ĐỨC BÊNÊĐÍCTÔ XVI:
____________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ ______
- CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG
- CHƯƠNG TR̀NH MỘT NGÀY LÀM VIỆC.
(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương, Phỏng theo Marta Largo, “BENEDICT, AS SEEN UP CLOSE” trong Zenith News Agency, ngày 23/5/2008).
CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG.
Một ḷng yêu mến Chúa
Theo Đức Hồng Y José Saraiva Martins, Tổng Trưởng Bộ Phong Thánh, vị Hồng Y đă từng cộng tác rất gần gũi với Đức Bênêđíctô, th́ nếu chúng ta muốn hiểu được nhân vật “Joseph Ratzinger” như một người thường và như một vị Giáo Hoàng, th́ “chúng ta phải để ư đến ḷng yêu mến Chúa của Ngài”.
Hôm Thứ Ba ngày 20/5/2008, trong khi tham dự cuộc ra mắt cuốn sách “BENEDICTUS” do Giuseppe de Carli viết, Đức Hồng Y Martins nói: Ch́a khóa để hiểu được con người và sứ vụ của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI là chính T́nh Yêu Chúa; điều đó dễ nhận thấy trong Tông Thư đầu tiên “Thiên Chúa là T́nh Yêu” (Deus Caritas Est, God is Love) của Đức Giáo Hoàng. Tuy nhiên Đức Hồng y Martins cũng nói rơ thêm là “T́nh Yêu” không phải là một “trạng thái tĩnh”, nhưng là một động lực, một sức mạnh triển nở không ngừng. Thật vậy, T́nh Yêu luôn đem lại những nghị lực mới. T́nh Yêu đặt ra những “Vấn đề” lớn, và từ đó nảy sinh ra Triết Học và Thần Học.
Vị Giáo Hoàng của quần chúng,
Cũng theo Đức Hồng y Martins: “cuốn ‘Benedictus’ đă thu thập được những tài liệu nói lên sự hiện diện đang triển nở của Đức Giáo Hoàng trên sân khấu quốc tế của Thiên Niên Kỷ III. Cuốn sách cũng cho thấy làm thế nào, từng bước một, Đức Giáo Hoàng, một cách thận trọng, đang đi sâu vào tâm hồn của quần chúng. Rồi Đức Hồng y Martins nói thêm: “ Ngoài tŕnh độ trí thức sáng ngời của Ngài, Đức Thánh Cha đang trở nên Vị Giáo Hoàng của quần chúng. Quần chúng càng ngày càng nhận ra được những lời nhắn nhủ của Ngài, ngay cả khi những lời đó khó chấp nhận, v́ đ̣i hỏi phải dấn thân”.
Vị Hồng Y nói tiếp: “Đức Giáo Hoàng luôn hành động như một người Cha, một người Cha quyết tâm không để cho con cái của ḿnh ch́m vào trạng thái tầm thường. Cũng chính t́nh yêu của một người Cha đă thúc đẩy Ngài chiến đấu không ngừng để chống lại sự thống trị của Lư Thuyết Tương Đối hiện đang lan tràn trong xă hội của chúng ta.”
Đức Hồng y Martins c̣n quả quyết: “Vai tṛ của Đức Giáo Hoàng trên trường quốc tế không phải chỉ là một sự ‘có mặt’ mà thôi, nhưng là một ‘thực tại’. Ngay cả trước khi Ngài ngỏ lời, sự xuất hiện của Ngài đă là một sự ‘mời gọi’ mọi người hăy biết sống yêu thương và t́m kiếm chân lư. Tuy nhiên, sự ‘hiện diện’ của Ngài trong Giáo hội và trên thế giới không bao giờ là một sự ‘lấn chiếm’. Giọng nói của Ngài không mang một chút ǵ là ‘kiêu hănh’, nhưng Ngài vừa thận trọng vừa khiêm tốn, vừa thân t́nh. Đó là cách mở rộng tâm hồn nhiều người để họ dể dàng đón nhận những lời mời gọi của Ngài”.
Tôn trọng truyền thống.
Riêng Đức Hồng Y Andrea Condero Lanza di Montezemolo, Tổng Quản Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô Ngoại Thành, th́ nói : « Nhớ lại, khi mới được bầu chọn lên Ngôi Giáo Hoàng được hai ngày, chính Đức Giáo Hoàng đă gọi điện thoại bảo tôi giúp Ngài phác họa bộ phẩm phục Giáo Triều làm sao cho đúng mẫu mực truyền thống (Đức Hồng Y Lanza rất thành thạo về các kiểu phẩm phục của Giáo triều). Ngay khi đó tôi nhận ra rằng Đức Giáo Hoàng có đức tính truyền thống; một con người có tinh thần đơn sơ, nhân bản, thành thực, giàu cảm hứng, nhưng cũng rất thận trọng. Đó là do tính quả quyết và chín chắn trong suy tư của Ngài.”
C̣n Đức Tổng Giám Mục Angelo Amato, Tổng Thơ kư Thánh Bộ Tín Lư và Đức Tin, là một trong những người cộng tác thân cận nhất với Đức Giáo Hoàng khi Ngài c̣n là Hồng Y Tổng Trưởng Thánh Bộ này, đă phát biểu : « Đức Giáo Hoàng vẫn sống theo cung cách y như Ngài c̣n là Hồng Y. Điều mà quư vị thấy nơi Đức Giáo Hoàng bây giờ cũng y như quư vị thấy trước đây khi Ngài c̣n là Hồng Y Bộ Trưởng Thánh Bộ Tín Lư và Đức Tin: Cùng một con người trí thức, có đầu óc minh mẫn; cùng một tấm ḷng nhiệt thành bảo vệ Tín Lư Đức Tin; cùng một con người đơn giản trong giao tiếp; và cũng vẫn là một con người thành thật và khiêm tốn.
Nụ cười truyền cảm.
Rồi Đức Tổng Giám Mục Amato vừa mở các trang sách của cuốn “Benedictus” vừa nói: “Người ta thấy nơi Đức Giáo Hoàng bốn đức tính trổi vượt: Tươi vui, nhanh trí, quảng tâm, và có nụ cười truyền cảm! Hơn nữa Ngài c̣n là con người thích đối thoại. Trí óc Ngài rất già dặn qua các năm tháng dài dạy tại các Đại Học, và cũng rất sắc bén qua nhiều cuộc tiếp xúc với các Đức Giám Mục khắp nơi trên thế giới về gặp gở Ngài ở Vatican khi Ngài c̣n là Bộ Trưởng Bộ Tín Lư. Đúng Ngài là một con người thích đối thoại với dáng vẻ không lạnh nhạt hay lơ là, nhưng luôn niềm nở, thân thiện. Ngài cũng là một nhà trí thức có tấm ḷng.
Sức mạnh truyền đạt của Ngài xuất phát từ chỗ lới nói của Ngài luôn hợp t́nh, hợp lư; dù khi Ngài nói về Chúa Kitô, hay khi Ngài tŕnh bày về các chân lư Đức Tin, cũng như khi Ngài phê phán những năo trạng quá nệ cổ.
V́ Đức tin và Lư trí là đôi cánh đưa chúng ta bay tới Chân Lư, cho nên rơ ràng là Chân lư, T́nh yêu Chân lư và sự đề cao Chân lư là những sợi chỉ đan kết đem lại một sự ‘liên tục’ nơi con người Ratzinger, trước đây là Bộ Trưởng Thánh Bộ Đức Tin và bây giờ là Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô!”.
*
MỘT NGÀY LÀM VIỆC CỦA
ĐỨC BÊNÊĐÍCTÔ XVI.
(Linh Mục Trần Đức Phương. Phỏng theo Isabelle de Gaulmyn, “A day in the life of the Pope” trong Catholic Digest April 2008).
5:30 sáng: Khi công trường Thánh Phêrô c̣n đang yên tĩnh trong bầu khí buổi sáng sớm của thành Rôma và chờ đợi những đoàn du khách sẽ lần lượt kéo đến, trên tầng thứ ba của ṭa nhà nơi Đức Gáo Hoàng cư ngụ và làm việc, người ta thấy ánh sáng đèn bắt đầu chiếu lên; đó là lúc Đức Giáo Hoàng thức dậy và bắt đầu một ngày mới với những giờ phút cầu nguyện và tĩnh tâm sáng.
7:00 sáng: Đức Giáo Hoàng dâng Thánh Lễ tại nhà nguyện riêng cùng với sự hiện diện của hai Đức Ông Goerg Gaenswein và Alfred Zuereb (hai vị Thư Kư của Đức Giáo Hoàng) và bốn người giúp việc. Thời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II th́ thường có thêm một số khách được vào cùng dâng lễ.
8:30 sáng: Đức Giáo Hoàng làm việc tại Văn pḥng riêng. Nếu trời tốt, cửa sổ nh́n ra công trường Thánh Phêrô sẽ mở (chính từ cửa sổ này, vào mỗi trưa Chúa Nhật, Đức Giáo Hoàng nguyện kinh Truyền Tin cùng với các khách hành hương tụ tập tại công trường Thánh Phêrô phía dưới). Một trong hai Đức Ông Thư kư sẽ đem đến cho Đức Giáo Hoàng tập các văn kiện, bản tóm lược các tin tức quan trọng trên thế giới, chương tŕnh làm việc trong ngày, những người Ngài sẽ gặp và những đề tài chính sẽ đề cập đến.
11:00 Trưa : Đức Giáo Hoàng xuống pḥng tiếp tân ở tầng hai để tiếp các vị thủ lănh các quốc gia, các vị Giám Mục, các nhân vật quan trọng… đă được sắp xếp theo chương tŕnh. Sau đó Ngài tiếp các khách đến viếng thăm tại thư viện riêng.
1:30 Trưa: Đức Giáo Hoàng dùng bữa trưa đơn giản tại pḥng ăn ở tầng ba với các viên chức hoặc đôi khi có khách được mời. Sau đó Đức Giáo Hoàng thường chơi Piano, đặc biệt những bản của Mozart, rồi đi dạo một chút trước khi nghỉ trưa.
3:30 Chiều: Đức Giáo Hoàng lại làm việc tại văn pḥng để duyệt lại các văn kiện và các bài diển văn.
Vào Mùa Đông từ 4:00 đến 4:45 chiều (vào mùa Hè từ 6:45 đến 7:30) Ngài ra vườn để đi dạo với hai vị thư kư.
6:00 Chiều : Ngài gặp gỡ tại văn pḥng riêng, các vị cố vấn thân cận, như các Đức Hồng Y, các Giám Mục Tổng Trưởng, Tổng Thư Kư các Bộ tại Ṭa Thánh.
7:30 Tối : Đức Giáo Hoàng ăn bữa tối, xem tin tức trên truyền h́nh. Sau đó Ngài vào Nhà Nguyện để cầu nguyện trong yên lặng ban đêm.
Khi chuông Đại Thánh Đường Thánh Phêrô điểm 11:00 giờ đêm, đèn pḥng ngủ của Đức Giáo Hoàng tắt và Ngài bắt đầu nghỉ đêm.
*
SỨ GIẢ CỦA H̉A B̀NH VÀ
T̀NH THƯƠNG
____________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _______
(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương)
“Đấng Toàn Năng đă làm cho
tôi những điều cao cả…” (Lc 1, 49). Trước những lời ca tụng của Bà Elisabet về
việc Đức Maria được diểm phúc làm Mẹ sinh ra Đấng Cứu Thế, Mẹ Maria đă khiêm tốn
tạ ơn Chúa và thưa:“Đấng Toàn Năng đă làm cho tôi những điều cao cả...”.
Ơn Gọi của Chúa thật là điều kỳ diệu đối với những người Chúa chọn để làm các
công việc đặc biệt của Chúa trong Giáo Hội. Đúng là “Không phải v́ con Chúa chọn
con; nhưng là bí nhiệm t́nh yêu Chúa!”.
Khi Đức Gioan Phaolô II được bầu lên ngôi Giáo Hoàng (ngày 16-10-1978), cả thế
giới ngỡ ngàng. Một con người phải trải qua bao khó khăn thời niên thiếu để tự
sinh sống và việc học thật khó khăn, phải “tu chui”, lên được chức Linh Mục là
khá lắm rồi, thế mà Thiên Chúa đă dùng Ngài làm bao việc “trọng đại” qua bao
chức vụ khác nhau trong Giáo Hội cho đến ngôi vị Giáo Hoàng, và triều đại Giáo
Hoàng của Ngài thật dài lâu và thật tuyệt vời.
Áp dụng vào cuộc đời của Đức Đương Kim Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, từ thời niên
thiếu cho đến Ngôi vị Giáo Hoàng, chúng ta cũng thấy Thiên Chúa đă dẩn dắt Ngài
một cách thật kỳ diệu. Bản tiểu sử thời niên thiếu của Ngài ghi lại: Vào một
buổi sáng ngày Thứ Bảy Tuần Thánh 16 tháng 4 năm 1927, tại làng quê Marktl am
Inn( thuộc Giáo phận Passau, miền Bavaria, nước Đức), bà Ratzinger, nhũ danh là
Maria Peintner, đă sinh hạ một người con trai mà hai ông bà đặt tên là Giuse
Alois Ratzinger và được chịu phép Thánh Tẩy vào chính ngày thứ bảy tuần thánh
hôm đó. Cậu là người con thứ ba và là cậu bé út trong gia đ́nh. Anh đầu của cậu
là George Ratzinger, và chị gái tiếp theo là Maria Ratzinger. Hai anh em trai
đều được Chúa chọn lên chức Linh Mục. C̣n người chị gái sống độc thân và đă đi
theo để giúp em cho đến khi qua đời vào năm 1991. Cha của cậu là Giuse
Ratzinger, Sr. Ông là một sĩ quan cảnh sát thuộc gốc một gia đ́nh nông dân nghèo
miền quê vùng Bavaria. Mẹ cậu, trước khi kết hôn, đă làm người nấu ăn cho một số
khách sạn trong vùng. Cả hai ông bà đều thuộc gia đ́nh công giáo tốt.
Gia đ́nh Ratzinger đă phải sống rất khó khăn vào thời Đức Quốc Xă. Ông
Ratzinger, Sr. chống lại chế độ này, v́ thấy nó rất tàn bạo, đi ngược hẳn với
đức Bác ái Công giáo. Tuy nhiên, hai người con trai của ông bà, khi lên 14 tuổi,
lần lượt vẫn phải bắt buộc ghi danh vào Đoàn Thiếu Niên của Hitler. Nhưng theo
tinh thần của bố, hai cậu bé này nhất định không hoạt động tích cực, và không
năng đi dự các cuộc họp của đoàn. Các cậu vẫn giữ vững đức tin công giáo và nuôi
ơn gọi làm Linh mục; kể cả khi phải bắt đi lính cho chế độ Hitler. Giuse
Ratzinger cũng đă bị bắt làm tù binh chiến tranh của quân đội Hoa Kỳ khi Đồng
Minh đến giải phóng nước Đức khỏi chế độ tàn bạo Đức Quốc Xă vào năm 1945.
Sau những ngày b́nh an trở lại trên quê hương, hai cậu con trai đều trở vào
Chủng Viện để học và tiếp tục cuộc đời tận hiến cho Chúa. Tạ ơn Chúa, cả hai anh
em đă cùng được chịu chức Linh mục vào cùng ngày 29 tháng 6 năm 1951 tại
Freising. Lúc đó, Linh mục Joseph Ratzinger mới vừa 24 tuổi. Sau khi chịu chức
Linh mục, Cha Giuse Ratzinger được cử làm giáo sư dạy trung học và tiếp tục học
hỏi thêm, và đă đậu bằng tiến sĩ Thần học vào năm 1953, rồi tiếp tục là Giáo sư
nhiều trường Đại Học nổi tiếng ở Đức để giảng dạy về triết học và thần học. Có
một thời gian Cha đă làm Khoa trưởng phân khoa Thần học và tiếp theo là Phó Viện
trưởng Đại học Rosensburg.
Ngài có đầu óc thật thông minh và ham học hỏi, đọc sách thật nhiều; nên đă viết
nhiều bài báo và tác phẩm rất giá trị, đặc biệt về Thần học và Giáo lư Công
giáo... Cũng như Đức Giáo Hoàng Phaolô II, Ngài có khiếu sinh ngữ.
Ngài nói thành thạo tiếng
Ư, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Latinh; khá rành tiếng Bồ Đào Nha và cũng giỏi về Cổ
Ngử Hy Lạp và tiếng Do Thái cổ dùng trong Kinh Thánh. Là một nhà trí thức nổi
tiếng ở Âu Châu, Ngài đă được mời vào làm thành viên của nhiều Hàn Lâm Viện Âu
Châu. Ngài cũng được kể vào số những nhà trí thức Công giáo nổi tiếng thời đó
như Karl Rahner, Hans Kung, Hans Urs von Balthasar, Henri de Lubac... Nhiều
trường Đại học đă tặng Ngài Bằng Tiến Sĩ Danh Dự: Đại học Thánh Tôma ở Saint
Paul (Minesota, 1984); Đại học Công Giáo Lima (1986); Đại học Công giáo
Eichstatt (1987); Đại học Công giáo Lublin (1988); Đại học Công giáo Navarre
(1998); Đại học Wroclaw, Balan (2000). Ngài cũng có khiếu về âm nhạc, chơi đàn
Piano, và rất thích nhạc của Mozart và Bach.
Ngài cũng là “tư vấn” về Thần học trong Cộng đồng Vaticanô II từ 1962-1965 và
giữ các vai tṛ quan trọng trong Hội đồng Giám Mục Đức Quốc và Ủy Ban Thần Học
Quốc Tế.
Vào ngày 25/3/1977, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đặt Ngài làm Tổng Giám Mục Munich
và Freising và ngày 27 tháng 6 cùng năm, lại ban cho Ngài phẩm chức Hồng Y. Sau
đó Ngài đă dự hai Mật nghị để bầu Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I và Đức Giáo
Hoàng Gioan Phaolô II vào năm 1978.
Năm 1981 Đức Giáo Hoàng Phaolo II đặt Ngài làm Tổng trưởng Thánh bộ Đức Tin
(1981-2005). Từ đó Ngài từ chức Tổng Giám Mục Munich và trở về Giáo triều Rôma
để phục vụ cho đến khi lên Ngôi Giáo Hoàng. Trong thời gian này Ngài đă đóng góp
rất nhiều vào các công việc quan trọng của Giáo hội: Chủ tịch Ủy ban Soạn thảo
Giáo lư Công giáo và sau 6 năm làm việc (1986-1992), Ủy ban đă hoàn thành và
tŕnh lên Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cuốn Giáo Lư Công Giáo mới. Ngài cũng
được mời làm thành viên của các Bộ tại Giáo triều Rôma: như Bộ Giáo Hội Đông
Phương, Bộ Phượng tự và Kỷ Luật Bí Tích, Bộ Giám Mục, Bộ Rao giảng Tin Mừng cho
các dân tộc, Bộ Giáo dục Công giáo, Bộ Giáo sĩ, Bộ Phong Thánh, Hội Đồng Giáo
Hoàng về Văn Hóa, Ṭa Ḥa Giải Tối Cao, Hội Đồng Giáo Hoàng về Các Văn Bản
Luật... Ngày 30/11/2002, Ngài được bầu làm chủ tịch Hồng Y Đoàn.
Từ năm 1990, sức khỏe của Ngài bị suy giảm nặng v́ làm việc quá nhiều; có những
lần bị trụy tim và mắt bị mờ. V́ thế, Ngài xin về hưu với ư định trở về ngôi
làng ở Bavaria để tĩnh dưỡng và viết sách. Đă ba lần Ngài đệ đơn xin từ chức;
nhưng cả ba lần Đức Giáo Hoàng đều xin Ngài ở lại. V́ vâng lời, Ngài tiếp tục ở
lại làm việc. Lạ lùng thay, ơn Chúa lại giúp Ngài hồi phục lại sức khỏe và tiếp
tục hăng hái đảm nhiệm các công việc được trao phó. Lạ lùng hơn nữa, khi Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô II băng hà, nhiều tin đồn và báo chí đă đề cập đến tên
Ngài vào những vị sẽ được chọn. Phần Ngài chẳng tin rằng ḿnh sẽ được chọn, v́
tuổi đă già và sức khỏe không khả quan. Anh của Ngài là Đức Ông George
Ratzinger, theo như ngừơi ta kể lại, cũng đêm ngày cầu nguyện xin Chúa đừng chọn
người em của ḿnh. Thế nhưng “Chúa đă chọn Người mà Chúa muốn!” và Ngài đă được
chọn lên Ngôi Giáo Hoàng vào ngày 19/4/2005, lúc đă 78 tuổi ( Nhớ lại Đức Giáo
Hoàng Clêmentê XII, sinh năm 1652, đựơc Chúa chọn lên ngôi Giáo Hoàng cũng vào
lúc đă 78 tuổi, và ở ngôi Giáo hoàng đựơc 10 năm, 1730-1740; Đức Giáo Hoàng
Gioan XXIII, sinh năm 1881, được Chúa chọn lên Ngôi Giáo Hoàng lúc 77 tuổi, và ở
ngôi Giáo Hoàng được 5 năm, 1958-1963). Đức Bênêđictô XVI là vị Giáo Hoàng thứ
265 trong Giáo hội, và là vị Giáo Hoàng IX gốc người Đức.
Khi được bầu chọn xong, Ngài đă xin vâng theo ư Chúa và đă tâm sự với các vị
Hồng y hiện diện: “Tôi đă cầu xin Chúa đừng chọn tôi... nhưng Chúa đă không nhận
lời tôi cầu xin!”. Điều trùng hợp tốt lành, là ngày 19/4 lại trùng vào lễ Thánh
Leô IX, là vị Giáo Hoàng người Đức (1049-1054), được chọn lên ngôi Giáo Hoàng
lúc mới có 47 tuổi, và là vị Giáo Hoàng rất nổi tiếng thời Trung cổ, nổi tiếng
về sự thánh thiện và ḷng nhiệt thành canh tân Giáo hội; dù Ngài chỉ ở ngôi vị
Giáo Hoàng có 5 năm và qua đời vào năm 1054.
Trong lời ngỏ đầu tiên khi vừa được bầu chọn, trước cộng đồng đông đảo đang chờ
đợi tại công trường Thánh Phêrô, vị Tân Giáo Hoàng 78 tuổi đă cảm động nói
(trước khi ban phép lành đầu tiên cho Thành Rôma và toàn thế giới): “Anh chị em
thân mến, sau vị Giáo Hoàng vĩ đại Gioan Phaolô II, các Đức Hồng Y đă chọn tôi,
một người thợ đơn sơ, khiêm hạ trong vườn nho của Chúa. Tuy nhiên tôi tự an ủi
rằng Chúa biết và Chúa hành động nơi những dụng cụ bất toàn; hơn nữa tôi hoàn
toàn phó thác vào lời cầu nguyện của anh chị em. Trong niềm vui Chúa Phục Sinh
và với niềm tin mạnh mẽ vào sự trợ giúp của Chúa, chúng ta hăy cùng nhau tiến
bước. Chúa sẽ nâng đỡ chúng ta. Mẹ Maria Chí Thánh của Chúa sẽ luôn ở bên cạnh
chúng ta. Xin cám ơn anh chị em!”.
Trong lời tâm t́nh đầu tiên với Dân Chúa vào ngày thứ Tư 27/4/2005, Đức Giáo
Hoàng nói lên lư do Ngài đă chọn danh hiệu Bênêđíctô (Trong tiếng Latinh chử
“Benedictus” có nghĩa là “người được chúc phúc” như trong câu “Benedictus qui
venit in nomine Domini! Chúc tụng đấng nhân danh Chúa mà đến!”). Đức Tân Giáo
Hoàng nói: “ Trong tâm thức vừa lo âu vừa tạ ơn Chúa, tôi xin bày tỏ cùng quư vị
tại sao tôi chọn danh hiệu Bênêđíctô: Trước là để nhớ đến Đức Giáo Hoàng
Bênêđíctô XV (1914-1922), là vị sứ giả đă rất can đảm trong sứ vụ rao giảng Ḥa
B́nh; Ngài đă khôn ngoan hướng dẩn Giáo Hội Chúa qua thời hỗn loạn của chiến
tranh (Thế chiến thứ nhất). Theo chân Ngài, tôi đặt trọng tâm sứ vụ của tôi vào
việc phục vụ sự ḥa giải và ḥa hợp giửa các dân tộc. Hơn nữa tôi chọn danh hiệu
Bênêđíctô cũng là để nhớ đến Thánh Bênêđíctô thành Nursia, đồng bổn mạng của Âu
Châu, cuộc đời Ngài nói lên cội nguồn Kytô giáo của Âu Châu. Tôi cầu xin Ngài
giúp chúng ta nắm vững được Chúa Kytô trong trung tâm điểm đời sống Kytô hữu của
chúng ta. Chớ ǵ Chúa Kytô luôn là điểm quan trọng nhất trong mọi tư tưởng và
hành động của chúng ta!”.
Qua Bài “Những lời tâm t́nh đầu tiên...” (Chúng tôi đă dịch ra và gửi đến quư vị
trước đây), chúng ta nhận thấy Ngài rất tôn trọng đường lối của Đức Tiền Nhiệm
Gioan Phaolô II, tiếp tục thi hành những chỉ thị của Cộng Đồng Vaticanô II cho
Giáo Hội trong thế giới hôm nay; đặc biệt tinh thần dấn thân phục vụ của các
tầng lớp giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân; tinh thần t́m hiểu và liên kết với các anh
em “cùng tôn thờ một Chúa Kytô” (Ecumenical efforts); tinh thần ḥa hợp và ḥa
giải giữa các Tôn giáo (Đối thoại liên tôn). Chính v́ thế, trong ba năm trên
ngôi vị Giáo Hoàng, Ngài đă tiếp tục đi đến gặp gở và cùng cầu nguyện với các
Tôn giáo bạn: Chính Thống Giáo, các ngành Tin Lành, Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Phật
Giáo.v.v...
Tâm t́nh ‘Chủ Chăn’ của Ngài đặc biệt được biểu lộ trong hai ‘Tông Thư’
(Encyclicals) đă ra đời: Tông Thư ‘Thiên Chúa là T́nh Yêu,’ ‘ God is Love’(Lấy
trong thơ I Gioan 4,8) kư vào dịp lễ Giáng Sinh 2005 (đặc biệt nhấn mạnh vào
t́nh yêu thương của Chúa với mọi người trong nhân loại ); Tông Thư “Niềm Hy Vọng
Cứu Rỗi” (Saved by Hope; lấy trong tư tưởng của Thánh Phaolô ‘Nhờ Đức Cậy, chúng
ta được cứu độ!”), đặc biệt nhấn mạnh vào niềm hy vọng cho thế giới “đầy thất
vọng” hôm nay, được gửi đi vào ngày 30 tháng 11 năm 2007. Người ta cũng đang chờ
đợi Tông Thư Thứ Ba trong triều đại Giáo Hoàng của Ngài: “Thành Thực Yêu Thương”
(Charity in Truth); đó là Tông Thư nhấn mạnh về các vấn đề toàn cầu hóa và công
bằng xă hội, và tinh thần yêu thương phục vụ.
Tiếp nối tinh thần của các vị Giáo Hoàng tiền nhiệm sau Công Đồng Vaticanô II,
đặc biệt Đức Gioan Phaolô II, Ngài đă dành khá nhiều thời giờ để “đến với các
Dân tộc”. Ngoài các cuộc viếng thăm mục vụ tại nhiều nơi trong nước Ư (như
Bari,2005; Manoppello ‘Pescara,’ 2006; Venora, 2006; Vigevano và Pavia, 2007;
Assisi, 2007; Loreto, 2007; Velletri, 2007; Naples, 2007; Savona và Genoa,2008),
Ngài đă thực hiện hai cuộc tông du đến Đức Quốc, một lần để chủ tọa Đại Hội Giới
TrẻThế Giới ở Cologne (18-21 tháng 8, 2005), một lần để viếng thăm những thành
phố nơi Ngài đă sống (9-14 tháng 9, 2006). Ngài đă kính viếng Ba Lan, Quê Hương
Đức Giáo Hoàng tiền nhiệm Gioan Phaolô II (25-28 tháng 5, 2006); Valantia (Tây
Ban Nha) dịp Đại Hội Thế Giới về Gia Đ́nh Lần Thứ Năm (ngày 8-9 tháng 7, 2006);
Thổ Nhỉ Kỳ (ngày 28/11 đến ngày 01/12/2006); Brazil (ngày 9-14 tháng 5, 2007,
dịp Đại hội các Giám Mục vùng Châu Mỹ La Tinh và quần đảo Caribbê); nước Áo
(ngày 7-9 tháng 9, 2007, dịp Đại lễ kỷ niệm 850 năm Shrine of Mariazell); Hoa Kỳ
và đọc diễn văn tại Trụ sở Hội Đồng Liên Hiệp Quốc (ngày 15-21 tháng 4, 2008).
Mọi cuộc Tông Du của Ngài đều có những chủ đích đặc biệt và đều rất quan trọng,
nhưng đặc biệt quan trọng và được cả thế giới chú ư là cuộc viếng thăm Thổ Nhỉ
Kỳ và cuộc viếng thăm Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc.
Cuộc viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ đă gây nên mối lo lắng cho cả Giáo Hội, v́ những dọa
nạt, chống đối của những nhóm Hồi Giáo quá khích. Cả Giáo Hội đă dâng lời cầu
nguyện cho Ngài và mặc dầu nhiều trở ngại, nhưng Ngài cứ lên đường “nhân danh
Chúa” và với niềm tin phó thác hoàn toàn nơi Chúa. Tạ ơn Chúa, sau đó cả Giáo
Hội đă vui mừng khôn tả khi cuộc viếng thăm được hoàn tất một cách thật tốt đẹp
và Ngài trở về Rôma b́nh an sau khi đă nối lại được những tiến triển tốt đẹp với
anh em Hồi Giáo tại đây (chúng tôi đă tường thuật lại cuộc viếng thăm rất quan
trọng và đầy khó khăn này trong một bài viết trước đây: “Chiếc Thảm Thổ Nhĩ
Kỳ”).
Riêng cuộc viếng thăm Hoa Kỳ và Trụ Sở Liên Hiệp Quốc cũng mang ư nghĩa riêng và
thành công thật tốt đẹp, như báo chí và giới truyền thanh, truyền h́nh tại Hoa
kỳ và các nơi trên thế giới đă loan tin thật đầy đủ vào dịp đó.
Trước hết, cuộc viếng thăm và đọc diễn văn tại Trụ Sở Liên Hiệp Quốc của Đức
Giáo Hoàng đă được biết đến khi ông Tổng Thơ Kư Ban Ki Moon loan báo với kư giả
vào ngày 26 -4-2007 là trong dịp viếng thăm Đức Giáo Hoàng tại Vatican, ông đă
ngỏ lời mời Đức Giáo Hoàng đến thăm Liên Hiệp Quốc vào một thời điểm nào thích
hợp, và Đức Giáo Hoàng đă hân hoan nhận lời. Và thời điểm đó đă đến, Đức Giáo
Hoàng đă viếng thăm và đọc diễn văn tại trụ sờ Liên Hiệp Quốc vào ngày
18/4/2008. Trong bài diễn văn bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, Đức Giáo Hoàng đă
ngỏ lời cám ơn ông Tổng thơ kư Liên Hiệp quốc đă mời Ngài và chào mừng toàn thể
quan khách đă đến dự. Ngài nói đến Liên Hiệp Quốc như “một Gia đ́nh của các dân
tộc”(Family of Nations) mà vai tṛ là bảo vệ nhân quyền và nền công lư cho nhân
loại, cũng như dấn thân để giải quyết các vấn đề khó khăn đang xẩy ra trên thế
giới. Ngài cũng bày tỏ ḷng ngưỡng mộ đối với những đóng góp vô giá của các nhân
viên làm việc cho Liên Hiệp quốc, và tưởng nhớ đến bao nhân viên đă hy sinh mạng
sống (nguyên trong năm 2007, đă có 42 nhân viên hy sinh) trong khi đến các nơi
để làm công tác nhân đạo và bảo vệ ḥa b́nh. Chúng ta nhớ lại vị Giáo Hoàng đầu
tiên đến viếng thăm Liên Hiệp Quốc là Đức Giáo Hoàng Phaolô VI vào ngày 04-10-
1965, Ngài đă hô hào mọi người cùng với Liên Hiệp Quốc làm sao để “không c̣n
chiến tranh! Không c̣n Thế Chiến!.. Ḥa B́nh, Ḥa b́nh phải đến với nhân loại!”
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă viếng thăm Liên Hiệp Quốc vào ngày 5-10-1995
và đă nói đến “Liên Hiệp Quốc như một trung tâm tinh thần mà các nước trên thế
giới coi như ngôi nhà của ḿnh và cùng chia sẽ trách nhiệm về sự hiện hữu của
Liên Hiệp Quốc như “một Gia đ́nh của các Dân Tộc!”
Cuộc viếng thăm Hoa Kỳ của Đức Đương Kim Giáo Hoàng cũng đă được trù định rất
lâu và đă được loan báo trước nhiều tháng trời. Toàn thể Giáo hội Hoa kỳ đă tha
thiết cầu nguyện cho Ngài trong cuộc viếng thăm này. Hiệp Hội Côlômbô (Knights
of Columbus) đă in một bản kinh phía sau một tấm ảnh Đức Giáo Hoàng mặc phẩm
phục màu xanh (tượng trưng “niềm hy vọng” mà Đức Giáo Hoàng sẽ đem lại cho quê
hương và Giáo hội Hoa kỳ). Khẩu hiệu nói lên điều này là “Chúa Kitô, niềm Hy
vọng của chúng ta!” (Christ, our Hope). Các nhà thờ và các nơi hội họp cũng như
tại tư gia đă đọc kinh này nhiều tháng trời và chờ đợi ngày Ngài đến viếng thăm.
Bản kinh tuy ngắn, nhưng đă nói lên đầy đủ khát vọng của Giáo hội Hoa kỳ trong
cuộc viếng thăm này của Đức Gíao Hoàng: “Lạy Cha Toàn Năng, Đấng hằng rộng ban
muôn ơn lành cho chúng con, chúng con khiêm tốn cầu xin Cha soi sáng, hướng dẩn
và che chở Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI trong cuộc viếng thăm mục vụ của Ngài
trên Đất nước Hoa Kỳ. Xin chúc lành cho Đức Thánh Cha, Ngài đến như vị “Sứ Giả
của Ḥa B́nh và T́nh Thương” cho mọi người có niềm tin và thiện tâm. Xin cho sự
hiện diện của Ngài tại Hoa kỳ giúp xây dựng sự liên đới giữa chúng con, những
con người đă được dựng nên giống Chúa và theo h́nh ảnh của Chúa; xin cho lời
giảng dạy của Ngài tăng thêm sức mạnh đức tin cho Dân Chúa. Lạy Cha, chúng con
xin âu yếm phó thác cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô cho sự chăm sóc
của Đức Mẹ Guadalupe, Nữ Vương Lục địa Mỹ Châu. Nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ,
xin cho Đức Giáo Hoàng được ǵn giữ khỏi mọi hiểm nguy, và xin cho Ngài chiếu
tỏa được Chân Lư Phúc Âm mà Ngài rao giảng, và xin cho sự hiện diện của Ngài
giữa chúng con đem lại sự canh tân cho Giáo Hội trên quê hương chúng con. Chúng
con nguyện xin nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con. Amen”.
Chúa đă thường chúc lành cho cuộc viếng thăm này của Đức Giáo Hoàng và đem lại
những thành quả tuyệt vời. Dù chương tŕnh 6 ngày viếng thăm thật bận rộn và
phải di chuyển nhiều; nhưng ơn Chúa thương Đức Giáo hoàng vẫn đầy đủ sức khỏe
(dù ở tuổi 81) để hoàn thành mỹ măn.
Cuộc đón tiếp thật long trọng tại Ṭa Bạch Ốc ( và nhân dịp cũng mừng sinh nhật
81 của Đức Giáo Hoàng), lúc đầu báo chí nói đến số người là 9 ngàn, nhưng thực
tế số quan khách tham dự đă lên đến 13, 500. Ngoài cuộc họp mặt riêng với Tổng
Thống Bush, rồi các cuộc tiếp xúc với các chính giới Hoa kỳ, Đức Giáo Hoàng đă
lần lượt tiếp xúc và nói chuyện với hàng Giám Mục Hoa kỳ tại Vương CungThánh
Đường Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (Washington, DC), với các nhà gíao dục Công
Giáo tại trường Đại Học Công Giáo Hoa kỳ (Catholic University of America), cùng
cầu nguyện với các đại diện các Tôn Giáo tại John Paul II Cultural Center
(Washington, DC), gặp gỡ Cộng đồng Do Thái Giáo tại Hội Đường Park East (New
York), cầu nguyện Đại kết (Ecumenical prayer service) chung với các đại diện của
các cộng đồng Kitô Giáo toàn quốc Hoa Kỳ tại Gíao Xứ Thánh Giuse (New york), rồi
những cuộc tiếp xúc với giới trẻ tật nguyền, với các Chủng sinh, với các giới
trẻ tại Đại Chủng viện Thánh Giuse (New York), cầu nguyện cho các nạn nhân tại
địa điểm bị tàn phá b́nh địa (Ground Zero). Chưa kể đến những Bài giảng và những
Thánh Lễ trọng thể Ngài dâng tại Công viên quốc gia (National Park, New York,
17-4-2008), tại Nhà Thờ Chánh Ṭa Thánh Patrick (New York, 19-4-2008), đặc biệt
tại Yankee Stadium (New York, 20-4-2008) trước khi chào từ biệt trở về Ṭa
Thánh. Trong mọi dịp Đức Gíao Hoàng đă cố gắng đem Phúc âm T́nh thương và niềm
Hy Vọng đến cho mọi người thuộc mọi từng lớp xă hội, và mới gọi mọi người thuộc
các Chủng tộc và Tôn giáo khác nhau biết đối thoại để sống ḥa hợp và yêu thương
nâng đỡ lẫn nhau trong cuộc sống.
“Nói chung, cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI đến với đất nước
Hoa kỳ và Liên Hiệp quốc đă đem lại nhiều thành quả tốt đẹp. Những thành quả đó
chắc chắn sẽ bền vững trên Quê hương và Giáo Hội Hoa Kỳ, và đem lại ‘một Mùa
Xuân mới’ chẳng những cho Giáo Hội Hoa Kỳ, mà cho cả dân tộc Hoa Kỳ. Sau cuộc
viếng thăm đă có những tiếng vọng rất tốt đẹp từ các tầng lớp khác nhau tại đất
nứớc đa chủng tộc, đa tôn giáo này: Trước khi Ngài đến, nhiều người Hoa Kỳ nói
họ không biết ǵ nhiều về Đức Giáo Hoàng này. Khi Ngài ra về, nhiều người đă
nh́n thấy được Ngài như lời Ngài đă tự diễn tả về ḿnh khi mới đến ‘như một
người bạn, một người rao giảng Tin Mừng và như một người đầy ḷng ngưỡng mộ một
xă hội rộng lớn và đa chủng này!”(Catholic news Service).
Hiện nay mọi người lại đang chờ đợi và cầu nguyện cho cuộc tông du của Đức Giáo
Hoàng sang Úc Châu vào dịp Đại Hội Giới trẻ từ ngày 16-20 tháng 7 năm nay
(2008). Cuộc viếng thăm này cũng mang một tầm quan trọng thật đặc biệt chẳng
những cho giới trẻ thế giới mà cho bao người, đặc biệt tại Úc Châu, Á Châu. Tiếp
theo là cuộc tông du của Ngài sang Pháp ( từ ngày 12-15/9/2008) và sang Mexicô,
được dự trù vào năm tới (2009).
Đức Giáo Hoàng luôn sẳn sàng dấn thân ra đi các nơi mà Chúa muốn và làm những ǵ
mà Chúa muốn để đem Tin Mừng của T́nh thương và niềm Hy vọng đến cho các Dân
tộc, đến cho mọi người. Ngài muốn chung tay với các nhà lănh đạo thế giới để xây
dựng t́nh thương giữa các Dân tộc, giữa các Tôn Giáo, và đem lại nền Ḥa b́nh
bền vững cho thế giới, để “trái đất này trở nên một nơi ở tốt đẹp hơn cho mọi
người!”(Thông Điệp ‘Ḥa B́nh Trên Trái Đất’).
Nhưng tất cả là nhờ ơn Chúa giúp. Nên ngay từ lời ngỏ đầu tiên trong ngày nhậm
chức vụ Giáo Hoàng Ngài đă nói và chúng ta nên ghi nhớ để luôn dâng các hy sinh
hàng ngày cầu nguyện cho Ngài: “... Tôi xin phó thác chính con người của tôi vào
lời cầu nguyện của anh chị em!”.
Lm Trần Đức Phương
*
NHỮNG LỜI TÂM T̀NH ĐẦU TIÊN
CỦA ĐGH BÊNÊĐÍCTÔ XVI
____________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ _
(Lm Anphong Trần Đức Phương dịch).
LTS: Đức Hồng Y Giuse Ratzinger đă được chọn làm Giáo Hoàng thứ 265 kế vị Thánh Phêrô vào chiều ngày 19/4/2005, lấy danh hiệu Bênêdictô XVI. Buổi sáng ngày hôm sau (20/4/2005), Ngài dâng Thánh Lễ cùng với các Hồng Y tại nhà nguyện Sistine. Sau đây là Bản Dịch bài Chia Sẻ của Ngài vào cuối Thánh Lễ sáng hôm đó. Ngài nói bằng tiếng Latin và đă được dịch ra nhiều thứ tiếng. Bản dịch tiếng Việt này căn cứ vào bản Tiếng Anh của Văn Pḥng Thông Tin Vatican (Vatican Information Service - V.I.S.). Các hăng Thông Tấn Quốc Tế, cũng như các nhà Lănh Đạo các Quốc Gia cũng như các vị Lănh Đạo các Tôn Giáo đă căn cứ vào bài “Nói Chuyện” này của Đức Thánh Cha để nhận ra lập trường của Ngài đối với mọi Tôn Giáo, mọi Quốc Gia và các vấn đề của thế giới hôm nay.
Xin ơn thánh và sự b́nh an tràn ngập trong quư vị tất cả.
Tâm hồn tôi lúc này có hai tâm t́nh trái ngược nhau. Một đàng, tôi cảm thấy bất xứng và theo tính tự nhiên tôi cũng cảm thấy thật xao xuyến trước trách nhiệm được trao phó cho tôi hôm qua như một người kế vị thánh Phêrô Tông Đồ tại Ngai toà Rôma để điều hành Giáo Hội hoàn vũ. Đàng khác, tôi cũng cảm thấy ḷng cảm tạ sâu xa đối với Thiên Chúa là Đấng - như giờ kinh phụng vụ hôm nay hát - đă không bỏ rơi Đoàn chiên Chúa, nhưng luôn luôn dẫn giắt Giáo Hội qua mọi thời đại dưới sự lănh đạo của các vị chủ chăn chúa chọn như các Đại Diện của Con Chúa và là Chủ Chăn.
Quư vị thân mến, ḷng tri ân sâu xa về t́nh thương của Thiên Chúa lúc này trổi vượt trong tâm hồn tôi hơn mọi điều ǵ khác. Tôi coi ân huệ này như đă được ban cho tôi do Đức Tiền Nhiệm khả kính Gioan Phaolô II. Tôi cảm thấy như bàn tay dũng cảm của Ngài nắm chặt lấy tay tôi; tôi như nh́n thấy ánh mắt tươi cười của Ngài; tôi như đang lắng nghe Ngài nói với tôi đặc biệt vào lúc này: “Con đừng sợ!”
Giờ phút Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qua đời và những ngày tiếp theo đă là những thời gian ân huệ tuyệt vời cho toàn thể Giáo Hội và Thế Giới. Nỗi đau thương về sự qua đời của Ngài và khoảng trồng để lại cho mỗi người chúng ta đă được làm dịu đi nhờ tác động của Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng đă tỏ ḿnh ra suốt những ngày dài này qua sự hoà hợp nhịp nhàng giữa đức tin, t́nh yêu và tinh thần liên đới được quy tụ cao điểm trong Tang Lễ long trọng của Ngài.
Chúng ta có thể nói rằng: Đám tang của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă thực sự là một kinh nghiệm tuyệt vời, qua đó chúng ta có thể cảm nhận một cách nào đó quyền năng của Thiên Chúa là Đấng, qua Giáo Hội của Ngài, mong muốn kiến tạo một Đại Gia Đ́nh các Dân tộc gắn bó, hiệp nhất Chân Lư và T́nh Yêu. Trong giờ phút ‘hấp hối’, cũng như Đấng vừa là Thầy vừa là Chúa của Ngài, Đức Gioan Phaolô II đă làm vinh hiển triều đại Giáo Hoàng dài lâu và phong phú của Ngài, đồng thời cũng làm kiên vững đức tin của các Kitô hữu, quy tụ họ chung quanh Ngài và làm cho toàn thể gia đ́nh nhân loại cảm thấy gần gũi nhau hơn. Làm sao chúng ta không cảm thấy được nâng đỡ nhờ v́ chứng nhân này? Làm sao chúng ta không cảm thấy ḷng phấn khởi qua biến cố ân sủng này?
Tôi thật không ngờ, sự quan pḥng của Thiên Chúa, qua ư muốn của các vị Hồng Y đáng kính, đă gọi tôi đến kế vị Đức Giáo Hoàng tuyệt vời này, và tôi đang tưởng nhớ đến điều đă xảy ra ở miền Cesarea Philiphe hai ngàn năm trước: Tôi như được nghe lời Thánh Phêrô “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống!” và lời Chúa long trọng xác định “Con là Đá! Trên Đá này, Thày sẽ xây dựng Giáo Hội của Thày…Thày ban cho con ch́a khóa nước trời!”
“Thày là Chúa Kitô!” “Con là Đá!” Tôi như đang được sống lại khung cảnh Phúc Âm này. Tôi, người kế vị của Thánh Phêrô, run sợ nhắc lại những lời lo âu của người ngư phủ Galilêa và tôi cũng lắng nghe được với cả tâm hồn xúc cảm lời hứa của Thày Chí Thánh. Nếu sức nặng của trách nhiệm đang đè trên đôi vai hèn mọn của tôi quá lớn lao, th́ quyền năng mà tôi dưa vào lại thực bao la: “Con là Đá. Trên viên Đá này, Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày!”…Chọn tôi như một Giám Mục của Thành Rôma, Chúa đă muốn tôi làm Đại Diện của Ngài, và mong rằng tôi là Ḥn Đá Tảng mọi người có thể đặt niềm tin trên đó. Tôi xin Chúa bù đắp cho tôi những thiếu sót, yếu kém để tôi có thể là một chủ chăn can đảm và trung tín của Đoàn chiên Chúa, luôn luôn vâng theo sự soi dẫn của Thần Linh Chúa. Như vậy, tôi dám nhận sứ vụ đặc biệt này, sứ vụ của Phêrô để phục vụ Giáo Hội hoàn vũ, với sự khiêm tốn phó thác nơi bàn tay Quan Pḥng của Chúa. Chính nơi Chúa Kitô, tôi lặp lại niềm tin tưởng tuyệt đối này “Lạy Chúa, nơi Chúa con tin tưởng, con sẽ không thất vọng bao giờ.” (In Te, Domine, speravi; non confundar in aeternum!)
Các Đức Hồng Y thân mến, tôi xin dâng cả tấm ḷng biết ơn đối với các Đức Hồng Y, v́ đă đặt niềm tin tưởng nơi tôi. Tôi xin các Đức Hồng Y nâng đỡ tôi bằng lời cầu nguyện và bằng sự cộng tác khôn ngoan, bền bỉ và năng động. Tôi cũng xin các anh em Giám Mục của tôi hăy luôn ở gần tôi bằng lời cầu nguyện và khuyên bảo để tôi có thể là “Đầy Tớ của các Đầy Tớ Chúa!” (Servus Servorum!) Cũng như Thánh Phêrô và các Tông Đồ xưa đă là một tập thể các Tông Đồ, người kế vị Thánh Phêrô và các Giám Mục, kế vị các Tông đồ - như Công Đồng đă hết sức nhấn mạnh - phải hợp tác chặt chẽ với nhau. Sự hiệp thông trong Tông đồ đoàn này, dù có sự dị biệt về vai tṛ và nhiệm vụ của Giáo Hoàng và các Giám Mục, là để phục vụ Giáo Hội và ǵn giữ sự duy nhất trong Đức tin, nhờ đó mới có thể đem lại hiệu quả lớn lao cho công cuộc rao giảng Tin Mừng cho thế giới ngày nay. Cũng trên con đường mà các vị tiền nhiệm khả kính của tôi đă đi trước, tôi cũng muốn bước theo chỉ với một niềm lắng lo cho việc rao truyền sự hiện diện sống động của Chúa Kitô cho thế giới.
Vào lúc này, hiện diện đặc biệt trước mắt tôi là chứng tử của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ngài đă để lại cho chúng ta một Giáo Hội can đảm hơn, tự do hơn, trẻ trung hơn. Một Giáo Hội mà, nhờ lời giảng dạy và gương sáng của Ngài, có một sắc thái b́nh thản với quá khứ và không sợ hăi tương lai. Cùng với năm 2000 Hồng Phúc, Giáo Hội đă bước vào thiên niên kỷ mới với Tin Mừng trên tay đem áp dụng cho thế giới theo đường hướng CÔNG ĐỒNG VATICANO II. Đức Gioan Phaolô II đă thật đúng khi Ngài chỉ cho thấy Công Đồng như ‘kim chỉ Nam’ để giúp chúng ta định được hướng đi trên biển rộng mênh mông của Thiên Niên thứ ba. Trong bản chúc thư Tinh Thần, Ngài đă viết: “Tôi xác tín rằng cho đến măi măi về sau, các thế hệ vẫn múc ra được những nguồn tài liệu phong phú mà Công đồng của Thế Kỷ 20 đă để lại cho chúng ta. Phần tôi, tôi cũng muốn xác quyết ngay từ lúc khởi đầu nhiệm vụ của người kế vị Thánh Phêrô, ư chỉ quyết tâm của tôi là thực hiện Công Đồng Vaticano II theo như các Đấng tiền nhiệm, và tôi cũng quyết tâm trung thành tiếp tục truyền thống đă có từ ngàn năm trong Giáo Hội. Năm nay là năm kỷ niệm kết thúc 40 năm Công Đồng (vào ngày 8 tháng 12 năm 1965). Theo ḍng thời gian, những trài liệu của công Đồng không mất đi hiệu quả của nó, nhưng lại càng mật thiết liên hệ với những đ̣i hỏi của Giáo Hội toàn cầu và xă hội ngày nay.
Một cách rất có ư nghĩa, triều đại Giáo Hoàng của tôi khởi đầu khi Giáo Hội đang sống trong năm đặc biệt kính Chúa Giêsu Thánh Thể. Làm sao tôi lại không nhận ra sự trùng hợp đó của Chúa Quan Pḥng để đánh dấu sứ vụ mà tôi đă được kêu gọi. Bí tích Minh và Máu Thánh Chúa, trọng tâm của đời sống Kitô hữu và là nguồn mạch của sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội, không thể không là trung tâm thường trực và là nguồn mạch của sứ vụ Phêrô được trao phó cho tôi.
Bí tích Thánh Thể làm cho Chúa Giêsu Phục Sinh luôn hiện diện và hiến ban chính ḿnh cho chúng ta, trong khi mời gọi chúng ta đến tham dự Bàn Tiệc Ḿnh và Máu Thánh Ngài. Sự kết hiệp trọn vẹn với Chúa Giêsu Thánh Thể làm nảy sinh ra đặc tính của đời sống Giáo Hội: sự hiệp thông giữa các tín hữu, sự quyết tâm rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng, ḷng nhiệt thành trong các công cuộc bác ái đối với mọi người, nhất là những người nghèo khó và hèn mọn. V́ thế, trong năm nay phải đặc biệt tôn sung Chúa Giêsu Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể phải là trọng tâm, vào Tháng Tám, trong dịp Đại Hội Giới Trẻ ở Cologne (Đức) và vào Thánh Mười, trong Đại Hội thường niên của các Giám Mục. Chủ đề của Đại Hội này la “Bí Tích Thánh Thể, cội nguồn và tuyệt đỉnh của đời sống truyền giáo của Giáo Hội.” Tôi kêu gọi mọi người trong những ngày tháng sắp tới hăy tăng cường tinh yêu và sự tôn sùng Chúa Giêsu Thánh Thể và hăy bày tỏ một cách can đảm và minh bạch sự Hiện Diện Thực Sự (của Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể), trên hết tất cả, là qua các cuộc cử hành long trọng và nghiêm chỉnh. Tôi đặc biệt đ̣i hỏi điều đó nơi các Linh Mục, những người mà lúc này tôi đang nghĩ đến với tất cả tấm ḷng trừu mến. Chức Linh Mục đă xuất phát từ “Bữa Tiệc Ly” đi đôi với Bí Tích Thánh Thể. Điều này đă được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị tiền nhiệm của tôi nhấn mạnh nhiều lần. Đời sống Linh Mục phải đặc biệt mang “h́nh ảnh của Chúa Giêsu Thánh Thể!” Ngài đă viết như thế trong Thư Mục Vụ cuối cùng của Ngài về ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Việc cử hành hàng ngày một cách đạo đức Thánh Lễ, trung tâm của đời sống và sứ vụ Linh Mục, sẽ góp phần vào mục đích đó.
Được nuôi dưỡng và nâng đỡ bằng Bí Tích Thánh Thể, người Công Giáo sẽ không thể không cảm thấy được thúc đẩy để sống sự hiệp nhất hoàn toàn, như Chúa Giêsu đă ước nguyện trong Bữa Tiệc Ly. Như người thừa kế Thánh Phêrô, tôi biết ḿnh phải có ḷng mộ mến tuyệt vời Thày Chí Thánh, v́ tôi đă được trao phó nhiệm vụ ‘làm cho đức tin của anh em con được kiên vững!’ Vậy, ư thức trọn vẹn ngay từ lúc khởi đầu sứ vụ của Giáo Hội tại Rôma, nơi đă tắm máu đào của Thánh Phêrô, người kế vị hiện tại của Thánh Phêrô phải lănh nhận như nhiệm vụ đầu tiên là phải làm việc không mệt mỏi để phục hồi sự hiệp nhất trọn vẹn và minh bạch mọi người theo Chúa Kitô. Đó là ước vọng, là nhiệm vụ ḍi buộc Ngài. Để thực hiện điều đó, bày tỏ tâm t́nh chưa đủ. Phải có những hành động cụ thể để thấm nhập vào các tâm hồn, đánh động lương tâm, khuyến khích mọi người hồi tâm; đó là căn bản để đi đến sự tiến triển trên con đường đi đến “ĐẠI KẾT” (Ecumenism). Đối thoại về thần học là cần thiết. Xét lại kỹ càng về những lư do trong lịch sử đưa đẩy đến các chọn lựa khác nhau càng cần thiết hơn. Khẩn thiết hơn nữa là sự “tẩy rửa hoài niệm (purification of memory), điều mà Đức Gioan Phaolô II thường gợi lại, và cũng là điều duy nhất cần thiết để chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng đón nhận sự thật trọn vẹn của Chúa Kitô. Nơi Chúa Kitô, vị Thẩm Phán tối cao của mọi sinh linh, mà mỗi người chúng ta sẽ phải đối diện, ư thức rằng một ngày nào đó chúng ta phải giải thích cho Ngài những ǵ chúng ta đă làm và những ǵ chúng ta đă không làm để mưu ích lớn cho sự hiệp nhất trọn vẹn, minh bạch như môn đệ của Chúa Kitô. Người kế vị hôm nay của Thánh Phêrô tự cảm thấy tụ ḿnh phải làm, và phải sẵn ḷng làm, trong quyền hạn của ḿnh, để cổ vơ những ǵ là căn bản để xây dựng “Đại kết”. Theo bước chân của các vị tiền nhiệm, người kế vị Thánh Phêrô hiện nay phải tuyệt đối quyết tâm vun trồng mọi sáng kiến thích hợp để cổ vơ sự tiếp xúc và đồng thuận với các đại biểu từ các giáo hội khác nhau, và từ các cộng đoàn các nơi. Trong dịp này, tôi cũng xin gửi đến toàn thể quư vị lời chào mừng chân t́nh trong Chúa Kitô, là Chúa của mọi người chúng ta.
Giờ đây, tôi lại nhớ đến kinh nghiệm khó quên mà tất cả chúng ta đă trải qua về sự ra đi và đám tang của Đức Gioan Phaolô II đáng thương nhớ của chúng ta. Chung quanh thân xác của Ngài nằm trên mặt đất đá trơ trọi, là các vị lănh đạo các quốc gia cùng với bao người thuộc mọi tầng lớp xă hội, nhất là giới trẻ, đă hiệp nhất trong một ṿng tay yêu thương, trân trọng, tưởng không bao giờ có thể quên được. Hơn nữa, cả thế giới hướng về Ngài với niềm tin tưởng cậy trông. Đối với nhiều người, cuộc tham dự đám tang khổng lồ đó đă làm vang động cả hành tinh này nhờ các phương tiện truyền thông xả hội, giống như một bản nhạc hoà tấu vang lên lời kêu gọi cứu giúp của Ngài cho nhân loại đang quằn quại trong sợ hăi, xao xuyến, lo âu về tương lai của ḿnh.
Giáo Hội ngày nay phải làm sống lại từ nội tâm ư thức về nhiệm vụ phải giới thiệu cho thế giới của Đấng đă nói: “Ta là Ánh Sáng thế gian; ai theo ta sẽ không đi trong tối tăm, nhưng đi trong ánh sáng của sự sống!” Lănh nhận sứ vụ của ḿnh như một tân Giáo Hoàng, tôi hiểu rằng tôi có nhiệm vụ phải mang ánh sáng của Chúa Kitô chiếu soi cho mọi người nam nữ thời nay; không phải ánh sáng của ḿnh, nhưng là ánh sáng của Chúa Kitô. Với ư thức đó, tôi xin nói với moị người, kể cả các vị thuộc TÔN GIÁO KHÁC, cũng như những người đang đơn giản t́m kiếm câu trả lời cho những vấn đề căn bản của cuộc đời mà chưa t́m ra. Tôi xin nói với mọi người với tất cả thành tâm, thiện chí để bảo đảm rằng Giáo Hội muốn tiếp tục xây dựng mộ sự ĐỐI THOẠI chân thành và cởi mở với tất cả, để cùng t́m kiếm những lợi ích thật sự cho nhân loại và xă hội. Tôi khẩn cầu với Chúa ban sự Hiệp nhất và Hoà b́nh cho gia đ́nh nhân loại và tôi xác định rằng mọi người Công giáo đều mong muốn cộng tác để phát triển một xă hội thực sự, một xă hội biết tôn trọng phẩm giá của mọi người. Tôi sẽ cốn gắng hết ḿnh và hiến toàn thân để theo đuổi sự đối thoại đang có nhiều triển vọng mà các vị tiền nhiệm của tôi đă khởi đầu, cuộc đối thoại với mọi nền văn minh để đi đến sự hiểu biết lẫn nhau và tạo điều kiện để xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho mọi người.
Tôi đặc biệt nghĩ đến GIỚI TRẺ, là những người đă được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đặc biệt thích đối thoại với họ. Tôi gửi đến các bạn trẻ ḷng âu yếm mến thương với niềm hy vọng rằng, nếu Chúa muốn, tôi sẽ gặp các bạn ở Cologne vào dịp Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới sắp tới. Các bạn trẻ thân mến, tôi muốn tiếp tục đối thoại với các bạn, lắng nghe các ước vọng của các bạn, trong niềm hy vọng tôi sẽ giúp được các bạn gặp gỡ Chúa Kitô luôn sống động và trẻ trung.
“Mane Nobiscum, Domine!” (Lạy Chúa xin ở lại với chúng con!) Lời cầu khẩn đó là đề tài chính của Tông Thơ của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II về Năm Thánh Thể. Lời khẩn cầu đó lúc này cũng bất ngờ xuất hiện trong tâm hồn tôi, lúc này là lúc khởi đầu Sứ vụ mà Chúa trao cho tôi. Cũng như Thánh Phêrô xưa, tôi cũng hứa lại với Chúa lời hứa trung thành vô điều kiện. Chỉ ḿnh Chúa mà thôi là Đấng tôi tận hiến để phục vụ qua công việc hiến toàn thân cho Giáo hội của Ngài. Để trợ giúp cho lời hứa này, tôi cầu khẩn với Mẹ Maria chí thánh chuyển cầu cho tôi. Nơi bàn tay Mẹ, tôi đặt trọn cả hiện tại và tương lai của tôi và của Giáo Hội. Tôi cũng xin hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô và các Thánh chuyển cầu cho tôi.
Cùng với những tâm t́nh trên đây, tôi xin gửi đến các Đức Hồng Y đáng kính, anh em của tôi, cũng như những người đang tham dự nghi lễ ở đây, và mọi người đang theo dơi truyền h́nh, truyền thanh, lời chúc lành đặc biệt và đầy t́nh thân mến.
+ ĐGH Benedictô XVI