CHƯƠNG V
THƯ GỬI TÍN HỮU THEXALÔNICA I & II
25. Thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica
26. Gương mặt của giáo đoàn Thêxalônica
27. Kết cấu và nội dung thư I gửi Thêxalônica
28. Nội dung phần 2 thư thứ I gửi Thêxalônica
29. H́nh thức cũ, Tin Thần và Nội Dung mới
30. Tâm t́nh cảm tạ (Tx 1,2 – 10)
31. Sự tuyển chọn nhưng không
32. Cuộc sống thánh thiện và yêu thương huynh đệ
ĐỀ TÀI 25
THƯ THỨ NHẤT GỬI GIÁO ĐOÀN TÊXALÔNICA
Cho tới thời gian gần đây giới học giả Kinh Thánh Tân Ước đều tin rằng thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica là tài liệu cổ xưa nhất trong các tác phẩm của Kinh Thánh Tân Ước, bởi v́ nó được thánh Phaolô viết giữa các năm 50-51, tức 20 năm sau khi Đức Giêsu Kitô tử nạn và phục sinh. Tuy nhiên, nếu lập trường của học giả Jean Carmignac và John O'Callagan đúng, th́ giờ đây phải nói rằng Phúc Âm thánh Marcô, được biên soạn ra giữa các năm 43-50, là tác phẩm cổ xưa nhất trong Kinh Thánh Tân Ước. Dầu sao đi nữa, thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica cũng là một tài liệu và là một chứng từ vô cùng qúy gía, v́ nó cung cấp cho chúng ta các yếu tố gía trị giúp nhận ra một số đường nét chính trong gương mặt của các cộng đoàn kitô tiên khởi. Thật thế, thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica tuy gián tiếp cho biết tin tức liên quan đến giáo đoàn Thêxalônica, nhưng lại phản ánh một cách trực tiếp các kiểu cách diễn tả ṇng cốt của ḷng tin kitô thời đó. Nó cho thấy các tông đồ đă theo cùng một lược đồ loan báo Tin Mừng cứu độ trong Giáo Hội thời khai sinh, và việc tin nhận Tin Mừng cũng như gia nhập Giáo hội của các tín hữu đă dựa trên cùng một nền tảng các đ̣i buộc được xác định một lần cho luôn măi.
Ngoài ra, thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica c̣n cho thấy thánh Phaolô không tự giới thiệu ḿnh như là một bậc thầy, một sư phụ thành lập các tôn giáo hay trường phái triết lư, nhưng thánh nhân tự giới thiệu ḿnh như là người loan báo sứ điệp cứu độ. Tin Mừng cứu độ đó đă vang vọng lần đầu tiên tại Giêrusalem bằng tiếng Aramây, rồi được loan báo bằng tiếng Hy lạp tại Antiochia bên Siri, nơi thánh Phaolô đă trưởng thành trong ơn gọi kitô và truyền giáo của ngài.
Đàng khác, thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica cũng cho chúng ta thấy bản thảo đầu tiên, tuy chưa đầy đủ nhưng rất ư nghĩa, liên quan tới các đề tài thánh Phaolô sẽ bàn thảo và khai triển một cách sâu rộng sau này trong các thư của ngài. Do đó, khi so sánh một đề tài như được khai triển trong các thư, chúng ta có thể nhận ra tiến tŕnh phát triển trong tư tưởng sáng tạo và phong phú của thánh nhân trước các t́nh trạng sống và các vấn đề mới, thường xuyên nảy sinh ra trong cùng một cộng đoàn hay trong các cộng đoàn khác nhau. Thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica cũng cho thấy gương mặt của một Phaolô hăng say hướng về biến cố Chúa Kitô quang lâm, để kết thúc lịch sử thế giới hiện tại và khai mào lịch sử thế giới của cộng đoàn tương lai, trong đó loài người được sống kết hiệp với Thiên Chúa Cha và với Con của Ngài đă phục sinh. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau đó thánh nhân chuyển hướng tư tưởng: từ thái độ nôn nóng đợi chờ Phaolô nêu bật thái độ đúng đắn của ḷng tin kitô là sống tràn đầy giây phút hiện tại, trong đợi chờ, nhưng đồng thời và nhất là trong tin yêu phó thác. Khi biết sống tràn đầy hiện tại là tín hữu đă nếm hưởng được phần nào thực tại của ơn cứu độ mai sau rồi.
Dầu sao đi nữa, thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica cũng cho phép chúng ta nhận thấy thánh Phaolô luôn luôn chung nhịp với cuộc sống hồi hộp phấn khởi của cộng đoàn kitô, mà thánh nhân muốn đối thoại trong thư. Các thư của thánh nhân không phải là các tác phẩm được viết ra từ bàn giấy, xa cách với thực tại sống của các tín hữu, cũng không phải là các khảo luận trừu tượng của các tư tưởng gia sống lẻ loi trong thế giới riêng rẽ của ḿnh, mà là các trao đổi kinh nghiệm phong phú của ḷng tin với các nhân vật cụ thể, có các vấn đề, các âu lo khắc khoải, cần được giải quyết. Thật thế, tuy ở xa họ trong khôn gian, nhưng Phaolô đối thoại trực tiếp với các tín hữu. Cuộc đối thoại qua thư tín này tiếp tục các buổi giảng dậy diện đối diện trước đây, khi thánh nhân c̣n sống giữa họ, loan báo Tin Mừng cứu độ cho họ và dậy dỗ họ. Các từ ngữ cũng như kiểu cách diễn tả và giọng điệu đầm ấm trong các thư không cho phép chúng ta kết luận rằng các thư ngài viết tŕnh bầy các lư thuyết trừu tượng, lạnh lùng xa vắng. Trái lại, chúng chứng minh cho thấy tính chất cấp thời, và là ch́a khóa giúp chúng ta đọc hiểu và đi sâu vào cuộc sống của các tín hữu trong Giáo Hội kitô thời khai sinh. Phaolô sát cánh kề vai sống kinh nghiệm ḷng tin sốt dẻo đó với các tín hữu của ńnh, thuộc các nhóm thiểu số sống rải rác trong thế giới rộng lớn đa diện của một số thành phố lớn trong đế quốc Roma hồi thế kỷ thứ I.
Các tài liệu khác nhau, đặc biệt là sách Công Vụ, cho chúng ta biết cộng đoàn Thêxalônica đă khai sinh vào năm 50. Hồi đó Phaolô đă cùng Silvano và Timoteo vượt biên giới Tiểu Á vào giảng đạo tại vùng Macedonia thuộc đế quốc Roma. Để nêu bật tầm quan trọng sự hiện diện của đoàn truyền giáo từ Siri, tức vùng Tiểu Á, sang trao truyền Tin Mừng tại Macedonia, tức châu Âu, sách Công Vụ đă nhắc tới một thị kiến. Trong chương 16,9-10 thánh sử Luca kể lại rằng trong thị kiến Phaolô trông thấy một người vùng Macedonia mời thánh nhân đến rao truyền Tin Mừng cứu độ trong quê hương của ông. Phaolô coi đó là dấu chỉ Chúa muốn cho ngài đến truyền giáo trong vùng này. Thật ra, mọi chặng trong tiến tŕnh truyền giáo trên thế giới đều được Thiên Chúa hướng dẫn. Và thế là Phaolô cùng các bạn đồng hành sang Macedonia. Chỉ sau mấy ngày rao giảng các vị thành lập được một cộng đoàn nhỏ tại thành phố Philiphê, là thành phố lớn vùng Macedonia. Nhưng chẳng bao lâu sau đó Phaolô và các cộng sự viên phải rời thành phố này, v́ bị vu khống là gây rối loạn trong thành phố và truyền bá các thói tục chống lại người Roma. Hai vị bị bắt, bị đánh đ̣n và tống ngục, rồi sau đó được yêu cầu rời khỏi thành phố. Biến cố này được thánh Luca tường thuật tỉ mỉ trong chương 16,11-40 sách Công Vụ. Thánh Phaolô cũng nhắc tới trong chương 2,2 thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica.
Rời Philiphê, thánh Phaolô và các bạn đồng hành tới Thêxalônica, thủ phủ của vùng Macedonia. Thành phố này được tướng Cassandro thành lập hồi năm 315 trước Công nguyên, và lấy tên vợ là Thessalonike, tức em gái của Aláchxăng Đại Đế đặt cho thành phố mới. Kiểu cách tổ chức xă hội và chính trị tại Thêxalônica cũng giống như trong các thành phố hy lạp khác thời bấy giờ. Phải nói rằng Thêxalônica là trung tâm thương mại phồn thịnh bậc nhất hồi thế kỷ thứ I, v́ là thành phố cảng nằm cạnh bờ biển Egeo, và trên con lộ Egnatia, phía tây nối liền với Italia và phía đông nối liền với vùng Bosforo. Trên b́nh diện tôn giáo Thêxalônica nổi tiếng v́ sự hiện diện của nhiều tôn giáo khác nhau. Bên cạnh các thần của người Roma được chính quyền tôn sùng, c̣n có các thần địa phương của vùng Tracia và các tôn giáo huyền bí du nhập từ Ai Cập và Tiểu Á. Công tác truyền giáo của thánh Phaolô và các thừa sai gặt hái nhiều kết qủa trong thành phố lớn này. Các vị đặt nền cho một cộng đoàn kitô, như thánh Luca kể lại trong chương 17,14 sách Công Vụ, và thánh Phaolô nhắc lại cho tín hữu Thêxalônica biết trong chương 2,1-16 thư thứ nhất gửi cho họ. Tuy nhiên, thánh Phaolô và các cộng sự viên cũng không ở lại lâu trong cộng đoàn kitô mới thành lập, v́ gặp sự thù nghịch và sức chống đối mănh liệt, đặc biệt của cộng đoàn do thái sống tại đây (Cv 17,5-10).
Để có cớ vu khống Phaolô và các cộng sự viên, người do thái thuê bọn du đăng quấy phá và gây rối loạn trong thành phố, rồi xông tới nhà Giason tính bắt hai vị. Nhưng không t́m thấy các vị, họ nổi giận bắt Giason và điệu ông đến trước mặt chính quyền địa phương, vu khống cho tội gây náo động khắp thế giới và đến thành Thêxalônica để tiếp tục gây rối, chống đối sắc lệnh của nhà vua và tuyên truyền rằng có một vua khác là Giêsu. Sau khi bắt nộp tiền thế chân, giới lănh đạo trả tự do cho Giason và mấy tín hữu khác. Ngay trong đêm hôm đó, tín hữu cộng đoàn đưa Phaolô và Sila rời khỏi thành phố sang Berea. Thế là thánh Phaolô và cộng sự viên Sila bắt buộc phải bỏ giáo đoàn trẻ Thêxalônica mới thành lập. Tŕnh thuật truyền giáo trong sách Công Vụ chương 17,10-18,17 cho biết thánh Phaolô sang truyền giáo tại Berea, rồi Athènes và Côrintô. Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica thánh Phaolô cũng nhắc lại cho tín hữu biết người do thái đă theo sang Berea chống đối và quấy phá công cuộc truyền giáo, nên thánh nhân đành để Timôtêô và Sila ở lại đây, rồi một ḿnh đi Athènes và Côrintô rao giảng Tin Mừng.
V́ bất đắc dĩ phải rời giáo đoàn Thêxalônica trong t́nh trạng căng thẳng và khó khăn như thế, nên thánh Phaolô không an ḷng. Một mặt, các kitô hữu mới theo đạo bị các người do thái sách nhiễu (1 Ts 2,14), mặt khác, lại không có ai tiếp tục giảng giải giáo lư và giúp họ đào sâu sự hiểu biết và trưởng thành trong ḷng tin. Thánh Phaolô sợ các khó khăn thử thách khiến họ ngă ḷng bỏ đạo. Thánh nhân lại không thể tới thăm họ được, v́ bị Satan cản ngăn. Đây là kiểu nói quy ước. Thật ra, lư do chính là v́ thánh nhân bị nhóm do thái đối nghịch theo dơi rất sát, khó có thể qua mặt họ được. Do đó, từ Athènes thánh Phaolô mới gửi Timôtêô về thăm giáo đoàn thay ngài (1 Ts 3,1-2). Trong khi đó v́ không thành công trong công tác loan báo Tin Mừng tại Athènes, nên Phaolô và Silvano đă đi Côrintô. Chính tại đây thánh nhân gặp lại Timôtêô từ Thêxalônica trở về cho tin tức. Tín hữu giáo đoàn Thêxalônica chẳng những kiên tŕ trong ḷng tin, mà c̣n sống đạo mạnh mẽ nữa. Phaolô như người chết sống lại. Mọi âu lo khắc khoải đều tan biến hết, nhường chỗ cho niềm vui khôn tả. Thánh nhân cám tạ ơn Chúa vô vàn v́ đă ǵn giữ các tín hữu Thêxalônica. Thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica đă nảy sinh trong bối cảnh này.
ĐỀ TÀI 26
GƯƠNG MẶT CỦA GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Cùng với chương 17,1-10 sách Công Vụ, thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica là tài liệu qúy báu giúp chúng ta h́nh dung ra gương mặt của giáo đoàn trẻ Thêxalônica, mà thánh Phaolô đă phải từ giă, một thời gian ngắn sau khi thành lập. Chương 16,2 sách Công Vụ nói là sau ba tuần. Nhưng có lẽ thời gian lưu lại Thêxalônica đă lâu hơn, v́ chương 4,16 thư gửi tín hữu Philiphê cho chúng ta biết là thánh Phaolô và các cộng sự viên đă hai lần nhận được viện trợ từ Philiphê, là thành phố nằm cách Thêxalônica 150 cây số.
Trước hết, giáo đoàn Thêxalônica gồm các tín hữu không do thái theo Kitô giáo (1,9), nghĩa là một cộng đoàn khác với các cộng đoàn gồm các tín hữu gốc do thái theo Kitô giáo như cộng đoàn Giêrusalem và các cộng đoàn hỗn hợp gồm các anh chị em do thái và không do thái theo đạo, như trường hợp cộng đoàn Antiochia bên Siri. Các tín hữu Thêxalônica vừa tin nhận Thiên Chúa duy nhất như đă được tín hữu do thái tuyên xưng, vừa tin nhận Đức Giêsu Kitô Đấng đă chết và sống lại là Con của Ngài. Nghĩa là họ tin nhận tôn giáo độc thần và ḷng tin kitô (1,9-10). Ḷng tin vào Chúa Giêsu Kitô tử nạn và phục sinh được minh xác qua các công thức tuyên xưng ḷng tin được thánh Phaolô lập đi lập lại trong thư chẳng hạn như: ”Nếu Đức Giêsu đă chết và đă sống lại và chúng ta tin Ngài... ” (4,14), hay ”Ngài đă chết cho chúng ta... ”(5,10), hoặc ”... chờ đợi Con của Chúa từ trời xuống, Đấng Thiên Chúa đă cho sống lại từ kẻ chết” (1,10).
Tuy nhiên, trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica thánh Phaolô đă nhấn mạnh tới biến cố Chúa Kitô quang lâm để cứu rỗi các tín hữu. Chương 1,9-10 là kiểu tóm tắt kiểu cách rao giảng Tin Mừng chung trong thời Giáo hội khai sinh: ”Ai nấy đều nhắc tới cách thức anh chị em đă đón tiếp chúng tôi và thuật lại việc anh chị em đă mau mắn từ bỏ các tà thần để quay về thờ phượng Thiên Chúa hằng sống và chân thật như thế nào, cũng như đợi chờ Con của Ngài từ trời xuống, Đấng đă được Ngài cho sống lại từ kẻ chết, là Đức Giêsu Đấng giải thoát chúng ta khỏi cơn thịnh nộ gần kề”. Ở đây kinh nghiệm kitô được định nghĩa như là việc chờ đợi Chúa Giêsu trở lại vào ngày sau hết. Tín hữu hướng cái nh́n của minh về tương lai. Như thế có thể định nghĩa cuộc sống của tín hữu trong cộng đoàn Thêxalônica như là hy vọng vào ơn cứu độ mai sau. Trên thực tế họ đợi chờ Chúa Kitô từ trời xuống để đem họ lên theo về thế giới thiên linh của Thiên Chúa. Cũng chính v́ thế thánh Phaolô mới viết trong chương 4,16-17: ”V́ khi hiệu lệnh được ban ra, và tổng lănh thiên thần lên tiếng, cùng với tiếng kèn của Thiên Chúa trổi vang, th́ chính Chúa Kitô sẽ từ trời xuống: Khi đó những kẻ đă chết trong Chúa Kitô sẽ sống lại trước tiên. Tiếp đến là chúng ta, những người c̣n sống sót, chúng ta sẽ được cất nhắc lên với họ trên các tầng mây để gặp Chúa trên không trung và như thế chúng ta sẽ sống với Chúa luôn măi”.
Qua đó chúng ta nhận ra thái độ trông chờ nôn nóng thái qúa của tín hữu Thêxalônica. Mọi người đều nghĩ rằng biến cố Chúa Giêsu Kitô quang lâm rất gần kề, nên nhiều tín hữu, kể cả thánh Phaolô nữa cũng tin rằng ḿnh sẽ c̣n sống cho tới lúc ấy và tham dự vào biến cố cứu độ trọng đại này. Có thể họ đă nghĩ rằng v́ Chúa Giêsu Kitô đă phục sinh vinh hiển và chiến thắng cái chết, nên Ngài cũng sẽ miễn cho họ khỏi phải sống kinh nghiệm khủng khiếp này của cái chết. Cũng giống như ông Hênốc, tổ phụ thời tiền lụt hồng thủy và ngôn sứ Elia, là những người đă được Thiên Chúa ban ơn đặc biệt cho trực tiếp bước vào thế giới thiên quốc, mà không phải sống kinh nghiệm cái chết và sự rữa nát của thân xác (St 5,24; 2 V 2,1-11), các kitô hữu Thêxalônica nghĩ rằng họ cũng sẽ được trực tiếp từ trần gian bước vào căn nhà trên trời. Ơn cứu rỗi chính là sự kiện được bước vào cuộc sống hạnh phúc thiên quốc ấy. Và đó là nỗi niềm mong ước nồng cháy của cộng đoàn kitô thời bấy giờ.
Phải nói ngay rằng chẳng bao lâu sau đó các sự kiện cụ thể đă giúp tín hữu Thêxalônica và cả thánh Phaolô nữa nhận ra cái ngây thơ và hăo huyền của sự hy vọng này. Tuy nhiên, thái độ nôn nóng trông chờ biến cố Chúa Giêsu Kitô trở lại phán xét trần gian đó đă ảnh hưởng trên cung cách sống thường ngày của các tín hữu. Một số người, v́ qúa tin chắc là chẳng bao lâu nữa Chúa Kitô sẽ quang lâm, nên họ khoanh tay chờ đợi, bỏ bê công ăn việc làm, lơ là bổn phận thường ngày, mọi việc trần gian khác và gây hang mang lo lắng cho người khác. Do đó, trong thư thánh Phaolô đă phải khuyên các anh chị em này b́nh tĩnh trở lại và tiếp tục chu toàn các công việc và bổn phận thường ngày (4,11). Thật ra, ngoài một số người kể trên, tín hữu cộng đoàn Thêxalônica sống rất can đảm và dấn thân. Chính thánh Phaolô cũng đă phải công nhận rằng ḷng tin của tín hữu trong cộng đoàn thể hiện ra trong cuộc sống cụ thể. T́nh yêu thương đối với Thiên Chúa được tín hữu Thêxalônica diễn tả ra bằng các công tác liên đới trợ giúp. Và mặc dù phải sống trong một hoàn cảnh đầy đối nghịch, khó khăn, bất trắc và đe dọa, họ vẫn kiên tŕ đợi chờ ngày Chúa đến (1,3). Càng gặp thử thách khó khăn bao nhiêu, họ lại càng gắn bó và bám chặt vào Chúa bấy nhiêu, đến nêu gương sáng cho tín hữu mọi giáo đoàn khác (1,7).
Trên b́nh diện luân lư, nội dung thư gửi tín hữu Thêxalônica hé mở cho thấy môi trường xă hội Thêxalônica có các đ̣i buộc nghiêm chỉnh và dân chúng rất hướng về các gía trị tinh thần. Thánh Phaolô không ghi nhận trường hợp bất thường nào trong cuộc sống của tín hữu. Ngài chỉ muốn củng cố con đường ḷng tin các tín hữu đă bắt đầu với ngài (4,1). Đặc biệt thánh nhân muốn khuyên nhủ tín hữu dấn thân sống đời sống thánh thiện, xa lánh sự dữ và tội lỗi, để luôn luôn sẵn sàng gặp Chúa Giêsu Kitô, khi Ngài quang lâm. Nói cách khác, Phaolô khuyên tín hữu phải sống làm sao để đừng đánh mất ơn cứu độ trong ngày cuối cùng của Chúa (5,4). Thí dụ ngài viết trong chương 5 câu 23 như sau: ”Ước chi Thiên Chúa của ḥa b́nh thánh hóa anh chị em hoàn toàn, và ước chi tinh thần, linh hồn và thân xác của anh chị em được giữ ǵn trọn vẹn để anh chị em không thể bị trách cứ ǵ, khi Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta đến”
Liên quan tới nội dung các giáo huấn luân lư đạo đức thánh Phaolô chỉ đưa ra các lời kêu gọi chung chung, khiến chúng ta liên tưởng tới các đề tài và lược đồ thuộc truyền thống do thái nổi tiếng là có gía trị luân lư cao với các đ̣i buộc nghiêm ngặt. Nhưng các điểm này không diễn tả sắc thái đặc thù của các cộng đoàn kitô tiên khởi. Tuy nhiên, cần xác định rằng các đ̣i buộc luân lư, mà thánh Phaolô và các thừa sai đề ra cho các tín hữu ngoại giáo Thêxalônica theo Kitô, cũng đă là một lư trởng luân lư cao, so sánh với thói tục sống buông thả trước kia của họ.
Chúng ta không có nhiều tin tức giúp hiểu biết kiểu cách tổ chức nội bộ của cộng đoàn kitô Thêxalônica. Trong thư thứ nhất thánh Paholô chỉ nói tới một vài tín hữu chú ư tới các anh chị em khác, và cố gắng khuyến cáo họ khi có chuyện ǵ cần nói. Họ là các thủ lănh tự phát, được cộng đoàn thừa nhận v́ các nỗ lực dấn thân và v́ khả năng của họ, chứ không phải là một quyền bính được thành lập theo nguyên tắc. Thánh Phaolô cũng khuyên tín hữu tôn trọng và qúy mến họ, không dựa trên một quyền hợp hiến nhưng là v́ các dấn thân và công việc ích lợi mà họ làm cho cộng đoàn. Phaolô viết trong chương 5,12-13: ”Thưa anh chị em, chúng tôi xin anh chị em hăy qúy trọng các người giữa anh chị em đă lao nhọc trong việc hướng dẫn anh chị em trong Chúa và sửa dạy anh chị em. Hăy hết ḷng kính trọng họ với t́nh yêu thương v́ công việc họ làm. Và hăy sống ḥa b́nh với nhau”. Những ǵ thánh Phaolô viết trên đây cho thấy các vị lănh đạo cộng đoàn ấy gồm nhiều người, theo kiểu các người lănh đạo có đặc sủng, chứ không phải chỉ là một vị lănh đạo được chính thức cắt đặt cai quản cộng đoàn. Nói cách khác, trong cộng đoàn kitô Thêxalônica đă có các tín hữu có khả năng, t́nh nguyện và có sáng kiến đứng ra đảm lănh trách nhiệm phục vụ cộng đoàn.
Trên b́nh diện đối ngoại, thư thánh Phaolô cho chúng ta biết các tín hữu kitô Thêxalônica phải sống trong môi trường thù nghịch với họ. Thánh Phaolô không ngần ngại so sánh t́nh trạng sống của giáo đoàn Thêxalônica với con đường thập gía của các cộng đoàn bên Palestine (2,4). Tuy thánh Phaolô không bao giờ nói tới việc bắt đạo, nhưng sự kiện ngài nêu bật các khó khăn và đối kháng do người do thái gây ra cho các tín hữu của giáo đoàn trẻ này, khiến cho chúng ta có thể kết luận là quả thật tín hữu đă bị sách nhiễu. Cũng có thể nói thêm rằng người do thái sống tại Thêxalônica c̣n xúi dục dân ngoại chống đối nhóm tín hữu kitô. Dẫu thế nào đi nữa, v́ lựa chọn theo Chúa Kitô và sống ḷng tin của ḿnh, nhóm kitô hữu Thêxalônica phải sống trong hoàn cảnh bị cô lập hóa.
Chúng ta cũng không có tin tức chính xác liên quan tới chân dung của các thành phần tín hữu thuộc cộng đoàn Thêxalônica. Theo chương 17,4 sách Công Vụ trong các tín hữu có một số phụ nữ thuộc lớp thượng lưu. Nhưng v́ tác phẩm của thánh Luca có mục đích bênh vực Kitô giáo, nên khó mà biết chắc tin trên là tin có thực hay chỉ lá một kiểu quảng cáo cho giáo đoàn này. Dựa trên lời thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu làm việc để có cơm bánh, làm việc để mưu sinh chứ đừng ăn không ngồi rỗi, chúng ta có thể khẳng định rằng các tín hữu là giới công nhân lao động (4,11). Vào thời đó giới lao động gồm các nô lệ, phu khuân vác tại bến cảng Thêxalônica, và giới tiểu công nghệ. Qua đó chúng ta có thể h́nh dung ra các thành phần cộng đoàn. Đa số họ là dân lao động thuộc giai tầng thấp kém trong xă hội.
ĐỀ TÀI 27
KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG THƯ THỨ NHẤT
GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Khi đọc thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica chúng ta nhận ra ngay kết cấu của thư. Bức thư chia làm hai phần. Phần nhứ nhất gồm ba chương đầu có nội dung là các lời cảm tạ ngợi khen Thiên Chúa. Phần thứ hai gồm hai chương c̣n lại bao gồm các lời khích lệ khuyên nhủ tín hữu.
B́nh thường thánh Phaolô bắt đầu các thư của ngài với lời đội ơn Thiên Chúa. Nhưng trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica, lời cám tạ ngợi khen ấy được khai triển và kéo dài làm thành đề tài chính của trọn phần đầu bức thư. Lời cám tạ trở thành một thứ điệp khúc được thánh nhân lập đi lập lại: ”Chúng tôi không ngừng cám tạ Thiên Chúa cho anh chị em tất cả, và luôn luôn nhớ tới anh chị em trong lời cầu nguyện của chúng tôi”(1,2).”Đấy là lư do tại sao chúng tôi không ngừng đội ơn Thiên Chúa”(2.13).”Chúng tôi phải tạ ơn Thiên Chúa thế nào để đáp trả lại tất cả niềm vui mà nhờ công lao của anh chị em chúng tôi được nếm hưởng trước mặt Thiên Chúa chúng ta?” (3,9).
Chính thực tại sống ḷng tin tuyệt diệu của tín hữu giáo đoàn Thêxalôca là lư do khiến thánh nhân không ngừng cảm tạ ngợi khen Thiên Chúa. Phải sống trong muôn ngàn khó khăn thử thách giữa một môi trường ngoại giáo đối nghịch với kitô hữu như thế, mà anh chị em Thêxalônica vẫn kiên vững sống ḷng tin, ḷng mến và ḷng cậy một cách cụ thể, không hề suy yếu chuyển lay, th́ qủa thật là một ơn trọng đại chỉ có Chúa mới có thể ban cho giáo đoàn. Họ qủa thật là những người được Thiên Chúa tuyển chọn. T́nh yêu thương nhưng không của Thiên Chúa Cha tỏ lộ rơ ràng nơi họ. Ngài là Đấng đă lựa chọn để cho họ sống kinh nghiệm sự hiệp thông với Ngài và với các tín hữu kitô khác, trong khi đợi chờ ngày cánh chung. Nếu không vậy, th́ làm sao có thể giải thích được thái độ tín hữu Thêxalônica tin nhận và đáp trả lại lời kêu mời của Chúa mạnh mẽ như thế? Ngoài ra tin họ theo đạo được mọi người đồn thổi khắp nước Hy Lạp và trở thành một kiểu quảng cáo hữu hiệu cho công tác truyền giáo. Tất cả mọi sự kiện đó không thể xảy ra, nếu không có bàn tay can thiệp của Thiên Chúa từ nhân. Chính v́ thế thánh Phaolô vô vàn cảm tạ Chúa.
Tuy nhiên, Phaolô không chỉ hài ḷng kể ra các lư do khiến thánh nhân luôn biết ơn cám tạ Chúa. Phaolô c̣n duyệt xét lại các biến cố đă khiến cho ngài gắn bó với các tín hữu Thêxalônica. Thánh nhân gợi lại các biến cố với tâm t́nh chia sẻ cảm động và nhất là với ḷng biết ơn sâu thẳm đối Thiên Chúa là Đấng đă hướng dẫn mọi sinh hoạt truyền giáo của ngài. Có định nghĩa đây là một ”cử chỉ tạ ơn” thật cũng không qúa đáng. Trong nhăn quan ḷng tin và tâm t́nh cám mến đó sự kiện Phaolô và các cộng sự viên bị đuổi khỏi thành phố Philiphê trở thành dịp cho ngài tới rao truyền Tin Mừng tại Thêxalônica và gặp gỡ tín hữu Thêxalônica. Một biến cố tự nó là tiêu cực có thể được Thiên Chúa biến trở thành tích cực để mưu ích lợi cho phần rỗi của con người. Đang truyền giáo tại Philiphê th́ bị đuổi. Đó là một thất bại cho Phaolô và các cộng sự viên của ngài. Nhưng nhờ thế Phaolô và các thừa sai mới sang Thêxalônica. Và sự hiện diện của các vị tại thành phố này không phải là vô ích. Sự thất bại nhục nhă ê chề tại Philiphê khiến cho Phaolô và các cộng sự viên càng trông cậy tín thác nơi Thiên Chúa hơn. Do đó, cho dù có lại gặp khó khăn thử thách tại Thêxalônica, các vị vẫn cậy trông giảng dậy với tất cả thiện tâm của ḿnh. Ngài đă ra sức rao truyền Tin Mừng của Chúa cho họ với tất cả ư hướng tốt lành vô vị lợi và ḷng hy sinh xả kỷ.
Phaolô và các cộng sự viên ư thức được sứ mệnh của các vị là loan báo Tin Mừng cứu độ của Chúa, chứ không phải giảng dậy cốt ư làm đẹp ḷng người đời hay giới lănh đạo trần gian, lại càng không phải để phỉnh nịnh ai hay t́m tư lợi. Các vị cũng không t́m hư danh từ bất cứ thành phần xă hội nào khác, kể cả các tín hữu. Các thừa sai cũng không đ̣i hỏi quyền được cung phụng và trợ giúp vật chất hay tài chánh, mặc dù việc các tín hữu lo lắng của ăn thức uống và nơi chốn ngủ nghỉ cho các thừa sai là thói quen thông thường của xă hội thời đó. Thay v́ đ̣i hỏi được chu cấp và trọng đăi, Phaolô và các cộng sự viên đă phải cố gắng tự lực mưu sinh, cần cù làm việc ngày đêm để có phương tiện nuôi thân, mà không phải phiền lụy tới các tín hữu và trở thành gánh nặng cho họ.Thế rồi ngoài việc giảng dậy Tin Mừng cứu độ một cách hoàn toàn nhưng không,Phaolô và các cộng sự viên c̣n nêu gương sống đơn sơ, khiêm tốn, và rất mực yêu thương, chú ư tới các tín hữu. Không có chuyện quan liêu, hách dịch,bao cấp,trịch thượng và đ̣i hỏi.Lại càng không có chuyện cả vú lấp miệng em, mắng mỏ,đánh đập,hất hủi và đối xử hạ cấp.Trái lại,các vị có cung cách cư xử rất trân trọng đối với tín hữu,âu yếm,hiền dịu và chân thành với họ như cha mẹ lo lắng cho con cái nhỏ dại.Đặc biệt các vị không ngừng khuyên bảo,an ủi và nài xin các tín hữu sống xứng đáng với Thiên Chúa,Đấng đă gọi họ vào Nước Ngài để hưởng vinh quang bất diệt.Qua những lời lẽ tâm sự chân t́nh ấy,thánh Phaolô cho chúng ta thấy cả một tinh thần tu đức truyền giáo và đường lối sư phạm truyền giáo,mà hàng giáo sĩ tu sĩ và các người có nhiệm vụ rao truyền Tin Mừng thuộc mọi thời đại phải năng để tâm suy gẫm(2,1-16).
Thái độ của tín hữu Thêxalônica vui mừng tiếp nhận Tin Mừng giữa mọi chống đối khó khăn của môi trường ngoại giáo trở thành kỷ niệm không bao giờ phai nḥa trong kư ức Phaolô. Tất cả trở thành nguồn hứng khởi khiến Phaolô xúc động cám tạ đội ơn Thiên Chúa, là Đấng đă ban cho thánh nhân ơn hăng say rao giảng Tin Mừng và cho tín hữu ḷng nhiệt thành tiếp nhận Tin Vui cứu độ. Từ đó nảy sinh một giáo đoàn kitô sống động đích thực tại Thêxalônica.
Biến cố Phaolô phải bất th́nh ĺnh xa rời cộng đoàn mới thành h́nh chưa được bao lâu lại càng in nét sâu đậm trong kư ức Phaolô hơn nữa (2,17-3,10). Thánh nhân khắc khoải muốn gặp lại các tín hữu, nhưng việc trở lại Thêxalônica gặp qúa nhiều chướng ngại không vượt thắng được. Bên cạnh nỗi nhớ thương đó là sự âu lo cho số phận của họ phải đương đầu với mọi đối nghịch của môi trường xă hội chung quanh. Phaolô sợ các tín hữu mới theo đạo chán nản ngă ḷng trước các bắt bớ và chèn ép đó. Sau cùng khi không biết làm sao hơn, thánh nhân gửi cộng sự viên của ḿnh là Timôtêô về Thêxalônica thăm tín hữu giáo đoàn thay ngài, xem t́nh h́nh giáo đoàn ra sao. Khi Timôtêô trở lại cho biết chẳng những tín hữu kiên tŕ trong mọi thử thách mà c̣n sống đạo hăng say sốt mến, nêu gương cho mọi người gần xa và luôn ghi nhớ công lao vị tông đồ đă đem Tin Mừng cứu độ tới cho họ và không nề quản yêu thương, hy sinh, xả kỷ, săn sóc họ như người mẹ săn sóc con thơ (2,7), như người cha lo lắng cho con cái (2,11) thánh Phaolô vui mừng qúa đỗi, không t́m ra lời nào để tạ ơn Thiên Chúa nữa (3,9). Và thánh nhân kết thúc phần thứ nhất của thư với hai lời khẩn cầu, nài xin Thiên Chúa san bằng mọi khó khăn chướng ngại trên con đường dẫn tới Thêxalônica, để thánh nhân có thể tới viếng thăm họ, và xin Chúa luôn trợ giúp các tín hữu Thêxalônica rất thân mến của ngài lớn lên trong t́nh yêu thương và có cung cách sống không thể chê trách vào đâu được (3,11-13).
Xét trên b́nh diện h́nh thức chúng ta nhận thấy kiểu nói sóng đôi ”chúng tôi - anh chị em”, làm thành hai trục của kư ức nói trên. Đây là một lịch sử được dệt từ hai mặt. Một phía là thánh Phaolô và các thừa sai cộng sự viên, phía kia là các tín hữu của cộng đoàn Thêxalônica. Chiếc thoi giao thoa đó chạy rất nhanh trong chương 1,5-10: chúng tôi đă loan báo Tin Mừng tại Thêxalônica không phải chỉ bằng lời nói, mà c̣n với sức mạnh của Chúa Thánh Thần nữa (1,5-6). Anh chị em đă tiếp nhận Lời của Thiên Chúa với niềm vui giữa muôn ngàn khó khăn thử thách, nêu gương sáng cho người khác (1,7-8). Chúng tôi đă được tiếp đón nồng nhiệt (1,9). Anh chị em đă hoán cải trở về với Thiên Chúa duy nhất chân thật và với Chúa Giêsu (1,9-10). Tiếp đến là sự hiện diện hoạt động của ”chúng tôi” tại Thêxalônica (2,1-12) và thái độ gắn bó xác tín vào ḷng tin của ”anh chị em” Thêxalônica (2,13-16). Sau đó là nỗi âu lo của ”chúng tôi” phải rời xa giáo đoàn mới thành h́nh chưa được bao lâu (2,17-3,5). Nhưng ”anh chị em” đă kiên vững trong ḷng tin. Do đó, ”chúng tôi” được tràn đầy an ủi và niềm vui khôn xiết (3,7-13).
Trong h́nh thái và lược đồ ngôn ngữ đó tiềm ẩn cả một kinh nghiệm gặp gỡ, hiệp thông sâu xa, nối kết thánh Phaolô, các thừa sai cộng sự viên và tín hữu giáo đoàn Thêxalônica. Cái giao thoa ngôn ngữ ”chúng tôi- anh chị em” diễn tả cái giao thoa sự sống giữa cá vị thành lập giáo đoàn kitô với các tín hữu thành phần của giáo đoàn đó. Sợi dây nối kết hai bên là Tin Mừng của Chúa, nghĩa là lời loan báo qua Chúa Giêsu Kitô tử nạn và phục sinh, Thiên Chúa ban ơn cứu độ cho con người và mời gọi con người bước vào một cuộc sống mới của ḷng tin cậy mến. Việc tham dự vào biến cố đó khiến cho tín hữu bước vào ṿng hiệp thông sâu xa giữa các người loan báo Tin Mừng và các người nghe loan báo Tin Mừng. Sự kết hiệp đó đặt nền tảng trên cùng lời được loan báo và được tiếp nhận, trên cùng một niềm tin được rao giảng và được đón nhận, trên cùng một niềm hy vọng được cống hiến và được tiếp thu. Từ đó phát sinh ra một t́nh huynh đệ thiêng liêng, khiến cho tín hữu dấn thân cả cuộc đời. Đây là lư do tại sao thánh Phaolô không ngừng gọi các tín hữu Thêxalônica là ”anh chị em”. Thư gửi cho họ phát xuất từ t́nh yêu thương huynh đệ và diễn tả sự hiệp nhất huynh đệ ấy.
ĐỀ TÀI 28
NỘI DUNG PHẦN HAI
THƯ THỨ NHẤT GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA
Đọc thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica chúng ta nhận ra ngay hai phần trong kết cấu và nội dung của thư. Phần thứ nhất gồm ba chương đầu gợi lại các kỷ niệm, mà thánh Phaolô đă có với tín hữu cộng đoàn và kể ra các lư do khiến thánh Phaolô vô vàn cảm tạ Thiên Chúa. Phần hai gồm hai chương 4-5 chứa đựng các lời khuyên nhủ, khuyến khích, cảnh cáo và răn bảo tín hữu. Có thể chia phần hai thành bốn đoạn. Đoạn nhất bao gồm các lời khuyên tín hữu sống thánh thiện và yêu thương nhau (4,1-12). Đoạn hai là giáo lư liên quan tới số phận của những người đă chết và lời khuyến khích của thánh Phaolô (4,13-18). Đoạn ba lại đề cập tới ngày sau hết và lời thánh Phaolô khuyên tín hữu tỉnh thức sẵn sàng đón chờ ngày Chúa Kitô quang lâm (5,1-11) Đoạn bốn gồm các lời khuyên nhủ tổng quát (5,12-22). Sau cùng trước lời kết (5,25-28) có lời nguyện xin Thiên Chúa giữ ǵn tín hữu Thêxalônica được toàn vẹn trong ngày cánh chung (5,23-24).
Sau khi bầy tỏ nỗi vui mừng khôn tả, v́ biết tín hữu Thêxalônica dù gặp biết bao gian lao thử thách, đă không suy giảm ḷng tin mà c̣n kiên tŕ sốt sắng vững mạnh hơn nữa, đến nổi tiếng trong cả nước Hy Lạp, thánh Phaolô khuyến khích họ cứ tiếp tục lớn mạnh trong ḷng Tin, ḷng Cậy và ḷng Mến. Ngài viết trong chương đầu chương 4: ”C̣n lại, thưa anh chị em, đây là các yêu cầu và khuyến khích của chúng tôi trong Chúa Giêsu: Anh chị em đă học biết từ chúng tôi phải hành xử thế nào để đẹp ḷng Chúa, và anh chị em đang sống như vậy. Hăy tiến tới hơn nữa! Thật thế, anh chị em biết các huấn thị, mà chúng tôi đă đưa ra cho anh chị em nhân danh Chúa Giêsu. Ư Thiên Chúa muốn đó là anh chị em hăy sống trong sự thánh thiện và xa lánh dâm ô. Mỗi người hăy làm chủ bản thân ḿnh để sống trong thánh thiện và danh dự, mà không để cho ḿnh sống buông thả theo sự thèm khát như người ngoại giáo không biết Chúa thường làm. Đừng có ai gây thiệt hại cho tha nhân và lường gạt người khác về điều này”.
Nếu dịch sát nghĩa câu 4 của chương 4 sẽ là: ”Ước chi mỗi người trong anh chị em hăy biết sắm cho ḿnh một cái b́nh trong sự thánh thiện và trong danh dự”. Từ ”skeuos” trong tiếng hy lạp có nghĩa là đồ dùng, hay cái b́nh. Đó là một h́nh ảnh người hy lạp thường dùng để diễn tả ”thân xác” con người. Thân xác là cái b́nh chứa đựng linh hồn. Trong chương 4,7 thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô thánh Phaolô khẳng định với mọi người rằng Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng cứu độ của Chúa là một kho tàng mà các vị truyền giáo chứa đựng trong các b́nh bằng đất sét. Nhưng như thế là để Thiên Chúa tỏ lộ quyền năng vô song của Ngài trong hoạt động thừa tác của các vị, chứ không do sức lực hay tài cán của các vị. ”B́nh băng đất sét” là h́nh ảnh có thể ám chỉ sự gịn mỏng yếu hèn của chính thánh Phaolô (2 Cr 12,7-10; Gl 4,14) và của các cộng sự viên. Nhưng nó cũng có thể ám chỉ thân xác bằng đất sét của con người như tả trong sách Sáng Thế chương 2,7, và được thánh Phaolô nhắc tới trong thư gửi tín hữu Roma chương 9,21-23, thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô chương 15,47 và ở đây. Thân xác như cái b́nh bằng đất sét vừa diễn tả sự gịn mỏng dễ vỡ, vừa ám chỉ cái bản tính yếu đuối bất toàn của con người trong mọi b́nh diện cuộc sống của nó: cuộc sống tâm sinh vật lư cũng như cuộc sống tinh thần. V́ là cái b́nh bằng đất sét, nên con người đau yếu, vỡ nát, sứt mẻ, tan rữa đi. Như thế, nếu hiểu cái b́nh ở trong câu 4 chương 4 thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica là thân xác, th́ dịch là “mỗi người hăy chiếm đoạt thân xác của chính ḿnh, nghĩa là hăy chế ngự, hăy làm chủ được thân xác ḿnh”, đừng để cho nó sống lăng loàn trác táng, ăn chơi buông thả dâm dật.
Tuy nhiên, cũng có thể dịch câu trên theo một nghĩa khác. Trong môi trường xă hội xê mít, người vợ được nam giới coi như là thịt xác hay thân xác của chính ḿnh, như viết trong sách Sáng Thế chương 2,23. Khi thấy người nữ người nam nói: ”Lần này, nàng là thịt từ thịt tôi, xương từ xương tôi. Người ta sẽ gọi nàng là đàn bà, v́ nàng được lấy ra từ đàn ông”. Như thế kiểu nói ”mỗi người hăy sắm cho ḿnh một cái b́nh” có nghĩa là mỗi người hăy lấy vợ (1 Cr 7,2), hăy lập gia đ́nh, để sống trong sự thánh thiện và danh dự của cuộc sống hôn nhân và tính dục, chứ đừng buông thả dâm ô theo ḷng ham muốn của ḿnh (1 Cr 7). Hôn nhân giúp kitô hữu sống niềm tin thánh thiện và sự tùy thuộc của ḿnh vào Thiên Chúa. Giữa một môi trường ngoại giáo, đối với nam giới theo kitô giáo, việc chọn lựa cho ḿnh một người vợ là vấn đề quan trọng thánh Phaolô không thể bỏ qua không nhắc tới. Nó thuộc bổn phận khuyên bảo và dậy dỗ tín hữu của ngài.
Và thực vậy, trong phần hai thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica thánh Phaolô không ngừng nhắc họ đừng quên các giáo huấn mà ngài và các cộng sự viên đă giảng giải cho họ, khi c̣n ở bên họ. Phaolô khuyến khích tín hữu sống theo tinh thần Tin Mừng của Chúa. Bởi v́ ai từ bỏ các huấn thị này th́ không phải họ chối bỏ con người, mà chối bỏ Thiên Chúa, là Đấng trao ban Thánh Thần cho họ (4,8). Liên quan tới t́nh yêu thương huynh đệ như lệnh Chúa truyền dậy, thánh Phaolô nói ngài không cần phải viết cho họ nữa, v́ chính họ đă học biết từ Thiên Chúa, và thực sự là họ đang thực thi giáo huấn yêu thương đó đối với mọi tín hữu trong toàn vùng Macedonia. Và thánh Phaolô thôi thúc họ hăy cố gắng có các tiến bộ mới trong lănh vực này: ”Anh chị em, chúng tôi khuyến khích anh chị em hăy có các tiến bộ mới”(4,10). Tiếp đến thánh nhân khuyên ai nấy hăy biết sống b́nh tĩnh không nôn nóng chờ đợi ngày Chúa quang lâm tới độ khoanh tay ngồi đó, không muốn làm việc và sinh hoạt ǵ nữa. Trái lại mỗi người phải biết chăm lo làm ăn sinh sống và chu toàn bổn phận của ḿnh, cũng như sống đoan chính trước mặt mọi người và đừng trở thành gánh nặng cho người khác. Hết khuyên nhủ khích lệ, thánh Phaolô nài xin các tín hữu hăy sống đúng tinh thần Tin Mừng. Do đó, thánh nhân lập đi lập lại:”Rồi chúng tôi xin anh chị em...”(4,13)”Anh chị em,lần nữa chúng tôi khuyến khích anh chị em...”
Qua các lời lẽ này, thánh Phaolô cho thấy ngài hướng dẫn cuộc sống của các tín hữu trong hoàn cảnh tế nhị này. Bởi v́ họ đang phải đối phó với các khó khăn, nghi hoặc, lo lắng, hiểm nguy và lơ là có thể khiến cho họ giảm sút trong cuộc sống ḷng tin. Chính v́ vậy Phaolô nhắc lại các huấn thị cụ thể mà ngài đă dậy họ trước đây liên quan tới cung cách sống. Phaolô nêu bật trở lại, và đưa thêm các lư do, hay giải nghĩa các điểm c̣n chưa rơ hoặc chưa khai triển đủ. Nghĩa là thánh nhân muốn bổ túc các giáo huấn của ngài. Tuy nhiên, thánh Phaolô không tŕnh bầy các nguyên tắc luân lư kitô một cách trừu tượng. Ngài muốn chinh phục các tín hữu, và nhất là muốn đánh động con tim của họ và khơi dậy nơi họ ư chí dấn thân sống vững mạnh ḷng tin.
Nói chung, các huấn thị thánh Phaolô đưa ra ở đây có tính cách tổng quát. Chúng là các yếu tố thuộc các công thức truyền thống, phần đông phát xuất từ gia tài do thái giáo. Có mới mẻ chăng đó là viễn tượng rộng răi, mà Phaolô mở ra trước mắt tín hữu. Trước tiên là nỗ lực sống xứng đáng với ơn gọi kitô. Bởi v́ khi tin vào Thiên Chúa là Đấng thánh, các tín hữu không được mời gọi sống trong ô uế, mà sống trong sự thánh thiện (4,7). Do đó, họ phải tránh tất cả mọi kiểu cách sống không phù hợp với ơn gọi trở nên thánh thiện như Thiên Chúa. Ngoài ra chính cung cách sống hiện nay trên trần gian này sẽ định đoạt cho cuộc sống mai sau, mà Chúa Giêsu Kitô quang lâm sẽ ban cho mỗi người. V́ họ tin rằng Chúa Kitô chẳng bao lâu nữa sẽ trở lại, nên các tín hữu Thêxalônica lại càng có lư do mạnh để cố gắng sống thánh thiện hơn nữa. Thánh nhân cũng cầu xin chính Thiên Chúa thánh hóa họ hoàn toàn. Xin Ngài giữ ǵn tinh thần, linh hồn, thân xác và toàn cuộc sống của họ vẹn toàn để họ không thể bị chê trách vào đâu được, trong ngày Chúa Giêsu Kitô trở lại (5,23).
Một trong các nét đặc biệt thánh Phaolô không ngừng nhắn nhủ các tín hữu Thêxalônica, đó là cố gắng tấn tới trong cuộc sống tin, cậy, mến. T́nh yêu thương Thiên Chúa và tha nhân phải ngày càng tràn đầy tâm ḷng và cung cách hành xử của họ (3,12; 4,1.10; 5,23). Kinh nghiệm ḷng tin kitô là một con đường trưởng thành, ngày càng dẫn đưa người tín hữu tới đỉnh trọn lành, tới chỗ trở nên giống Thiên Chúa hoàn toàn. Kitô hữu được mời gọi tiến tới luôn măi, và ngày càng đào sâu các lựa chọn ḷng tin của ḿnh. Là tín hữu không có nghĩa là đă dứt điểm, là đă thành toàn và đạt đích hay chiếm hữu được ơn cứu độ. Không, là tín hữu có nghĩa là giờ đây chúng ta mới khởi sự tiến bước trong đời, dưới ánh sáng ḷng tin.
Càng vào cuối thư lời lẽ của thánh Phaolô càng cương quyết và chắc chắn. Phaolô đang giảng dậy tín hữu với tất cả uy tín của một bậc thầy khai sáng ra giáo đoàn Thêxalônica. Thể sai khiến nối tiếp nhau trong các lời khuyên nhủ. Mấy câu cuối cùng của thư gồm một chuỗi các huấn thị ngắn gọn, rơ ràng và cụ thể: ”Hỡi anh chị em, chúng tôi khuyên anh chị em hăy sửa bảo những người vô trật tự; hăy khích lệ những người nhát đảm; hăy gây phấn chấn cho những người yếu đuối; hăy sống đại lựơng với mọi người! Hăy coi chừng, đừng ai lấy oán báo oán. Trái lại, hăy luôn luôn t́m theo đuổi sự thiện giữa anh chị em với nhau và đối với mọi người. Hăy tươi vui luôn và hăy cầu nguyện không ngừng! Hăy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. V́ đó là thánh ư Thiên Chúa có đối với anh chị em trong Đức Kitô Giêsu! Anh chị em đừng dập tắt Thần Linh, và chớ khinh rẻ các ơn ngôn sứ. Nhưng hăy nghiệm xét mọi sự. Điều ǵ lành hăy giữ lấy. Hăy xa lánh sự dữ bất cứ dưới mọi h́nh thức nào!”. Nói cách khác, thánh Phaolô luôn luôn nhắc nhớ tín hữu đừng quên thánh ư Thiên Chúa (4,3; 5,18) giáo huấn của Chúa (4,9), lời Chúa Giêsu (4,15), quyền của Thiên Chúa (4,1-2), được thánh nhân và các cộng sự viên của Ngài loan báo và thi hành theo lệnh Chúa truyền (2,4.7.13). Mọi lời rao giảng và hoạt động của các vị chỉ có mục đích làm trung gian lịch sử giữa Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu Kitô và tín hữu Thêxalônica.
ĐỀ TÀI 29
H̀NH THỨC CŨ, TINH THẦN VÀ NỘI DUNG MỚI.
Khi đọc câu mở đầu thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica, chúng ta nhận ra hai nhân tố. Thứ nhất, h́nh thức khai mào bức thư là h́nh thức cổ điển của thư tín trong thế giới roma-hy lạp bấy giờ. Nó luôn bắt đầu với một câu ngắn gọn, nêu tên người gửi, người nhận và kết thúc với lời chào. Thánh Phaolô cũng lấy lại h́nh thức cũ này, nhưng thêm vào một yếu tố mới khác khiến cho lời chào mang đậm sắc thái Kitô giáo: “Phaolô, Silvanô và Timôtêô gửi cho giáo hội của anh chị em Thêxalônica, giáo hội trong Thiên Chúa Cha và trong Chúa Giêsu Kitô. Ơn thánh và b́nh an ở cùng anh chị em” (1 Ts 1,1). Nghĩa là thánh Phaolô khai triển và trao ban cho h́nh thức cổ điển kiểu cách mở đầu thư tín của thế giới thời đó các ư nghĩa thâm trầm, diễn tả kinh nghiệm của ḷng tin kitô.
Người gửi ở đây là Phaolô và các cộng sự viên truyền giáo, tức Silvanô và Timôtêô. Tên của ba người gửi khiến cho chúng ta có thể nghĩ rằng đây là lá thư chung. Nhưng kiểu hành văn riêng tư và cách xưng hô ở ngôi thứ nhất (2,18; 3,5) chứng minh cho thấy nó là bức thư riêng do Phaolo viết, hay đọc cho người khác viết. Đây là một chi tiết quan trọng, chứng minh cho thấy Phaolô không phải là người có khuynh hướng tôn thờ cá nhân, tự suy tôn ḿnh. Trái lại thánh nhân rất ư thức được sự hiện diện và cộng tác hữu hiệu của các bạn đồng hành trên đường truyền giáo. Nó chứng minh cho tinh thần đoàn thể của Phaolô và các thừa sai. Các vị đă áp dụng nguyên tắc ”hợp quần gây sức mạnh”, ”một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành ḥn núi cao”. Silvanô và Timôtêô cũng đă đồng công, cộng khổ trong công tác rao giảng Tin Mừng với Phaolô và thành lập giáo đoàn Thêxalônica. Do đó, thật là điều tự nhiên khi giờ đây Phaolô cùng với các cộng sự viên gửi lời chào tới tín hữu toàn cộng đoàn. Riêng trên phương diện tâm lư mà nói, chi tiết này rất quan trọng. Tinh thần đồng trách nhiệm và sự hiệp nhất giữa hàng lănh đạo là một yếu tố quan trọng định đoạt cho sự thành công của việc rao truyền Tin Mừng. Đây là lư do giải thích tại sao trong thư Phaolô cũng thường dùng kiểu nói ”chúng tôi” ở số nhiều, mặc dầu chính ngài là người gửi thư cho các tín hữu.
Silvanô hay Sila là một nhân vật vị vọng, tên tuổi trong lịch sử Kitô giáo thời khai sinh, được gọi là ngôn sứ đă nói nhiều lời khuyên bảo và khích lệ tín hữu, như viết trong sách Công Vụ chương 15,22-32. Sau này Sila trở thành bạn đồng hành với thánh Phaolô trên đường truyền giáo tại Tiểu Á, Macedonia và Acaia (Cv 15,40; 16,19 tt.; 17,4 tt.; 18,5). Tiếp đến Sila cũng trợ giúp thánh Phêrô (1 Pr 5,12).
Timôtêô đă cùng rao giảng Tin Mừng với Phaolô và Sila tại Astri (Cv 16,1-3), và cộng tác với hai vị trong việc truyền giáo như viết trong sách Công Vụ (Cv 17,14 tt.; 18,5; 19,22; 20,4). Timôtêô đă là môn đệ rất trung thành của Phaolô và được thánh nhân giao cho nhiều sứ mệnh tế nhị, đặc biệt là nhiệm vụ giảng ḥa giữa Phaolô và cộng đoàn các tín hữu Côrintô trong những lúc căng thẳng sau này (1 Ts 3,2-6; 1 Cr 4,17; 16,10; Pl 2,19-20). Truyền thống cũng duy tŕ được hai lá thư Phaolô viết riêng cho Timôtêô.
Ở đây Phaolô chỉ nêu tên người gửi, mà không đề cập tới chức vụ là ”tông đồ” như thánh nhân làm sau này trong các thư quan trọng khác. Lư do là v́ đây là bức thư có tính cách riêng tư và bầu khí thân t́nh, chứ không phải trong khung cảnh tranh luận với các chống đối và vu khống như trong các thư gửi giáo đoàn Côrintô. Tuy nhiên không phải v́ thế mà chúng ta có thể loại bỏ ư thức là tông đồ của thánh Phaolô. Bức thư được Phaolô gửi tới mọi tín hữu Thêxalônica. Do đó, thánh Phaolô dùng từ ”ekklesia”, giáo hội, để gọi giáo đoàn này. Đây là một từ có nội dung thần học súc tích. Trong lịch sử Kitô giáo thời khai sinh thuộc môi trường hy lạp, từ này được dùng để gọi giáo đoàn Giêrusalem và có ư khẳng định rằng trong lịch sử cứu độ, Giáo Hội là dân riêng mới của Thiên Chúa, tiếp nối Israel là dân riêng cũ. Nhưng thánh Phaolô đă không ngần ngại dùng từ “ekklesia” để gọi tín hữu giáo đoàn Thêxalônica, là những người không phải gốc do thái. Nghĩa là cả những anh chị em ngoại giáo theo Kitô cũng là Giáo hội dân riêng mới của Thiên Chúa, chứ không phải chỉ có các kitô hữu gốc do thái mà thôi, bởi v́ Thiên Chúa cống hiến ơn cứu độ cho tất cả mọi người. Điều kiện duy nhất để được ơn cứu độ là biết rộng mở tâm ḷng tiếp nhận Tin Mừng của Chúa Giêsu, chứ ơn cứu độ không tùy thuộc chủng tộc ngôn ngữ hay mầu da. Đây là mấu điểm thần học được thánh Phaolô luôn luôn nêu bật trong các thư của ḿnh. Sự kiện tín hữu Thêxalônica tin nhận Chúa Giêsu và Tin Mừng khiến cho họ được vào hàng những người được Thiên Chúa chọn và yêu thương ngang hàng với các tín hữu kitô gốc do thái. Ở đây Phaolô nhấn mạnh trên sự kiện tín hữu Thêxalônica là giáo hội, chứ không phải chỉ là thành phần của giáo hội, bởi v́ dân riêng mới của Thiên Chúa hiện diện ở tất cả những nơi nào Tin Mừng được loan báo và có người tin nhận sống ḷng tin, ḷng cậy, ḷng mến. Lịch sử Thiên Chúa gặp gỡ loài người giờ đây đi qua và hiện diện nơi các nhóm tín hữu bé nhỏ sống rải rác trong các thành phố của đế quốc Roma.
Tuy nhiên, thánh nhân c̣n xác định thêm để phân biệt cộng đoàn kitô Thêxalônica với các cộng đoàn dân sự trong thành phố này. Các cộng đoàn dân sự này tụ họp nhau một cách dân chủ để thảo luận và giải quyết các vấn đề công cộng cũng được gọi là ”ekklesia”. Nhưng chúng không giống cộng đoàn ”ekklesia” kitô. Lư do là v́ cộng đoàn kitô Thêxalônica thuộc về Thiên Chúa và Chúa Giêsu, và sống kinh nghiệm đặc thù là tham dự vào chính sự sống mới của Chúa Giêsu phục sinh, trong các liên hệ mới nối kết nó với Thiên Chúa cha và với Chúa Giêsu Kitô là Chúa. Nghĩa là nó là một cộng đoàn vô cùng đặc biệt. Để diễn tả tất cả các khía cạnh thần học kể trên, thánh Phaolô chỉ dùng một tiền trí từ ”trong” và hiểu ngầm cả động từ ”là” hay ”ở” hoặc ”hiện diện” nữa. Phaolô chỉ viết trống không và ngắn gọn rằng: ”giáo hội trong Thiên Chúa Cha và trong Chúa Giêsu Kitô”. Tiền trí từ ”trong” ở đây diễn tả sự hiệp nhất, sự tùy thuộc và hiệp thông sự sống. Nó gói ghém mọi kinh nghiệm sâu thẳm hoàn toàn riêng tư liên kết các tín hữu với Thiên Chúa Cha và Chúa Giêsu Kitô.
Thánh Phaolô cũng xác định hai điểm quy chiếu ṇng cốt của cộng đoàn kitô. Đó là Thiên Chúa là Cha, và Chúa Giêsu Kitô là Chúa. Sự thật Thiên Chúa là Cha phát xuất từ chính lời giảng dậy và kinh nghiệm nồng ấm của Đức Giêsu thành Nagiarét. Ngài thích gọi Thiên Chúa là ”Cha trên trời”, là ”Cha của Ta và Cha của các con”. Đức Giêsu không ngần ngại dùng từ ”Abba”, có nghĩa là ”ba” mà trẻ em thường dùng, để âu yếm gọi Thiên Chúa (Cf. Mt 14,36). Trong Kitô giáo thời khai sinh gương sống của Chúa Giêsu trở thành luật lệ (Cf. Gl 4,6; Rm 8,15). Và thánh Phaolô cũng không chuẩn chước cho nguyên tắc này. Thánh nhân muốn nêu bật rằng Thiên Chúa của tín hữu kitô không giống như bất cứ vị thần nào khác, mà là Đấng tỏ hiện gương mặt đích thực của Ngài trong lịch sử cuộc đời của Đức Kitô Đấng đă chết và đă sống lại.Tước hiệu ”Chúa” ”Kyrios”trong tiếng hy lạp cũng phát xuất từ Kitô giáo thời khai sinh,hay đúng hơn từ các tín hữu kitô nói tiếng hy lạp.Tuy nhiên trong các thư của thánh Phaolô tước hiệu ”Kyrios” rất hay được dùng để gói ghém nhiều đặc thái thần học sâu sắc.Đặc biệt nó ám chỉ sự hiện diện linh động và trao ban sự sống của Chúa Kitô phục sinh giữa ḷng cộng đoàn Kitô tuyên xưng Ngài là Chúa duy nhất tuyệt đối của ḿnh(Rm 10,9;1 Cr 8,6).
”Ân sủng và b́nh an cho anh chị em” là công thức mang sắc thái phụng vụ, do đó cũng phát xuất từ cộng đoàn kitô tiên khởi. Hơn là một lời chào thường t́nh, có thể định nghĩa nó là một phúc lành thực sự. Công thức này trộn lẫn hai hiểu chào, v́ dùng hai từ mà người do thái và hy lạp thường dùng để chào nhau: ”Shalom” nghĩa là b́nh an trong tiếng do thái, và ”Khaire” nghĩa là ”chào”. Nhưng nếu dịch sát th́ ”Khaire” trước hết có nghĩa là ”Hăy vui lên”!. Thật ra công thức này đă có trong phúc lành như ghi trong sách Dân Số chương 6,25-26: “Xin Giavê dăi sáng gương mặt Ngài trên ngươi và ban ân sủng cho ngươi. Ước chi Giavê hướng mặt về ngươi và ban an b́nh cho ngươi”. Dầu sao đi nữa có điều chắc chắn đó là danh từ ”Kharis” ân sủng, ơn thánh, trong bối cảnh và bầu khí của Kitô giáo không chỉ có nghĩa là một lời chào theo quy ước thường t́nh. Trái lại nó diễn tả t́nh yêu thương nhưng không của Thiên Chúa, như là suối nguồn trao ban ơn thứ tha và cứu độ. Từ ”ḥa b́nh” ở đây gói ghém tất cả nội dung súc tích của từ do thái ”Shalom”. Nghĩa là ám chỉ mọi ơn lành Thiên Chúa ban cho con người, nhất là ơn cứu độ của thời cứu thế và ơn ḥa giải của loài người, mà Thiên Chúa Cha hiện thực qua Đức Giêsu Kitô, Con Ngài (Rm 5,1). Tắt một lời, qua công thức trên đây, với cử chỉ của một thầy cả, thánh Phaolo ban phép lành cho cộng đoàn tín hữu tụ họp nhau để lắng nghe bức tông thư của thánh nhân. Qua đó Phaolô cho thấy ngài là trung gian có nhiệm vụ chuyển đạt ơn cứu độ nhưng không của Chúa tới cho cộng đoàn tín hữu.
Tóm lại, các lời chào ngắn gọn trong các thư của thánh Phaolô tuy có h́nh thức cũ theo thói quen cổ điển thời bấy giờ, nhưng bao hàm tinh thần và nội dung hoàn toàn mới mẻ, v́ chất chứa giáo huấn thần học ṇng cốt diễn tả niềm tin của Kitô giáo.
ĐỀ TÀI 30
TÂM T̀NH CẢM TẠ (TX 1,2-10)
Khi đọc thư thứ nhất thánh Phaolô gửi tín hữu Thêxalônica, chúng ta nhận ra ngay tâm t́nh cảm tạ biết ơn của thánh nhân đối với Thiên Chúa. Thật ra nó là mấu điểm thần học nổi bật được khai triển trong suốt ba chương đầu của thư. Sau lời chào, thánh nhân viết trong chương 1,2: ”Chúng tôi liên lỉ cảm tạ Thiên Chúa cho anh chị em tất cả, và không ngừng nhớ tới anh chị em trong các lời cầu nguyện của chúng tôi”. Tiếp theo đó cho tới câu 10 thánh nhân kể ra các lư do khiến cho ngài và các thừa sai cộng sự viên không ngừng cảm tạ đội ơn Thiên Chúa. Có ba lư do sẽ được thánh Phaolô nhắc lại trong hai chương tiếp theo. Đó là kỷ niệm cuộc gặp gỡ phong phú của các thừa sai với tín hữu Thêxalônica (2,1-16), các biến cố khiến các vị phải xa rời họ và khổ đau lo lắng cho số phận của họ (2,17-3,5), và niềm vui tràn bờ khi được Timôtêô cho biết các tin tức phấn khởi về t́nh h́nh sống đạo trong cộng đoàn (3,6-13).
Trên b́nh diện h́nh thái từ ch́a khóa làm ṇng cho chương 1,2-10 là động từ ”eukharistoúmen” ”chúng tôi cám ơn”. Vị thế mở đầu của nó đủ nói lên nội dung của toàn chương. Gắn liền với động từ ”eukharistoúmen” là hai phân từ hiện tại ”mnêmonéuontes” ”nhớ lại” và ”eidótes” “nhận biết” dẫn lối cho hai lư do. Thánh Phaolô và các thừa sai không ngừng cám ơn Thiên Chúa liên quan tới các tín hữu Thêxalônica trong khi cầu nguyện, v́ nhớ tới ḷng tin sống động, ḷng mến lao nhọc và ḷng cậy kiên nhẫn của họ, và v́ biết rằng Thiên Chúa đă tuyển chọn họ. Sự kiện tín hữu Thêxalônica sốt sắng thực hành ḷng tin, chịu khó sống ḷng mến và kiên tŕ trong hy vọng là lư do rơ ràng không cần phải giải thích. Nhưng v́ đâu họ lại được Thiên Chúa chọn lựa? Câu trả lời nằm trong phần tiếp theo, qua đó Phaolô nhắc lại công tác truyền giáo tại Thêxalônica và thái độ hăng say của tín hữu rộng mở tâm ḷng tin nhận Chúa Giêsu và Tin Mừng đến độ họ trở thành mẫu gương cho người khác. Hai câu sau cùng của chương 1 nhắc lại cuộc gặp gỡ tích cực của các thừa sai với kitô hữu của thành phố này và biến cố họ theo Kitô giáo.
Lời cám tạ được dâng lên Thiên Chúa Cha. Đây là một đặc thái thường hằng trong các thư của thánh Phaolô. Ḷng biết ơn luôn hướng về Thiên Chúa Cha là nguồn mạch của lịch sử ơn thánh và lịch sử cứu độ. Cám ơn có nghĩa là nhận biết sáng kiến cứu độ của Thiên Chúa Cha và hoạt động hữu hiệu của Ngài, mặc dù hoạt động đó xem ra dấu ẩn trong các nét gấp sâu thẳm của lịch sử loài người. Trợ động từ ”pantote” ”liên lỉ” muốn nói lên rằng thánh Phaolô và các cộng sự viên không chỉ cám ơn Thiên Chúa Cha trong những lúc cầu nguyện thôi, mà trong mọi lúc. Cám tạ là tâm t́nh thường hằng của các vị. Ḷng nhớ thương các tín hữu ở xa, luôn hiện diện trong lời cầu nguyện, lại càng là cớ làm nảy sinh ra trong tâm hồn Phaolô lời cảm ơn Chúa. Tưởng nhớ và cảm ơn đi sóng đôi với nhau, v́ cuộc sống ḷng tin ḷng cậy ḷng mến tươi mát, hăng say và tinh tuyền của các tín hữu.
Ở đây thánh Phaolô lấy lại từ truyền thống của Kitô giáo thời khai sinh công thức bộ ba tin-cậy-mến như nét đặc thù trong cuộc sống của các tín hữu từ bỏ tà thần để tin nhận Kitô giáo. Sắc thái kitô ấy không phải là một triết lư về thế giới, cũng không phải là một thứ đạo đức luân lư đặc biệt, lại càng không phải là một kinh nghiệm thần bí. Nó là một cuộc sống đức tin, nghĩa là hoàn toàn chấp nhận Tin Mừng ơn thánh cứu độ của Chúa được Đức Giêsu tử nạn và phục sinh mạc khải; một cuộc sống của yêu thương, nghĩa là quảng đại cụ thể và liên đới với tha nhân; một viễn tượng toàn diện của niềm hy vọng tin tưởng vào tương lai sẽ đem ơn cứu độ tới cho con người. Tuy nhiên, thánh Phaolô thêm vào công thức truyền thống tin-cậy-mến các phẩm chất chứng minh cho thấy kiểu cách sống ḷng Tin Cậy Mến của các tín hữu Thêxalônica rất đặc biệt. Ḷng tin của họ là thứ ḷng tin có các việc làm sinh động, ḷng mến của họ là thứ ḷng mến dấn thân, không nề quản gian khổ, ḷng cậy của ho là thứ ḷng cậy kiên tŕ không lay chuyển trong nguy khốn. Chính đó là lư do để thánh Phaolô nâng lời cảm tạ Thiên Chúa Cha. Thật vậy, ḷng tin của tín hữu Thêxalônica không phải là thái độ chiêm niệm, cũng không phải là thái độ trí thức và lư thuyết, mà là ḷng tin nhập thể và nhập thế trong đời như một động năng sản xuất và biến đổi. Ḷng mến của họ không chỉ giới hạn trong lănh vực cảm xúc, cũng không đồng hóa với các tâm t́nh thiện cảm, lại càng không phải là thái độ nhân ái chung chung. Trái lại, nó thể hiện ra ngoài bằng những hy sinh trợ giúp và phục vụ cụ thể, chia sẻ gánh nặng của nhau, chung vai sát cánh liên đới, ”đồng lao cộng khổ” với nhau. Sau cùng ḷng cậy của họ không phải là kiểu cách chạy trốn đời để lẩn ḿnh trong mầu hồng của tiện nghi tha hóa, mà là sự kiên tŕ trong gian lao thử thách, và đương đầu với các khó khăn ngăn chặn đường tiến về tương lai. Ai hy vọng th́ đứng vững hứng chịu sức nặng của lịch sử, chứ không gối mỏi chân chồn và qụy ngă. Họ can đảm chiến đấu, chứ không giơ cờ trắng đầu hàng các lực lượng sự dữ đánh phá và cản ngăn bước tiến của nhân loại. Tuy nhiên, không được lẫn lộn sự kiên tŕ trong hy vọng của Kitô hữu với chủ trương anh hùng kiêu căng vĩ đại, hay đồng hóa nó với ”andréia” trong tiếng hy lạp có nghĩa là sức mạnh của nam giới, rất được thế giới ngoại giáo đề cao và ca tụng. Bởi v́ các kitô hữu không kín múc sự kiên tŕ can đảm và tin tưởng đó nơi chính ḿnh, mà họ đặt tin tưởng ”nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” như thánh Phaolô viết. Cụ thể kiểu nói này ám chỉ biến cố Chúa Giêsu quang lâm, nghĩa là ngày Ngài tới gặp gỡ các tín hữu và vĩnh viễn giải thoát họ. Niềm hy vọng kitô chỉ có lư trong tương quan với Chúa Kitô, Đấng thống trị và tiêu diệt các lực lượng của cái chết và sự dữ.
Nếu lư do thứ nhất của lời cảm tạ là sức sinh động của kinh nghiệm kitô trong cộng đoàn Thêxalônica, th́ lư do thứ hai là sự tuyển chọn của Thiên Chúa (c. 4). Từ thực tại có thể nắm bắt được giờ đây thánh Phaolô lần lên cho tới thực tại chỉ có thể nắm bắt được với cái nh́n trực giác của ḷng tin và sự bén nhọn của đôi mắt mới giúp tín hữu đi vào trong sự sâu thẳm không thể ḍ thấu được của Thiên Chúa. Thiên Chúa Cha đă lựa chọn tín hữu Thêxalônica một cách nhưng không và nhiệm mầu. Chính Ngài đă có sáng kiến trao ban cho cộng đoàn một cuộc sống mới. Dĩ nhiên, chính các tín hữu đă lựa chọn sống theo các viễn tượng Tin Mừng, vị họ đă được tuyển chọn, nhưng đàng sau sự lạ của ḷng tin cụ thể, t́nh yêu thương dấn thân, và niềm hy vọng vững vàng của các tín hữu Thêxalônica, là hoạt động nhiệm lạ của Thiên Chúa Cha. Chính v́ thế không phải t́nh cờ mà thánh Phaolô gọi các thành phần giáo đoàn Thêxalônica với từ hoán cách ”Hỡi những người được Thiên Chúa yêu thương!”. Mọi tính từ khác đều biến mất trước tước hiệu mới này, tước hiệu sẽ diễn tả luôn măi đặc tính cuộc sống của họ. Các tín hữu Thêxalônica không chỉ là những người được hưởng nhờ cử chỉ t́nh yêu thương hay được tưởng thưởng bởi bằng chứng t́nh yêu thương, mà là những người được bước vào trong liên hệ yêu thương một lần cho tất cả, và được bao bọc luôn măi bởi t́nh yêu thương của Thiên Chúa Cha.
Như là những người được Thiên Chúa yêu thương họ trở thành anh chị em của tất cả những ai đă được đưa vào trong cùng một ṿng tṛn yêu thương: đó là nền tảng các tương quan hàng ngang mới giữa các tín hữu. Trong Kinh Thánh Cựu Ước bất cứ ai là thành phần dân Thiên Chúa đều được gọi là người anh em. Trong Tân Ước thói quen này được lấy lại nhưng với lư do mới mẻ: đó là việc cùng tiếp nhận Tin Mừng, theo đó Thiên Chúa Cha đă trao ban Đức Giêsu Kitô Con Ngài như Đấng Cứu Thế. Một tương quan mới với Thiên Chúa tạo ra một liên hệ mới với con người: t́nh huynh đệ giữa con người với nhau dựa trên t́nh phụ tử của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi Đức Kitô. Nhưng làm sao thánh Phaolô đă có thể trực giác được rằng các tín hữu Thêxalônica là những người được Thiên Chúa tuyển chọn? Thánh nhân đă chỉ dựa trên những ǵ ngài trông thấy khi đến thành phố này (c. 5). Tin Mừng mà thánh nhân và các cộng sự viên loan báo cho họ không chỉ là việc thông truyền lời nói mà diễn tả quyền năng của Thiên Chúa, nghĩa là Chúa Thánh Thần, mà tín hữu có thể sờ mó được. Có nhiều học giả cho rằng văn bản có ư đề cập tới các phép lạ và các tỏ hiện đặc sủng lạ thường. Nhưng đúng hơn nó ám chỉ sức mạnh thuyết phục trong lời rao giảng của các thừa sai. Chúa Thánh Thần hiện diện và tác động trong lời nói của các vị. Xa hơn, thánh Phaolô đề cập tới lời tin mừng như lời của Thiên Chúa đầy tràn năng lực tác động nơi những người nghe (2,13). Việc loan báo Tin Mừng không thể bị giản lược vào tiếng nói của con người thông truyền cho người khác một nội dung trí tuệ; nhưng đúng hơn nó là một lời tạo dựng, chất chứa quyền năng của Thiên Chúa. Bên ngoài là các lời nói của những người rao giảng Tin Mừng, nhưng ảnh hưởng định đoạt của Thần Khí tác động trên ư chí và con tim của người nghe, thúc đẩy, thuyết phục và lôi kéo họ tới ḷng tin. Dựa trên sự kiên này các thần học gia thời Trung Cổ đă tạo ra một công thức rất hay: đó là tương xứng với việc lắng nghe bên ngoai là việc lắng nghe bên trong như kết qủa của ơn thánh Chúa. Tin Mừng là lời đề nghị nhưng đồng thời cũng là sức mạnh đáp trả hữu hiệu.
ĐỀ TÀI 31
SỰ TUYỂN CHỌN NHƯNG KHÔNG
Phân tích chương đầu thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica, chúng ta nhận thấy ḷng biết ơn sâu xa của thánh Phaolô đối với Thiên Chúa. Thánh nhân không ngừng cám tạ Thiên Chúa v́ cuộc sống ḷng tin, ḷng cậy, ḷng mến tươi mát, hăng say và tinh tuyền của các tín hữu giáo đoàn này. Nhưng ngài cũng biết ơn Thiên Chúa v́ sự tuyển chọn nhưng không đối với các tín hữu. Chính Thiên Chúa đă có sáng kiến trao ban ơn cứu độ cho họ, nên các tín hữu thật là “những người được Chúa yêu thương”. Chính liên hệ yêu thương chiều dọc đó với Thiên Chúa xây nền cho liên hệ yêu thương chiều ngang với tha nhân và đặc biệt giữa các tín hữu là anh chị em với nhau trong gia đ́nh dân riêng mới của Thiên Chúa là Giáo Hội.
Tuy sự cứu độ là ơn nhưng không Thiên Chúa ban, nhưng con người cần mở rộng tâm ḷng đón nhận hạt giống Tin Mừng và dấn thân cộng tác để hạt giống Lời Chúa nẩy mầm và đơm bông hạt. Là những người từng chứng kiến cảnh Phaolô và các thừa sai phải vội vă rời Thexalonica v́ bị chống đối và truy nă, các tín hữu giáo đoàn này cảm nhận thấm thía gía cả mắc mỏ phải trả cho ḷng tin. Sống Tin Mừng cứu độ của Chúa Giêsu trong một môi trường thù nghịch như thế không phải là điều dễ dàng. Thánh Phaolô dùng từ hy lạp ”thlípsis” để nói tới các khó khăn gian khổ mà tín hữu Thexalonica gặp phải. Đây là từ diễn tả cuộc khủng hoảng của thời tận thế, do các lực lượng đối nghịch với Tin Mừng của Chúa Kitô gây ra. Qua đó thánh Phaolô có ư khẳng định rằng những lao đao lận đận mà tín hữu Thexalonica phải gánh chịu không giống như các khổ đau thứ thách thường t́nh, mà là hậu qủa sự hiện diện của các quyền lực của ma qủy khuấy động tung hoành tại bất cứ nơi nào Tin Mừng được loan báo cho con người. Tuy phải sống trong cơn băo khủng hoảng ấy, tín hữu Thêxalônica đă không chỉ mở rộng tâm ḷng tiếp nhận lời rao giảng với tất cả xác tín tự do, mà c̣n vui sướng nữa. Niềm vui trộn lẫn với khốn khó khổ đau: thực tại mâu thuẫn này được thánh Phaolô đề cập tới trong nhiều thư khác (Rm 5,3; 8,9; 12,12; 2 Cr 5,10; 7,4; 8,2; 13,9). Đây không phải là thái độ sống bệnh hoạn của hiện tượng khổ dâm, nghĩa là t́m và cảm thấy khoái lạc trong đau đớn (do người khác hay do chính ḿnh gây ra cho ḿnh hoặc cho người khác). Nó cũng không phải là thái độ huyền bí tán tụng khổ đau. Lư do giải thích không nằm trong các cơ cấu tâm lư ít nhiều bất b́nh thương, nhưng do sự hiện diện của Thần Linh Chúa, là suối nguồn của sự ủi an, an b́nh và tươi vui. Nếu tín hữu vẫn tươi vui trong gian lao thử thách và khốn khó, chính là nhờ sức trợ lực của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần trợ lực Phaolô và các thừa sai trong công tác rao giảng Tin Mừng, cũng như ban cho tín hữu tươi vui đón nhận lời rao giảng ấy.
Như thế, cộng đoàn bé nhỏ Thêxalônica đă đi lại con đường và đă sống cùng kinh nghiệm của Chúa Giêsu chịu đóng đanh cũng như của các thừa sai. Ở đây thánh Phaolô nói tới việc noi gương bắt chước. Noi gương bắt chước ở đây không chỉ có nghĩa thuần túy luân lư, tức là lập lại các thái độ sống của người khác, nhưng chia sẻ sâu đậm thực tại và các kinh nghiệm của người khác. Trên b́nh diện từ vựng, thánh Phaolô đă du nhập vào ngôn ngữ Kitô giáo một từ hoàn toàn hy lạp. Từ ”mimetês, miméomai” tương đương với từ “akoluthêô, ôpisô mou”, tức ”theo Chúa Giêsu” như viết trong các Phúc Âm. Chấp nhận trở thành tín hữu kitô có nghĩa là chấp nhận sống kinh nghiệm và thực tại bị chống đối, thù ghét, khai trừ và kết án xử tử như Chúa Giêsu. Chúa Kitô, các tông đồ và các tín hữu đều chia sẻ cùng một số phận như nhau. Nghĩa là Giáo hội tiếp nối con đường của Chúa Giêsu. Sống đời tín hữu Kitô có nghĩa là chia sẻ thập gía của Chúa Giêsu. Đây là lư do giải thích tại sao thánh Phaolô luôn luôn lấy Chúa Kitô làm điểm quy chiếu cho mọi tâm t́nh và cung cách hành xử của ngài và của các Kitô hữu. Sau này khi viết bức thư thứ nhất cho tín hữu giáo đoàn Côrintô ngài khuyến khích họ rơ ràng như sau: ”Anh chị em hăy bắt chước tôi, như tôi đă bắt chước Chúa Kitô” (1 Cr 11,1). Nhưng giây chuyền bắt chước đó không chỉ dừng lại nơi các tín hữu Thêxalônica, mà c̣n lan rộng và lan xa hơn nữa. Các kitô hữu Thêxalônica tới lượt họ lại trở thành mẫu gương cho tín hữu thuộc các giáo đoàn khác rải rác trên đất nước hy lạp. Thật thế gương sống ḷng tin của họ được tín hữu các giáo đoàn khác biết tới và ca ngợi khâm phục khắp nơi và trở thành Tin Mừng. Như thế Lời Chúa không bị đóng khung trong ranh giới của cộng đoàn gồm một nhóm tín hữu bí truyền, mà trái lại lan rộng ra khắp nơi như các làn sóng đồng tâm ngày càng trải rộng ra. Các người đón nhận Tin Mừng giờ đây trở thành các kẻ loan báo Tin Mừng. Kẻ được truyền đạo trở thành người truyền giáo, không phải qua việc giảng dậy, mà qua chính cuộc sống và cung cách hành xử gương mẫu của họ. Họ là Tin Mừng sống động. Ḷng tin Kitô lan rộng không phải nhờ các dịch vụ quảng cáo như các ư thức hệ thường làm, nhưng là qua việc cống hiến và chia sẻ cho người khác các kinh nghiệm khổ đau, sống thực, đáng tin cậy. Dân chúng và tín hữu các cộng đoàn khác kể lại cho nhau nghe biến có các thừa sai tới rao giảng Tin Mừng tại Thêxalônica như thế nào và tín hữu tại đây đă đón nhận Lời Chúa và kiên tŕ sống Tin Mừng của Chúa ra sao. Hai câu 9-10 của chương một tả lại biến cố Lời Chúa đụng chạm và đánh động tâm ḷng tín hữu tại đây như đă tŕnh thuật trong các câu 5-8 trước đó. Phaolô dùng lại các yếu tố của giáo lư trong cộng đoàn kitô tiên khởi để tả lại tiến tŕnh theo Kitô giáo của tín hữu Thêxalônica. Trước hết họ từ bỏ các tà thần, và quy hướng về Thiên Chúa hằng sống và chân thật. Nghĩa là họ quay lưng cho các thần linh bất lực không trao ban sự sống cho họ để chọn lựa vâng phục Thiên Chúa và phụng sự Ngài. Chúng ta có thể nói tới việc hoán cải độc thần, nghĩa là các tín hữu gốc ngoại giáo từ bỏ đa thần để theo độc thần. Nhưng niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất ấy c̣n có một khía cạnh khác nữa. Đó là thái độ trông chờ biến cố Chúa Kitô quang lâm vào ngày sau hết để giải thoát tín hữu.
Ở đây cần ghi nhận sắc thái cánh chung trong quan niệm kitô học của Phaolô. Thánh nhân chỉ nêu bật biến cố Chúa Giêsu Kitô trở lại trong vinh quang, mà không nhấn mạnh tới cái chết và sự phục sinh của Ngài. Thật vậy, ḷng tin kitô ở đây được hiểu như là niềm hy vọng hướng về ngày cánh chung, ngày Chúa Kitô quang lâm để giải phóng tín hữu một cách vĩnh viễn và thành toàn lịch sử cứu độ. Quan niệm về ḷng tin kitô như thái độ sống hướng về tương lai và cuộc sống mai sau này đă được thánh Phaolô lấy lại từ giáo huấn của Kitô giáo thời khai sinh. Nó tập trung vào gương mặt của nhân vật cựu ước gọi là Con Người như được chương 7 sách Daniel nói tới lần đầu tiên. Trong trào lưu khải huyền của Do thái giáo tín hữu trông đợi biến cố một vị quan án sẽ tới trong tương lai, tức Con Người, để giải phóng tín hữu khỏi mọi lực lượng sự dữ và cái chết. Gương mặt vinh quang đó của Con Người đựơc Chúa Giêsu áp dụng cho chính ḿnh, và Kitô giáo thời khai sinh đồng hóa Con Người của sách Daniel với Đức Giêsu thành Nagiarét. Đức Giêsu Kitô Con Người sẽ từ trời, nghĩa là từ thế giới thiên linh của Thiên Chúa, ngự xuống, để chủ tọa vụ phán xử sau hết trong ngày thế mạt. Đối với các tín hữu, ngày phán xử kinh hoàng đó sẽ là ngày vui của ơn giải phóng và cứu độ, ngày họ được bước vào Nước của Thiên Chúa. Chúng ta có thể coi đây là giáo lư kitô học cổ xưa nhất của Kitô giáo thời khai sinh.
Chắc hẳn trước thời thánh Phaolô theo Kitô giáo và rao giảng Tin Mừng, tín hữu cộng đoàn Giáo Hội tiên khởi nói tiếng hy lạp đă thay kiểu nói “Con Người”, là kiểu diễn tả rất xa lạ với thế giới và tâm thức hy lạp, bằng kiểu nói ”Con Thiên Chúa”. Dầu sao đi nữa, trong văn bản của chúng ta tước hiệu kitô học ”Con Thiên Chúa”, tuy vẫn được diễn tả với sắc thái khải huyền, nghĩa là ”từ trời xuống”, nhưng đi liền với động từ ”ryómenon” giải thoát, cho được tự do, thay v́ đi liền với động từ phán xử, là từ mang qúa nhiều đặc tính do thái. Thánh
Phaolô đă tiếp nhận quan điểm Kitô học này, mà chính ngài cũng tiếp thu được từ các tín hữu Hy Lạp và chia sẻ với tín hữu Thêxalônica. Sự kiện các tín hữu Thêxalônica tin nhận Chúa Kitô có nghĩa ṇng cốt là họ trông chờ trong tương lai Chúa Kitô can thiệp để giải thoát họ khỏi án phạt. Và sự trông chờ đó có tính chất khẩn trương, như sắp sửa xảy ra trong ngày hôm nay, chứ không phải là sẽ tới trong một tương lai xa vời. Dĩ nhiên, thánh Phaolô không quên sự phục sinh của Chúa Kitô, cũng được thánh nhân tuyên xưng với một công thức cổ xưa của Giáo Hội thời khai sinh. Nhưng ở đây sự phục sinh xem ra không phải là biến cố ư nghĩa và trao ban ơn cứu độ. Nó chỉ bảo đảm cho biến cố Chúa Kitô sẽ quang lâm mà thôi. Ḷng tin vào Chúa Kitô phục sinh liên hệ tới niềm hy vọng vào biến cố Ngài sẽ quang lâm để giải thoát và cứu độ tín hữu.
Đây hẳn là một kiểu diễn tả cổ xưa của ḷng tin Kitô. Rất mau sau đó các tín hữu cũng nhận ra các hạn hẹp của nó và bổ túc bằng các suy tư chín mùi và trưởng thành hơn. Theo đó cuộc tử nạn, cái chết và sự phuc sinh của Chúa Kitô làm thành nhịp cầu toàn vẹn của lịch sử cứu độ. Nghĩa là ḷng tin của chúng ta không chỉ hướng về biến cố Chúa Kitô quang lâm trong tương lai, mà c̣n gắn liền với việc chia sẻ sự sống mới của Chúa phục sinh trong hiện tại và việc tham dự vào cái chết mà Ngài đă phải chịu v́ chúng ta và v́ tội lỗi chúng ta trong qúa khứ nữa. Trong chương 4,14 và 5,10 thánh Phaolô cũng dùng lại các công thức ḷng tin của cộng đoàn kitô tiên khởi nêu bật tầm quan trọng cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô
ĐỀ TÀI 32
CUỘC SỐNG THÁNH THIỆN VÀ YÊU THƯƠNG HUYNH ĐỆ
Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica, ngoài thái độ biết ơn cám tạ Thiên Chúa và mong đợi ngày Chúa Kitô quang lâm, c̣n có hai đề tài quan trọng khác: đó là cuộc sống thánh thiện và t́nh yêu thương huynh đệ. Ơn gọi