 Ts 5,12-22).
Trong chương 12,28 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô thánh Phaolô kê khai danh sách các đặc sủng Chúa ban cho tín hữu, trong đó có đặc sủng cai quản ”kybernêsis”. Các tông đồ đứng đầu, rồi tới các ngôn sứ, tiếp theo là các tiến sĩ, rồi các người làm được phép lạ, các người chữa được bệnh tật, sau đó là các người trợ giúp, các người quản lư, các kẻ nói được nhiều thứ tiếng và giải nghĩa các thứ tiếng ấy. Và mỗi người phải dùng đặc sủng Chúa ban riêng cho ḿnh để phục vụ toàn cộng đoàn. Trong cộng đoàn Philiphê th́ có các giám mục và các phó tế phục vụ. Trong chương 1,1 thư gửi tín hữu cộng đoàn này thánh Phaolô gửi lời chào tín hữu trước rồi mới tới các giám mục và các phó tế của Đức Kitô. Chương 16 thư gửi tín hữu Roma c̣n cho biết có một nữ phó tế là bà Phêbê, thuộc giáo đoàn Cencre, là hải cảng miền đông thành Côrintô (Rm 16,1).
Ngoài ra trong các thư thánh Phaolô cũng nhắc tên các cộng sự viên nam nữ đă cùng ngài ”đồng lao cộng khổ” trong công tác rao truyền Tin Mừng của Chúa. Chẳng hạn như bà Stêphania và gia đ́nh của bà (1 Cr 16,15-16), ông Philiphê Êpaphrodite (Pl 2,25), các cặp vợ chồng Prisca và Aquila (Rm 16,3-4) Andronico và Giunia (Rm 16,7), các phụ nữ khác như Maria, Trifena và Trifosa (Rm 16,6.12). Cứ theo đó chúng ta có thể nhận thấy công việc tổ chức các giáo đoàn do thánh Phaolô thành lập có tính cách rất tự do và dân chủ. Nghĩa là có sự tham gia tích cực của mọi Kitô hữu, không phân biệt tuổi tác và phái tính. Ai được Chúa Thánh Thần ban cho đặc sủng ǵ th́ dùng chính đặc sủng ấy để phục vụ và vun trồng cộng đoàn. Cũng chính v́ thế nên sau khi bàn về các ơn Chúa ban, thánh Phaolô viết trong chương 14,26 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô: ”Như vậy th́ phải làm ǵ thưa anh chị em? Khi anh chị em hội họp, th́ mỗi người có thể hát một bài thánh ca, mang tới một giáo huấn hay một mạc khải, nói các thứ tiếng hay giải thích: nhưng hăy làm mọi sự trong mục đích xây dựng cộng đoàn”. Tuy nhiên có điều chắc chắn là chính thánh Phaolô hướng dẫn các sinh hoạt của cộng đoàn.
Các phụ nữ cũng không bị loại trừ khỏi các sinh hoạt của cộng đoàn. Bởi v́ thánh Phaolô công nhận quyền của mọi tín hữu được phát biểu trong các buổi hội họp. Nếu thánh nhân có khuyên chị em phụ nữ là đội khăn che đầu khi tham dự các buổi hội họp, như viết trong chương 11 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, th́ đó là tập tục của các dân tộc địa phương chứ không phải do thánh nhân hay Giáo Hội áp đặt. Trong cùng chương khi khuyên các người làm vợ tùng phục chồng như Giáo hội tùng phục Chúa Giêsu là đầu, thánh Phaolo không có ư hạ gía phụ nữ, mà chỉ nhắc cho họ biết ơn gọi đặc thù của họ là được Thiên Chúa dựng nên để trở thành bản vị tương xứng với người nam. Văn bản chương 14,33-35 trong cùng thư ghi lại lập trường cấm phụ nữ phát biểu trong các buỗi họp, và dặn họ có muốn biết ǵ th́ hỏi chồng ở nhà chứ không nên nói giữa công chúng, bị nhiều học giả cho là do người khác thêm vào sau này, chứ không phản ánh lập trường của thánh Phaolo (H.Conzelmann,Der erste Brief an die Korinther, Goettingen 1972, 289-290;G. Dautzenberg,Urchristliche Prophetie. Ihre Erforschung, ihre Voraussetzungen im Judentum und ihre Struktur im ersten Korintherbrief, Stuttgart 1975, 257-273). Dù sao đi nữa, nó cũng mang nặng ảnh hưởng tâm thức ”trọng nam khinh nữ” của xă hội Do thái. Và dĩ nhiên là thánh Phaolô cũng vẫn c̣n bị ít nhiều ảnh hưởng đó. Mặc dù trong chương 3,28 thư gửi giáo đoàn Galát, thánh nhân nhấn mạnh rằng sự khác biệt phái tính không quan trọng.Trên b́nh diện lịch sử - cứu độ là nam hay là nữ cũng như nhau trong ”Chúa Giêsu Kitô”.
Trên b́nh diện dân sự các Kitô hữu vẫn có các quyền và bổn phận công dân mà họ phải tuân giữ không phải v́ sợ bị phạt, nhưng với ư thức cao độ là góp phần vào việc củng cố trật tự xă hội và công ích. Trong chương 13 thư gửi tín hữu Roma thánh Phaolô khuyên tín hữu tuân phục các giới chức chính quyền, sống liêm chính, ngay thẳng và đóng thuế cho theo luật lệ quốc gia. Dĩ nhiên là họ không được tham dự các lễ nghi cúng tế công cộng, v́ như thế là phạm tội tôn thờ các thần linh, như thánh Phaolo khuyên nhủ trong chương 10,14-22 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô.
ĐỀ TÀI 7
TƯƠNG QUAN GIỮA THÁNH PHAOLO
VÀ TÍN HỮU THUỘC CÁC CỘNG ĐOÀN KITÔ TIÊN KHỞI
Khi đề cập tới gương mặt và cuộc đời thánh Phaolô, chúng ta không thể bỏ qua liên hệ giữa thánh nhân và tín hữu thuộc các cộng đoàn Kitô tiên khởi, do chính ngài thành lập và nhọc công vun trồng. Nhiều văn bản trong các thư chứng minh cho thấy thánh nhân là một vị chủ chăn rất nhậy cảm và đầy nhiệt huyết. Chẳng hạn khi chứng minh cho tín hữu Côrintô thấy tích chất trung thực trong sứ mệnh thừa tác của ngài để chống lại các người vu khống chống đối ngài, thánh Phaolô đă bất đắc dĩ phải nói về những lao công khổ nhọc, những âu lo khắc khoải và cả những điêu đứng của ḿnh nữa. Thánh nhân viết trong chương 11 thư thứ hai gửi cho họ: ”Ngoài những cơ cực bề ngoài ấy, tôi c̣n phải ngày đêm lo lắng cho các giáo đoàn. Có ai yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối? Có ai sa ngă mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt? Nếu cần phải khoe khoang, th́ tôi chỉ khoe khoang về sự yếu hèn của tôi thôi” (2 Cr 11,28-30). Nghĩa là ngoài các hệ thống tư tưởng thần học sâu sắc, các thư cũng c̣n cho chúng ta thấy Phaolô là một chủ chăn đặc biệt có khả năng chia sẻ cuộc sống của các tín hữu, giầu nhân bản, biết duy tŕ các tương quan liên bản vị sâu sắc vững vàng, nhậy cảm đối với ḷng thương mến và t́nh bạn một đôi khi rất đam mê và gây hấn nữa.
Trong chương 2 thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica, Phaolô đă dùng h́nh ảnh cha mẹ để diễn tả các liên hệ của ngài và các cộng sự viên với tín hữu. Ngài gợi lại thời gian sống và hoạt động giữa họ với những lời lẽ cảm động như sau: ”Trong tư cách là tông đồ của Chúa, lẽ ra chúng tôi được quyền đ̣i hỏi anh chị em phải trọng đăi. Nhưng chúng tôi đă ăn ở khiêm tốn giữa anh chị em, như người mẹ săn sóc con ḿnh. Chúng tôi tha thiết yêu mến anh chị em. Chúng tôi không chỉ ước ao cống hiến cho anh chị em Tin Mừng của Chúa, mà c̣n muốn hiến dâng cả mạng sống chúng tôi cho anh chị em nữa. Chúng tôi đă vất vả khó nhọc thế nào chắc anh chị em c̣n nhớ. Đang lúc chúng tôi rao giảng Tin Mừng cho anh chị em, chúng tôi cũng đă phải làm việc ngày đêm, để không phải phiền lụy ai trong anh chị em. Có anh chị em và Thiên Chúa làm chứng đó. Chúng tôi đă ăn ở trước mặt anh chị em và các tín hữu một cách thánh thiện, công chính, không có ǵ đáng chê trách. Anh chị em cũng đă biết chúng tôi cư xử với mỗi người với t́nh cha con. Chúng tôi đă khuyên bảo, an ủi và đă nài xin anh chị em sống xứng đáng với Thiên Chúa, Đấng đă gọi anh chị em vào hưởng vinh quang trong Nước của Ngài” (1 Ts 2,8-12).
Liên hệ của thánh nhân với tín hữu cộng đoàn Côrintô đă thiết tha và khổ đau nhất. Nhưng ḷng thương mến sẽ luôn luôn là động lực thúc đẩy ngài, ngay cả khi có phải nghiêm nghị cảnh cáo họ đi nữa. Chẳng hạn ngài viết trong chương 2 thứ thứ hai gửi cho họ: ”Thật ra tôi đă viết những ḍng này cho anh chị em trong khổ đau, với tâm ḷng đầy âu lo và tràn trề nước mắt. Không phải để làm cho anh chị em buồn sầu, nhưng là để cho anh chị em biết t́nh yêu thương vô bờ của tôi đối với anh chi em” (2 Cr 2,4). Trong chương 11 cùng thư Phaolô so sánh ḿnh với một người làm mai mối, đă hứa hôn tín hữu Côrintô với Chúa Giêsu, nên ghen tương khi thấy họ phản bội Chúa Kitô là hôn phu của họ: ”Thật thế, đối với anh chị em tôi cảm thấy ghen tương như Thiên Chúa ghen tương. V́ tôi đă đính hôn anh chị em với một vị hôn phu duy nhất để giới thiệu anh chị em với Chúa Kitô như giới thiệu một trinh nữ thanh khiết” (2 Cr 11,2). Mọi h́nh ảnh ấy chứng minh cho thấy Phaolô yêu thương tín hữu thật t́nh và vô vị lợi. Do đó thánh nhân viết trong chương 12 cùng thư: ”Phần tôi, tôi sẵn ḷng tiêu dùng mọi thứ tôi có, và hoàn toàn tiêu hao chính ḿnh v́ anh chị em. Cho dù tôi có yêu mến anh chị em nhiều như thế mà anh chị em ít thương mến tôi, th́ thôi cũng không hệ ǵ đâu” (2 Cr 12,15).
Tuy nhiên, nói th́ nói thế, chứ thật t́nh Phaolô muốn rằng t́nh yêu thương ấy phải là t́nh yêu thương hai chiều. V́ vậy trong chương 6 thứ thứ hai gửi tín hữu Côrintô thánh nhân mới nhắn nhủ họ như sau: “Anh chị em Côrintô, chúng tôi đă thẳng thắn nói chuyện với anh chị em và con tim chúng tôi rộng mở, chứ không đóng kín hạn hẹp. Trái lại chính tâm ḷng của anh chị em hẹp ḥi. Hăy đáp trả lại sự rộng răi của chúng tôi. Tôi nói với anh chị em như nói với con cái, hăy rộng mở con tim cho chúng tôi” (2 Cr 6,11-13). Riêng đối với tín hữu Galát, thánh Phaolô đă cảm động nhắc lại sự tiếp đón quảng đại chân t́nh mà họ đă dành cho ngài trước đây. Lần đầu tiên khi tới rao giảng Tin Mừng cho họ, dù thánh nhân ốm yếu bệnh hoạn, họ cũng không khinh chê hay từ chối, trái lại đă tiếp nhận ngài như thiên sứ Chúa gửi tới để loan báo sự thật cứu độ cho họ. Họ đă thương mến Phaolô tới độ giá có phải móc mắt mà cho ngài, họ cũng chẳng lưỡng lự. Thế mà giờ đây chỉ v́ thánh nhân cảnh cáo họ đừng mắc bẫy các người thù hằn và chống đối thánh nhân, muốn chiếm cảm t́nh của họ bằng cách chia rẽ các liên hệ tốt đẹp giữa họ và thánh nhân, mà họ thay ḷng đổi dạ, coi người đă loan báo Tin Vui cứu độ cho họ như thù địch. Thật chẳng c̣n ǵ đau đớn hơn như Phaolô viết trong chương 4,13-17.
T́nh thương mến đối với tín hữu cũng khiến cho Phaolô sung sướng khi biết rằng họ sống ḷng tin kiên vững và vẫn thương nhớ ngài. Trong chương 3 thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica thánh nhân viết: ”Giờ đây Timôtêô đă từ giă anh chị em mà trở về với chúng tôi, và đem tin vui liên quan tới ḷng tin và ḷng mến của anh chị em, cũng như cho chúng tôi biết rằng anh chị em nhớ và ước mong gặp lại chúng tôi cũng như chúng tôi mong ước gặp lại anh chị em”. Với tín hữu Côrintô Phaolô khen ngợi họ đă nhớ tới ngài trong mọi trường hợp và duy tŕ các truyền thống ḷng tin như ngài đă thông truyền cho họ (1 Cr 11,2).
Sau cùng ḷng thương mến hiệp thông ấy được tỏ hiện ra trong các lời nguyện mà thánh Phaolô hằng dâng lên Thiên Chúa để khẩn cầu cho các cộng đoàn tín hữu do ngài thành lập. Chính Phaolô cho tín hữu biết điều đó trong các thư gửi cho họ. Điển h́nh như trong chương 3 thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica, chương 1 thư gửi giáo đoàn Roma và chương 1 thư gửi tín hữu Philiphê (1 Ts 3,12-13; Rm 1,9-10; Pl 1,4). Thánh nhân cũng thường xin họ nhớ tới ngài trong lời cầu (1 Ts 5,25; 2 Cr 1,11; Rm 15,30-32). Chẳng hạn vào cuối chương 15 thư gửi giáo đoàn Roma Phaolô viết: ”Nhân danh Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta và nhân danh Chúa Thánh Thần là nguồn yêu thương, tôi nài xin anh chị em cùng chiến đấu với tôi qua lời cầu, mà anh chị em dâng lên Thiên Chúa để khẩn cầu cho tôi, để tôi thoát khỏi tay các kẻ bất tín vùng Giuđê và để cho tín hữu Giêrusalem vui ḷng chấp nhận đồ cứu trợ tôi đem tới cho họ” (Rm 15,30-31).
Có thể nói Phaolô chẳng yên tâm khi phải rời xa các tín hữu của Ngài. V́ thế nên thánh nhân luôn luôn muốn nhận được tin tức của họ, để biết rằng mọi chuyện trong cộng đoàn xuôi chảy và đồng thời cũng là để được an ủi v́ t́nh liên đới của họ. Do đó Phaolô gửi các cộng sự viên thay ngài thăm viếng các tín hữu. Trong lúc lưu lại Côrintô, thánh nhân lo lắng cho số phận của tín hữu Thêxalônica, mà ngài đă phải vội vàng rời bỏ v́ người do thái tại đây t́m mọi cách gây khó dễ và truy nă ngài. Do đó Phaolô vẫn canh cánh bên ḷng không yên. Đă mấy lần thánh nhân muốn tới thăm họ, nhưng Satan cứ gây cản trở. Sau cùng không tŕ hoăn được nữa Phaolô mới cử Timôtêô đến thăm họ và củng cố ḷng tin của họ trong hoàn cảnh khó khăn này (1 Ts 2,13-3,1). Khi Timôtêô trở về và đem tin vui, thánh nhân nói ngài vui sống v́ thấy tín hữu Texalonica đứng vững trong Chúa, và cảm tạ Chúa vô vàn (1 Ts 3,8). Đó cũng đă là tâm t́nh của Phaolô đối với cộng đoàn Côrintô, khi thánh nhân được gặp Titô ở Maxêđônia và được ông cho biết tin hữu Côrintô mong nhớ thương mến và trọng kính ngài (2 Cr 2,12-23; 7,5-16). Và thánh nhân sung sướng kết luận lá thư thứ hai viết cho họ với niềm vui sướng có thể tin cậy nơi họ,như ta có thể đọc trong chương 7,16 thư thứ hai gửi giáo đoàn Côrintô.
Trong các liên hệ cụ thể với tín hữu các cộng đoàn, thánh Phaolô theo một nguyên tắc bất di bất dịch, khiến không ai có thể trách cứ thánh nhân. Đó là không phải cộng đoàn tín hữu phải phụng sự thánh nhân, mà chính thánh nhân phụng sự cộng đoàn. Tinh thần phụng sự này sẽ là tiêu chuẩn thánh nhân dùng để lột mặt nạ các người xấu bụng trong cuộc tranh luận với các tông đồ giả, và giúp các tín hữu mở mắt nhận ra đâu là sự thật và ai là những người yêu thương họ thực sự. Cũng nhân danh tinh thần đó thánh Phaolô chủ trương nguyên tắc ”tay làm hàm nhai”, làm việc như mọi người để sống, dù có vất vả và phải cố gắng nhiều, chứ thánh nhân không đ̣i buộc các tín hữu phải bỏ công bỏ của ra trợ giúp, mặc dù ngài có quyền làm điều đó và cho dù thói quen của các cộng đoàn thời ấy là có bổn phận đảm bảo cho các nhu cầu vật chất của các nhà truyền giáo. Nhưng tinh thần phục vụ hoàn toàn vô vị lợi ấy khiến cho thánh Phaolô là người hoàn toàn tự do trong việc loan báo Tin Mừng cứu độ, không bị ai và không bị điều ǵ hạn chế và điều kiện hóa.
ĐỀ TÀI 8.
”THƯƠNG CON CHO ROI CHO VỌT”:
PHƯƠNG PHÁP SƯ PHẠM CỦA THÁNH PHAOLÔ
Duyệt xét các tương quan của thánh Phaolô với tín hữu các cộng đoàn kitô tiên khởi do thánh nhân thành lập, chúng ta nhận thấy thánh nhân là một chủ chăn rất nhậy cảm và đầy nhiệt huyết. Thật vậy, Phaolô là một chủ chăn rất giầu nhân bản, có khả năng chia sẻ cuộc sống của các tín hữu và biết duy tŕ các tương quan liên bản vị sâu sắc vững vàng. Thánh nhân cũng là người hết mực yêu thương các tín hữu, yêu thương một cách vô vị lợi. Nhưng ngài cũng ước mong tín hữu đáp trả lại t́nh yêu thương ấy, bằng cách mở rộng tâm ḷng cho lời rao giảng của ngài và cho các cộng sự viên. Dù có đi bất cứ đâu, Phaolô cũng nhớ đến họ và t́m cách liên lạc để có tin tức của họ. Nếu không đến thăm họ được, Phaolô gửi các cộng sự viên của ngài tới thăm họ. Trong tương quan với các tín hữu thánh Phaolô và các cộng sự viên của ngài theo nguyên tắc tự làm việc để mưu sinh, chứ không trở thành gánh nặng cho bất cứ ai. Do đó thánh nhân rất tự do và không bị một ai hoặc bất cứ ǵ điều kiện hóa trong công việc rao truyền Lời Chúa. Bằng chứng là khi cần thánh Phaolô đă theo nguyên tắc sư phạm ngàn đời ”thương con cho roi cho vọt”. Ngài không ngần ngại cảnh cáo, sửa dậy các tín hữu với lời lẽ rất cứng rắn.
Trước t́nh trạng tín hữu Côrintô mắc bẫy một số người âm mưu chia rẽ cộng đoàn, hợp bè kéo cánh, người theo Phaolô, kẻ ủng hộ Apôllô người khác nữa pḥ Kêpha, thánh nhân nhắc nhớ cho họ biết rằng chỉ có Chúa Kitô là nền móng duy nhất của căn nhà đức tin, mà mỗi tín hữu phải cố công xây cất cho ḿnh. Trên cùng một nền móng duy nhất người ta có thể xây nhà bằng vàng, bằng bạc, bằng đá qúy, bằng rơm rạ. Và mỗi một tín hữu đều là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Đồng thời thánh Phaolô cũng nhắc cho mọi người biết rằng chỉ có Chúa Giêsu Kitô là nền tảng duy nhất của toàn Giáo Hội. Và thánh nhân kết luận chương 3 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô như sau: ”V́ vậy, đừng ai khoe ḿnh trước mặt người đời. Mọi sự đều thuộc về anh chị em. Phaolô, Apôllô, Kêpha, thế gian, sự sống, sự chết, hiện tại , tương lai, tất cả là của anh chị em. Nhưng chính anh chị em th́ thuộc về Đức Kitô và Đức Kitô th́ thuộc về Thiên Chúa”.
Nói cách khác thánh Phaolô nghiêm khắc cảnh cáo các tín hữu đừng mắc mưu những người muốn đánh phá Giáo Hội bằng cách gây chia rẽ và tạo ra tâm thức mặc cảm, so sánh, tị hiềm, cạnh tranh, nghi ngờ, kéo bè kết đảng giữa các thành phần Giáo Hội, giữa các chủ chăn với nhau, giữa các tín hữu và các chủ chăn, giữa cộng đoàn này với cộng đoàn khác. Và mưu chước đánh phá Giáo Hội cổ điển bằng cách chia rẽ, phân tán mỏng, tạo xung khắc và tị hiềm, tạo tâm thức cục bộ, tự ti hay tự tôn mặc cảm, tạo tâm thức tranh giành quyền bính và ảnh hưởng, vẫn luôn luôn là chước độc mưu thâm của mọi lực lượng muốn triệt hạ Giáo Hội thuộc mọi thời đại, xưa cũng như nay.Muốn khỏi rơi vào cạm bẫy ấy mọi tín hữu và đặc biệt là các chủ chăn phải hiểu và xác tín rằng Giáo Hội là của tất cả, chứ không phải chỉ là của miền này miền nọ trong một nước, và mọi thành phần Giáo Hội con dân của cùng một nước, dù có sống ở đâu trong nước hay ngoài nước th́ cũng là con cái của cùng một Giáo Hội mẹ, cần được kết nạp, huy động để tận dụng tối đa mọi khả năng tinh thần cũng như vật chất hầu xây dựng và vun trồng Giáo Hội ngày càng phong phú, vững mạnh và trưởng thành hơn, chứ không phải chỉ vị lănh đạo này hay lớp người nọ, ở trong hoặc người ở ngoài mới là lực lượng chính hay lực lượng phụ xây dựng Giáo Hội. Nghĩ như thế là rơi vào bẫy sập chia rẽ của những người chủ trương đánh phá Giáo Hội.
Riêng đối với tín hữu Côrintô, thánh Phaolô cho họ hiểu rằng nếu thánh nhân và các cộng sự viên của ngài có làm mọi sự để lôi kéo họ, th́ không phải là để khống chế hay chiếm đoạt họ, mà là để đưa họ tới với Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng của Chúa, cộng tác với ơn thánh Chúa để niềm vui phát xuất từ đức tin của họ được trọn vẹn, như thánh nhân khẳng định trong chương 1,24 thư thứ hai gửi cho họ. Trong chương 4,5 cùng thư Phaolô minh xác với tín hữu Côrintô như sau: ”Thật vậy, chúng tôi không rao giảng về chúng tôi, nhưng rao giảng Chúa Giêsu Kitô là Chúa, và chúng tôi chỉ là đầy tớ của anh chị em v́ ḷng mến Chúa Kitô”. Cũng v́ ư thức được ḿnh chỉ là đầy tớ của các tín hữu v́ ḷng mến Chúa Kitô, nên thánh Phaolô từ chối phô trương các khả năng đặc sủng ngài có, mà chọn các phương cách tầm thường hơn, nhưng cũng hữu hiệu hơn để giúp tín hữu tăng trưởng trong ḷng tin. Trong chương 14 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, Phaolô thành thật nói lên điều đó: ”Tạ ơn Chúa, tôi nói được nhiều thứ tiếng hơn anh chị em. Nhưng khi cộng đoàn tụ họp nhau, tôi thích nói năm ba lời dễ hiểu để dậy dỗ cả các anh chị em khác, hơn là nói một vạn lời như là người thông thạo các thứ tiếng” (1 Cr 14,18-19). Nghĩa là thánh nhân không nhằm gây kinh ngạc và thán phục nơi người nghe, mà mà chỉ muốn thuyết phục họ tin vào Tin Mừng (2 Cr 5,11). Mà để đựơc như thế th́ cần phải hiểu biết tŕnh độ trí tuệ, tâm thức và nhu cầu của người nghe. Đối với các anh chị em b́nh dân, thuộc lớp lao động hay nông dân chân lấm tay bùn, th́ cần phải dùng thứ ngôn ngữ h́nh ảnh và tư tưởng rơ ràng đơn sơ, mới có thể chuyển đạt Tin Mừng của Chúa tới họ một cách hữu hiệu được.
Ngoài ra, trong khoa sư phạm rao truyền Tin Mừng này, thay v́ ra lệnh, sai khiến, thánh Phaolô luôn luôn khích lệ, thúc đẩy, nài xin và khuyên nhủ. Chẳng hạn trong thư gửi Philêmôn, thánh Phaolô nói dù ngài có quyền nhân danh Chúa Kitô truyền cho ông phải tiếp nhận Ônêsimô như là một người anh em trong đức tin, chứ không phải như một người đầy tớ đă trốn chủ, thánh nhân thích kêu gọi ḷng yêu thương của ông hơn (Plm 8-9). Khi kêu gọi tín hữu cộng đoàn Côrintô quảng đại rộng tay trợ giúp các Kitô hữu giáo đoàn mẹ Giêrusalem, thánh Phaolô nói ngài không ra lệnh cho họ, nhưng chỉ nhắc tới nhiệt tâm của các tin hữu khác để xem họ thành tâm trợ giúp các tín hữu nghèo túng tới mức nào (2 Cr 8,8). C̣n trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica thánh nhân nhắc nhớ cho họ biết ngài và các cộng sự viên truyền giáo đă cư xử với họ trong t́nh cha con. Các vị đă khuyên bảo, an ủi và nài xin họ sống xứng đáng với Thiên Chúa, Đấng đă gọi họ vào Nước của Ngài để hưởng vinh quang với Chúa (1 Ts 2,11-12).
Phaolô không chỉ nêu gương sống cho các tín hữu, mà c̣n khuyến khích họ noi gương sống của ngài. Trong chương 4 thư thứ nhất gửi tín hữu cộng đoàn Côrintô, thánh Phaolô khuyên họ biết thận trọng và khiêm tốn, không nên hấp tấp phán đoán ai và chia bè chia phái trong cộng đoàn. Ngài nhắn nhủ họ như sau: ”Thưa anh chị em, tôi đă áp dụng các điều trên đây vào tôi và Apôllô, v́ lợi ích cho anh chị em, để anh chị em theo gương chúng tôi, chớ vượt qúa điều đă ghi chép và chớ sinh kiêu ngạo theo phe này phản phe kia...Tôi viết như vậy không có ư làm cho anh chị em phải xấu hổ, mà để khuyên răn anh chị em như những người con thân yêu. Thật vậy, anh chị em có thể có một vạn thầy dậy trong Đức Kitô, nhưng anh chị em không có nhiều cha đâu. Chính tôi đây là kẻ đă nhờ Tin Mừng mà sinh ra anh chị em trong Đức Giêsu Kitô. Tôi nài xin anh chị em hăy bắt chước tôi” (1 Cr 4,6.14-16). Trong chương 3 thư gửi tín hữu Philiphê thánh Phaolô đă khẩn thiết kêu gọi họ như sau: ”Thưa anh chị em, xin anh chị em hăy bắt chước tôi. Hăy chú ư tới những người ăn ở theo gương mẫu chúng tôi đă để lại cho anh chị em” (Pl 3,17). Thánh Phaolô nói thế không phải để đề cao gương mặt của ngài hay các cộng sự viên của ngài, mà là để thôi thúc tín hữu biết lấy Chúa Kitô làm điểm tham chiếu duy nhất, và noi gương các ngài như các ngài đă noi gương sống của Chúa, như thánh nhân viết trong chương 11,1 thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô.
Tuy nhiên, khi cần phải cứng rắn quở trách, Phaolô cũng rất nặng lời với các tín hữu, đúng theo nguyên tắc ”thương con cho roi cho vọt”. Thánh nhân mắng tín hữu Galát là ”ngu đần dại dột”, v́ đă để cho những kitô hữu gốc do thái qúa khích lung lạc lôi kéo sống phản Tin Mừng tự do và giải phóng của Chúa Kitô. Nhờ ḷng tin vào Chúa Kitô chiu đóng đanh họ được giải phóng khỏi luật lệ, nhận được Chúa Thánh Thần và sống theo tinh thần của Tin Mừng tự do và giải phóng, nhưng giờ đây họ lại quay trở về với luật lệ nô lệ và sống theo xác thịt (Gl 3,1-3). Ngài cũng trách tín hữu Côrintô vốn khôn ngoan như thế, mà giờ đây cũng dại khờ để cho các kitô hữu gốc do thái qúa khích gây chia rẽ, hành hạ, xâu xé, bóc lột, cười chê và đánh tát, mà tỏ ra nhu nhược không dám phản ứng nhân danh Tin Mừng của Chúa Kitô (2 Cr 11,19-21). Phaolô cố ư nặng lời như thế với các tín hữu là để thức tỉnh họ đừng rơi vào mê hồn trận của những người phản bội tinh thần Tin Mừng của Chúa Kitô. Trong chương 4 thư thư nhất gửi tín hữu Côrintô thánh Phaolô c̣n đe là sẽ cầm roi đến thăm họ, nếu họ không hối lỗi sửa ḿnh (1 Cr 4,21).
Riêng đối với các người sống phản chứng và trở thành kẻ thù của Tin Mừng, đe dọa sự thật của Tin Mừng, nối giáo cho Satan đánh phá Giáo Hội Chúa, gây chia rẽ giữa ngài và các tín hữu, thánh Phaolô không ngần ngại mạt sát họ là ”đồ anh em giả dối” (2 Cr 11,26: Gl 2,4), là các ”tông đồ giả” (2 Cr 11,13) là ”các kẻ phục vụ Satan” (2 Cr 11,15) là ”những kẻ gây hoang mang rối loạn trong cộng đoàn” (Gl 5,13), là ”đồ chó” (Pl 3,2) và là ”kẻ thù của thập gía Chúa Kitô” (Pl 3,18), như chúng ta có thể đọc trong các chương 11 thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô, các chương 3 và 5 thư gửi tín hữu Galata và chương 3 thư gửi giáo đoàn Philiphê. T́nh yêu thương đối với các tín hữu khiến cho Phaolô trở thành đanh đá và có giọng sắt thép; bởi v́ ai đánh phá các cộng đoàn và gây chia rẽ lung lạc tín hữu là động đến chính con người của ngài, là làm ô uế đền thờ của Thiên Chúa, mà thánh nhân là người nhọc công xây dựng trên sứ điệp Tin Mừng tinh tuyền của Chúa Giêsu Kitô bị đóng đanh (1 Cr 3,10-17).
ĐỀ TÀI 9
PHAOLÔ, VỊ TÔNG ĐỒ GẶP NHIỀU ĐỐI KHÁNG
Duyệt xét Kitô giáo thời khai sinh chúng ta nhận thấy quyền lănh đạo nằm trong tay của các môn đệ lịch sử của Đức Giêsu thành Nagiarét. Các vị này là những người đă được chính Chúa Giêsu tuyển chọn, đă chia sẻ cuộc sống của Chúa Giêsu và được Ngài hiện ra gặp gỡ sau ngày phục sinh. Do đó các vị có thể làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô, và tuyên xưng rằng ”Đấng bị đóng đanh đă sống lại” ( Mc 16,6). Nói cách khác, các môn đệ lịch sử của Đức Giêsu thành Nagiarét là những người có thể nối liền hiện tại với qúa khứ, có thể đảm bảo cho căn cước của Chúa Kitô phục sinh và Đức Giêsu lịch sử. Qua các vị, ḷng tin của tín hữu vào Chúa Kitô gắn liền với các biến cố và chứng tích lịch sử và được xây dựng vững vàng trên các biến cố lịch sử đó, chứ nó không phải là một giáo thuyết trừu tượng hay một thứ thần bí đạo đức vu vơ. Lời nói của các vị là lời của các người chứng trực tiếp. Nó đặt nền cho một sự chuyển tiếp định đoạt làm phát sinh ra Kitô giáo. Chuyển tiếp từ Đức Giêsu, Đấng loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, tức từ người đem sứ điệp, sang Đức Giêsu Đấng được loan báo, tức sang nội dung của sứ điệp. Trong nhóm nhỏ các tông đồ và môn đệ đó có gương mặt của Phêrô, tông đồ đầu tiên được Chúa Kitô phục sinh tự tỏ hiện ra, là nổi bật hơn cả. Tuy nhiên, trong cộng đoàn Giêrusalem tông đồ Gioan và đặc biệt tông đồ Giacôbê anh em họ của của Đức Giêsu, cũng là những người có địa vị quan trọng.
Là người măi sau này mới tin vào Chúa Giêsu, Phaolô không có được vinh dự ấy của các tông đồ, cũng không thể tự giới thiệu như là chứng nhân biến cố sống lại của Chúa Kitô. Trên b́nh diện pháp định thánh nhân lại c̣n lâm t́nh trạng què quặt hơn nữa, v́ đă từng là người bắt bớ đàn áp các Kitô hữu, nghĩa là có qúa khứ không trong sạch. Nhưng từ từ Phaolô trở thành một nhà truyền giáo có tầm mức, cừ khôi và vô địch. Nhưng các thành công trong việc rao truyền Tin Mừng của Phaolô và của các vị khác làm nảy sinh ra vấn đề tương quan giữa Phaolô với các tông đồ trong cộng đoàn Giêrusalem.
Nếu quan sát lời dẫn nhập các thư, qua đó Phaolô giới thiệu căn cước của ngài, chúng ta có thể nhận ra sự kiện này. Đó là trong lá thư đầu tiên viết giữa năm 50-51 thánh nhân chỉ ghi: ”Phaolô gửi cho tín hữu Thêxalônica” (1 Ts 1,1). Trái lại trong các thư sau đó, Phaolô cố ư nhấn mạnh rằng ngài là tông đồ. Và lời tự giới thiệu ḿnh là tông đồ ấy có sắc thái tranh luận. Chẳng hạn trong thư thứ nhất và thư thứ hai gửi giáo đoàn Côrintô Phaolô viết: ”Tôi là Phaolô được chọn làm tông đồ Đức Giêsu Kitô theo ư muốn của Thiên Chúa” (1 Cr 1,1; 2 Cr 1,1). Trong lời mở đầu thư gửi tín hữu Galát, ư thức là tông đồ ấy gia tăng rơ rệt: ”Tôi là Phaolô, được chọn làm tông đồ không bởi sáng kiến của loài người cũng không do trung gian của một người nào, mà là bởi Đức Giêsu Kitô và bởi Thiên Chúa Cha, Đấng đă cho Đức Giêsu Kitô sống lại từ vương quốc các kẻ chết” ( Gl 1,1). Và lời nhập đề thư gửi giáo đoàn Roma diễn tả trọn vẹn ư thức đó: ”Tôi là Phaolô nô lệ Đức Giêsu Kitô, được gọi làm tông đồ, được tuyển chọn để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa... Chính từ Ngài mà chúng tôi đă lănh nhận ơn thánh là tông đồ để dẫn đưa tất cả mọi người ngoại giáo tới chỗ tuân phục của ḷng tin, hầu vinh danh Ngài” (Rm 1,1.5). Lư do nào đă khiến cho Phaolô có ư thức là tông đồ của Chúa Giêsu Kitô như thế? Chúng ta đang sống giữa các năm 54-57, là thời gian có một số kitô hữu gốc do thái len lỏi vào các cộng đoàn Côrintô và Galát để gây chia rẽ, xáo trộn. Họ không chấp nhận Đức Giêsu Kitô chịu đóng đanh như trọng tâm của Tin Mừng và qúa khích chủ trương bắt các anh chị em kitô không do thái phải tuân giữ luật lệ do thái. Để đạt hai mục tiêu này họ t́m lôi kéo tín hữu các cộng đoàn này theo họ, bằng cách đặt điều vu khống và hạ uy tín của thánh Phaolô. Phaolô đă cương quyết phản ứng. Và trong trận chiến chống lại các kẻ bêu xấu ngài, thánh nhân đạt ư thức ḿnh là tông đồ của Chúa Kitô phục sinh. Chúng ta hăy theo tiến tŕnh triển nở của ư thức này.
Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô Phaolô tự biện hộ cho ḿnh bằng cách khẳng định với họ hai điều. Thứ nhất, thánh nhân không bị gạt bỏ ra khỏi số các tông đồ được Chúa Kitô phục sinh tự tỏ hiện ra, như các người kitô gốc do thái nói trên rêu rao. V́ kinh nghiệm gặp gỡ của ngài với Chúa Kitô phục sinh trên đường đến thành Damasco là bằng chứng cho thấy Chúa Kitô phục sinh cũng hiện ra với Phaolô. C̣n hơn thế nữa, Chúa Kitô phục sinh c̣n c̣n quật cho Phaolô té xuống đất và đánh mù mắt Phaolô nữa. Do đó biến cố hiện ra này cũng có gía trị như y như biến cố Chúa Kitô phục sinh hiện ra với các môn đệ lịch sử của Ngài vậy. Sau khi liệt kê những người đă được Chúa Kitô phục sinh hiện ra như: Phêrô, 12 Tông Đồ, 500 môn đệ, Giacôbê, tất cả các tông đồ, Phaolô viết tiếp trong chương 15,8 thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côritô: ”Sau cùng, Ngài cũng đă hiện ra với tôi là bào thai bị phá” ( 1 Cr 15,8). Trước đó trong chương 9,1 Phaolô đă hỏi các tín hữu: ”Tôi không phải là tông đồ hay sao? Hay có lẽ tôi đă không trông thấy Chúa Giêsu Chúa chúng ta hay sao?”. Và từ kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Kitô phục sinh trên đường Damasco, Phaolô khẳng định rằng dù là người bất xứng ngài cũng vẫn là tông đồ, được chính Chúa Kitô phục sinh hiện ra và tuyển chọn (1 Cr 15,9)
Lư do thứ hai khiến Phaolô xác tín ḿnh là tông đồ của Chúa Kitô, v́ ơn thánh Chúa ban và v́ ngài đă nỗ lực cộng tác với ơn thánh đó để làm cho ḷng tin và cuộc đời của Ngài sinh hoa trái phong phú. V́ thế Phaolô viết tiếp trong chương 15 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô: ”Nhưng sở dĩ tôi được như bây giờ chính là nhờ ơn thánh Chúa. Và ơn thánh của Ngài đă không vô hiệu trong tôi. Trái lại, tôi đă khó nhọc vất vả hơn tất cả mọi người khác. Nhưng không phải tôi, mà là ơn thánh Chúa ở trong tôi” (1 Cr 15,10). Chính các tín hữu Côrintô là bằng chứng sống động cho thấy Phaolo thật là tông đồ với tất cả mọi hiệu qủa của nó. V́ thế Phaolô viết trong chương 9 cùng thư: ”Anh chị em há lại không phải là công tŕnh của tôi trong Chúa sao? Nếu đối với các người khác tôi không phải là tông đồ, th́ ít nhất tôi chắc chắn là tông đồ đối với anh chị em. Thật ra chính anh chị em là dấu ấn chức vụ tông đồ của tôi trong Chúa”(1 Cr 9,1-2).Các sự kiện minh chứng cho thấy Phaolô được chọn làm tông đồ. Đây không phải là việc tấn phong theo thể chế, mà là một tấn phong đặc sủng.
Trong chương 3,2-3 thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô thánh Phaolô nói tuy ngài và các cộng sự viên không có thư giới thiệu là tông đồ như các Kitô hữu gốc do thái từ nơi khác tới đang đánh phá cộng đoàn, nhưng chính các tín hữu là thư ủy nhiệm của ngài và của các cộng sự viên. Một lá thư ủy nhiệm được viết trong con tim các tín hữu, được mọi người biết tới và đọc. Các tín hữu Côrintô rơ ràng là bức thư của Chúa Kitô, do thánh Phaolô và các cộng sự viên của ngài soạn thảo ra trong chức thừa tác. Nó không được viết bằng mực đen, mà được viết bằng Thánh Thần của Thiên Chúa hằng sống. Nó không được viết trên bảng đá, mà được viết trên con tim bằng thịt của các tín hữu (2 Cr 3,2-3).
Nhưng chưa hết, Phaolô c̣n phải đương đầu với một luận điệu khác nữa của các người kitô gốc do thái kể trên. Họ khoe khoang các kinh nghiệm đặc sủng ngoạn mục của họ, làm như thể họ giống ông Môsê từ núi Sinai xuống, mặt rạng ngời ánh sáng thiên linh (2 Cr 3.1-11). Do đó có lạ ǵ khi họ được các tín hữu trầm trồ thán phục và tin theo. C̣n Phaolô là con người nghèo nàn yếu đuối, làm sao lại có thể là người do Thiên Chúa toàn năng vinh hiển sai tới được? Phaolô không chối bỏ sự thật ngài là một người nghèo nàn yếu đuối. Nhưng thánh nhân nêu bật rằng chính sự nghèo nàn yếu đuối ấy là chứng tích minh xác cho chức vụ tông đồ của Ngài. Phaolô là vị tông đồ của Chúa Kitô bị đóng đanh, và chia sẻ cái bất lực nhục nhă của Đức Kitô bị đóng đanh. Nhưng chính lúc bất lực nhất lại là lúc Chúa Kitô cứu độ trần gian (2 Cr 13,3-4). Và cái luận lư ngược đời của thập gía đó ghi đậm dấu trên toàn cuộc đời của thánh nhân. Do đó Phaolô viết trong chương 12,10: ”Bởi v́ khi tôi yếu đuối, lại chính là lúc tôi mạnh mẽ”.
Sau cùng Phaolô c̣n phải đối phó với các chống đối do nhóm kitô hữu gốc do thái len lỏi vào giáo đoàn Galát gây ra. Họ cho rằng Tin Mừng tự do thánh nhân rao giảng không tinh tuyền, mà là kết qủa việc nghiền gẫm của trí khôn con người. Họ t́m hạ uy tín Phaolô bằng cách so sánh ngài với các tông đồ lănh đạo cộng đoàn Giêrusalem, đặc biệt với Phêrô. V́ thế trong chương 1 thư gửi tín hữu Galát, Phaolô khẳng định rằng: ”Thưa anh chị em tôi xin qủa quyết với anh chị em rằng Tin Mừng tôi rao giảng không phải của loài người đâu. Cũng không phải tôi đă nhận được hay học được của một người nào, mà là do chính Chúa Giêsu Kitô đă mạc khải cho tôi” (Gl 1,11-12). Không phải vị s? giả đảm bảo cho sự thật của sứ điệp Tin Mừng, mà chính sự thật của sứ điệp Tin Mừng đảm bảo cho tính chất đáng tin cậy của sứ giả. Do đó nếu lập trường của các kẻ chống đối thánh Phaolô thật sự là đúng, nghĩa là con người được ơn cứu độ qua việc tuân giữ luật lệ như họ chủ trương, th́ Chúa Kitô đă chết một cách vô ích (Gl 2,21). Nhưng sự thật không phải như vậy. Chính cái chết của Chúa Kitô đă trao ban ơn cứu rỗi cho con người chứ không phải luật lệ. V́ thế nhân danh luật lệ do thái để xa lánh các anh chị em kitô không do thái, như Phêrô đă làm v́ bị bọn người nói trên cám dỗ và gây áp lực, là sống trái với tinh thần Tin Mừng tự do của Chúa Kitô (Gl 2,11-14).
Tóm lại, thánh Phaolô là một tông đồ với đầy đủ danh nghĩa của từ tông đồ, nghĩa là người được Chúa Kitô phục sinh sai đi rao giảng Tin Mừng; bởi v́ Thiên Chúa Cha đă mạc khải cho thánh nhân biết mầu nhiệm của Chúa Giêsu Kitô Con Ngài, và đă trao cho thánh nhân sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại (Gl 1,15-16). Các thành qủa rực rỡ của công tác truyền giáo minh chứng cho sự thật này. Chính v́ thế trong chương 15 thư gửi tín hữu Roma Phaolô nói ngài có lư do để khoe khoang trong Chúa Kitô và trước mặt Thiên Chúa. V́ chính Chúa Kitô đă dùng ngài như dụng cụ được Chúa Thánh Thần hướng dẫn để đem Tin Mừng tự do và giải phóng tới cho mọi dân tộc ngoài do thái chưa biết Chúa. Do đó Phaolô không cần phải được các tông đồ lănh đạo cộng đoàn Giêrusalem tấn phong trên b́nh diện pháp chế (Gl 1,17). Phaolô cũng không về Giêrusalem để được xác định là tông đồ. Nhưng ngài về Giêrusalem để đối chiếu xác tín và nội dung lời rao giảng của ḿnh, bởi v́ thánh nhân xác tín rằng trước ngài đă có các vị khác là chứng nhân của Chúa Kitô phục sinh và là tông đồ rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô (Gl 2,9)
ĐỀ TÀI 10
CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ CỦA THÁNH PHAOLÔ
Khi đọc các thư của thánh Phaolô chúng ta có thể nhận ra một nét đặc thù khác trong cuộc sống của ngài. Đó là cuộc đời của thánh nhân là một con đường thập giá. Thật vậy, Phaolô không chỉ là vị tông đồ say mê thập giá Chúa Kitô và loan báo Chúa Kitô chịu đóng đanh, mà toàn cuộc sống của ngài cũng là một con đường thập gía.
Sau cuộc gặp gỡ đổi đời với Chúa Kitô phục sinh trên đường đến thành Damasco, và sau khi được Anania ban phép Rửa tội và nhận lấy Chúa Thánh Thần, Phaolô đă mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng tại đây. Nhưng thánh nhân gặp chống đối mănh liệt. Các người do thái âm mưu sát hại Phaolô. Họ cho canh gác cửa thành ngày đêm, cố ư không để cho Phaolô thoát nạn. Nhưng một đêm kia, các môn đệ đă bỏ Phaolô vào trong một cái thúng, rồi tḥng xuống ngoài tường thành. Nhờ thế Phaolô thoát chết, như Sách Tông Đồ Công Vụ tŕnh thuật trong chương 9,23-25. Trong chương 11 thư thứ hai viết cho tín hữu Côrintô Phaolô cũng nhắc lại biến cố này: ”Tại thành Damascô, quan châu trưởng của vua Areta đă cho canh gác thành, để mưu bắt tôi. Nhưng người ta đă cho tôi ngồi vào một chiếc thúng rồi tḥng dây qua cửa sổ theo tường thả xuống. Thế là tôi thoát khỏi tay ông” (2 Cr 11,32-33).
Trong chuyến truyền giáo tại châu Âu Phaolô cũng phải sống kinh nghiệm bị các người đồng hương do thái chống đối. Thánh nhân bị họ nhục mạ và hành hung tại Philiphê, như ngài kể lại cho tín hữu Thêxalônica trong chương 2 thư thứ nhất gửi cho họ. Chương 17 sách Công Vụ cũng thuật lại rằng khi tới Thêxalônica, Phaolô và Sila giảng trong hội đường do thái và thuyết phục được một số tín hữu do thái, cùng với nhiều người hy lạp và một số phụ nữ thượng lưu. Nhưng người do thái nổi giận thuê bọn du đăng ẩu đả và gây rối loạn trong dân chúng. Họ kéo nhau tới nhà ông Giason nhưng không thấy Phaolô và Sila đâu. Họ liền điệu Giason và một vài Kitô hữu ra trước giới hữu trách và vu khống cho họ là phá rối trị an. Trước tiếng gào thét của họ, giới chức thành phố bắt các kitô hữu phải trả tiền kư qũi để được tại ngoại. Trong khi đó các kitô hữu khác đưa Phaolô và Sila trốn khỏi Thêxalônica và tới Bêrêa. Tại đây Phaolô và Sila đă được tiếp đón tử tế. Hai người đă rao giảng Tin Mừng trong hội đường do thái và không gặp sự chống đối nào. Trái lại, đă có nhiều người do thái tin theo Chúa Giêsu Kitô. Nhưng khi người do thái Thêxalônica nghe biết như thế, họ liền kéo đến Bêrêa và xúi dục dân chúng nổi lên chống đối Phaolô. Các kitô hữu đă vội vă đem Phaolô xuống thuyền rời Bêrêa (Cv 17,1-15).
Tại Côrintô người do thái điệu Phaolô ra trước quan quyền lănh sự Galliônê, và tố cáo Phaolô là xúi dục dân chúng tôn thờ Thiên Chúa trái phép, như kể trong chương 18 sách Công Vụ (Cv 18,12-17). Sở dĩ các người đồng hương do thái đă không ngừng dùng mọi thủ đoạn bắt bớ Phaolô, v́ họ coi ngài là kẻ phản bội Do thái giáo và truyền thống của cha ông. Khi rao giảng Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng của Chúa, Phaolô tuyên bố ngày cáo chung của luật lệ Môshê và truyền thống tôn giáo của dân do thái. Do đó khi th́ họ xúi dục giới chức chính quyền địa phương gây khó dễ đối với Phaolô, khi khác họ trực tiếp đứng ra trừng phạt và áp dụng luật của hội đường do thái đối với Phaolô. Trong chương 11 thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô Phaolô kể cho họ nghe các h́nh phạt ngài đă phải chịu: bị đánh bằng gậy 5 lần, mỗi lần 39 gậy, bị quật bằng roi da có các ḥn ch́ 3 lần, và bị ném đá 1 lần. Không những thế họ lại c̣n đe dọa tới mạng sống của Phaolô nữa. V́ thế trong chương 15 thư gửi cho tín hữu Roma Phaolô xin mọi người cầu nguyện cho ngài thoát khỏi tay của người Giuđê, và để cho tiền cứu trợ ngài đem về Giêrusalem được kitô hữu tại đây chấp nhận (Rm 15,30-31). Tại Êphêxô Phaolô đă chỉ thoát chết trong gang tấc. Trong chương 1,8 thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô Phaolô chia sẻ với họ các khổ đau của Ngài và của các cộng sự viên như sau: ”Thưa anh chị em chúng tôi chẳng muốn dấu anh chị em thảm cảnh đă xảy ra cho chúng tôi bên vùng tiểu Á: chúng tôi đă bị áp bức qúa sức chịu đựng của chúng đến độ thất vọng không c̣n muốn sống nữa”. Từ trong ngục, Phaolô viết thư thăm tín hữu Philiphê. Xem ra thánh nhân không chắc có được trắng án hay không, nên ngài nói tới cái chết gần kề, và chuẩn bị tâm hồn cho ngày bị hành quyết (Pl 1.7.21-24; 2,17-18). Sách Tông Đồ Công Vụ cho chúng ta biết rằng Phaolô đă bị bắt tại Giêrusalem, bị giam tại đây rồi bị giải về Cesarea, và sau cùng bị giải về Roma. Và chúng ta biết chắc chắn là thánh nhân đă chịu tử đạo dưới thời hoàng đế Neron.
Tuy nhiên, những bắt bớ mà Phaolô phải chịu chỉ giống như một phần nổi nhỏ của tảng băng khổng lồ ch́m dưới mặt nước biển bắc cực. Nó che dấu cuộc đời ”ba ch́m, bẩy nổi, chín cái lênh đênh” và khổ đau trăm chiều của vị tông đồ dân ngoại, có một không hai trong lịch sử rao truyền Tin Mừng. Chính Phaolô đă cho tín hữu Côrintô biết điều đó trong chương 11 thư thứ hai gửi cho họ. Bất đắc dĩ Phaolô phải so sánh ḿnh với các tông đồ giả hiệu đang gây chia rẽ và đánh phá cộng đoàn Côrintô: ”Họ khoe họ là các thừa tác của Đức Kitô ư? Tôi sắp nói như người điên dại, tôi c̣n hơn họ, v́ trong lao nhọc: tôi hơn họ, trong tù tội: tôi hơn họ, bị đánh đập: tôi lại càng hơn họ, trong hiểm nguy mất mạng: đă nhiều phen! Tôi bị người do thái đánh tôi bằng gậy năm lần, mỗi lần 39 gậy. Tôi bị đánh bằng roi da 3 lần, bị ném đá một lần, bị đắm tầu 3 lần. Tôi đă qua một ngày một trên trên vực thẳm. Trong các chuyến hành tŕnh đi bộ tôi rất thường gặp hiểm nguy trên sông, hiểm nguy v́ cướp bóc, hiểm nguy v́ các người đồng hương, hiểm nguy v́ dân ngoại, hiểm nguy trong thành phố, hiểm nguy trong sa mạc, hiểm nguy trên biển cả, hiểm nguy v́ các anh em giả dối. Phải vất vả, lao nhọc, thường thức khuya dậy sớm chịu đói chịu khát, thường nhịn ăn nhịn uống, chịu rét mướt, trần trụi. Không kể mọi chuyện c̣n lại, tôi c̣n phải ngày ngày lo lắng cho các giáo đoàn nữa” (2 Cr 11,23-28).
Thêm vào đó là thái độ không hiểu biết của tín hữu Côrintô và chiến dịch vu khống bôi nhọ Phaolô do một số thừa sai Kitô gốc do thái xách động. Nhưng tín hữu Côrintô lại bỏ vị tông đồ ”chỉ biết tới Đức Giêsu Kitô chịu đóng đanh” (1 Cr 2,2), để chạy theo các bậc thầy hùng biện và sáng gía hơn (1 Cr 1,10-4,21). Họ đă giải thích sai thái độ của Phaolô, khi thấy thánh nhân khước từ quyền được đ̣i hỏi tín hữu chu cấp cho cuộc sống vật chất của ḿnh, mà lại lựa chọn tự lực cánh sinh, để không trở thành chướng ngại cho việc chấp nhận Tin Mừng (1 Cr 9,1 tt.; 2 Cr 12,13-15). Cuộc lạc quyên do Phaolô phát động để trợ giúp tín hữu giáo đoàn mẹ Giêrusalem cũng bị nghi ngờ xuyên tạc (2 Cr 8, 20; 12,16-18). Trong cộng đoàn Côrintô th́ nhóm các thừa sai xấu bụng nói trên phao đồn Phaolô là người không biết giữ lời hứa (2 Cr 1,12 tt.), có lời giảng dậy khó hiểu ( 2 Cr 4,4) không có khoa ăn nói hùng biện (2 Cr 11,6) và là người yếu đuối (2 Cr 10,1.10; 11,12). Đă vậy tín hữu Côrintô lại thụ động trước thái độ hiếu chiến của những người chống đối Phaolô, đến độ chính thánh nhân cũng than thở khi viết trong chương 11 thư thứ hai gửi cho họ: ”Thế mà anh chị em lại chịu đựng kẻ biến anh chị em thành nô lệ, xâu xé cắn nuốt, khai thác bóc lột, ngạo ngược và tát vào mặt anh chị em. Tôi thật xấu hổ nói lên điều này: chúng ta đă qúa nhu nhược” (2 Cr 11,20.21). Nhóm thừa sai kitô gốc do thái cực đoan c̣n đi tới chổ tổ chức các cuộc truyền giáo chống lại Phaolô trong các giáo đoàn Côrintô, Galát, và Philiphê nữa. Họ cho Phaolô không phải là tông đồ thật, v́ chỉ là người tập nghề và không được ủy quyền như họ.
Tuy gặp trăm ngàn nguy khó như thế, nhưng Phaolô và các cộng sự viên không đầu hàng bỏ cuộc. Trong thứ thứ hai gửi tín hữu Côrintô thánh nhân lập đi lập lại điệp khúc: ”Chúng tôi không nản ḷng” (2 Cr 4,1.6), ”Chúng tôi đầy can đảm” (2 Cr 5,6.8). C̣n hơn thế nữa, Phaolô cảm nghiệm được niềm vui sâu xa khi gặp bắt bớ thử thách và khổ đau v́ Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài. Trong thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô và trong thư gửi giáo đoàn Philiphê Phaolô nói với các tín hữu: ( 2”Con tim tôi được tràn đầy niềm an ủi và tôi tràn trề niềm vui trong mọi nỗi khổ đau của chúng tôi” Cr 7,4; 2 Cr 6,10; Pl 1,4.7.18; 2,17-18). Ai không hiểu có thể cho Phaolô là một người bệnh hoạn. Nhưng thật ra niềm vui của thánh nhân phát xuất từ xác tín các khổ đau phải chịu trong cuộc đời tông đồ khiến cho thánh nhân được chia sẻ thập gía của Chúa Giêsu Kitô. Các khổ đau của ngài cũng chính là các khổ đau của Chúa Kitô như thánh nhân viết trong chương 1,5 thư thứ hai gưỉ tín hữu Côrintô. Thánh nhân mang chính cái chết của Chúa Kitô trong thân thể ḿnh (2 Cr 4,10). Trong chương 6,17 thư gửi tín hữu Galát Phaolô viết: ”Tôi mang trong ḿnh tôi các thương tích của Chúa Giêsu”. Phaolô linh cảm rằng cái luận lư ngược ngạo của lịch sử cứu rỗi đang hiện thực trong chính cuộc sống của ngài: từ cái chết nảy sinh sự sống, từ hư không phát xuất ra mọi sự. Đây là lư do giải thích tại sao Phaolô lại viết cho tín hữu Côrintô trong chương 4,8-12 thư thứ hai gửi cho họ như sau: ”Bị đàn áp tứ bề nhưng chúng tôi không bị đè bẹp, bị lạc hướng nhưng không thất vọng, bị bách hại nhưng không bị bỏ rơi, bị đánh ngă nhưng không bị nghiền nát, chúng tôi thường xuyên mang trong thân xác ḿnh cái chết của Chúa Giêsu, để sự sống của Chúa Giêsu cũng được tỏ hiện ra trên thân xác chúng tôi như vậy...” (2 Cr 4,8-12). Chính qua sự yếu đuối của con người mà Thiên Chúa tỏ lộ quyền năng của Ngài, nên trong chương 12 cùng thư thánh nhân sung sướng khoe với tín hữu các sự yếu hèn của Ngài. V́ t́nh yêu đối với Chúa Kitô Phaolô vui chịu mọi đau khổ, xỉ nhục, mọi gian nan bắt bớ và cơ cực, bởi v́ chính khi cảm thấy yếu đuối là lúc thánh nhân mạnh mẽ (2 Cr 12,9-10). Chúa Kitô bị đóng đanh nhưng đă phục sinh, giờ đây sống lại trong thân xác của thánh nhân, và trong thân xác của mọi tín hữu, nhờ quyền năng của Thiên Chúa, như viết trong thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô chương 13,4.
Mầu nhiệm cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô mà Phaolô loan báo, chính thánh nhân đă sống trong cuộc đời tông đồ và cảm nghiệm thấm thía trên thân xác ngài. Nói cách khác cuộc sống chịu đóng đanh của Phaolô là chứng tá sống động hùng hồn cho Tin Mừng mà ngài rao giảng. Sự yếu đuối nhân loại được quyền năng tạo dựng của Thiên Chúa biến đổi trở thành thụ tạo mới. Cũng chính v́ thế nên khi thấy tín hữu Côrintô bị kiểu cách giải thích hiếu thắng khải hoàn của cuộc sống kitô lôi cuốn và làm lóe mắt, trong chương 4,9-13 thứ thứ nhất gửi cho họ, Phaolô nhắc họ đừng quên thập gía và đêm đen của ngày thứ sáu tuần thánh và mọi thử thách, bắt bớ, khổ đau mà họ cũng phải gánh chịu để được ơn cứu độ.