CHƯƠNG V

THƯ GỬI TÍN HỮU THEXALÔNICA I & II  (tiếp)

33. Niềm hy vọng Kitô

34. Tỉnh táo chờ đợi Chúa đến

35. Sức lớn mạnh của Cộng đoàn Kitô Thêxalônica

36. Những vấn nạn trong thư thứ II gửi Thêxalônica

37. Ai là tác giả thư thứ II gửi tín hữu Thêxalônica

38. Kết Cấu và Nội Dung

39. Tính sổ đời trong ngày sau hết

40. Ngày Chúa đến quy tụ và hiệp nhất tín hữu

 

 

ĐỀ TÀI 33

 

NIỀM HY VỌNG KITÔ

 

   Đọc thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica chúng ta có thể nhận ra một số vấn nạn của tín hữu: điển h́nh là thắc mắc liên quan tới số phận của những người đă chết. Vào thời Giáo Hội khai sinh các tín hữu tin rằng chẳng bao lâu nữa Chúa Giêsu Kitô sẽ trở lại trong vinh quang để kết thúc lịch sử nhân loại và cứu rỗi những kẻ tin vào Ngài. Nghĩa là ngày quang lâm sẽ xảy ra khi họ c̣n sống, nhưng các tín hữu đă chết rồi sẽ không được dự kiến giờ phút vinh quang ấy. Như thế số phận của họ sẽ ra sao? Họ có được vào hưởng sự sống vĩnh cửu với Chúa không?

Tuy không biết nhiều chi tiết liên quan tới t́nh h́nh cộng đoàn Thêxalônica, nhưng một vài dữ kiện thu lượm được giúp chúng ta hiểu lư do của các vấn nạn này. Trong chương 3,10 thánh Phaolô nói ngài và các cộng sự viên mong đợi có dịp gặp họ để giúp họ bổ túc thêm giáo lư ḷng tin. Điều này giúp chúng ta kết luận rằng trong số các điểm giáo lư c̣n thiếu sót có giáo lư về sự sống lại. Chắc hẳn thánh Phaolô chưa kịp giảng dậy vấn đề này cho họ. Ngoài ra cũng phải phỏng đoán rằng giải pháp của vấn đề ơn cứu rỗi có lẽ đă được tập trung vào biến cố Chúa Giêsu quang lâm (1,10), mà mọi người đều tin rằng sẽ xảy ra trong thời gian rất ngắn sắp tới. Do đó tâm trí của tín hữu Thêxalônica hoàn toàn mù tịt liên quan tới số phận của các anh chị em đă qua đời trong thời gian Phaolô không có mặt trong cộng đoàn. Thánh Phaolô gọi t́nh trạng đó là dốt nát. Và hậu qủa của sự dốt nát không hiểu biết giáo lư đó thật là tai hại. Các tín hữu Thêxalônica sống trong âu lo buồn sầu ảo năo, vô vọng không kém những người không theo đạo và không hề biết Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng cứu độ của Ngài. Dĩ nhiên, trong thế giới hy lạp, người ta cũng tin rằng linh hồn bất tử, nhưng chỉ có một thiểu số ưu tú trong xă hội hy lạp là có một quan niệm tích cực về thế giới bên kia thôi. Và chắc hẳn là không ai có được niềm hy vọng kitô là thái độ tin tưởng đợi chờ Chúa Kitô Đấng Cứu Thế quang lâm (1,3.10). T́nh trạng này làm phát sinh ra một chuỗi các hậu qủa dây chuyền như sau: sự dốt nát khiến con người không hy vọng, ít nhất là không hy vọng vào số phận của người chết, v́ không có hy vọng nên con người buồn sầu ảo năo.

    Nỗi âu lo tuyệt vọng đó lại càng gia tăng, v́ chắc chắn trong suốt thời gian này lại có thêm các anh chị em kitô khác qua đời. Và viễn tượng được gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô quang lâm xem ra ngày càng xa vời đối với các anh chị em đă chết hay mới chết này. Và chính những tín hữu c̣n sống cũng âu lo v́ không biết ḿnh phải chết giờ nào và có c̣n sống cho tới lúc Chúa Kitô trở lại trong vinh quang hay không. Chính v́ thế thánh Phaolô muốn giải tỏa các thắc mắc lo âu đó cho tín hữu bằng cách tŕnh bầy cho họ hiểu giáo lư liên quan tới cuộc sống đời sau. Điểm khởi hành của giáo lư là niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô tử nạn và phục sinh. Tín hữu Thêxalônica cũng chia sẻ niềm tin ấy. Chính nó dậy cho tín hữu biết rằng Thiên Chúa sẽ không để cho những người đă chết rơi vào trong hư vô và trong bóng tối. Trái lại, qua Chúa Giêsu, Ngài sẽ dẫn đưa họ vào trong vương quốc của Ngài. Nghĩa là viễn tượng cuộc sống tương lai hoàn toàn dựa trên hoạt động cứu độ của Thiên Chúa Cha là Đấng đă bảo đảm sự sống lại của Đức Kitô. Cũng như Thiên Chúa Cha đă giải thoát Đức Kitô khỏi nanh vuốt cái chết làm sao, th́ Ngài cũng sẽ giải thoát các tín hữu đă qua đời khỏi nanh vuốt cái chết như vậy. Đức Giêsu và các kitô hữu đều có cùng một vận mệnh tối hậu như nhau. Chúa Giêsu đă từ cơi chết bước vào sự sống vinh quang làm sao, th́ các tín hữu cũng sẽ được từ cơi chết bước vào cuộc sống trường sinh như vậy. Nghĩa là có sự liên tục trong hoạt động của Thiên Chúa là Đấng làm cho sự sống phát sinh và cho sống dậy. Nhưng ở đây Chúa Kitô không chỉ là kiểu mẫu các chiến thắng của Thiên Chúa trên cái chết, mà c̣n là Đấng trung gian và là mục đích hoạt động của Thiên Chúa nữa. Qua Đức Kitô Thiên Chúa hoạt động cho các tín hữu đă chết sống lại và nối kết họ với Ngài trong sự hiệp thông bất diệt. V́ thế thánh Phaolô kết luận: “Và chúng ta sẽ được sống với Ngài luôn măi”.

     Nói cách khác, niềm tin vào Chúa Kitô đă chết và đă phục sinh là nền tảng của niềm hy vọng Kitô. Khi tin tưởng vào hoạt động trong quá khứ của Thiên Chúa Cha là Đấng đă cho Đức Kitô Con Ngài sống lại, tín hữu cũng có thể vững tin vào hành động của Thiên Chúa trong tương lai. Thiên Chúa cũng sẽ trao ban cuộc sống mới cho những người đă chết như thế, bởi v́ Thiên Chúa không nói dối. Ngài trung thành với cái luận lư hoạt động sáng tạo sự sống ngay trong vùng đất thống trị của sự chết. Tất cả là do sáng kiến của Thiên Chúa. Cuộc sống mai sau ở bên kia chân trời của sự chết tùy thuộc nơi Ngài. Niềm hy vọng vào cuộc sống vĩnh cửu mai sau đó chỉ có thể nảy mầm trong chân trời của ḷng tin kitô. V́ niềm hy vọng đó không phát xuất từ số phận của bản tính nhân loại, cũng không tùy thuộc nơi công lao của con người, mà tùy thuộc nơi cử chỉ tạo dựng tự do của Thiên Chúa Cha, là Đấng đă cho Đức Giêsu sống lại và sẽ làm cho những kẻ tin vào Con của Ngài được sống.

    Sau khi tŕnh bầy ṇng cốt giáo lư Kitô liên quan tới cuộc sống sau cái chết, thánh Phaolô c̣n phân biệt hai loại người và xác định số phận của họ nữa. Một bên là ”chúng ta, những người c̣n sống cho tới khi Chúa trở lại”, bên kia là “những người đang ngủ trong cái chết”. Chúng ta chỉ có thể hiểu được khẳng định này của thánh Phaolô, khi nhớ rằng cả thánh nhân cũng chia sẻ quan niệm và sự chờ mong của các Kitô hữu trong Giáo Hội thời khai sinh, tin rằng Chúa Kitô sẽ trở lại trong thời gian rầt gần, nên lúc đó có nhiều tín hữu vẫn c̣n sống. Thánh Phaolô cũng hy vọng ḿnh thuộc số những người c̣n sống khi Chúa Kitô quang lâm. Phải nói ngay rằng lời thánh Phaolô xác định số phận các tín hữu đă chết hay c̣n sống chỉ dựa trên giáo huấn khải huyền của Đức Giêsu thành Nagiarét, được truyền lại và được thánh nhân đón nhận, chứ nó không do Chúa Kitô phục sinh linh ứng, hay dựa trên lời Chúa Kitô phuc sinh đă nói và được truyền thống Tin Mừng ghi chép lại. Và đây là giải đáp cho thắc mắc của các tín hữu Thêxalônica: khi Chúa Giêsu Kitô trở lại trong ngày sau hết, các tín hữu đă chết trong Chúa Kitô sẽ được sống lại, rồi tới phiên các tín hữu c̣n sống cho tới lúc đó, mọi người cùng với các anh chị em khác sẽ được đưa lên ”gặp gỡ Chúa và sống măi với Ngài”.

     Trong đoạn này thánh Phaolô dùng lại một số các yếu tố và kiểu cách diễn tả linh hoạt của nền văn chương khải huyền thời đó. Quang cảnh ngày sau hết thật là trang trọng và hùng vĩ. Thiên Chúa ra hiệu lệnh cho giờ tận thế, tiếng tổng lănh thiên thần la vang, tiếng kèn của Thiên Chúa trổi lên. Cả ba yếu tố trên đây xem ra đều ám chỉ một thực tại duy nhất: đó là giờ phút khai mào các biến cố cuối cùng của thời thế mạt. ”Khi đó Chúa Kitô sẽ từ trời hiện xuống”. Kiểu diễn tả này cũng mang đậm dấu vết của nền văn chương khải huyền. Chúa Kitô quang lâm giống như Con Người trong chương 7 sách Daniel. Tiếp đến các tín hữu đă chết được phục sinh. Sự sống lại của các kẻ chết cũng là nét đặc thù của niềm hy vọng khải huyền. Sau đó là biến cố Thiên Chúa ”đánh cắp” mọi người - các tín hữu đă chết nay được phục sinh cũng như các tín hữu chưa chết - và đem họ lên gặp Chúa trên mây trời. Có lẽ ở đây Phaolô chiếu theo quang cảnh các vua, các hoàng đế hay các nhân vật vị vọng đi tham quan các thành phố hy lạp thời bấy giờ. Các buổi viếng thăm tưng bừng ấy tiếng hy lạp gọi là ”parusia”, giống như biến cố Chúa Kitô đến trong ngày sau hết. ”Parusia”, ngày Chúa Giêsu Kitô trở lại, như thế là một cuộc viếng thăm tưng bừng, tươi vui đối với các tín hữu, bởi v́ Chúa đến phán xử trần gian, đánh tan các lực lượng sự dữ và giải thoát họ. Đó là lư do giải thích tại sao Chúa Giêsu dặn các môn đệ là khi nào thấy các dấu chỉ kinh thiên động địa, th́ hăy biết rằng Ngài đă gần bên cửa nhà rồi, như viết trong các Phúc âm Nhất Lăm (Mt 24; Mc 13; Lc 17; 21).

     Lễ nghi đón tiếp bao gồm việc dân chúng các thành phố hân hoan tuốn ra đón tiếp gặp gỡ vị thượng khách. Cuộc gặp gỡ tươi vui đó gọi là ”apantêsis”. Trong văn bản của chúng ta thánh Phaolô viết ”eis apantêsin tou Kyriou” ”trong cuộc gặp gỡ hân hoan của Chúa”. Ngoài tất cả các kiểu cách diễn tả mầu mè biểu tượng đặc thù của nền văn chương khải huyền trong thế giới do thái và hy lạp thời đó, Phaolô muốn nói lên một sự thật đơn sơ nhưng sâu sắc: đó là trong ngày tận thế, kitô hữu sẽ được bước vào sống cuộc sống hiệp thông bất diệt với Chúa Giêsu Kitô. Ở đây thánh nhân tách rời khỏi khung cảnh mộng mơ qúa đáng của nền văn chương khải huyền, để tŕnh bầy với tín hữu ư nghĩa đích thực của cuộc sống tương lai dưới ánh sáng của ḷng tin kitô. Cuộc sống mai sau đó không bao gồm các biến chuyển kinh thiên động địa trong vũ trụ, hay các thay đổi bên ngoài con người, nhưng là một cuộc sống mới của các tín hữu trong niềm hiệp thông vĩnh cửu với Chúa Kitô và với nhau.

   Dựa trên ánh sáng của giáo huấn Kitô liên quan tới sự sống lại và cuộc sống mai sau đó thánh Phaolô khuyến khích tín hữu hăy can đảm và an ủi nhau. Trước số phận cao qúy ấy của ḿnh, tín hữu phải sống trong tươi vui hy vọng và không lo lắng sợ hăi trước cái chết. Nói cho cùng cái chết của thân xác cần thiết, v́ nó là cánh cửa dẫn đưa tín hữu bước vào cuộc sống hiệp thông trọn vẹn vĩnh cửu với Thiên Chúa.

 

ĐỀ TÀI 34

TỈNH TÁO ĐỢI CHỜ CHÚA ĐẾN

 

    Trong chương 5 là chương cuối cùng thư gửi tín hữu Texalônica thánh Phaolô khai triển hai đề tài thần học quan trong khác. Thứ nhất là thái độ tín hữu phải có trong khi chờ đợi Chúa đến, và thứ hai là bí quyết giúp cộng đoàn trưởng thành và lớn mạnh.

    Phần đầu chương 5 tiếp tục đề tài ngày Chúa Giêsu Kitô quang lâm. Các tín hữu Thêxalônica nôn nóng muốn biết thời điểm của biến cố định đoạt đó trong lịch sử nhân loại và trong lịch sử đời họ. T́m xác định ngày giờ chính xác của ngày tận thế, được báo trước qua các dấu chỉ kinh thiên động địa là một trong các nét đặc thù của nền văn chương khải huyền do thái. Mục đích của việc xác định này nhằm cống hiến cho tín hữu khả năng nhận biết ra ”ngày của Giavê Thiên Chúa”. Trong Kinh Thánh Cựu ước ”yôm Giavê” ”ngày của Giavê” thường ám chỉ thời điểm hành động của Thiên Chúa trong ngày phán xét. Thiên Chúa đến đánh phạt và phán xử mọi dân nước. Tuy nhiên truyền thống kitô tiên khởi đă thêm vào ư niệm này một vài yếu tố độc đáo khác. Trước hết là tính cách bất th́nh ĺnh, không thể nào lường trước được của biến cố Chúa quang lâm ngày sau hết. Đó là ư nghĩa h́nh ảnh tên trộm lẻn vào lấy tiền của lúc chủ nà không ngờ tới (Mt 24,42-43; Lc 12,39), hay h́nh ảnh người đàn bà có mang bất th́nh ĺnh chuyển bụng đau đớn để sinh con (Mc 13,8;Mt 24,8). Thêm vào đó là lời cảnh cáo chống lại cái an ninh giả tạo của những người ngủ quên trong vô thức, cứ tưởng rằng mọi chuyện đều tiến hành tốt đẹp xuôi chảy, mà không trông thấy đại họa gần kề. H́nh ảnh thế hệ thời lụt Hồng Thủy đời ông Noê diễn tả kiểu sống vô thức, chủ quan, mê ngủ, không biết tỉnh thức và sáng suốt đề pḥng ấy (Mt 24,37-39; Lc 17,26-27). Nét độc đáo thứ ba trong quan niệm kitô về ”ngày của Giavê” đó là lời khuyến khích tỉnh thức (Mc 13,24.25.27; Mt 24,42-43; 25,13). Và sau cùng Đấng kitô hữu trông đợi ở đây không phải là Giavê Thiên Chúa, mà là Chúa Giêsu Kitô quang lâm. Nghĩa là biến cố tận thế được diễn tả và xác định trong ư nghĩa kitô. Chính Chúa Kitô sẽ đến để kết thúc lịch sử nhân loại, phán xử mọi loài mọi vật và cứu độ các tín hữu.

   Xem ra thánh Phaolô triệt để trung thành với giáo huấn đó của Giáo Hội thời khai sinh. Phaolô vừa duy tŕ các yếu tố nhận được từ truyền thống kitô vừa khai triển thêm bằng cách nêu bật các cặp ư niệm đối kháng nhau như: ánh sáng và bóng tối, ngày và đêm, và số phận trái nghịch của các tín hữu và của những người không tin Chúa. Cụ thể mà nói thánh nhân không đưa ra các giáo huấn mới mẻ nào. Ngài chỉ nhắc cho tín hữu nhớ nội dung lời rao giảng mà họ đă nghe biết (cc.1-3). Liên quan tới biến cố ngày sau hết các tín hữu Thêxalônica đă dư biết: họ biết rằng Chúa Giêsu Kitô sẽ đến bất th́nh ĺnh khi không ngờ tới. Do đó vấn đề là phải sống trong tỉnh thức và phản tỉnh, làm sao để không bị đánh úp. Thái độ an ninh giả tạo và hờ hững vô lo tai hại của những người không tin Chúa được Phaolô diễn tả bằng động từ ở thể không ngôi vị, trái nghịch với thái độ của ”anh chị em” Thêxalônica (c. 2). Những người không tin Chúa sống trong xác tín mơ ảo cho rằng mọi chuyện đều xuôi chảy, không có ǵ đáng phải lo ngại. Họ coi hiện tại được bảo đảm an ninh và ngủ yên trong cái an ninh của ngày hôm nay. Nhưng họ lầm, v́ họ sẽ trở thành nạn nhân của bất ngờ và sẽ là mồi ngon của tai họa không thể nào cứu chữa được.

     Tín hữu Kitô không được sống như thế và không được có thái độ như vậy, v́ ơn gọi kitô đă giải thoát họ khỏi thế giới tối tăm, khỏi sự ngu dốt và thái độ đóng kín trước tương lai, đặt để họ trong cuộc sống chan ḥa ánh sáng và rộng mở cho ơn cứu độ của Thiên Chúa. Phaolô khai thác ư niệm nhị nguyên đối kháng ánh sáng và bóng tối, nghĩa là sự thiện hay ơn cứu độ, và sự dữ hay t́nh trạng hư mất. Đây là ư niệm đă được biết tới trong môi trường do thái Qumran. Thánh nhân thay đổi nó với ư niệm đối kháng song song là ngày và đêm, nhưng tư tưởng của Phaolô không mang tính chất phân chia tiền định như trong tư tưởng của các tài liêu qumran, bởi v́ ơn cứu độ tùy tuộc nơi sự lựa chọn tự do của con người. Mỗi người có thể tự do đón nhận Tin Mừng của Chúa để được cứu độ, hay khước từ tham dự vào cuộc sống sáng láng thần thiêng, để tiếp tục bước đi trong bóng tối của sự dữ, tội lỗi và bị án phạt hủy diệt trầm luân đời đời. Nói cách khác, thánh Phaolô nêu bật phần trách nhiệm của từng người đối với ơn cứu rỗi hay đối với án phạt của chính ḿnh. Qua lời rao giảng của các thừa sai, Thiên Chúa tiếp tục cống hiến ơn cứu độ cho tất cả mọi người không trừ ai, nhưng Thiên Chúa không cưỡng bách con người. Ngài chỉ tha thiết kêu mời và để cho mỗi người tự do lựa chọn. Đây đă là giáo huấn ghi trong chương 30 sách Đệ Nhị Luật: ”Hăy xem, hôm nay Ta đặt để trước mặt ngươi sự sống và sự thiện, cái chết và sự dữ... Có trời đất chứng giám chống lại các ngươi: Ta đă đặt trước mặt ngươi sự sống và cái chết, phúc lành và chúc dữ; Hăy lựa chọn sự sống để ngươi và ḍng dơi ngươi được sống bằng cách yêu mến Thiên Chúa là Chúa ngươi, vâng lời Ngài và sống kết hiệp với Ngài. Bởi v́ Thiên Chúa là sự sống và là sự trường thọ của ngươi” (Đnl 30,15-20). Thiên Chúa để cho chúng ta hoàn toàn tự do, nhưng không có sự dấn thân nào mà lại không có các điều kiên của nó. Để được ơn cứu độ chúng ta phải lựa chọn tin nhận Chúa, yêu mến Ngài và sống theo các giáo huấn của Ngài.

   Chắc hẳn thánh Phaolô cũng đă dựa trên giáo huấn và kiểu cách tŕnh bầy này để khuyến khích tín hữu Thêxalônica. Từ thể biểu thị (indicativo) Phaolô đổi qua thể sai khiến (imperativo). Thánh nhân chỉ cho tín hữu Thêxalônica thấy t́nh trạng sống mới của những người tin Chúa và thái độ sống dấn thân của họ. V́ là con cái sự sáng nên họ phải sống như con cái sự sáng: liêm chính, không dối trá, điêu ngoa, lắt léo và mê muội, tăm tối. Cụ thể mà nói kitô hữu phải sống trong thái độ thức tỉnh và chú ư, không để cho tâm trí của ḿnh bị tê liệt bất động, mê ngủ hay vô ư thức. Bởi nếu không họ có thể rơi vào nguy cơ sống phản chứng mà cứ tưởng ḿnh đang theo Chua nhiệt thành, phản bội cộng đoàn dân Chúa, mà cứ tưởng ḿnh phục vụ Giáo Hội, trở thành dụng cụ bị các lực lượng đen tối lèo lái đánh phá Giáo Hội, mà cứ tưởng rằng ḿnh đang ra công xây dựng cộng đoàn dân Chúa. Nếu không tỉnh thức, họ có thể rơi vào nguy cơ đồng hóa các ham hố tư lợi, t́m kiếm danh vọng, chức vị và thỏa măn sở thích riêng của ḿnh với lợi ích và sự phát triển của cộng đoàn Giáo Hội địa phương, cản ngăn sức lớn mạnh và sự trưởng thành của nó, để cho nó nghèo nàn, ù ĺ, chậm tiến, ấu trĩ và kiệt quệ đi, mà cứ tưởng rằng ḿnh đang bảo vệ và vun trồng Giáo Hội.

   Để diễn tả thái độ mà tín hữu phải có trong cuộc sống ḷng tin thường ngày, thánh Phaolô dùng một chuỗi các kiểu nói phản đề: một đàng là ánh sáng ban ngày và t́nh trạng tỉnh thức với lương tâm bén nhậy tỉnh táo, đàng khác là tối tăm ban đêm và ngủ mê với lương tâm u muội, say mèm. Nhưng tiếp đến thánh Phaolô khẳng định rằng chính ḷng tin cậy mến đ̣i buộc tín hữu phải có thái độ tỉnh thức đó, chứ nó không phải chỉ là một đức tính đạo đức luân lư mà thôi. Để khỏi rơi vào cảnh không được chuẩn bị khi Chúa Kitô bất th́nh ĺnh quang lâm, kitô hữu phải mặc lấy đức tin, đức mến như áo giáp và lấy đức cậy và ơn cứu độ làm mũ chiến đội đầu. Chỉ những ai tin tưởng, cậy trông và yêu mến đích thực mới tỉnh thức và có đầu óc sáng suốt mà thôi. Thức tỉnh đợi chờ Chúa Kitô đến có nghĩa là sống niềm hy vọng kitô với các nét đặc thù của nó.

 Và thái độ của tín hữu tin tưởng vào tương lai không uổng công, v́ chương tŕnh của Thiên Chúa là cống hiến cho họ ơn cứu độ chứ không phải án phạt. Biến cố Chúa Giêsu Kitô tử nạn để chuộc tội cho con người là bằng chứng ư chí dấn thân đó của Thiên Chúa. Nó bảo đảm cho tín hữu biết rằng Thiên Chúa Cha sẽ cho họ bước vào cuộc sống hiệp thông bất diệt với Chúa Giêsu Kitô. Nhưng ngay từ bây giờ đây, nếu biết sống ḷng tin cậy mến vững vàng sốt sắng, th́ lúc nào họ cũng được kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô. Dựa trên xác tín này Phaolô khuyến khích tín hữu Thêxalônica biết có tinh thần trách nhiệm và liên đới an ủi, trợ giúp nhau trong nỗ lực xây dựng cộng đoàn Giáo Hội địa phương. Cộng đoàn Giáo Hội địa phương giống như một ngôi nhà. Nó có thể được xây cao và có vững mạnh hay không, điều đó tùy thuộc nơi thái độ sống ḷng tin cậy mến đích thực và tinh thần trách nhiệm liên đới và hiệp nhất của các tín hữu. Mọi tư tưởng và thái độ sống cá nhân, ích kỷ, riêng rẽ không có chỗ đứng trong quan niệm của thánh Phaolô về ơn cứu rỗi và về cộng đoàn giáo hội.

   Có người có thể nghĩ rằng: v́ chúng phát xuất từ sự nôn nóng trông chờ Chúa Giêsu Kitô quang lâm trong thời gian gần kề, nên các tư tưởng trên đây của thánh Phaolô chỉ có gía trị trong bối cảnh cộng đoàn Thêxalônica thời đó. Thật ra các suy tư của thánh Phaolô liên quan tới thái độ sống tỉnh thức , mà mọi kitô hữu đều phải có, không phát xuất từ sự trông chờ nôn nóng nói trên, mà phát xuất từ tương quan đúng đắn giữa hiện tại và tương lai thời sau hết, từ t́nh trạng sống mới mà kitô hữu nhận được qua ḷng tin vào Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng của Ngài. Những ǵ sẽ xảy ra không phải là tương lai của thế giới, mà là tương lai của tín hữu, là những người đă được Thiên Chúa đích thân kêu mời sống ơn gọi là con cái Ngài. Những ǵ sẽ xảy ra không phải là định mệnh oan nghiệt, mà là chương tŕnh cứu độ Thiên Chúa Cha hiện thực trong Đức Kitô, chương tŕnh mà mọi người có thể đón nhận ngay bây giờ đây với ḷng tin ḷng cậy và ḷng mến.

 

ĐỀ TÀI 35:

SỨC LỚN MẠNH CỦA CỘNG ĐOÀN KITÔ THÊXALÔNICA

 

    Chương 5 là chương cuối cùng thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica. Trong 11 một câu đầu thánh Phaolô đề cập tới thái độ tín hữu phải có trong khi chờ đợi ngày Chúa Giêsu quang lâm. Trong 12 câu tiếp theo thánh nhân khai triển đề tài bí quyết giúp vun trồng cộng đoàn trưởng thành và lớn mạnh.

     Phần thứ hai này của chương 5 gồm một chuỗi các lời khuyến khích liên quan tới 4 đề tài trong cuộc sống cộng đoàn. Trước hết là liên hệ của tín hữu với những người có địa vị lănh đạo cộng đoàn (cc.12-13), tiếp đó là thái độ của tín hữu biết sốt sắng lo lắng cho nhau (cc. 14-15), rồi đến thái độ tín hữu phải có đối với Thiên Chúa (cc. 16-18), sau cùng là các kinh nghiệm đặc sủng (cc. 19-22). Và thánh Phaolô kết thúc với lời cầu xin Thiên Chúa thánh hóa tín hữu Thêxalônica (cc. 23-24). Lời cầu xin này có nội dung và nhiệm vụ giống như lời cầu kết thúc phần thứ nhất của thư trong chương 3,11-13.

    Trên b́nh diện h́nh thái, phần thứ hai của chương 5 gồm một chuỗi các động từ ở thể sai khiến, ngắn gọn, liên tiếp, dồn dập. Chúng là các lời chỉ dẫn có h́nh thái của các khẩu hiệu. Và đề tài ṇng cốt là cuộc sống nội bộ của cộng đoàn kitô Thêxalônica.

    Trước hết thánh Phaolô khuyến khích tín hữu kính mến, qúy trọng một số các anh chị em dấn thân hy sinh đứng ra nhận lănh trách nhiệm lo lắng cho các anh chị em trong cộng đoàn, kể cả việc dậy dỗ răn bảo họ nữa. Tuy thánh Phaolô chỉ đề cập tới các nhiệm vụ và hoạt động của họ thôi, nhưng chúng ta có thể hiểu ngay các vị nói trên là những người tự nguyện đứng ra làm việc phục vụ cộng đoàn. Chính v́ thế tín hữu phải yêu mến và kính nể họ. Yêu mến và kính nể họ không phải v́ họ là hàng lănh đạo được chỉ định hay bầu lên, mà v́ tinh thần phục vụ hy sinh của họ. Đây không phải là chuyện tôn thờ lănh tụ hay tôn thờ cá nhân, mà là thái độ biết ơn các hoạt động phục vụ Chúa Kitô của các anh chị em đó. Thật ra chỉ có Chúa Giêsu Kitô phục sinh đang hiện diện và hoạt động giữa ḷng Giáo Hội, mới là Đấng có quyền bính lănh đạo đích thật trong cộng đoàn tín hữu. C̣n các thừa tác khác đều là cộng sự viên của Chúa Giêsu Kitô, đều là dụng cụ Chúa Giêsu Kitô dùng để mưu ích cho thân ḿnh mầu nhiệm Ngài là Giáo Hội. Đàng khác, chúng ta không thể chối bỏ sự hiện diện của các chức phận và nhiệm vụ đặc biệt, hay đúng hơn các dịch vụ phụng sự khác nhau trong cộng đoàn Thêxalônica. Sau này thánh Phaolô cho thấy tính chất đặc thù đích thực của cộng đoàn kitô: đó là tinh thần liên đới và cụ thể trợ giúp lẫn nhau giữa các tín hữu. Chỉ dựa trên những ǵ chúng ta có trong văn bản không thể kết luận rằng trong cộng đoàn kitô Thêxalônica thời đó đă có hàng giáo phẩm được thành lập. Nhưng đàng khác, cũng không thể chối bỏ sự kiện trong giáo đoàn Thêxalônica đă có vài kitô hữu dấn thân trong nhiệm vụ hướng dẫn và tổ chức sinh hoạt cộng đoàn. Hơn là một quyền bính và là người lănh đạo, các kitô hữu này là các người có đặc sủng và mạnh mẽ dấn thân hoạt động giữa ḷng cộng đoàn.

     Lời thánh Phaolo khuyên tín hữu sống trong ḥa b́nh có lẽ liên quan tới bầu khí chung của giáo đoàn, chứ không ám chỉ các liên hệ của tín hữu với các người có đặc sủng dấn thân hoạt động và đang vất vả lo lắng cho họ. Theo bối cảnh của thư, chúng ta không nhận ra các dấu chỉ cụ thể diễn tả các căng thẳng, các chia rẽ hay chống đối giữa các thành phần giáo đoàn Thêxalônica. Hơn là quay về qúa khứ, Phaolô nghĩ tới tương lai. Hơn là sửa chữa các bất cập, Phaolô lặp lại các nguyên tắc có gía trị đối với tín hữu sống tại bất cứ đâu và trong bất cứ hoàn cảnh nào. Bầu khí an ḥa là điều kiện tối cần cho sự phát triển quân b́nh, lành mạnh của mọi cộng đoàn gia đ́nh, làng xóm cũng như quốc gia và quốc tế. Ḥa b́nh là điều kiện thiết yếu cho mọi công cuộc xây dựng và vun trồng trên mọi b́nh diện cuộc sống. Một cộng đoàn có các thành phần suốt ngày chỉ t́m cách gây xung khắc, khích bác và chống đối nhau, ḍ la, xét nét bắt bẻ nhau, đánh phá hành hạ và thù hận nhau, th́ làm sao có thể xây dựng và vun trồng thứ ǵ được, và cộng đoàn đó làm sao có thể trưởng thành và lớn mạnh được?

 Tuy nhiên, Phaolô c̣n đi xa hơn. Trong giáo đoàn không phải chỉ cần có bầu khí an b́nh ḥa hợp giữa mọi thành phần tín hữu, mà trước hết và trên hết c̣n cần phải có tinh thần yêu thương liên đới, biết lo lắng cho nhau và trợ giúp nhau nữa. T́nh yêu thương liên đới trợ giúp đó được diễn tả ra bên ngoài bằng nhiều cách từ vật chất tới tinh thần. Nó bao gồm sự trợ giúp và kiên nhẫn cảm thông, các lời khích lệ, khuyên nhủ và cả các lời cảnh cáo và trách mắng nữa. Trong cộng đoàn bao giờ cũng có một số anh chị em hoặc gặp khó khăn và bị lung lay trong ḷng tin, hoặc để cho ḿnh bị sa lầy hay lạc đường và sống ngoài ṿng đ̣i buộc của luân lư đạo đức theo tinh thần kitô. Cần phải mau mắn trợ giúp họ thoát ra khỏi cảnh sống đó. Một lời khuyên bảo khích lệ, một sự chú ư, một bàn tay giang ra trợ giúp cụ thể. Từ ai? Phaolô không xác định. Thật ra giới răn yêu thương đ̣i buộc mọi kitô hữu phải có bổn phận lo lắng cho nhau và trợ giúp nhau. Không lên mặt kiêu căng, nhưng kiên nhẫn chia sẻ gánh nặng của nhau. Mỗi một tín hữu kitô đều là người canh giữ phần rỗi cho anh chị em ḿnh. Dĩ nhiên, nói lên các sự thật, chỉ cho các anh chị em khác thấy các lỗi lầm, các sai trái của họ không luôn luôn là điều dễ làm, nhưng như thế mới là có tinh thần yêu thương và trợ giúp nhau đích thực. Chứ c̣n chỉ nịnh hót, vào hùa ca tụng nhau, lấp liếm tội lỗi cho nhau là hại nhau chứ không phải là yêu thương và mưu cầu hạnh phúc cho nhau đích thực. Ở đây Thánh Phaolô đặc biệt nêu bật thái độ không lấy ác báo ác. Thái độ t́m làm điều thiện cũng không chỉ được giới hạn giữa các tín hữu với nhau, mà c̣n phải trải rộng ra tất cả mọi người khác nữa.

   Tiếp đến thánh Phaolô đưa ra ba lời ngắn gọn khuyên tín hữu Thêxalônica luôn sống tươi vui, cầu nguyện không ngừng và cám tạ Chúa trong mọi hoàn cảnh. Đây là ba nét đặc thù khác của cuộc sống ḷng tin kitô. Ở đầu thư thánh nhân cho biết dù gặp bao gian lao thử thách, các tín hữu Thêxalônica đă mở rộng tâm ḷng đón nhận Tin Mừng và sống tươi vui. Tuy những ngày tháng hăng say thủơ ban đầu đă qua, nhưng giờ đây và trong tương lai tín hữu Thêxalônica cũng phải duy tŕ niềm vui đó luôn măi. Đồng thời luôn luôn hướng mắt về Thiên Chúa trong thái độ kết hiệp và biết ơn sự hiện diện và quan pḥng của Chúa trong mọi biến cố cuộc đời, như chính thánh Phaolô và các cộng sự viên của ngài vậy (1,2-3: 2,13; 3,9-13). Ḷng tin đích thực khiến cho tín hữu phó thác mọi sự nơi Chúa quan pḥng và t́nh yêu thương của Ngài, bởi v́ họ xác tín rằng Thiên Chúa là Chúa của lịch sử và chính Ngài mới là Đấng có tiếng nói sau cùng. V́ thế không có khổ đau, thất bại và đắng cay nào có thể cướp mất niềm vui sâu thẳm ấy trong tâm ḷng tín hữu. Và cho dù có xảy ra bất cừ ǵ đi nữa, họ cũng vẫn luôn luôn biết ơn chúc tụng Thiên Chúa và kết hiệp khắng khít với Ngài qua lời cầu nguyện.

 Vấn đề cuối cùng thánh Phaolô đề cập tới trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica đó là sự biểu lộ quan trọng của các đặc sủng. Bối cảnh cho chúng ta hiểu rằng giữa cộng đoàn đang có một trào lưu nghi ngờ, khinh thường và ngăn chặn đặc sủng ngôn sứ do Chúa Thánh Thần khơi dậy trong cộng đoàn. Tính chất tự phát trong các diễn tả của Chúa Thánh Thần luôn luôn gây ra trong một khung cảnh đă có nền nếp trật tự, một loại men mới và không ai có thể lường trước được kết qủa của nó. V́ thế các đặc sủng thường làm phát sinh ra các phản ứng. Trong Tân Ước tiếng nói sinh động của vị ngôn sứ không tiên báo các biến cố tương lai cho bằng nhận diện ra các dấu chỉ thời đại và khuyến khích tín hữu sống trung thành với Chúa và tuân giữ các giáo huấn của Ngài. Có lẽ trong cộng đoàn Thêxalônica có một số kitô hữu tự cho họ là các ngôn sứ và giảng dậy sai lạc, nên thánh Phaolô mới khuyên tín hữu giáo đoàn một đàng biết qúy chuộng các đặc sủng của Chúa Thánh Thần trong đó có ơn ngôn sứ, đàng khác nên cẩn thận đề pḥng, đừng qúa dễ tin kẻo bị lừa; bởi v́ không phải bất cứ ǵ cũng từ Chúa thánh Thần mà tới. Nói cách khác thánh Phaolô khuyên tín hữu đừng có các thiên kiến, nhưng cũng không nên cả tin. Trái lại phải có óc duyệt xét, sàng lọc mọi chuyện và phân biệt ngôn sứ thật với ngôn sứ giả. Ở đây thánh nhân giúp tín hữu có một tiêu chuẩn vững chắc: đó là sự tốt lành. Sự thiện chính là mực thước duy nhất giúp đo lường các hoạt động ngôn sứ. Xem qủa th́ biết cây. Đây là đề tài sẽ được khai triển rộng răi trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô các chương 12-14.

    Phaolô kết thúc phần hai của thư với lời nguyện xin Thiên Chúa của ḥa b́nh ban ơn cứu độ cho tín hữu Thêxalônica, bằng cách thánh hóa toàn con người và cuộc đời họ, để họ được vẹn toàn không dính líu và dàn xếp lắt léo với sự dữ. Ở đây Phaolô cho thấy kiểu diễn tả về con người gồm ba nguyên lư: nguyên lư của sự sống bên trên tức thần khí, nguyên lư của sự sống bên dưới tức linh hồn, và nguyên lư của chiều kích vật chất tức thịt xác. Xem ra thánh Phaolô chỉ bắt chước các kiểu diễn tả hy lạp chứ không chấp nhận quan niệm nhân chủng hy lạp hay chú ư tới nội dung của nó. Dầu sao đi nữa ở đây Phaolô có ư diễn tả con người trong cái toàn vẹn của nó như là chủ đích việc thánh hóa của Thiên Chúa. Các lời nguyện của Phaolô dựa trên ḷng trung thành của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng đă tuyển chọn các tín hữu từ đời đời (1,4), kêu gọi họ bước vào liên hệ ḷng tin qua lời rao giảng Tin Mừng (1,5-6) và hứa trao ban cho họ cuộc sống vinh quang nước trời (2,12). Các tín hữu Thêxalônica đă được tháp vào chương tŕnh cứu độ, và Thiên Chúa sẽ thành toàn chương tŕnh ấy. Trong thời cựu ước mặc dầu dân Israel đă phản bội, Thiên Chúa vẫn trung thành. Giờ đây qua Đức Giêsu Kitô tử nạn và phục sinh, Thiên Chúa lại càng chứng minh cho thấy Ngài tín trung hơn nữa.

 

 

ĐỀ TÀI 36

 

NHỮNG VẤN NẠN TRONG THƯ THỨ HAI

GỬI TÍN HỮU THÊXALÔNICA

 

   Khi t́m hiểu các thư của thánh Phaolô, chúng ta biết chắc chắn thư thứ I gửi giáo đoàn Thêxalônica đă được chính tay thánh nhân viết ra hồi năm 51, với mục đích củng cố ḷng tin của các tín hữu, đồng thời bổ túc một số điểm giáo lư quan trọng, mà thánh nhân chưa kịp giảng dậy cho họ. Bức thư này đă là một trong các tài liệu cổ xưa nhất của Tân Ước và chứa đựng một số đề tài thần học sẽ được khai triển rộng răi hơn sau này: chẳng hạn như ḷng tin trao ban ơn cứu độ, số phận của những người đă chết, thái độ kitô hữu phải có trong khi đợi chờ Chúa đến và bí quyết xây dựng cộng đoàn.

 

    Nhưng khi nghiên cứu thư thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica, chúng ta nhận ra một số vấn nạn khó giải quyết. Trước hết là văn bản khải huyền nói về thời cánh chung trong chương 2,1-12. Làm sao giải thích được các yếu tố khải huyền trong văn bản ṇng cốt này của thư, đặc biệt là gương mặt của tên phản kitô và thực tại bí nhiệm hiện đang ngăn cản sức đánh phá và tung hoành ma quái của sự dữ? Tuy nhiên, vấn nạn lớn nhất vẫn là nghi vấn sau đây: có thật thánh Phaolô là tác giả thư thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica không? Nghi vấn này nảy sinh khi chúng ta so sánh nội dung cũng như kiểu cách dùng từ ngữ và hành văn của hai bức thư. Tuy từ ngữ và pháp cú có giống thư thứ I, nhưng xem ra thứ thứ II thuộc một thế giới khác, bởi v́ tựa đề của thư ”gửi cho giáo đoàn Thêxalônica” không đủ mạnh để có thể bảo đảm cho tính chất đích thực của nó và xóa bỏ mọi nghi vấn. Thật khó có thể nhận ra trong thư thứ II gương mặt của tín hữu giáo đoàn Thêxalônica như tŕnh bầy trong thư thứ I. Các liên hệ giữa thánh Phaolô với tín hữu Thêxalônica như tŕnh bầy trong thư thứ I là các liên hệ nồng ấm và rất riêng tư.

   Vấn nạn liên quan tới tính chất đích thực của thư thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica c̣n kéo theo một vấn nạn khác không kém phần quan trọng: đó là thời gian sáng tác. Nếu thư thứ II thực sự do thánh Phaolô viết ra, th́ chúng ta có thể xác định thời gian sáng tác là ít lâu sau khi thánh nhân viết bức thư thứ I, tức cũng vào khoảng năm 51. Nhưng nếu nó không do thánh Phaolô viết, mà là tác phẩm vô danh được gán cho thánh nhân, th́ thời gian sáng tác phải muộn hơn nhiều, nghĩa là sau khi Phaolô qua đời. Chỉ khi đó soạn giả vô danh mới gán bức thư cho thánh nhân, chứ trong khi Phaolô c̣n sống, chuyện mạo thư này chắc chắn khó có thể xảy ra.

   Tất cả các vấn nạn vừa nêu trên đây, trong nghĩa thuận hay nghĩa nghịch, đều có tầm mức quan trọng đối với việc chú giải thư thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica. Ngoài ra các lư chứng được giới học giả của cả hai phe thuận và nghịch nêu ra, đều không có tính cách định đoạt đối với ư kiến truyền thống cho rằng thánh Phaolô là tác giả thư thứ II gửi tín hữu Thêxalônica, cũng như đối với lập trường của nhiều học giả ngày nay không chấp nhận ư kiến truyền thống này. V́ thế nên cho tới nay vấn đề vẫn chưa có giải pháp thỏa đáng.

 Thật thế, nếu so sánh hai bức thư chúng ta nhận ra ngay một số khác biệt quan trọng và ư nghĩa. Trước tiên là giọng văn. Giọng văn thư thứ II gửi tín hữu Thêxalônica không vồn vă, nồng ấm và yêu dấu như giọng văn thư thứ I. Mặc dầu không thiếu các kiểu gọi thân t́nh như ”anh chị em”, được lập đi lập lại nhiều lần trong thư, người ta vẫn nhận ra tính cách lạnh lùng và không ngôi vị của giọng văn. Chúng ta không gặp được đoạn văn nào thổ lộ tâm t́nh lai láng hay diễn tả tâm sự của Phaolô như trong thư thứ I. Dĩ nhiên, Phaolô cũng lo lắng v́ các t́nh trạng sống sai đường lạc lối của các tín hữu Thêxalônica đấy, nhưng trong thư thứ II chúng ta tuyệt nhiên không nhận ra nỗi khắc khoải, âu lo, sợ hăi của thánh Phaolô đối với số phận của tín hữu. Cái lo lắng ở đây là thứ lo lắng xa xa của một vị thầy có trách nhiệm đối với các môn sinh của ḿnh, chứ không phải là tâm t́nh chia sẻ quặn thắt của một người thân, của t́nh phụ tử, hay t́nh hiền mẫu hoặc t́nh hyunh đệ thắm thiết.

     Có một điểm khiến chúng ta đặc biệt kinh ngạc hơn nữa, đó là thư thứ II gửI tín hữu Thêxalônica không hề nhắc tới các liên hệ thân t́nh, mạnh mẽ, bền chặt mà thánh Phaolô đă có trước đây với tín hữu giáo đoàn. Nó cũng không hề đả động ǵ tới thái độ, mà thánh nhân đă có trong thời gian phải sống xa cách họ, như tŕnh thuật trong ba chương đầu thư thứ I. Ngoại trừ chi tiết liên quan tới công việc khó nhọc liên lỉ mà thánh nhân đă phải gánh chịu, để không phải nhờ vả phiền hà tới ai trong cộng đoàn, các kiểu nói khác đều có tính cách cố định như đă được diễn tả trong thư thứ I (2,15; 3,4; 3,6; 3,10). Chúng ta cũng không nhận ra tính cách đối thoại trong kiểu dùng từ ngữ ”anh chị em - chúng tôi” như trong thư thứ I. Xem ra đàng sau bức thư thứ II này không có các lịch sử liên hệ thân t́nh đă nối kết Phaolô với tín hữu giáo đoàn Thêxalônica một cách sâu đậm. Giáo đoàn ở đây xem ra cũng giống như bất cứ giáo đoàn kitô nào khác hồi thế kỷ thứ I, đang phải đối phó với các vấn đề khác nhau, chứ không phải là giáo đoàn Thêxalônica rất thân mến do thánh Phaolô thành lập trong thành phố thủ phủ vùng Macedonia thời đó.

 C̣n một điểm khác cần ghi nhận: đó là thư thứ II gửi tín hữu Thêxalônica lập đi lập lại nhiều kiểu diễn tả và các câu của thư thứ I, có khi nguyên vẹn không sai một chữ, khi khác với một vài thay đổi nhẹ nhàng. Học giả Rigaux đă kê khai ra một danh sách dài các tương đồng và khác biết này. Tuy nhiên, chương 2,3-12 nói về ngày Chúa Giêsu Kitô quang lâm, là đoạn ṇng cốt của thư thứ II, lại tuyệt nhiên không dùng các kiểu diễn tả và từ ngữ của văn bản song song trong thư thứ I. Sự kiện này khiến cho người ta có lư do để nghi ngờ rằng soạn giả thư thứ II khéo léo sao chép lại các đề tài thần học đă có trong thư thứ I, để làm khung cho giáo huấn khải huyền của ḿnh trong chương 2,1-12. Có thể có người phản đối cho rằng: chính thánh Phaolô đă muốn lập lại các giáo huấn của thư trước, khi viết bức thư thứ II này cho tín hữu Thêxalônica. Đây là điều có thể xảy ra. Nhưng trong tất cả mọi thư do chính thánh nhân viết ra, tuyệt nhiên không có hiện tượng lập lại này. Thật ra, Phaolô là một người rất có óc sáng tạo. Trong khoảng 10 năm trời thánh nhân đă viết các thư của ḿnh để tŕnh bầy giáo lư Kitô, hầu đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các cộng đoàn tín hữu thời đó. Khi phải tŕnh bầy cùng một đề tài, Phaolô luôn luôn theo một kiểu cách khác, chứ không lập lại y nguyên lược đồ đă dùng.

   Liên quan tới nội dung, c̣n một điểm khác biệt quan trọng giữa hai thư gửi tín hữu Thêxalônica: đó là giáo huấn về thời cánh chung, tức các thực tại cuối cùng của cuộc đời con người và của thế giới. Trong thư thứ I Phaolô khẳng định rằng niềm hy vọng được hưởng cuộc sống vinh quang với Chúa có gía trị đối với các tín hữu đă chết, cũng như đối với các tín hữu c̣n sống cho tới khi Chúa Giêsu Kitô quang lâm. Các tín hữu đă chết sẽ sống lại trước, rồi sẽ được Chúa Giêsu Kitô đem lên thiên quốc cùng với các tín hữu c̣n sống cho tới lúc đó (1 Ts 4,13-18). V́ thế thánh Phaolô khuyến khích tín hữu tỉnh thức đợi chờ ngày Chúa Kitô quang lâm. Ngày đó rất gần và sẽ xảy ra một cách bất th́nh ĺnh, không lường trước được (1 Ts 5,1-11). Trái lại thư thứ II lại dồn sự chú ư vào sự kiện ngày Chúa Kitô quang lâm chưa tới. Trước hết phải xảy ra các dấu chỉ khai mào cho biến cố trọng đại này đă: đó là cảnh con người phản bội chối bỏ Thiên Chúa và các hoạt động tác hại tàn ác của tên phản kitô. Nó sẽ dùng quyền phép của Satan mà làm các việc cả thể, các phép lạ và mọi sự kỳ diệu giả dối. Nó sẽ dùng mọi nưu chước để lừa đảo các kẻ hư hỏng đă chối bỏ Thiên Chúa, không yêu mến sự thật và chạy theo dối trá (2 Ts 2,1-12).

 Dĩ nhiên, đây không phải là các nhân tố trái nghịch nhau, nhưng chúng diễn tả các viễn tượng khác xa nhau. Thư thứ I gửi tín hữu Thêxalônica chỉ lập lại giáo huấn của truyền thống Phúc Âm nêu bật tính cách bất th́nh ĺnh của biến cố Chúa Kitô quang lâm ngày sau hết. Trái lại, thư thứ II đề cập tới các biến cố của thời cánh chung liên quan tới các thực tại và thời điểm của ngày tận thế một cách chi tiết, với các kiểu cách hành văn và h́nh ảnh mầu mè biểu tượng của nền văn chương khải huyền. Khi nêu bật sự kiện ngày cánh chung chưa tới và c̣n xa, văn bản nhắm mục đích đả phá thái độ sống nôn nóng đợi chờ đến vô trách nhiệm của nhiều tín hữu trong cộng đoàn kitô tiên khởi. Thật khó mà có thể gán cho thánh Phaolô cả hai quan điểm và thái độ trái nghịch nhau trên đây. Có điều chắc chắn có thể kiểm chứng được, đó là đề tài khải hyuền này (2 Ts 2,1-12) sẽ không bao giờ được thánh Phaolô đề cập tới trong các thư do chính tay ngài viết ra. Trong khi đề tài tỉnh thức đợi chờ Chúa Kitô ( 1 Ts 4,13-18; 5,1-11) sẽ được Phaolô lấy lại và khai triển rộng răi trong chương 15 thư thứ 1 gửi tín hữu Côrintô.

 Tóm lại, khi so sánh nội dung cũng như kiểu cách hành văn và dùng từ ngữ, chúng ta nhận thấy hai thư gửi tín hữu Thêxalônica rất khác nhau. Vấn đề như thế là phải t́m hiểu xem ai là soạn giả thứ thứ II gửi tín hữu Thêxalônica

 

ĐỀ TÀI  37

 AI LÀ TÁC GIẢ THƯ THỨ II

GỬI TÍN HỮU THEXALÔNICA?

 

Khi so sánh hai thư gửi giáo đoàn Thêxalônica người ta nhận thấy chúng khác nhau trong nội dung, cũng như trong kiểu cách dùng từ ngữ và hành văn. Các khác biệt này khiến cho giới học giả đặt nghi vấn liên quan tới tác gỉa đích thực của thư thứ II. Mặc dầu có các lư chứng rơ ràng cho thấy soạn giả thư thứ hai gửi giáo đoàn Thêxalônica không phải là thánh Phaolô, một số đông các nhà chú giải, đặc biệt là các nhà chú giải công giáo, vẫn theo thuyết truyền thống coi thánh Phaolô là tác gỉa bức thư này, điển h́nh như B. Rigaux và P. Rossano. Theo các học giả này các lư chứng trái nghịch không có tính cách dứt khoát định đoạt. Nhiều học giả khác như G. Barbaglio th́ lại cho rằng thánh Phaolô không phải là tác giả thư thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica. Lập trường thứ hai này xem ra cống hiến cho chúng ta một khung cảnh trung thực hơn, phản ánh tâm t́nh của kitô hữu trong các giáo đoàn kitô thời khai sinh liên quan tới việc chờ đợi Chúa Kitô quang lâm.

     Vào giữa thế kỷ thứ I tín hữu sống tại Thêxalônica đă rất nôn nóng đợi chờ biến cố Chúa Giêsu Kitô trở lại trong vinh quang để kết thúc lịch sử thế giới và giải thoát họ. Họ coi biến cố Chúa Kitô quang lâm như là chuyện rất gần kề, đến độ trong ngày Chúa đến có nhiều người c̣n sống chứ chưa chết. Thánh Phaolô cũng chia sẻ quan điểm đó của tín hữu Thêxalônica. Sau này vào khoảng năm 56-57 khi viết thư thứ I cho giáo đoàn Côrintô Phaolô bầy tỏ niềm hy vọng cũng sẽ c̣n sống cho tới ngày đó. Thánh nhân viết trong chương 15,51-52: ”Tôi xin cho anh chị em biết một mầu nhiệm này: Đó là chúng ta sẽ không chết tất cả đâu, nhưng chúng ta sẽ được biến đổi trong một khoảng khắc, trong một nháy mắt, khi tiếng kèn cuối cùng trổi lên. Bởi v́ khi kèn sẽ thổi lên, các người chết sẽ sống lại không hư nát, và chúng ta, chúng ta cũng sẽ được biến đổi”. Thư thứ I gửi giáo đoàn Thêxalônica được lồng khung trong niềm tin này và giải thích niềm hy vọng kitô trong viễn tượng đó.

   Tuy nhiên, khi thấy năm tháng cứ qua đi mà Chúa Kitô không quang lâm để kết thúc lịch sử thế giới và giải thoát họ, tín hữu trong cộng đoàn bắt đầu chạm trán với thực tại Chúa Giêsu chậm trễ đến cứu họ. Khi ấy trong cộng đoàn phát sinh ra hai giải pháp đồng thời cũng là hai thái độ sống của tín hữu. Thứ nhất là thái độ chấp nhận viễn tượng dài. Nghĩa là tin nhận rằng Chúa Giêsu Kitô sẽ quang lâm trong tương lai rất xa. Trong khi chờ đợi đây là thời gian Giáo Hội hoạt động truyền giáo trong thế giới. Thánh sử Luca theo lập trường này và nêu bật hoạt động truyền giáo của Giáo Hội trong khi chờ đợi ngày cánh chung. Thái độ thứ hai cho rằng ngày Chúa quang lâm vĩnh viễn đă tới rồi. Đây đă là lập trường của tín hữu trong thư thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica, như viết trong chương 2,1-2: ”Anh chị em, liên quan tới biến cố Chúa Giêsu Kitô đến và việc quy tụ chúng ta bên Ngài, chúng tôi xin anh chị em điều này. Đó là đừng vội điên đầu cũng đừng sợ hăi v́ một mạc khải tiên tri, một lời nói hay một bức thư được giới thiệu như là của chúng tôi khiến cho anh chị em tin rằng ngày của Chúa đă đến rồi”. Viễn tượng này cũng bị cảnh cáo trong chương 2,18 thư thứ II gửi Timôtêô: Trong số các người suy nghĩ lệch lạc ”có Imeneo và Fileto. Họ đă xa rời sự thật, khi chủ trương rằng sự sống lại đă đến rồi”. Cũng không thiếu các tín hữu mạnh mẽ phản ứng chống lại các người hăng hái qúa đáng, v́ họ yêu sách sẽ c̣n sống khi Chúa Kitô quang lâm và sẽ được sống kinh nghiệm hứng khởi những ngày sau hết của thời tận thế. Trong chương 21,8 thánh sử Luca đă cảnh cáo tín hữu chống lại khuynh hướng cho rằng ngày tận thế đă gần kề. Thánh nhân khuyên họ coi chừng đừng để bị đánh lừa, v́ sẽ có nhiều người tới tự xưng là Chúa Kitô và nói rằng thời giờ tận thế đă tới. Tác giả vô danh thư thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica chắc chắn cũng thuộc phong trào chống lại giấc mộng này của các tín hữu bồng bột sôi nổi nói trên. Ông lấy tên thánh Phaolô gán cho bức thư của ḿnh, một đàng để tăng uy tín cho bức thư, đàng khác v́ đề tài ngày Chúa Kitô quang lâm được thánh Phaolô diễn tả một cách rơ ràng minh bạch, không lầm lẫn được. Viết cho giáo đoàn Thêxalônica, ông đưa ra lập trường kitô phê b́nh tư tưởng thư thứ I của thánh Phaolo và thái độ nôn nóng đợi chờ biến cố Chúa Kitô quang lâm.Do đó ông cũng bắt chước kiểu hành văn của thánh nhân.Thật ra soạn giả muốn duy tŕ truyền thống Phaolô khỏi mọi lèo lái sai lệnh.Chúng ta đang trong giai đoạn giải thích tư tưởng của thánh Phaolô trong các thập niên cuối cùng của thế kỷ thứ I.

Tóm lại, chúng ta có thể kết luận rằng tác giả thư thứ II gửi tín hữu Thêxalônica là một môn đệ của thánh Phaolô. Sau ngày thánh nhân qua đời, ông can thiệp chống lại các lập trường hăng hái quá đáng của nhiều kitô hữu hồi thế kỷ thứ I coi biến cố Chúa Kitô quang lâm như là chuyện gần kề. Đóng góp suy tư của ông nêu bật sự kiện này. Đó là trước ngày Chúa Kitô quang lâm để khai mào thế giới mới của thời phục sinh, c̣n có cả lịch sử dài của Giáo Hội nữa. Giải pháp này không làm giảm giá trị nội dung thư thứ II. Nó cho thấy một giai đoạn phát triển ḷng tin kitô của Giáo Hội hồi thế kỷ thứ I và mời gọi các thế hệ kitô theo sau biết thường xuyên tự kiểm thảo và phê b́nh, để không rơi vào thái độ bất cập thái qúa.

    Đâu đă là thái độ không đúng đắn của các tín hữu giáo đoàn Thêxalônica như tả trong thư thứ II? Rất tiếc chúng ta không có nhiều tin tức liên quan tới cộng đoàn này. Nhưng cứ theo nội dung của thư chúng ta biết được hai khía cạnh cụ thể trong thái độ sống của các tín hữu. Thứ nhất là t́nh trạng báo động, bôn chôn, nhốn nháo phát sinh từ xác tín cho rằng ngày Chúa Kitô quang lâm, ngày tận thế sắp tới nơi rồi. Có một số tín hữu tưởng rằng ḿnh được linh ứng nói tiên tri. Một số khác th́ dựa vào quyền bính các giáo huấn của thánh Phaolô để biện minh cho lập trường của họ. Chúng ta đang ở vào các năm sau khi thánh Phaolô qua đời. Do đó cũng không lạ ǵ khi trong giáo đoàn có các phong trào hăng hái tin tưởng rằng ngày thế mạt sắp đến. Chúa Kitô sắp quang lâm để hủy diệt thế giới tội lỗi này và thiết lập một thế giới mới trong lịch sử nhân loại. Văn bản ở đây nói tới thái độ giao động và các cử chỉ xuất thần, nghĩa là mất lư trí. Ngoài xác tín cá nhân khiến cho tín hữu giáo đoàn Thêxalônica có các thái độ đó, trên b́nh diện lịch sử mà nói, các cuộc bách hại kitô hữu ngày càng thường xuyên và dă man hơn hẳn đă là lư do làm nảy sinh ra các giao động này. Chúng ta biết là trong các giai đoạn gặp gian lao thử thách và bắt bớ khổ đau qúa sức, các tín hữu thường ước mong cho ngày tận thế mau đến để Thiên Chúa đánh phạt, hủy hoại thế giới gian ác này, giải thoát họ và thiết lập vương quốc công chính và b́nh an của Ngài. Trào lưu văn chương khải huyền là kết qủa của các giai đoạn tai ương khốn khó này. Chương đầu thư thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica cho thấy bối cảnh bắt bớ khổ đau đó. T́nh trạng khốn khó này khiến cho tín hữu ước mong Chúa mau đến để phán xử trần gian và đánh phạt các kẻ gian ác bắt bớ tín hữu của Ngài.

   Hiện tượng thứ hai gây âu lo đó là có một số tín hữu ăn không ngồi rỗi, không muốn làm việc ǵ cả. Trái lại, họ ”ngồi lê mách lẻo” và xen ḿnh vào chuyện người khác. Trong một thành phố cảng lớn như Thêxalônica, nếu có hiện tượng ăn bám cũng là chuyện thường t́nh. Những người thất nghiệp bị gạt bỏ ngoài lề xă hội, sống nhờ vả vào người này người nọ. Nhưng trong cộng đoàn gồm các người không lấy ǵ làm khá giả, các anh chị em này trở thành gánh nặng cho các tín hữu khác. Lời tố cáo mạnh mẽ dứt khoát trong chương 3,6-15 chứng minh cho tính cách trầm trọng của hiện tượng này. Đặc biệt bởi v́ giáo đoàn Thêxalônica chỉ là một giáo đoàn nhỏ. Nhân danh Chúa Giêsu Kitô tác giả xin tín hữu xa lánh các người lười biếng và không tuân giữ các điều họ đă học được từ các thừa sai. Đáng lư ra họ đă phải hiểu biết và noi gương các vị. Dù có quyền được tín hữu trợ giúp nhưng Phaolô và các thừa sai đă làm việc ngày đêm để có phương tiện sinh sống, mà không phiền lụy tới ai. Các vị đă hoàn toàn tự lập trên phương tiện vật chất. Tuy công việc làm có nặng nhọc vất vả, các vị duy tŕ được sự tự do hoàn toàn của ḿnh, không phải nể nang ai và không chịu áp lực của ai.

   Lư do nào đă khiến cho một số tín hữu có thái độ sống ăn bám cộng đoàn như vậy? Ở đây xem ra không chỉ là do tính lười biếng tự nhiên và thiếu dấn thân. Nó phát xuất từ bầu khí khải huyền giao động nói trên. Sự chờ đợi ngày tận thế khiến cho họ bôn chôn tới độ không muốn làm việc ǵ nữa, mà chỉ ngồi khoanh tay đợi chờ ngày Chúa Kitô quang lâm phán xét trần gian. Họ lư luận rằng nếu ngày thế mạt sắp tới, th́ các thực tại trần gian này và lịch sử nhân loại đâu c̣n có ư nghĩa ǵ nữa. Nếu cả lịch sử thế giới cũng sắp chấm dứt và trở thành vô nghĩa, th́ công ăn việc làm cũng không có giá trị ǵ nữa. Xác tín và kiểu lư luận này nguy hiểm, v́ nó khiến cho tín hữu có thái độ trốn chạy hiện tại, trốn tránh trách nhiệm và ẩn náu trong thế giới mới từ trời xuống.Nhưng sống như thế là lỗi bổn phận đối với chính bản thân, gia đ́nh, cộng đoàn giáo hội và cộng đoàn xă hội. Nguy hại hơn nữa là khi chỉ ”ngồi lê mách lẻo”, xía mũi vào chuyện của mọi người như thế, họ gây xáo trộn trong cộng đoàn và khiến cho cuộc sống cộng đoàn vốn đă nặng nề, lại càng rối loạn, ngột ngạt và khó thở hơn

 

ĐỀ TÀI 38

KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG

THƯ THỨ II GỬI GIÁO ĐOÀN THÊXALÔNICA

 

T́m hiểu thư thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica chúng ta biết các học giả theo hai lập trường khác nhau. Lập trường thứ nhất theo truyền thống cho rằng thánh Phaolô là tác giả thư thứ II này. Lập trường thứ hai dựa trên các khác biệt giữa nội dung, kiểu cách hành văn và dùng từ ngữ trong hai thư, nên đi tới kết luận thư thứ II không do thánh Phaolô biên soạn, mà là tác phẩm của một môn đệ vô danh. Lập trường thứ hai giải thích được lư do sự khác biệt giữa hai thư, đồng thời cho thấy diễn tiến t́nh h́nh, một số vấn đề và thái độ sống của tín hữu trong cộng đoàn kitô Thêxalônica. Tuy nhiên sự kiện vấn đề vẫn c̣n bỏ ngỏ và không có giải pháp dứt khoát không giảm bớt gía trị giáo huấn của thứ thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica.

      Thư thứ II chỉ gồm ba chương, tức ngắn hơn thư thứ I. Giống như thư thứ I, thư thứ II cũng mở đầu với công thức gồm tên người gửi người nhận và lời chào (1,1-2). Tiếp đến là lời cám tạ Thiên Chúa (cc.3-10). Ban đầu nó sao lại lời cám ơn của thư thứ I (1 Ts 1,2-3), nhưng trong phần thứ hai (cc.5-10) nó có kiểu khai triển độc đáo riêng và chuyển qua việc miêu tả cảnh Thiên Chúa phán xử ngày sau hết, đặc biệt là h́nh phạt đời đời dành cho các kẻ bách hại tín hữu Chúa. Tác giả cho các tín hữu Thêxalônica biết rằng các thừa sai hằng liên lỉ cảm tạ Thiên Chúa v́ họ đă tấn tới trong ḷng tin. Chẳng những thế t́nh yêu thương bác ái, mà các tín hữu có đối với các người khác, đă nổi tiếng khắp nơi, khiến cho các thừa sai hănh diện trước các giáo đoàn khác. Hănh viện v́ ḷng kiên tŕ chịu đựng của họ trong mọi thử thách bắt bớ gặp phải. Các thử thách khó khăn ấy là dấu chỉ Thiên Chúa thanh tẩy và chuẩn bị cho họ xứng đáng hơn với Nước Trời. Nhưng bởi v́ Thiên Chúa là Đấng công thẳng, nên Ngài sẽ báo oán cho họ bằng cách đánh phạt những người đàn áp bắt bớ tín hữu. Thiên Chúa sẽ tưởng thưởng các tín hữu và ban cho họ được an nghỉ, khi Đức Giêsu Kitô sẽ cùng với các thiên sứ từ trời đến trong quyền uy, trong lửa hồng, để hủy diệt những kẻ không nhận biết Thiên Chúa và không sống theo Tin Mừng của Chúa Giêsu. Họ sẽ bị hủy diệt đời đời và sống cách xa mặt Chúa và vinh quang của Ngài. Chương 1 kết thúc với lời nguyện chúc tụng vinh quang và quyền năng của Thiên Chúa (cc.11-12).

 Chương 2 là đoạn ṇng cốt của thư đề cập tới đề tài ngày Chúa đến phán xử trần gian. Tác giả khuyến khích tín hữu đừng bấn loạn tâm thần và khiếp sợ v́ một mạc khải ngôn sứ nào đó, hay v́ những lời người ta đồn thổi rằng ngày thế mạt gần kề. Ông đặc biệt khuyên tín hữu đừng để bị đánh lừa, bởi v́ trước ngày Chúa quang lâm sẽ xảy ra nhiều điều khủng khiếp. Từ câu 3 trở đi văn bản mang sắc thái khải huyền và tả lại các dấu chỉ báo trước ngày tận thế. Đó là hiện tượng loài người chối bỏ Thiên Chúa và đặc biệt là các hành động của Kẻ tội lỗi gian ác, tức tên phản kitô và sau đó là biến cố Chúa Giêsu đến trong vinh quang.

    Hiện tượng loài người chối bỏ Thiên Chúa là một trong các yếu tố đă được trào lưu khải huyền do thái báo trước.Ở đây thánh Phaolô dùng các từ: chối đạo, người của gian tà, con của hư mất,sự hư mất với chỉ định từ như thể chúng là các nhân vật hay các thực tại mà các tín hữu đă dư biết.Kiểu diễn tả của tác giả cũng mang đặc tính do thái:”Người của sự gian tà”để diễn tả sự Gian Tà (viết hoa),và ”con của sự hư mát” để ám chỉ ”Kẻ Hư Mất” (viết hoa).Nhân vật được nói tới ở đây không phải là Satan,mà là tên phản kitô,kẻ chống lại tất cả những ǵ thuộc về Thiên Chúa hay những người tôn thờ Thiên Chúa.Hắn c̣n ngạo mạn tới nỗi ngồi chễm chệ trong đền thánh Chúa và tự xưng là Thiên Chúa.Tác giả thư thứ II gửi tín hữu Têxalônica khẳng định với tín hữu rằng tuy cả hai hiện tượng này chưa xảy ra,v́ hiện giờ có sự ǵ đó hay có ai đó gh́m mầu nhiệm của sự gian tà lại chưa cho nó xảy ra,nhưng tín hữu vẫn phải sống trong tỉnh thức đợi chờ ngày quang lâm.

   Trong nền thần học của thánh Phaolô mầu nhiệm của sự gian tà có thể ám chỉ một vật, một người, một giáo thuyết dấu ẩn, mà trí tuệ loài người không sao hiểu biết được, bởi v́ nó cũng thuộc chương tŕnh bí ẩn của Thiên Chúa hay một hành động bí ẩn của Thiên Chúa trong thời thế mạt. Sự gian tà là một mầu nhiệm v́ nó bước vào trong chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa. Đối với loài người chúng ta đây là một thực tại gây ngạc nhiên và thật khó hiểu. Cái gian tà đó, tức là sự dữ, điều ác dưới tất cả mọi h́nh thái của nó, chưa được vén mở lên hoàn toàn. Triều đại của nó chưa trọn vẹn. Nó sẽ chỉ lộ diện ra trong ngày trọng đại và hoạt động của nó sẽ chỉ đại đồng, nghĩa là lan tràn khắp vũ trụ, khi tới giờ mạc khải của sự Gian Tà (viết hoa). Nhưng Chúa Giêsu Kitô sẽ hủy diệt nó bằng hơi thở của miệng Ngài.

     Tiếp theo văn bản khải huyền trên đây là một vài đề tài nhỏ khác xem ra kết thúc bức thư. Các thừa sai tạ ơn Thiên Chúa đă mời gọi và tuyển chọn tín hữu Thêxalônica (2,13-14), đồng thời khuyến khích tín hữu kiên tŕ vững mạnh và trung thành trong cuộc sống đức tin (2,15). Các vị cũng cầu xin Chúa Giêsu và Thiên Chúa Cha củng cố ḷng tin của họ (2,16-17). Trong hai câu đầu chương 3 các thừa sai xin tín hữu cầu nguyện cho các vị thoát khỏi nanh vuốt của những người gian ác xấu xa và cho công tác truyền giáo của các vị. Tiếp đến là tâm t́nh tin yêu phó thác trong bàn tay quan pḥng của Thiên Chúa (3,3-4) và lời cầu xin Thiên Chúa chúc phúc lành cho toàn cộng đoàn Thêxalônica (3,5).

  Tới đây thư thứ II gửi giáo đoàn Thêxalônica đề cập tới một vấn đề cụ thể liên quan tới đề tài ngày tận thế: đó là v́ cho rằng ngày thế mạt sắp đến nên có một số tín hữu không muốn làm việc nữa, mà chỉ ăn không ngồi rỗi chờ ngày tận thế. Chẳng những họ ăn bám cộng đoàn, mà c̣n sống bê tha và gây xáo trộn trong cộng đoàn nữa. Do đó các thừa sai khuyến khích họ hăy biết noi gương các ngài ra công gắng sức làm lụng để có phương tiện vật chất nuôi thân, để không trở thành gánh nặng cho kẻ khác. Ai không làm việc th́ cũng đừng ăn! Cảnh ”nhàn cư vi bất thiện” chắc chắn khiến cho họ phạm đủ mọi thứ tội của phường ”ngồi lê mách lẻo”, nḥm nhỏ công ăn việc làm và xâm phạm cuộc sống của người khác. V́ thế các thừa sai khuyên tín hữu xa lánh họ.

   Các câu 16-18 chương ba là phần kết luận thật sự của thư thứ II. Ngoài lời cầu chúc và phúc lành của Thiên Chúa, c̣n có lời kư tên của Phaolô nữa. Đây là lư do giải thích tại sao nhiều học giả cho rằng thư thứ II do thánh Phaolô viết ra. Đây cũng là một bằng chứng khác cho thấy vào các thập niên cuối cùng của thế kỷ thứ I các tín hữu t́m gán cho thánh Phaolô những tác phẩm không do thánh nhân viết ra.

   Văn bản khải huyền chương 2,1-12 là văn bản đặc biệt khiến cho thư thứ II khác với thư thứ I. Các tư tưởng khác của thư lập lại các tư tưởng của thư thứ I và đôi khi bắt chước cả h́nh thái hành văn nữa. Đây là một trong các văn bản quan trọng của Tân Ước, v́ nó đả phá ảo tưởng của nhiều kitô hữu cho rằng ngày Chúa Giêsu Kitô quang lâm đă gần tới. Ngài đă bắt đầu bước vào chân trời thế giới này để phán xử mọi loài mọi vật. Đồng thời văn bản cũng nhắn nhủ các tín hữu phải dấn thân tiến bước trên con đường lịch sử nhân loại đầy cam go, hàm hồ và không rơ ràng này, mà không nhượng bộ các cám dỗ trốn chạy vào tương lai hay rơi vào trong các giấc mộng khải huyền. Nói như thế không có nghĩa là cộng đoàn kitô phải khước từ tin tưởng đợi chờ ngày Chúa Kitô trở lại thiết lập nước công bằng và t́nh yêu thương của Thiên Chúa Cha. Vấn đề là phải sống niềm hy vọng trong cuộc sống trên trái đất này, gắn chặt với hiện tại trong kiên tŕ và trung thành hoạt động, mà không tránh né các bổn phận lịch sử cũng không trốn chạy thực tại thường ngày. V́ cách thức chuẩn cho tương lai hữu hiệu nhất là sống trọn vẹn và tràn đầy giây phút hiện tại.

 Trong bối cảnh ấy lời khuyên tín hữu hăy chuyên cần làm việc, đổ mồ hôi trán của ḿnh để có phương tiện vật chất nuôi thân cũng rất thực tế. Cộng đoàn giáo hội không thể bị coi như là một tổ chức bác ái, chuyên phát chẩn và trợ giúp những người lười biếng, chỉ sống vật vờ, vô định, không muốn làm việc và dấn thân, lại càng không phải là một câu lạc bộ của các người mơ mộng viễn vông. T́nh yêu thương và liên đới trợ giúp giữa các tín hữu không được trở thành cớ tạo ra cả một phong trào ăn bám tôn giáo. Gương sống cụ thể của Phaolô và các thừa sai ở đây là một chưng tá qúy báu cho thấy cung cách sống dấn thân và các cố gắng của các người truyền giáo. Tuy có quyền đ̣i hỏi tín hữu phải chu cấp phương tiện vật chất cho ḿnh, nhưng các vị đă không muốn trở thành gánh nặng cho bất cứ ai trong cộng đoàn. Trái lại, Phaolô và các cộng sự viên đă cố gắng lao nhọc mỗi ngày với một nghề riêng để có phương tiện tài chánh sinh sống (3,7-9). Đây cũng là một trong các vấn đề thời sự đối với các thừa tác viên Lời Chúa trong các cộng đoàn kitô ngày nay.

 

ĐỀ TÀI 39

TÍNH SỔ ĐỜI TRONG NGÀY SAU HẾT

 

      Khi khai triển sứ điệp thần học thư thứ II gửi giáo đoàn  Thêxalônica, chúng ta thấy trong chương 1, ngoài lời chào mở đầu và lời nguyện kết thúc, phần c̣n lại, tức các câu 3-10, có h́nh thái của một lời tạ ơn, nhưng nội dung của nó lại là cuộc phán xử công minh trong ngày tận thế. Đó là ngày mọi người đều phải tính sổ đời ḿnh trước mặt Chúa Giêsu Kitô ngự trị trong vinh quang và là thẩm phán xét xử muôm loài muôn vật.

    Lời tạ ơn ở đây song song với lời tạ ơn trong thứ thứ I (1,2-3), nghĩa là có h́nh thái kết cấu văn chương và lư do giống nhau. Các thừa sai cám tạ ơn Chúa v́ biết tín hữu Thêxalônica sống ḷng tin, ḷng cậy và ḷng mến kiên vững. Tuy nhiên, đây không phải là kiểu lập lại thuộc ḷng. Trước hết lời tạ ơn mở đầu với một công thức mang sắc thái phụng vụ: ”Thưa anh chị em, chúng tôi có bổn phận không ngừng cám tạ ơn Chúa cho anh chị em, đó thật là chính đáng...”. Lời lẽ tựa như phần mở đầu các kinh Tiền Tụng. Các lư do giải thích tại sao các thừa sai lại luôn cám tạ Chúa cũng có nét đặc thù của chúng. Đó là sự kiện các tín hữu Thêxalônica lớn mạnh và tấn tới trong ḷng tin kitô và trong t́nh yêu thương. Trong thư thứ I thánh Phaolô nhiều lần khuyến khích tín hữu tiếp tục tiến triển luôn măi trong ḷng tin và ḷng mến (1 Ts 3,13; 4,1-10). Ở đây tác giả cũng dựa vào đó để thay đổi công thức. Bên cạnh ḷng tin và ḷng mến, ông không nêu rơ ḷng hy vọng. Nhưng bù lại câu tiếp theo nhắc tới sự kiên tŕ và ḷng tin. Các thừa sai hănh diện về họ trước mọi cộng đoàn khác. Bởi v́ tín hữu Thêxalônica tỏ ra kiên gan bền bỉ sống Tin Mừng của Chúa và nêu gương cho mọi người. Các bắt bớ và thử thách khó khăn đă không tài nào lay chuyển nổi ḷng tin mến kiên cường của họ. Tuy có khổ đau trong thân xác, nhưng họ bền chí chịu đựng. Như vậy, tuy không nhắc tới từ hy vọng nhưng tác giả thư thứ II nêu bật sự kiên gan bền chí, là đức tính ṇng cốt của những ai đặt để tất cả hy vọng nơi Chúa Giêsu Kitô, như được nói tới trong chương 1,3 thư thứ I: ”sự kiên tŕ trong niềm hy vọng của anh chị em” . Thiết tưởng cũng nên lập lại cho rơ điều này: đó là hy vọng vào ơn cứu độ vinh viễm mai sau không có nghĩa là trốn tránh các khổ đau khốn khó trong cuộc sống hiện tại. Nó cũng không có nghĩa là sống chờ đợi bất động, không dấn thân, không làm việc để cứu đời giúp người và biến đổi thế giới. Trái lại, hy vọng vào ơn cứu độ vĩnh viễn mai sau có nghĩa là gánh vác lấy lịch sử hiện tại, bằng cách chống trả lại các lực lượng sự dữ và bạo lực đang áp bức hành hạ con người và tàn phá thế giới. Người tín hữu hy vọng không đứng yên bên lề lịch sử nh́n các lực lượng sự dữ và bạo lực tung hoàng, nhưng dấn thân bước vào giữa cơn lốc của các biến cố thê thảm nhất của nhân loại với thái độ quyết liệt và đem hết tài sức của ḿnh ra để giúp đời và cứu đời.

     Trong các câu từ 5 tới 10, tác giả thư thứ II gửi tín hữu Thêxalônica dồn hết sự chú ư vào sự phán xử cuối cùng của Thiên Chúa. Thiên Chúa không thờ ơ trước các khổ đau và bắt bớ mà các tín hữu phải gánh chịu v́ tin vào Ngài. Trái lại, sẽ tới ngày người lành cũng như kẻ dữ, tất cả mọi người, đều phải tính sổ đời trước mặt Chúa. Thiên Chúa sẽ phán xử công minh và xem xét công tội của mỗi người theo cung cách sống và hành xử của họ, khi họ c̣n sống trên trần gian này. Để diễn tả sự phán xử công minh đó, tác giả dùng lại thứ từ ngữ của ”luật báo oán” trong Cựu Ước. Đó là luật ”mắt thế mắt, răng đền răng”. Các kẻ bắt bớ và hành hạ kitô tín hữu sẽ phải gánh chịu cùng sự dữ và các thứ cực h́nh mà họ đă dùng để hành khổ các người tin vào Thiên Chúa. Trái lại, Thiên Chúa sẽ cho những người phải chịu mọi khốn khó khổ đau v́ Ngài được an b́nh nghỉ ngơi, niềm an b́nh mà họ đă không hề được nếm hưởng trong cuộc sống trên trần gian, v́ đă bị sự dữ và bạo lực cướp mất. Nói cách khác, các tín hữu đă bị bắt bớ v́ ḷng tin sẽ được bước vào hưởng cuộc sống hạnh phúc bất diệt trong Nước của Thiên Chúa, được chia sẻ chiến thắng của Chúa Kitô, vĩnh viễn khải hoàn trên các lực lượng sự dữ và cái chết. C̣n những người hung bạo, gian tham ác độc hằng bách hại các tín hữu sẽ là mồi ngon cho sự hư mất đời đời. Nghĩa là cụ thể mà nói, họ sẽ bị khai trừ khỏi cuộc sống hiệp thông với Chúa Giêsu một cách vĩnh viễn.

 Từ ngữ dùng trên đây diễn tả các lược đồ tôn giáo và văn hóa do thái. Nhưng đàng sau và bên kia từ vựng đó nổi bật lên trong tất cả tính chất triệt để của nó số phận trái ngược đang đón chờ các kẻ bạo hành và các nạn nhân của phường bạo lực, các kẻ áp bức và những người bị áp bức, các kẻ đóng đanh và những người bị đóng đanh. Ở đây quan niệm thưởng phạt trong truyền thống do thái vang dội trong một văn bản kitô. Xác tín sâu thẳm rằng Thiên Chúa là Đấng công bằng, được diễn tả ra qua niềm hy vọng là trong ngày phán xét của thời cánh chung t́nh thế sẽ lật ngược. Những kẻ từng gây ra chết chóc thê lương cho tín hữu sẽ phải gánh chịu cái chết đời đời. Trái lại, những người đă phải chết v́ bạo lực và cái gian ác của kẻ dữ sẽ được hưởng sự sống mới vĩnh cửu. Đó là cuộc sống chia sẻ và kết hiệp hạnh phúc với Thiên Chúa.

 Cho tới đây, những ǵ tác giả tŕnh bầy phát xuất từ các xác tín truyền thống do thái, mà kitô hữu học biết trở lại trong ḍng tư tưởng luân lưu họ thừa hưởng được của Do thái giáo. Tuy nhiên cũng không thiếu các nét đặc thù của kitô giáo. Sắc thái đặc thù thứ nhất đó là chính sự khước từ hay đón nhận lời rao giảng Tin Mừng định đoạt cho án phạt hư mất hay ơn cứu độ của mỗi một người. Ở đây văn bản nối kết chặt chẽ và đối chọi hai loại người với nhau: các kẻ bách hại là những người không tin vào Chúa và các tín hữu là những người bị bắt bớ. Trên b́nh diện b́nh giải chúng ta thấy rơ ràng tương quan mật thiết một mặt giữa sự khước từ tin mừng và hành động đàn áp bạo lực, mặt khác giữa sự tiếp đón sứ điệp của Chúa Kitô và ḷng kiên tŕ khổ đau chống lại phong ba băo táp của các lực lượng bất công vùi dập tín hữu. Trong ḍng lịch sử thế giới Tin Mừng của Chúa là một dấu chỉ chia cắt nhân loại và chia cắt mỗi một người trong chính tận cùng thẳm tâm ḷng ḿnh. Khước từ Tin Mừng của Chúa đồng nghĩa với bạo lực, đàn áp bất công, nghĩa là chọn lựa đứng cùng chiến tuyến với các lực lượng của sự chết. Trong khi đó chấp nhận sống theo Tin Mừng của Chúa có nghĩa là lựa chọn đứng về phía những người yêu chuộng sự sống và tạo dựng sự sống trong lịch sử. Vượt bên kia các từ ngữ tôn giáo, Tin Mừng của Chúa Giêsu cũng dậy cho chúng ta biết luật nhân qủa của bạo lực và chết chóc: ai giao văi chết chóc và bạo lực th́ sẽ gặt hái chết chóc và bạo lực. Trong khi chiến đấu cho sự sống sẽ gặt được hoa trái của sự sống, ít nhất là về lâu về dài sau này.Niềm tin tôn giáo vào sự phán xử sau cùng của Thiên Chúa trong lịch sử, như được mục sư Dietrich Bonhoeffer thích diễn tả bằng thứ từ ngữ không tôn giáo,có nghĩa là quyết liệt tố cáo bạo lực và các lực lượng vô nhân tha hóa chà đạp con người và nhất định chọn lựa đứng về chiến tuyến của các lực lượng khởi xướng và xây dựng các chương tŕnh sự sống.

   Nét đặc thù kitô thứ hai được tŕnh bầy trong quan niệm thưởng phạt ở đây đó là chính sự can thiệp định đoạt của Chúa Kitô biệt định cho tương lai tối hậu của nhân loại. Văn bản thư thứ II gửi tín hữu Thêxalônica miêu tả sự can thiệp đó với các mầu sắc các lần Thiên Chúa tự tỏ hiện ra cho con người như tŕnh thuật trong Cựu Ước, hay với các mầu sắc của nền văn chương khải huyền do thái truyền thống hơn.Chẳng hạn Chúa Giêsu Kitô sẽ từ trời xuống,sẽ quang lâm (Dn 7), có các thiên sứ thuộc triều thần thiên quốc hộ tống. Các vị là những đấng phục vụ Thiên Chúa là Vua quyền uy (4 Esd 7,28; 13,32). Chúa Giêsu sẽ tỏ hiện vẹn toàn trong ánh sáng rạng ngời của lửa hồng (Xh 3,2; Is 66,15). Tất cả các h́nh ảnh đó muốn nói rằng Chúa Giêsu Kitô sẽ can thiệp với quyền năng mạnh mẽ siêu việt của Ngài. Là Thẩm Phán lănh nhận nhiệm vụ phán xử từ Thiên Chúa Cha, Ngài sẽ đưa ra lời phán quyết công minh mà loài người không thể khiếu nại vào đâu được.

 Ở đây cũng thế, cần phải chú ư đừng để cho các kiểu dùng từ ngữ và h́nh ảnh đánh lừa kéo lôi chúng ta vào các con lộ của tưởng tượng kỳ quái. Trái lại cần đọc hiểu ṇng cốt sứ điệp dấu ẩn sau các ngôn ngữ và h́nh ảnh đó. Sứ điệp đó là: tương lai tối hậu của cuộc đời con người, số phận sau hết của đời ta được định đoạt ngay từ bây giờ đây giữa ḷng lịch sử của thế giới này, qua thái độ chấp nhận hay khước từ tin theo Chúa Giêsu và sống các giáo huấn Tin Mừng của Ngài. Thái độ tin hay nổi loạn không tin trong cuộc sống hiện tại sẽ có các âm hưởng và hậu qủa định đoạt đối với chân trời tận thế của lịch sử. Sự thật này đă được chính Chúa Giêsu nói lên trong giáo huấn về ngày tận thế, như thánh Luca viết trong chương 12,8-9: Ai công nhận Ta trước mặt loài người th́ Con Người cũng sẽ công nhận người ấy trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa. C̣n ai chối bỏ Ta trước mặt thiên hạ, th́ cũng sẽ bị chối bỏ trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa. Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài phán xử thực tại sự hiện diện của con người trong ḍng lịch sử và các lực lượng đối nghịch nhau trong lịch sử đó, vượt xa mọi vẻ bên ngoài của chúng.

   Tóm lại, văn bản nói về việc tính sổ đời với Chúa trên đây là một kiểu kitô hữu đọc lại niềm tin về sự thưởng phạt của Do thái giáo trong thời Cựu Ước. Đặc biệt câu 9 trích lại sách ngôn sứ Isaia chương 2,10 khẳng định số phận của kẻ dữ là phải án phạt trầm luân và đời đời sống cách xa mặt Chúa và ánh quang quyền năng của Ngài. Chỉ khác là ở đây nhân vật chính không phải là Giavê Thiên Chúa như trong cựu ước, mà là Chúa Giêsu Kitô phục sinh vinh hiển. Tất cả để nêu bật rằng ơn cứu độ