ĐÔNG PHƯƠNG KITÔ GIÁO
VÀ HỒI GIÁO
1. Hoàng Đế Hêracliô, “Thập Tự Quân” đầu tiên
2. Chia rẽ Tôn Giáo và Quốc Gia Chủ Nghĩa
3. Mahomet và Hồi Giáo
4. Sự bành trướng của Hồi Giáo
5. Ngày tàn của Phi Châu Kitô giáo
6. Tây Ban Nha Kitô giáo: 7 thế kỷ dưới quyền Hồi Giáo
7. Đức tin và phong hoá Byzancia
Sự bành trướng kiếp đan tu
8. Cuộc tranh chấp về Ảnh Thánh
9. Các Giáo Phụ Hylạp cuối cùng
10. Ánh sáng Kitô giáo Đông Phương
a) Giêrusalem sụp đổ
Mùa xuân 614 những tin chẳng lành lan truyền khắp các tỉnh thuộc đế quốc Byzancia. Binh đội của vua Ba Tư Chosroès, từ 10 năm nay vẫn tấn công biên giới đế quốc, đă chiếm xứ Palestina. Thành Thánh, bị vây hăm 20 ngày, đă thất thủ. Nhiều nhà thờ bốc cháy, trong đó có cả nhà thờ Phục Sinh do Constantinô xây. Người ta bảo có 60.000 người chết, 37.000 Kitô hữu bị bán làm nô lệ, trong đó có cả Đức Thượng Phụ. Người Ba Tư không tôn trọng một cái ǵ cả, trừ ra tại Vương Cung Thánh Đường Bêlem, họ thấy một bức khảm “Ba Vua Thờ Lạy”, trong đó họ nhận ra một “người của ta”! Nhiều tu viện bị tiêu huỷ. Tu sĩ nam nữ bị phân tán. Kho Thánh, vải vóc quư hiếm, b́nh vàng bạc đều bị “vồ” đem về các thủ đô Iran. Thánh Giá Thật bị đoạt khỏi đền thờ Mồ Thánh, gởi về Ctésiphon làm chiến lợi phẩm. Đối với xứ Palestina, đó là đại hoạ, không bao giờ ngóc đầu dậy nổi nữa. Với thế giới Kitô giáo, đây là một mối nhục và đau khôn tả. Ít lâu sau, có hai thánh tích: Cây Giáo và Bọt Biển của cuộc thương khó được vị thống độc Aicập chạy được, đem về Constantinôpôli, nhân dân đă quỳ gối trên bến cảng tiếp rước trong nước mắt.
b) Các hoàng đế xoàng
Nửa thế kỷ rồi, từ ngày hoàng đế Giustinianô băng hà, đế quốc chỉ thấy trên đầu ḿnh những hoàng đế xoàng:
-Giustinô II (565-578)
-Tibêriô Constantinô (578-582)
-Mauriciô (582-602)
-Phôcasô (602-610): nguyên là Bách Trưởng, bất lực và độc ác. Thế mà, để duy tŕ đế quốc mênh mông, như Giustinianô và Thêôđôra đă làm, th́ phải có siêu nhân! Đằng này không một vấn đề cơ bản nào t́m được giải pháp cả. Chế độ thiếu cơ sở. Điều này thấy rơ qua hai biến cố:
Hoàng đế Mauriciô bị hành quyết, sau khi phải chứng kiến tận mắt 5 con trai của ông bị chặt đầu.
Bạo chúa Phôcasô bị xé xác, cái phần ít thanh cao nhất trong cơ thể ông bị bêu trên đầu một cây tầm vông vạt nhọn, đem đi diễu hành.
c) Quân Mọi Rợ
T́nh h́nh ngày một căng! Thời Giustinianô người Mọi Rợ bị ngăn lại, hoàng đế chết, nó đă sẵn sàng bung ra. Th́nh ĺnh khoảng 550, tại Trung Á, xuất hiện một đế quốc mới là đế quốc Thổ. Năm 568 Rợ Lombarđô chiếm nước Ư, rợ Avars ở miền nam nước Nga, kết hợp với rợ Slavia, cũng không biết sợ và độc ác, nướng sống tù binh, hoặc đập đầu họ, như đập đầu chó, hay đầu rắn! Đương đầu với những binh đội loại đó, đối với Byzancia, không phải chuyện chơi!
d) Ba Tư
Đă vậy c̣n thêm đế quốc Ba Tư nữa! Sự ḱnh địch giữa hai đế quốc Byzancia và Ba Tư bắt đầu năm 502, kéo dài 126 năm. Năm 572 Ba Tư tấn công Lưỡng Hà và Syria. Năm 591 kư hoà ước có lợi cho Byzancia. Nhưng chẳng bao lâu t́nh h́nh thay đổi. Trong khi Mauriciô lên hoàng đế Byzancia, chai đá, độc tài, hẹp ḥi, thất nhân tâm, bị lật đổ, bạo chúa Phôcasô lên kế vị, th́ ở thủ đô Ba Tư, Chosroès II lên ngôi vua các vua (590-628).
Chosroès II là vua các vua cuối cùng. Lăo từng phán: “Trời phục vụ ta, kho tàng ta vô hạn, tất cả các xứ lao động v́ một ḿnh ta”! Hắn phục chế lại ngai vàng của Darius, trang trí những dấu hiệu hoàng đới (Zodiaque), chườm nắng mùa đông bằng những trái cầu vàng, đựng nước sôi, hắn đi săn th́ hết sức sa hoa, với kỵ binh mặc áo sa teng lộng lẫy, vô số chim ưng, khi hắn dừng chân nghỉ mệt th́ gia nhân đầy tớ trải ra một tấm thảm rộng hàng thửa ruộng, trên đó có vẽ đủ các phần của đế quốc. Binh đội của hắn có 900 con voi. Hậu cung của hắn có 12.000 phụ nữ… Hắn đầy tham vọng, đụng Byzancia là điều không thể tránh, nhưng bao lâu hoàng đế Mauriciô c̣n sống, Chosroès II giữ thái độ hữu nghị và tri ân (v́ nhờ Mauriciô giúp, hắn mới được lên ngôi) nhưng khi Phôcasô lật đổ và hành quyết Mauriciô, th́, lấy chiêu bài trả thù cho bạn, Chosroès đă tấn công đế quốc (602). Suốt 20 năm không ngừng nghỉ, hắn tung binh đội vào Osrhoène (Edessa), Syria, Anatôlia, Aicập. Năm 609 hắn tới Chalcêđônia, trước mặt Constantinôpôli. Vụ hạ thành Giêrusalem, xảy ra vào tháng 5 năm 614, chỉ là một trường hợp, trong cơn thử lửa lâu dài khủng khiếp ấy thôi!
e) Hêracliô và Thánh Giá Thật
Nhưng t́nh thế lại đảo ngược, khi Hêracliô (610-641) được nhân dân và binh đội đưa lên ngai vàng, thay thế bạo chúa Phôcasô. Ông c̣n trẻ (36 tuổi) tâm hồn trong sạch và trung thành, cao lớn, lực lưỡng, tóc vàng đỏ, râu dầy, mắt trong, nh́n thẳng mặt quân thù. Hết sức can đảm, thử sức bằng cách đánh nhau tay đôi với kẻ thù, giỏi chiến lược, khéo ngoại giao, nhất là đức tin sốt sắng, sẵn sàng phục vụ Đức Kitô và Tin Mừng, điển h́nh của các hiệp sĩ Kitô giáo sau này, v́ thế người ta thường gọi ông là “thập tự quân đầu tiên” (Tuy nhiên, cũng như phần đông người Byzancia, đam mê xác thịt nơi ông rất mạnh; ông muốn cưới lấy cháu gái của ḿnh. Đức Thượng Phụ xin ông bỏ ư đồ đó. Ông trả lời: “Điều Đức Cha viết cho tôi hoàn toàn đúng, Đức Cha đă vuông tṛn nhiệm vụ của một vị Tổng Giám mục và của một người bạn. Phần trẫm, trẫm làm theo điều trẫm thích!”. Theo các nhà viết kư sự, để phạt tội ông, 9 người con, do nàng Martina, vừa là cháu, vừa là vợ hoàng đế sinh ra, đứa th́ điếc, đứa th́ thọt và bại liệt… nghịch cảnh điển h́nh Kitô giáo kiểu Byzancia đức tin sống động, đi đôi với luân lư khả nghi…).
Đầu triều đại ông rất kinh khủng. Năm nào binh đội Chosroès cũng tiến công. Ngay lúc Giêrusalem thất thủ, quân thù đă lại xuất hiện ở Chalcêđônia. Bốn năm sau, binh đội Avars vây hăm Constantinôpôli, Palestina. Syria, Alexandria bị chiếm. Byzancia bị quân Mông Cổ vây trên đất, quân Ba Tư hăm dưới nước. Hêracliô thất vọng, tính di tản đến Carthagô, nhưng Đức Thượng Phụ Sergiô ngăn cản ông.
Thập tự chiến đă xảy ra v́ binh đội Kitô giáo nghe lời hiệu triệu của vị lănh đạo Giáo Hội, đă lên đường với mục đích giải phóng Mộ Thánh và tái chiếm Thánh Giá. Đức Thượng Phụ nói với Hêracliô: “Không, ngài không có quyền để cho các Đạo Sĩ ở trong thành Thánh! Không, ngài không có quyền chấp nhận để cho Thánh Giá Đức Kitô ở Ctésiphon, làm tṛ cười cho thiên hạ! Tất cả các kho tàng của Giáo Hội được đặt dưới sự xử dụng của hoàng đế”. Trong khi đó, Chosroès viết cho Hêracliô một bức thư, xúc phạm danh dự và đức tin hoàng đế. Người ta lớn tiếng đọc thư này trên các toà giảng và cả đế quốc đă vùng dậy, trong một cố gắng cuối cùng. Thư rằng: “Ngài đặt niềm tin của ngài vào Thiên Chúa, vậy tại sao Thiên Chúa không cứu các các thành Cêsarêa, Giêrusalem và Alexandria khỏi tay ta? Nếu ta muốn, ta có thể tiêu diệt cả Constantinôpôli nữa. C̣n về ông Kitô, ngài đừng có hy vọng hăo huyền vào ông ấy, v́ ông ta đă không thể tự cứu ḿnh khỏi tay người Dothái đóng đinh ông ta!”.
Ngày 5/4/622, Thánh Chiến bùng nổ. Kéo dài 10 năm. Quân Avars bị mua chuộc rút lui, Hêracliô phản công quân Ba Tư ở Galata và Cappađôcia, chẳng những chiếm lại các thành đă mất, mà chọc thẳng vào đất Ba Tư, chiếm Erivan, rửa hận cho Giêrusalem, bằng cách đốt đền Bái Hoả Giáo ở Tabriz. Nhưng Chosroès đâu có chịu, hơn nữa năm 622 rợ Avars lại trở lại đồng minh với Ba Tư. Cả một đạo quân mọi rợ, nào Mông Cổ, nào Slavia, nào Bulgaria, cùng với quân Ba Tư tiến công Byzancia. Trong cơn nguy khốn, Đức Thượng Phụ, người bảo vệ thành, chiến đấu với đầy nghị lực. Trên tường thành, trên trán binh sĩ, ảnh Thiên Chúa Thánh Mẫu được rước đi không ngừng. Và phép lạ đă xảy ra. Quân thù rút lui. Hêracliô, ra khỏi nơi ẩn náu, phản công. Năm 627, hoàng đế chiếm Tifilis, vượt Armênia, chiếm Assyria, đập tan binh đội Ba Tư (ngay nơi, xưa kia, A-lịch-sơn Đại Đế đă chiến thắng vua các vua). Kiệt quệ, quân Ba Tư phải xin tha. Binh đội Byzancia tiến công chớp nhoáng khắp đế quốc Ba Tư, khắp nơi các thành linh thiêng của Bái Hoả Giáo bị bốc hoả! Cuối cùng, ngày 25/2/628, Hêracliô loan báo cùng nhân dân của ông rằng: “Bạo chúa vô đạo, tên Chosroès kiêu ngạo đă ngă gục. Kẻ nói phạm đến Đức Kitô và Đức trinh Nữ đă chết. Đồng bào có nghe vang dội tiếng sụp đổ của nó chăng? Giờ đây nó đang ở trong hoả ngục, cùng với những kẻ giống như nó”. Vị “vua các vua” cuối cùng bị chính con ruột truất phế và bị hành quyết trong “nhà tối”. Nước Ba Tư Bái Hoả Giáo bại trận vĩnh viễn.
Ngày 23/3/630, Hêracliô-vị “Thập Tự Quân đầu tiên” vác Thánh Giá thật trên vai, đi chân không, rước về Giêrusalem, như là triều thiên huy hoàng của mọi chiến thắng của ông. Than ôi! 12 năm nữa Giêrusalem sẽ lại thấymột kẻ chinh phục khác xuất hiện trong thành ḿnh. Bởi v́, trong khi Hêracliô mộ đạo đi chân không, vác Thánh Giá lên Đồi Sọ, th́, cách đó 400 dặm về phía nam, kỵ binh của Allah đang lấy trớn bung ra!
a) Tranh chấp Thần Học và Chủ Nghĩa Dân Tộc
Quân xâm lược ở biên giới không phải là mối nguy duy nhất và nặng nhất của đế quốc Byzancia, đế quốc này là sự tập họp đủ thứ đất, đủ thứ dân, đủ thứ truyền thống và xác tín khác nhau, lúc nào cũng có nguy cơ ră đám. Các cuộc tranh chấp tôn giáo khuấy động đế quốc từ nhiều thế kỷ, cho thấy những khuynh hướng hung hăn khác nhau trong khối dân bị nhà nước khống chế kia lúc nào cũng chỉ chờ dịp để bung ra. Sở dĩ Hồi Giáo đă tiến công đế quốc nhanh chóng lạ lùng là v́ Đông Phương đă bị dằng co, xé nát từ bên trong và các cuộc tranh căi thần học về hai bản tính Đức Kitô đă để lộ nguyên h́nh quốc gia chủ nghĩa.
Ở khắp nơi sự thống nhất của đế quốc Byzancia đều có vẻ nặng nề. Ở Phi Châu, sau 5 năm “giải phóng” là người ta bắt đầu nuối tiếc rợ Vandale gian ác! Ở Ư người ta tự hỏi giữa rợ Lombarđô, rợ Đông Gốt và sưu cao thuế nặng của Byzancia cái nào đáng sợ hơn? Syria và Aicập đều thức tỉnh ư thức dân tộc. Ở Syria, khối dân nói tiếng Aram, từ Địa Trung Hải đến biên giới Ba Tư, sâu xé giữa các đế quốc đối nghịch, theo văn hoá Hylạp từ thời Alexanđrô Cả, đă t́m được trong Kitô giáo nhân tố thống nhất và độc lập, mà trung tâm là Edessa. Việc hoàng đế Zênôn đóng cửa “Trường Edessa” không ngăn cản được sự phát triển của nền văn chương Syrô-Kitô giáo độc đáo, ngày càng có khuynh hướng Nestôriô. Aicập: Kitô giáo trong khi trộn lẫn các nhân tố Hylạp ở Tây Phương với khối nông dân (fellahs) đă vô t́nh xoá bỏ chủ nghĩa Hylạp trong truyền thống bản xứ cổ xưa, sự xoá bỏ này được nhận thấy trong việc dùng tiếng Copte, tức tiếng Aicập cổ, viết bằng chữ Hylạp, ngày một gia tăng.
b) Các Toà Thượng Phụ
Trên b́nh diện tôn giáo, khuynh hướng quốc gia chủ nghĩa rất rơ. Trước hết nó biểu hiện trong phẩm trật Giáo Hội, trong việc tổ chức các Toà Thượng Phụ. Có nhiều nguồn gốc:
-Antiôkia và Alexandria th́ nại đến những vinh quang kỳ cựu của Kitô giáo, “toà ta” đă có những nhân vật hiển hách ngự trị.
-Constantinôpôli nại ra chính sách đế quốc về “Tân Rôma”.
Năm Toà Thượng Phụ đă được công đồng Chalcêđônia ấn định và được chính thức công nhận trong luật Giustinianô như là nền tảng định chế Giáo Hội, là Constantinôpôli, Giêrusalem, Antiôkia, Alexandria và Rôma.
Ở Aicập, Đức Thượng Phụ, nhận là “Giáo Hoàng” trong một thời gian lâu, là lănh tụ 10 toà tổng và 101 toà Giám mục, rất nhiều tài sản, kiểm soát nền thương nghiệp trong xứ, nuối sống hàng ngàn người nghèo, đúng là thế chỗ của vị Đại Giáo Trưởng thần Amon-Râ ngày xưa, trong việc lănh đạo quốc gia chủ nghĩa. “Lănh chúa thần thánh, Tông Đồ thứ 13, Thẩm Phán Thế Gian” là những tước hiệu chính thức của “Pharaô-Giám mục”.
Đối thủ của Pharaô-Giám mục là Đức Thượng Phụ Antiôkia, dưới quyền có 153 toà Giám mục, không bằng toà Alexandria, nhưng từ khi người Syria bắt đầu ư thức về chính ḿnh th́ uy tín của Antiôkia được tăng cường.
Mặt khác các cuộc chiến thần học, ngay từ đầu vẫn khuấy động Kitô giáo Đông Phương đều có quan hệ với quốc gia chủ nghĩa. Từ thời Ariô chủ nghĩa, Alexandria đă là thành tŕ của chính thống đương đầu với Antiôkia lạc giáo. Thế kỷ V, VI, Nestôriô chủ nghĩa và Đơn Tính chủ nghĩa cũng góp phần tạo khác biệt thêm, cả hai nhóm lại đều chống chính thống Constantinôpôli sen đầm, đồng thời các cộng đồng Kitô giáo Aicập và Syria cũng chống lẫn nhau. Mọi cố gắng của chính quyền trung ương, nhằm tái lập chính thống, đều vấp phải chống đối và, ngược lại, mọi cố gắng của tổ chức trung ương đều giúp cho bè rối. Sai lầm cơ bản của Byzancia là lẫn lộn, trong một quyền hành, cả quyền chính trị lẫn quyền tôn giáo.
c) Thái độ các hoàng đế đối với các lạc giáo
Trước t́nh thế phức tạp ấy, các hoàng đế Byzancia không t́m ra giải pháp-có lẽ không có giải pháp-họ bất lực cũng như trong vấn đề chính trị vậy. Với các bè rối:
-Giustinô II và Tibêriô tỏ ra ôn hoà.
-Mauriciô khi th́ bao dung, khi th́ hung hăn.
-Phôcasô bảo vệ đức tin theo kiểu thô bạo, theo thói quen của ông!
Với các Giáo Hoàng có hoàng đế chủ trương hợp tác, có vị lại muốn biến Constantinôpôli thành thủ đô tôn giáo Đông Phương chống lại Rôma: hoàng đế Mauriciô tranh chấp luôn với Đức Grêgôriô Cả, v́ Đức Giáo Hoàng can thiệp vào vấn đề các Toà Thượng Phụ Đông Phương và v́ Đức Giáo Hoàng tự coi là người bảo vệ tối cao kỷ luật Kitô giáo. Hoàng đế Phôcasô, trái lại, làm thân với Đức Giáo Hoàng, cấm Thượng Phụ Constantinôpôli không được xưng ḿnh là Thượng Phụ Chung và chính thức công nhận Toà Thánh Phêrô là “đầu tất cả các Giáo Hội”. Người dân sống trong đế quốc thật không biết đâu mà rờ!
d) Hêracliô và “Nhất Chí chủ nghĩa”
Hêracliô, nhờ sự giúp đỡ của Đức Thượng Phụ Sergiô-vừa là người nhà nước vừa là người nhà thờ-đă t́m ra công thức mới, để đưa chiên lạc về đàn! Đó là tŕnh bày Công Giáo chính thống dưới dạng mền dẻo hơn, và bè rối dưới dạng mù mờ hơn, như thế mọi người sẽ dễ nhất trí! Thế là đẻ ra một học thuyết, gọi là Nhất Lực (Monénergisme), rồi đổi thành Nhất Ư (Monothélisme), học thuyết về một ư chí. Công Giáo phân biệt hai bản tính kết hợp làm một nơi Đức Kitô, bè rối Đơn Tính (Monophysisme) bảo có một. Vậy bây giờ ta nói: “Vẫn một Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta duy nhất, Con Một Thiên Chúa, đă làm những hành động thần linh và những hành động nhân loại”. Điều này tự nó không có ǵ sai, duy việc chú giải công thức này mới dẫn tới chỗ tuyên bố rằng: “Ư muốn thần linh là ư muốn duy nhất trong Đức Giêsu, với tư cách là một người, Người không có ư chí, nói chung, Người là một người không hoàn chỉnh”… Và người ta lại rơi tơm vào bè rối Đơn Tính!
Lúc đầu, công việc xem ra tiến triển tốt, đối với Hêracliô và Sergiô. Aicập, Armênia đều theo thuyết b́nh định mới. Đức Giáo Hoàng Hônôriô (621-638), không hiểu rơ, tưởng rằng đây cũng là một sự tranh chấp về chữ nghĩa, thường xảy ra nơi người Hylạp, nên người đă chấp thuận đề tài người ta tŕnh bày với người, cách nhẹ nhàng. Tŕnh Bày Đức Tin (Ecthèse)quả là biểu hiện “Nhất ư chủ nghĩa”, được Hêracliô công bố thành luật đế quốc. Nhưng, dần dần người ta sáng mắt ra! Các nhà thần học phát hiện sai lầm. Ở Phi Châu các công đồng tỉnh lên án. Ở Rôma Thánh Giáo Hoàng Martinô I (649-653) tổ chức chống lạc giáo mới. Hêracliô chết, đem theo thiện chí hoà giải của ông xuống mồ. Trước sự chống đối, hoàng đế Constantinô II, năm 648, thay thế bản Tŕnh Bày Đức Tin bằng một tư liệu mới, gọi là Điển H́nh Đức Tin, cấm bàn bạc đến số lượng ư chí, hoặc nghị lực, nơi ngôi vị Đức Kitô, điều này khá khôn ngoan, nhưng công thức hoá quá dở, chính thống không sao chấp nhận được.
Đức Giáo Hoàng Martinô I kết hợp Điển H́nh với Tŕnh Bày trong một phi bác chung. Bạo chúa Byzancia giận điên người, lệnh cho binh đội ở Ravenna bắt vị Giáo Hoàng vừa già, vừa bệnh giải về Constantinôpôli, nhốt kín 3 tháng, kết án, giáng chức, như một tên tội phạm hạng bét! Cuối cùng, không dám giết người, bạo chúa cho giải người tới bờ biển Criméa, người chết v́ cô đơn và cùng khổ ở đấy, như một vị tử đạo. Dĩ nhiên, cả Công Giáo lẫn Đơn Tính chủ nghĩa chẳng ai hài ḷng cẩ.
Phải mất 70 năm mới thoát khỏi cơn khủng hoảng “Nhất Ư chủ nghĩa”. Đức Thánh Giáo Hoàng Agathon (678-681) trổ tài ngoại giao, làm nguôi ḷng người. Đệ III công đồng Constantinôpôli (công đồng chung thứ 6) họp tháng 11/680 đến tháng 9/681 công bố học thuyết hai bản tính, theo đức tin Công Giáo và giải thể các bè rối dưới mọi h́nh thức. B́nh an được tái lập trong Giáo Hội. Nhưng một biểu hiện khác lại xảy ra ngay trong công đồng: các Thượng Phụ bêu diếu Đức cố Thượng Phụ Sergiô, tác giả chính của sự lầm lạc, điều này kể cũng đúng thôi, nhưng đồng thời, các các ngài lại cũng bêu diếu luôn Đức Hônôriô, điều này bất công, v́ Đức Giáo Hoàng, nếu như người có yếu đi nữa, th́ cũng không bao giờ người tuyên xưng bè rối, đây là tṛ chính trị của Đông Phương nhằm làm giảm uy tín Rôma.
Mười năm sau. Năm 691, công đồng “Ṿm” (Coupole) c̣n gọi là công đồng Năm-Sáu (Quinisexite), v́ phụ trách bổ sung thêm các khoản về kỷ luật vào các nghị quyết của hai công đồng V và VI, càng làm Constantinôpôli tách xa Rôma thêm. Công đồng này khẳng định: toà Constantinôpôli “cũng có các quyền” như Rôma, điều này lại mở lại cuộc bàn căi về Khoản 28 Công Đồng Chalcêđôni. Bằng cách liệt kê các tập tục của Giáo Hội Byzancia, công đồng đă đụng chạm tới các tập tục Rôma, như:
-Công đồng cho phép các giáo sĩ có gia đ́nh trước khi chịu chức, được sống đời đôi bạn, trừ trường hợp Giám mục, trong khi Tây Phương buộc các giáo sĩ ấy phải xa người phối ngẫu của ḿnh.
-Công đồng cấm ăn chay ngày thứ bẩy, trong khi theo phụng vụ Latinh ngày này không có đặc ân nào cả. Và công đồng làm thế không phải v́ muốn làm nhẹ bớt việc ăn chay đâu!
Tóm lại, đây là lần đầu tiên, công đồng nới rộng việc bàn căi với Rôma, về mặt kỷ luật. Đức Giáo Hoàng Sergiô I (678-701) từ chối chuẩn y các nghị quyết của công đồng. Măi tới thời Đức Giáo Hoàng Constantinô (708-715) mới làm cho hoàng đế Giustinianô II chấp nhận các lư do khiến đấng tiền nhiệm của người đă có thái độ như vậy. Sự dàn xếp tạm thời này được kư kết tại Byzancia, và Đức Constantinô là vị Giáo Hoàng cuối cùng đặt chân tới đó (măi gần đây Đức Phaolô VI mới lại tới Istanbul).
Vào cuối thế kỷ VII, khi một mối đe doạ chưa từng có đè nặng trên Đông Phương, th́ t́nh h́nh Kitô giáo ở đây như thế đó. Không một bè rối nào, nhan nhản từ 600 năm nay, không để lại vết tích, các nhóm sống sót. Vẫn c̣n người theo Ariô, Marciô, Sabellianô, đến cả phái ngộ đạo (gnostiques), trong khắp các tỉnh. Hai bè rối lớn đă ghi dấu trên các cộng đồng Kitô giáo Đông Phương là:
1/ Đơn Tính chủ nghĩa, chia thành nhiều giáo phái, như Giacôbê chủ nghĩa, là hậu duệ của Giacôbê Baradaii, ở Aicập, trong Giáo Hội Copte, cũng như ở Abyssinia (Ethiopia) thuyết đơn tính thắng thế.
2/ Trái kại, trong vùng nói tiếng Aram, từ Bắc Syria đến biên giới Iran, thuyết Nestôriô thắng thế-tổ chức thành giáo hội hẳn hoi.
e) Công Giáo Đông Phương
Trong tất cả các tỉnh này, phần lớn, đối với Giáo Hội mẹ, kể là đă mất, người ta gọi là Melkite (Bảo hoàng) những người c̣n trung thành với đức tin chính thống và với hoàng đế (Melkite do từ Melek, tiếng Syria nghĩa là vua: từ này cho thấy quốc gia chủ nghĩa và tôn giáo cấu kết như thế nào).
Vào lúc công đồng chung thứ 6 giải thể, bè rối Nhất Chí, các nhóm tín hữu vùng Taurus từ chối không chấp nhận các nghị quyết của công đồng. Có người cho là v́ họ có những cảm t́nh bí mật với học thuyết bị kết án, nhưng không có bằng chứng. Nhưng có lẽ họ không hiểu rơ các điều khoản của công đồng. Trên bờ sông Orontô, có một cộng đồng đan tu được thiết lập quanh mộ một tu sĩ thế kỷ V nổi tiếng, là thánh Maron. Các tu sĩ của cộng đồng này, trong cuộc tranh chấp thần học, đă là thành tŕ của đức tin. Nhiệt t́nh với công đồng Chalcêđôni, họ từ chối không theo thái độ của những người mà họ cho là rối đạo, và họ tạo ra một toà thượng phụ độc lập, vừa thù nghịch Đơn Tính chủ nghĩa, Giacôbê chủ nghĩa, vừa nghi ngờ đối với Giáo Hội chính thức. Đó là Giáo Hội Maronite (do tên thánh Maron). Họ can đảm đương đầu với mọi sức ép. Do cuộc xâm lăng của người Hồi Giáo, họ buộc phải di tản khỏi vùng đồng bằng xinh đẹp, bên bờ sông Orontô, đến tị nạn trong vùng núi Libanô. Dưới sự lănh đạo của vị thượng phụ, họ trở thành những người bảo vệ của một thành tŕ Kitô giáo mà các thế kỷ thời gian, cũng như mọi sức mạnh, không sao đập tan được. Như Abraham xưa, người Maronite đă t́m thấy, trong một xứ mới, cơ may cứu văn đức tin. Về sau, trong cuộc ly khai Hylạp, họ từ chối đứng vào phe Cêrulariô và ngoan cường trung kiên với nguyên tắc “Phêrô ở đâu, Đức Kitô ở đấy”. Thế kỷ XI, khi Thập Tự Quân đi qua xứ sở họ, đă gắn chặt thêm sợi giây trung thành gắn bó với Rôma, cho tới ngày nay.
Khi Hồi Giáo tấn công th́ trường thành đế quốc đă mục ruỗng tự bên trong, do những cuộc tranh căi không ngừng và phân nửa đă bị các chiến sĩ bỏ rơi.
a) Bán đảo và dân Arập
Biến cố lớn, thế kỷ VII, tại bán đảo Ảrập, là việc ông Mahomet lập ra Hồi Giáo.
Bán đảo Ảrập rộng 2.000.000 km2 bằng 1/5 Âu Châu. Phía Bắc có các tiểu quốc Ảrập, ảnh hưởng văn minh Byzancia hoặc Ba Tư. Phía Nam là xứ Yêmen, có nền văn hoá cổ và quan hệ với nước Abyssinia (Ethiopia). Nơi đây, cạnh đa số dân du mục, dân tĩnh tại sống trong các ốc đảo và ba khu trù mật thành thị, trong đó có Mecca. Giữa dân du mục và tĩnh tại có ngôn ngữ và phong tục tương đối chung, nhưng hoàn toàn khác biệt về quyền lợi và t́nh cảm.
Dân ở đây thuộc gịng giống Sémite, họ hàng gần với những người 3000 năm trước sống ở miền Lưỡng Hà và với dân Dothái. Với dân Dothái, họ không ưa, v́ tổ tiên họ là Ismael, con đầu ḷng của Abraham, đă phải trốn vào sa mạc với mẹ là bà Agar. Về tôn giáo, người Ảrập thờ linh vật và thiên nhiên, khá thô sơ. Mỗi miền có thần riêng, mỗi bộ lạc có ma quỷ riêng. Mecca vừa là trung tâm chợ búa, vừa là nơi hành hương. Tại đây nhiều thần tượng được tập họp quanh một ḥn đá đen, đặt trong một kiến trúc h́nh khối, gọi là Al-Kaaba trong tiếng Ảrập. Tại đây, trong những năm hưu chiến người ta họp chợ búa và hành hương, hai việc này bổ sung, tăng cường cho nhau. Và tṛ giải trí thích thú của người Ảrập là nghe các thi sĩ quốc gia ngâm thơ. Từ đa thần giáo này nảy ra một khuynh hướng mới (do ảnh hưởng Dothái và Kitô giáo lạc giáo, trong thế giới Aram phía Bắc và Abyssinia phía Nam) mời gọi những tâm hồn thiện chí đến một tôn giáo cao hơn. Các thần đặc biệt vẫn luôn được sùng bái, nhưng trong số đó có một thần bắt đầu nổi lên là Allâh, được công nhận là “lớn nhất”, và đă có những người theo đơn thần giáo, không phải Dothái, không phải Kitô hữu, gọi là Hanif.
b) Ông Mahomet
Ông Mahomet (Muhammad, trong tiếng Ảrập) là một Hanif. Sinh tại Mecca, giữa 570 và 580, nhà nghèo, nhưng thuộc bộ lạc Qoraiichites quyền uy, vừa nắm trong tay quyền lợi của các đoàn người đi buôn trong thành và những người mộ đạo nghe tuyên truyền tuốn về Kaaba. Bề ngoài Mahomet có vẻ hơi tầm thường. Lúc đầu là một thiếu niên đẹp trai, mắt nhung, tóc đen uốn lọn. Về sau trở thành một thị dân, râu gợn sóng, da mầu sáp ong. Bề trong là một tâm hồn run rẩy, dễ bốc đồng, tính t́nh vừa đam mê nhục dục, vừa ưu tư tôn giáo, một lương tâm thường được soi sáng.
Mồ côi sớm, sống với một người cậu quảng đại nhưng nghèo, phải ra nhập đoàn con buôn để kiếm sống, vào làm cho một goá phụ giầu, tên là Khadidjâ, chẳng bao lâu chàng trở nên người tin cẩn của bà goá, hướng dẫn đoàn lái buôn của bà. Và đây là những giờ để ông Mahomet tư duy và mơ mộng, theo nhịp bước lạc đà. Tại các địa điểm có nước, trong các thành xa xôi-có khi ông vượt biên phía Bắc Ảrập nữa-ông thích gặp những “người của sách” tức Dothái và Kitô hữu, thuộc nhiều giáo phái rối đạo. Tâm hồn ông c̣n chưa ổn định, ngàn ư tưởng va chạm nhau trong đầu ông. Ông mới 25 tuổi khi cưới bà goá Khadidjâ, hơn ông 15 tuổi. Hôn nhân hạnh phúc tin cẩn, trung thành, nhất là ông Mahomet khỏi lo cơm áo gạo tiền nữa.
Những năm sau đó, ông Mahomet bề ngoài vẫn là chồng bà Khadidjâ, quản lư tài sản kếch sù của bà, nhưng bề trong ưu tư tôn giáo đang dấy lên. Khoảng 30 tuổi ông bị kích động về những mầu nhiệm đời sau. Ông không c̣n thỏa măn với những câu truyện phi lư và với các thần tượng nữa. Sự quay cuồng bên trong biểu hiện bằng những cơn tim đập nhanh và bốc đồng th́nh ĺnh. Một nỗi lo âu xâm chiếm ông, đầu ông nặng như ch́, ông phải bịt mắt và che miệng bằng một chàng mạng. Ông đau khổ, rên siết. Rồi có những tiếng lạ đến với ông, như tiếng chuông nhỏ, tiếng đập cánh, tiếng đọc tham luân lộn sộn. Lần khác, ông tin rằng đă thấy tận mắt thịt một hữu thể mầu nhiệm sáng láng. Và khi ra khỏi những cơn kinh hoàng và bốc đồng ấy, ông xác tín rằng ḿnh đă được Thiên Chúa mạc khải một đơn thần giáo duy nhất, để truyền đạt lại cho nước Ảrập, cũng như Thiên Chúa đă mạc khải cho nước Dothái và “nước” Kitô giáo. Bệnh tâm thần chăng? Tự kỷ ám thị chăng? Kết quả của những ảnh hưởng phức tạp của Dothái và Kitô giáo rối đạo, và những suy niệm lâu dài chăng? Quỷ ám chăng? (chính Mahomet vẫn phải tự bảo vệ, ngay trong kinh Coran, chống lại những lời tố cáo của người Mecca, rằng ông bị quỷ ám). Nào ai biết được?
Lúc đầu ông lo lắng, rồi được bà vợi Khadidjâ cổ vũ, ông bắt đầu rao giảng. Trước hết cho vợ, cho người bà con Ali, cho các bạn Alou-Bakr, Omar, Othmân. Đó là những môn đệ đầu tiên của ông. Tại Mecca, khi ông bắt đầu giảng công khai, về sự kẻ chết sống lại, về đơn thần giáo, về công bằng đối với người nghèo, th́ ít ai hưởng ứng. Bị chế diễu, ngược đăi, làm nhục, ông vẫn xác tín sứ mạng của ḿnh. Khi quan hệ với người Ảrập thành Yathrib, đi ngang Mecca, ông thấy họ cởi mở đối với tư tưởng của ông hơn người đồng hương, ông quyết định bỏ nguyên quán, di tản đến Yathrib. Đó là năm 622, là năm di tản (Hégire), niên hiệu chính của Hồi Giáo, bắt đầu kỷ nguyên của đạo này. Từ đây Yathrib được đổi thành Medina, nghĩa là “thành của tiên tri” hay là “Thành” và trở thành trung tâm tuyên truyền và cai trị của Hồi Giáo. Thế là được đặt làm lănh tụ cộng đồng Hồi Giáo (al-Umma), ông Mahomet hoàn chỉnh giáo lư, độc lập với Dothái giáo và Kitô giáo.
Từ đây, ông theo một kế hoạch mới. Thay v́ rao giảng lôi thôi, ông dùng ngoại giao và chiến tranh. Hồi Giáo truy nguyên lên tới Abraham, “người không phải là Dothái, cũng không phải là Kitô hữu”, qua Ismael. Và ḥn đá đen Kaaba được coi là do “Cha của kẻ tin” đă bào chế ra, và được hiến thánh bởi việc thờ phượng Allah. Người Hồi Giáo từ đây không hướng về Giêrusalem mà cầu nguyện nữa, mà hướng về Mecca. Chiến tranh bắt đầu. Khi thắng khi bại, bị vây hăm tại Mêđina, ông Mahômet không ngừng bành trướng việc tuyên truyền. Rồi ông trổ tài ngoại giao, cưới con gái Abou Sofiân, người có ảnh hưởng nhất trong các thị dân Mecca, và sau nhiều lần thương thuyết, ông đă khải hoàn về nguyên quán Mecca, năm 629. Ba năm sau, ông cầm đầu một đoàn hành hương trở lại Mecca viếng ḥn đá đen Kaaba. Trở về Mêđina, ông qua đời ngày 8/6/632.
c) Hồi Giáo
Trong suốt thời gian xảy ra những chuyện trên, từ ngày ông chia sẻ với bà Khadidjâ những hiện tượng kỳ lạ xảy ra nơi ông, Mahômet không ngừng nói, giảng. Theo ông không phải là ông nói, ông chỉ là một cán bộ truyền đạt những ǵ quyền năng tối thượng đă dạy ông. Xấu hổ cho kẻ nào nghi ngờ sự thần cảm của đấng “Tiên tri”! Đối với các môn đệ của ông, những ǵ Mahômet dạy là nội dung của “Mẹ của sách”, tiền thân của tất cẩ các sách mạc khải và được bảo vệ một cách mầu nhiệm ở trên trời.
Khi ông Mahômet đọc kinh Coran, các môn đệ liền nghi trên bất cứ vật ǵ: gỗ, đá, sống lá, xương, điều ǵ không viết được th́ giữ “ở trong ḷng”, nhờ nhịp điệu và bút pháp truyền miệng. Ba mươi năm sau ngày “Di tản”, tức hai mươi năm sau ngày ông Mahômet qua đời, theo lệnh giáo chủ (Khalife) Othmân, toàn bộ được xuất bản chính thức, gồm 116 chương, chia ra nhiều câu. Các chương được sắp xếp tuỳ theo kích thước, dài trước, ngắn sau. Thế là kinh Coran, bài học thuộc ḷng, ra đời.
Ông Mahômet có tinh thần suy tư, tâm hồn tôn giáo và ưu tư. Ông giảng cho người Arập, dân của ông, yêu cầu phải gắn bó với đơn thần giáo, tin một Thiên Chúa duy nhất, là Allah, từ này chỉ Thiên Chúa trong tiếng Arập. Đức Allah-sau khi đă cử hàng loạt tiên tri, từ Ađam đến Đức Giêsu-đă cử ông làm tiên tri của dân ông. Là người Hồi Giáo-muslim tiếng Arập-là thần phục Thiên Chúa và phó thác cho Người. Bạn hăy tin vào đức Allah, đấng duy nhất và vào sứ mạng của vị thừa sai của Người, là Mahômet, th́, sau khi chết, bạn sẽ được lên thiên đàng, nằm gường thêu, uống nước sống từ suối As-Salsabil, vui hưởng với các cô gái nhà trời “đẹp như trứng gà bóc và chưa có ai, dù là thiên thần hay loài người đă đụng tới”. Nhưng nếu bạn không tin, bạn sẽ phải sa hoả ngục, ăn trái đắng của cây Zakkum, trong lửa không hề tắt.
Thêm vào các tín điều mạnh mẽ và trong sáng ấy, Hồi Giáo thêm các việc lành. Cơ bản là “năm rường cột” sau đây:
1/ Tuyên xưng đức tin: “Không thần nào khác, ngoài Thiên Chúa và Mahômet, là đấng Thiên Chúa sai đến”.
2/ Cầu nguyện, hướng về Mecca.
3/ Bố thí.
4/ Ăn chay tháng Ramadan.
5/ Hành hương Mecca.
Luân lư trong kinh Coran ch́m giữa rừng luật lệ và lễ nghi: không khinh chê của cải thế gian, công bằng đối với người nghèo và trẻ mồ côi, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng Hồi Giáo, được phép đa thê, nhưng giới hạn 4 vợ chính thức thôi, hầu thiếp, vợ nhỏ không kể.
Chính sự đơn sơ và dễ dăi này khiến Hồi Giáo thành công. Điều kiện cốt lơi, hầu như duy nhất, là tin vào Thiên Chúa và “đấng Người sai”. Không bân tâm đến những tín điều quá trí loài người, vẫn được phép sống thoải mái về t́nh dục, nhanh nhảu trả thù, mà vẫn cảm thấy ḿnh là tín hữu chân chính, sống kết hợp với Thiên Chúa và được sống đời đời. Chính nhà tiên tri đă làm gương về điều này: sau khi bà Khadidjâ qua đời, ông đă vui hưởng vui thú khuê pḥng bằng thích. Các tín đồ Hồi Giáo đầu tiên đă mô tả chi tiết tỉ mỉ và rất lấy làm hănh diện…
Chẳng bao lâu Hồi Giáo chia rẽ thành nhiều giáo phái đối nghịch nhau. Nhiều nhóm chỉ c̣n cái tên Hồi Giáo mà thôi. Hiện nay hai nhóm quan trọng nhất là Sunnisme và Shiisme. Tổng cộng tất cả các giáo phái, Hồi Giáo có 300 triệu tín đồ.
d) Ư nghĩa lịch sử
Đối với người Kitô hữu Công Giáo, suy nghĩ về ư nghĩa lịch sử và cho rằng không biến cố nào xảy ra ngoài Thánh Ư, sự xuất hiện và phát triển cuả Hồi Giáo đặt ra nhiều vấn đề. Chắc chắn Dothái giáo và Kitô giáo đă ghi dấu ấn sâu sắc trong tư tưởng tôn giáo của Mahômet, Kinh Thánh, Tin Mừng, Quy Thư và Nguỵ Thư, nhiều huyền thoại đă được nhà tiên tri biết và tiếp thụ, hời hợt nhiều ít. Thí dụ: cái chết giả của Đức Kitô, mà kinh Coran nói, là do ảnh hưởng thuyết Đôcêtô? Các đoạn nói về sự sùng kính Đức Maria và Con của Người, là nhà “Tiên tri Issa” bị chối bỏ thần tính, là do óc hoà đồng tôn giáo của ông Mahômet, coi Hồi Giáo như là về nguồn mạc khải nguyên thuỷ, mạc khải đă bị Dothái giáo và Kitô giáo “chôm”, bây giờ ông có sứ mạng thanh lọc và truyền đạt cho quốc gia Arập của ông. Chỉ măi về sau Hồi Giáo mới trở thành phổ quát tương đối. Các tín đồ của nhiều giáo phái Hồi Giáo khác nhau thường nói tới “các đạo trên trời”, hiểu là Hồi Giáo, Dothái giáo, Kitô giáo và Bái Hoả giáo, chẳng qua là do các tiên tri khác nhau mà thôi.
Thật đáng tiếc, Mahômet, một tâm hồn tôn giáo và đức tin tốt lành, lại chỉ biết, và biết tồi, một Kitô giáo bị biến chất. Chúng ta đừng quên t́nh trạng tôn giáo quanh bán đảo Arập, hồi thế kỷ VII ấy: khắp nơi là ly giáo, dị giáo, 50 giáo phái dằng co nhau đến đổ máu! Nếu như, thay v́ nước sơn Kitô giáo rối đạo, Mahômet biết được chân lư đích thật và tin theo, chừng đó ai biết được số phận Giáo Hội ở Arập, ở Đông Phương và cả trên toàn thế giới đă ra sao?
a) Thánh Chiến
Để thắng kẻ thù, ông Mahômet phải gây chiến. Chiến tranh nhân danh tôn giáo, thánh chiến, là một hành vi tôn giáo đẹp ḷng Allah nhất. Chết trong thánh chiến là “chắc chắc đi trên đường của Thiên Chúa” và “Thiên đàng ở dưới bóng gươm giáo”. Giáo lư Hồi Giáo về chiến tranh, trong ư ông Mahômet chỉ là một phương tiện để đâp tan đối kháng, chứ không bao giờ ông nghĩ nó có thể là một công cụ bành trướng đế quốc và để áp đặt tôn giáo. “Tôn giáo không có cưỡng bức đường ngay tự biết tách ḿnh khỏi sai lầm”. Nhưng, bằng cách thống nhất thế giới Arập, cho tới đó chỉ là những mảnh nhỏ, nhà tiên tri vô t́nh đă đem đến thế giới một sức mạnh mới: một quốc gia chủ nghĩa đáng sợ. “Hồi Giáo tiên vàn là toàn Arập chủ nghĩa” (Nau). Thế giới Đông Phương vẫn mơ hồ mong có dịp rũ bỏ ách văn minh La-Hy, sẽ t́m thấy nơi Hồi Giáo một lănh tụ. Sau ông Mahômet, thánh chiến liền trở thành chiến tranh chinh phục. Và v́ phần lớn các miền người Hồi Giáo muốn chinh phục đều nằm dưới quyền Kitô hữu, nên Kitô hữu bèn trở thành kẻ thù chính của họ. Giáo chủ Omar nói: “Chúng ta phải ăn tươi nuốt sống bọn Kitô hữu, và con cháu ta phải ăn tươi nuốt sống con cháu chúng, bao lâu chúng c̣n tồn tại”.
b) Kế vị ông Mahômet
Ông Mahômet qua đời ngày 8/6/632, tại Mêđina, không dự kiến người kế vị. Suốt 30 năm vấn đề kế vị được đặt ra. Abou-Bekr, môn đệ của ông, Omar, bạn ông, dưới tước hiệu Khalife-nghĩa là kế vị-lần lượt lên cai trị, trấn áp sự lộn sộn của các bộ lậc. Omar chết, tranh chấp nổi lên giữa Ali, rể của nhà Tiên tri và Othman, bạn già của ông. Othman bị giết. Rồi Moawiah, chắt của Othman tiếp tục chiến đấu chống lại Ali. Ali chết, Moawiah, năm 662, lập ra nhà Ommayades, tồn tại tới năm 750 bị cách mạng lật đổ. Tất cả các Khalife đều cho rằng cách hay nhất để giữ dân khỏi loạn là liên tục tung họ vào các cuộc hành quân vừa thoả măn được tính cuồng tín, c̣n mới, đam mê tổ tiên để lại và lợi nhuận kinh tế của dân. Omar đă chọn tiến công các dịa điẻm liên hệ đến đoàn thương nghiệp Arập là Lưỡng Hà, Syria, Aicập. Năm 634, cuộc chinh phục bắt đầu.
c) Quân đội
Rất nhanh, các toán quân Arập ô hợp nhờ lư tưởng tôn giáo, đă trở thành một quân đội có tổ chức đàng hoàng, gồm kỵ binh, bộ binh và cung thủ, sao chép của Byzancia và Ba Tư các kiểu máy móc chiến tranh. Lănh đạo giỏi, cấp dưới phục tùng một cách mù quáng, quân đội Arập mau chóng trở thành công cụ chiến tranh đáng sợ nhất thời bấy giờ. Khí thế kỵ binh Allah tồn tại cả trăm năm.
Cuộc chinh phục của Hồi Giáo bung ra hai mặt: Âu và Á Châu-Về tính thần tốc, cuộc chinh phục của quân đội Arập có thể so sánh được với cuộc chinh phục của các nhà lănh tụ thảo nguyên, đi xây dựng đế quốc của họ, như Attila (và sau này Gengis Khan hoặc Tamerlan), nhưng đế quốc thảo nguyên dựng lên nhanh, xoá bỏ cũng nhanh, trái lại, đế quốc Hồi Giáo tồn tại đó là do đức tin mà họ đem theo, cùng với vũ khí của họ. Sự rạn nứt của các đế quốc-Byzancia và Ba Tư-sự đồng loă của một số dân, có thể cắt nghĩa tính thần tốc của cuộc chinh phục Hồi Giáo, nhưng kết quả của nó tồn tại được lâu dài là nhờ tính cách tôn giáo của nó bám rễ sâu vào tâm hồn nhân loại.
Năm 634, hai năm sau khi Mahômet qua đời, quân đội Hồi Giáo bắt đầu lên đường vượt biên đế quốc lân cận, một mặt hướng về Lưỡng Hà, chiếm vương quốc Hira (chư hầu Arập của Ba Tư), một mặt hướng về miền Nam Palestina: Đức Thượng Phụ Sergiô bị giết ở phía Tây Biển Chết. Thừa thắng xông lên, Gaza đổ: 60 binh sĩ Kitô hữu thà tử đạo, chẳng thà bỏ đạo, để được sống, như người ta dụ dỗ. Một binh đội của đế quốc Byzancia, do chính em hoàng đế Hêracliô chỉ huy, bị hai binh đội Hồi Giáo bắt ở Tây-Nam Salem. Binh đội Hồi Giáo từ nay dạo phố ở Syria và Palestina như ở nhà! Ngày 20/8/635 Damas đầu hàng.
Ba Tư, lúc đó đang chia rẽ nội bộ, sau mấy tuần chống cự, thủ đô Ctésiphon thất thủ, vua các vua trơ mắt ra nh́n các thành khác lọt vào tay hồi Giáo.
Syria: Hêracliô đă già và bệnh hoạn, c̣n cố lập một đạo binh, trao cho một người khác chỉ huy. Ngày 20/8/636 binh đội đế quốc Byzancia bị đập tan, v́ có tạo phản Hêracliô trở về Tiểu Á, ra lệnh đem theo Thánh Giá Thật ở Giêrusalem về Constantinopôli. Phải mấy năm Hồi Giáo mới chiếm được các địa điểm trọng yếu.
Giêrusalem, dưới sự chỉ huy của Đức Thượng Phụ Sôphrônô, tử thủ khá lâu, rồi cũng phải đầu hàng (2/638), ngay nền đền thờ Salomon xưa, khalife Omar đă tới cầu nguyện và ngày nay tại đó là một đền Hồi Giáo mang tên ông.
Cuộc tiến công của Hồi Giáo gây tiếng vang ghê gớm khắp thế giới Kitô giáo. Ngay tại xứ Gaule, người ta có cảm tưởng một tai hoạ ngoại hạng, kiểu khải huyền, đă xảy ra, đâu đó đều bi quan.
Trong khi đó, binh đội Hồi Giáo bung ra đang được trớn, không có ǵ có thể cản lại được. Tại Ba Tư, các cánh quân lần lượt bị tiêu diệt, nhà vua bị giết. Kỵ mă Allah thừa thắng xông lên măi. Khalife Omar muốn ngưng lại, để củng cố các vị trí đă chiếm, trước khi tung ra những đợt mới, cũng không được. Bất chấp lệnh ông, lợi dụng t́nh h́nh lộn sộn tại Aicập, tướng Arm tung 4.000 quân tới đó (640): Cairô, Alexanđria phải đầu hàng. Tướng Arm chuẩn bị chiếm Phi Châu th́ lệnh Omar kiên quyết bắt phải ngưng lại. Năm 643, chín năm sau khi bắt đầu các cuộc thánh chiến, một phần đất lớn bằng nửa Âu Châu, từ sông Ấn, núi Caucase, đến biên giới Soudan là Hồi Giáo.
Sự thành công nhanh chóng của Hồi Giáo một phần do thái độ của dân bị xâm chiếm.
Có kẻ đồng loă, tạo phản, như những kẻ vừa bị Hêracliô đánh bại: Dothái, Kitô hữu theo Đơn Tính. “Chính Thiên Chúa báo thù đă gởi người Arập đến giải phóng chúng tôi khỏi ách Lamă”. Ở Aicập, thượng phụ Copte Benjamin-bị hoàng đế xua đuổi, đă thương lượng với người Arập, đánh đổi sự ủng hộ của các Kitô hữu lấy việc người Arập trả lại cho ông những tài sản của Giáo Hội Đơn Tính chủ nghĩa bị người Byzancia bắt hiến.
Đa số không đồng loă, không làm phản, nhưng nhẫn nhục. Dân Aicập, ai c̣n muốn chiến đấu khi mà, vào lúc quân Hồi Giáo tiến công, họ đă hầu như làm loạn chống hoàng đế, v́ ông vừa áp đặt lên đầu họ Đức Thượng Phụ Cyrô, theo phe “Tŕnh Bày Đức Tin” (Ecthèse), không một ai ưng cả? Ở Giêrusalem, thánh Thượng Phụ Sôphrônô, một ḿnh đương đầu với binh đội của Omar, có cảm thấy kiên quyết cứu văn sự thống trị của một hoàng đế, mà dưới mắt người, là kẻ thù đức tin chăng? Binh đội trúng tuyển trong các tỉnh có khuynh hướng quốc gia chủ nghĩa có cảm thấy muốn hy sinh cho bạo chúa Byzancia chăng?
d) Byzancia dưới chế độ Hồi Giáo
Khi người Arập xâm lăng, việc “Phi-Byzancia-hoá” đă được thực hiện nhanh chóng, tại Aicập cũng như tại Syria. Nền văn minh Hylạp, từ ngàn năm, từ thời Alexanđrô Cả đă bao trùm khắp vùng Cận Đông bị quét sạch. Tây Phương cũng hết chịu ảnh hưởng Đông Phương Hylạp, ngà voi, vải vóc quư hết trở sang Tây Phương nữa. Nước Syria hồ hởi Ả-rập hoá. Công nhân viên chức Kitô hữu của hoàng đế, ngay cả người Melkite trên nguyên tắc là “bảo hoàng”, cũng chấp nhận phục vụ các khalife.
Nói cho ngay, nh́n chung, cuộc chiếm đóng của người Ả-rập cũng không đến nỗi nào. Cướp bóc, bạo hành không nghiêm trọng bằng so với việc người mọi rợ Nhật Nhĩ Man làm ở Tây Phương. Những sự huỷ diệt lớn, mà người ta tố cáo, như huỷ diệt thư viện Alexanđria, đều không có cơ sở lịch sử. Một vài nơi, nhà lănh đạo Hồi Giáo c̣n giúp dân xây lại các nhà thờ nữa.
Người Hồi Giáo không phải là quân chiếm đóng độc ác ở Syria, nhất là ở Aicập, họ giúp tín hữu Đơn Tính chủ nghĩa chống Công Giáo Melkite, tại v́ Melkite là bảo hoàng, trung thành với Byzancia. Dù vậy đi nữa, hàng giáo phẩm Melkite vẫn được tái lập trong ba toà Thượng Phụ Giêrusalem (706), Antiôkia (740) và Alexanđria (744). Các cuộc bầu cử được tổ chức, đôi khi không phải không khó khăn, các thượng phụ phải vận động với triều đ́nh khalife, nhất là qua trung gian của các y sĩ Kitô hữu. Các công đồng nhỏ cũng được phép họp. Nói chung, sức sống của Giáo Hội không bị đập tan. Ngay dưới sự thống trị của Hồi Giáo, Kitô giáo chính thống ở Damas đă sản xuất ra một thánh Gioan Damas, vị này từng là người coi ngân khố của khalife. Ở Iran, dưới thời các chủ Hồi Giáo, các phái bộ truyền giáo Nestoriô đă lên đường đem Tin Mừng đến tận Ấn Độ, Trung Quốc, Turkestan, Tây Tạng.1
Chống cự: chỉ dân miền núi Libanô và Armênia bản tính bất trị. Họ sẽ giúp các hoàng đế Byzancia trong cuộc phục hưng thế kỷ X và Thập Tự Quân sau này, bằng cách tấn công đường liên lạc của người Hồi Giáo.
Kitô giáo Đông Phương mà hoàng đế Byzancia là hiện thân, trước cuộc tiến công Hồi Giáo, tỏ ra không đủ sức. Nhiều thế kỷ căi lẫy thần học làm cho họ kiệt sức. Hêracliô “vị Thập Tự Quân đầu tiên”, người đă từng chiếm lại Thánh Giá Thật từ tay quân Ba Tư, đă để sự nghiệp đổ sụp dễ dàng quá. Người hùng trong chiến tranh Ba Tư giờ đây là một cụ già phù thũng, sợ nước đến nỗi khi qua eo biển về Constantinopôli người đă bắt dựng lên một chiếc cầu bằng tầu, chăng lá làm tường! Khi ông băng hà, năm 641, th́ đế quốc dường như tới lúc sụp đổ.
Suốt 70 năm, t́nh h́nh kinh khủng. Các hoàng đế kế vị Hêracliô, thừa kế trực tiếp, hoặc tiếm vị, hầu như đều phải đương đầu với các cuộc nổi loạn hoặc đảo chính. Vài vị không phải không công nghiệp như Constantô II (641-668), Constantinô IV (668-685) ngay cả Giustinianô II nữa. Người ta thường chứng kiến cảnh hoàng đế, hoặc hoàng hậu, chịu nhục h́nh tại hư trường. Giustinianô II, vị “hoàng đế bị sẻo mũi”, sau 10 năm trị v́ (685-695) bị lật đổ, sẻo mũi, rồi lại lên cầm quyền (705-711), lúc đó mọi chống đối đều tắm máu.
Trong khi đó, đế quốc lâm nguy. Biên giới phía Bắc, kẻ thù mới xuất hiện là rợ Bulgare (gốc Thổ) răng dài. Quân Ả-rập vẫn không ngưng xâm chiếm: Tiểu Á bị cướp phá như chỗ không người, binh đội Ả-rập xuất hiện tận Cappadocia, Phrygia, giáp ranh Ancyrô (Ankara). Rồi Armênia. Đồng thời chúng đóng tàu và bắt đầu cướp phá các đảo và các cảng Hylạp: Chyprus (648), Rhodes (653), Crêta. Khi Constantinô II thử đường đầu th́ tàu bè của hoàng đế bị huỷ diệt trong nháy mắt!
Tuy nhiên, Đông Phương bất bại! Cho tới khi Hêracliô qua đời, tất cả các hoàng đế Đông Phương vẫn nuôi mộng duy tŕ truyền thống đế quốc Lamă phổ quát. Nhưng từ khi Hêracliô chết, năm 641, “thời Trung Cổ Byzancia” bắt đầu, đế quốc tự thu gọn lại, trong phạm vi Hylạp Đông Phương. Tuy tự ái có bị tổn thương, nhưng là một quyết định cứu độ.
Đă hai lần tưởng dâu đế quốc đổ rồi và, mất hết. Lần đầu, năm 673, và 5 năm liền, hải quân Ả-rập công thành, nhưng nhờ có một chất gọi là lửa grégois, phát minh ra thời đó, nay đă thất truyền, cháy được cả trên mặt nước, đế quốc đă đẩy lui chúng. Lần sau, năm 717, trong suốt một năm, quân Ả-rập tiến công với lực lượng lớn. Quân Ả-rập giờ đây bốc lên v́ chiến thắng. Đúng lúc đó, một cuộc đảo chính xảy ra, đưa lên ngai vàng Byzancia một nhân vật có hạng là Lêô III người Isaurianô (717-740) bắt đầu triều đại trung hưng. Quân Hồi Giáo đại bại trước thành Constantinopôli (718). Chiến thắng này chặn đường tiến của Hồi Giáo chinh phục Âu Châu, về phía Đông, chứng tỏ Byzancia c̣n khả năng tự cứu.
Nhưng Byzancia lại không cứu được nền văn minh mà nó tự coi là lănh đạo. Bởi v́ Hồi Giáo đă chiếm mất Phi Châu và Tây Ban Nha.
Phi Châu Kitô giáo đă một thời oanh liệt, với thánh Cyprianô, các vị tử đạo Scili, với 700 toà giám mục đầu thế kỷ V, nhất là với thánh Âutinh. Đại hoạ đă xảy ra và Giáo Hội Phi Châu đă sụp đổ… không biết đến bao giờ?
Lư do:
Gần: thế kỷ VII các vị lănh đạo Giáo Hội không được bằng các đấng tiền nhiệm, nh́n chung đều xoàng: mua bán chức thánh ,không tṛn nhiệm vụ.
Xa: những nguyên nhân xa khiến Phi Châu suy yếu, không cầm cự nổi trong ngày đại hoạ là:
-Các bè rối: Manikê, Đônatô…
-Tinh thần phe đảng, khép kín, cô lập, đặc biệt trong vụ bè rối Đônatô ly khai. Giữa thế kỷ VII, nghĩa là sau hơn 300 năm chiến đấu, Đônatô lạc giáo lại ngóc đầu dậy, mở lại các nhà thờ và tuyên truyền, nghĩa là chỉ trích Giáo Hội. Tính phe đảng có hai đặc điểm:
1/ Chính trị: sau chiến thắng của hoàng đế Giustinianô, các tỉnh Phi Châu chẳng bao lâu bất măn với nền thống trị của Byzancia. Cuối thế kỷ VI, Byzancia thiết lập tại Phi Châu toà Phó Đế (Exarchat) hầu như tự trị. Trước cuộc xâm lăng Hồi Giáo, Phó Đế Grêgôriô lợi dụng sự bất măn trong dân chúng, khai thác khuynh hướng ly khai của dân Phi Châu, tự xưng là Hoàng Đế (Basileus).
2/ Tôn giáo: Phi Châu vốn có khuynh hướng hơi tách rời khỏi toàn thể Giáo Hội, ngay cả những vị đại thánh, như thánh Cyprianô, cũng vậy. Không phải các Giáo Hội Phi Châu có óc nghi ngờ Roma một cách có hệ thống, nhưng đă không gắn bó đủ.
Dân gốc Lamă, hoặc Lamă-hoá từ lâu, có đức tin vững chắc, c̣n các bộ lạc Mọi Rợ, được Rửa Tội vào nhiều thời kỳ khác nhau, có đức tin rất hời hợt. Khi Byzancia chiến thắng, các lănh tụ Berbère đă theo đạo, nhưng không bỏ phiếm thần. Mấy năm vận mệnh Phi Châu đu đưa Lamă và Ả-rập, người Berbère cũng đu đưa giữa trở lại và bỏ đạo.
Chính sách tôn giáo thiếu khôn ngoan của các nhà “thần học độc tài” Byzancia: mọi tranh chấp tôn giáo làm rung chuyển đế quốc đều có tiếng vang ở Phi Châu và góp phần làm xấu đi mối quan hệ giữa Phi Châu và Byzancia.
-Năm 534, Giustinianô tung ra vụ “Ba Chương” (x. C. III), Giáo Hội Phi Châu đă đương đàu với ông và hoàng đế độc tài đă nổi giận, bắt bớ, lưu đày, cách chức các giám mục.
-Trăm năm sau, Hêracliô lại tung ra học thuyết “Nhất Ư”, Giáo Hội Phi Châu cũng tỏ thái độ nghi ngờ đối với thần học nhà nước.
-Sau khi người Ả-rập chiếm đóng Aicập, năm 640, nhiều người Aicập di tản sang Phi Châu mang theo tinh thần hay căi lư thần học của họ. Khủng hoảng nổ ra. Người Phi Châu, đứng đầu là thánh Maximô Hiển Tu, vô địch chính thống, đă coi ḿnh là kẻ thù công khai của thần học đế quốc. Dĩ nhiên, sự trung thành của nhân dân với đế quốc qua vụ này có giảm sút và Phó Đế Grêgôriô bèn lợi dụng tuyên bố độc lập.
T́nh h́nh Phi Châu Kitô giáo lúc kỵ binh Allah ập tới là như vậy. Sau khi chiếm Aicập, Arm, tướng Ả-rập đă thừa thắng xông lên, tiến công Phi Châu, chiếm Cyrênê (642), Tripôli (643), tạm ngưng theo lệnh khalife Omar, tiếp tục cướp phá các ốc đảo phong phú miền Nam Tunisia, Phó Đế Grêgôriô, vừa lập xong thủ đô của đế quốc Phi Châu của ông th́ bị giết.
Trong khi Constatinô II, với chiếu chỉ Điển H́nh Đức Tin, về “Nhất Ư thuyết”, lại chọc giận người Phi Châu, th́ Hồi Giáo vẫn cứ tiến công đều đều. Năm 665 họ quét sạch tỉnh Byzancêna (Nam Tunisia) không gặp trở ngại. Trước sự yếu thế ấy, khalife Moawiah tung quân chiếm Phi Châu, “Ifrikia”, xây một pháo đài ở Tunisia để chứng tỏ là họ ở luôn!
Đế quốc xa và bất lực không bảo vệ được Phi Châu, các bộ lạc Bebère phải tự kháng chiến. Cũng có lần họ đẩy lui kỵ binh Allah và “vương quốc” của họ được yên. Có cả một phụ nữ, “nữ linh mục” đứng đầu liên minh Bebère, Dothái, Kitô hữu chiến đấu đến chết.
Việc kháng chiến, cũng như sự can thiệp của hải quân Byzancia, chẳng đi đến đâu. Năm 698 Carthagô thất thủ. Dần dần người Hồi Giáo chiếm hết quận này đến quận khác, tỉnh nọ tới tỉnh kia, khắp Phi Châu. Vị Phó Đế Byzancia cuối cùng là Giulianô, đang chiến đấu chống các vua Tây Gốt ở Tây Ban Nha, đă giúp người Hồi Giáo nhảy sang Tây Ban Nha (qua Gibraltar).
Giáo Hội Phi Châu chết dần. Người Bebère nhanh nhẩu đổi đạo, bỏ Kitô giáo theo Hồi Giáo, đạo của kẻ chiến thắng. Kitô hữu vẫn được phép giữ đạo, với điều kiện đóng một thứ thuế đặc biệt bằng 1/5 lợi tức. Nhưng đến giữa thế kỷ VIII th́ sự bao dung này cũng chấm dứt: chỉ có bỏ đạo hoặc đi đầy mà thôi. Nhiều nhà thờ trở thành đền thờ Hồi Giáo. Các toà giám mục biến mất, chỉ c̣n cái tước, hàm, giống như kiểu “hiệu toà” ngày nay. Khoảng 1050, khắp Phi Châu chỉ c̣n 5 toà giám mục Công Giáo, mà con chiên toàn Kitô hữu làm thương nghiệp ở các cửa khẩu, lính đánh thuê phục vụ các vua Hồi Giáo, tù nhân và con nít, là người những mà các tu sĩ ḍng “Đức Bà Chuộc Kẻ Làm Tôi”, hoặc ḍng thánh Gioan Matha sẽ hy sinh để chuộc lại. Phải đợi 8 thế kỷ, để Tin Mừng mới lại được gieo lại trên lục địa đă từng là Kitô giáo này.
Sau Phi Châu tới lượt Tây Ban Nha sụp đổ. Đó là hậu quả lôgích của t́nh trạng chia rẽ giữa các Kitô hữu. Giữa Byzancia và các vua Tây Gốt Tây Ban Nha quan hệ không mấy tốt đẹp. Phó Đế Byzancia ở Tây Ban Nha là Giulianô, cho những kẻ đối lập và bất măn tị nạn, trong đó có giám mục Oppas, thành Sevilla, em vua Witza bị truất phế. Con vua Tây Gốt-vua Tây Ban Nha-tên là Rôdrigue, cũng t́m mọi cách phá lại Phó Đế. Thay v́ đoàn kết, chống mối nguy chung, th́ Kitô hữu chỉ nghĩ tới việc xâu xé lẫn nhau. Florinđa, con gái công tước Giulianô, sau nhiều cuộc phiêu lưu, đă để cho vua Rodrigue bắt cóc. Người Gốt tị nạn và người Dothái, bị xua đuổi khỏi Tây Ban Nha, hợp tác với Giulianô và người Hồi Giáo, chỉ cho họ chỗ yếu của vương quốc và thúc họ can thiệp. Mouça, đại diện khalife ở Tanger, quyết định tấn công.
Bảy ngàn quân Bebère, dưới quyền Tarik, chọi nhau với binh đội của vua Rodrigue, dưới khí hậu oi bức bất lợi cho người Tây Gốt. Chiều đến, binh đội Tây Gốt ră đám bỏ trốn, vua mất tích, chỉ thấy con ngựa trắng của người té dưới śnh, và cạnh đó có một dụng cụ bằng bạc của nhà vua. Trong cuộc tiến công này, người Byzancia của Giulianô, người Gốt tị nạn của giám mục Oppas, đều có mặt trong hàng ngũ Hồi Giáo! Hôm ấy ngày 19/7/711.
Chỉ đụng một trận là nước Tây Ban Nha Tây Gốt tan tành! Các thành lần lượt thất thủ. Sau Sêvilla, Cordoua, quân Tarik tiến vào thủ đô Tôlêđô. Giám mục Oppas đă chỉ cho người Bebère những cái đầu cần chặt! Đồng thời, Mouça cũng đổ bộ, chiếm thành Mêđina, Carmona và, cũng vẫn do các Kitô hữu phản bội dẫn đường, đă chạy tới Tôlêđô tranh nhau chiến lợi phẩm với phụ tá Tarik. 9/10 nước Tây Ban Nha tràn ngập dưới làn sóng Hồi Giáo. Th́nh ĺnh Phó Đế Giulianô và giám mục Oppas sáng mắt phát hiện ra rằng: không phải người Hồi Giáo chỉ tới Tây Ban Nha để cướp rồi đi, hoặc là để thay một vua Tây Gốt này bằng một vua Tây Gốt khác, mà họ ở ́! Lá cờ màu xanh lá cây của nhà tiên tri từ nay phất phới trên các bờ biển Tây Ban Nha 7 thế kỷ!
Nếu nước Syria và Aicập đổ, v́ đă bị các vụ đối lập tôn giáo và quốc gia chủ nghĩa soi ṃn, nếu Phi Châu phần lớn đổ v́ khuynh hướng ly khai tiềm tàng, th́ Tây Ban Nha lúc Hồi Giáo tấn công, đang suy thoái. Đối lập thường trực: người Byzancia, sau hiệp ước do hoàng đế Hêracliô kư, chỉ c̣n vài địa điểm ở bờ biển, họ tiếc thời oanh liệt lúc binh đội Giustianô c̣n tung hoành khắp miền nam Tây Ban Nha. Người Asturiô, người Basque gây rối thường trực. Các tỉnh Tây Gốt miền Nam nước Pháp không mấy trung thành với các vua Tây Ban Nha ở Tôlêđô. Bản thân vương quốc cũng chẳng vững chắc ǵ. Âm mưu đe doạ các vua đang cầm quyền, việc kế vị luôn bị lộn sộn, v́ nổi loạn và ám sát. Trong 100 năm, kể từ khi vua Rêcarêđô qua đời, người ta đă thấy một vua bị hành quyết, một vua bị cưỡng bức đi tu, vua già Wamba bị cho uống thuốc ngủ, để thoái vị, vị khác bị xua đuổi khỏi ngai vàng, phải di tản sang Roma tị nạn. Trước t́nh h́nh như vậy, nhiều vua đă áp dụng khủng bố!
Vấn đề Dothái. V́ những lư do không rơ, chứ không phải chỉ v́ lư do tôn giáo, nhiều vua Tây Gốt bách hại người Dothái, cưỡng bức chịu phép rửa tội, cách ly trẻ con, bắt buộc vợ chồng, trong đó có một người Dothái phải xa nhau. Nhiều nhà lănh đạo Giáo Hội Tây Ban Nha như thánh Isiđôrô thành Sêvilla, phản đối các biện pháp như thế, nhưng không ai nghe. Công đồng Tôlêđô, năm 698, thừa nhận các biện pháp ấy. Người Dothái không quên những chuyện đó, họ hết sức chống lại sự thống trị của người Tây Gốt, hoặc bên cạnh người Byzancia, người Hồi Giáo hoặc ngay trong nước: trong cuộc xâm lăng năm 711, họ luôn luôn có mặt với quân xâm lược.
Lư do đạo lư. Dù không tin những chuyện những người viết kư sự hồi đó kể, như các vua Tây Gốt có tam cung lục viện, động viên cổ vũ người chung quanh sống đa thê, chắc chắn khí hậu êm dịu, thói quen phong lưu-Tôlêđô là một thủ đô huy hoàng-đă làm người Nhật Nhĩ Man suy thoái, nó đánh gục rợ tây Gốt ở Tây Ban Nha, cũng như thế kỷ trước, nó đă đánh gục rợ Vandale ở Phi Châu.
Trách nhiệm của Giáo Hội: phải thẳng thắn công nhận Giáo Hội có một phần trách nhiệm trong thảm hoạ này:
-Sau khi người Tây Gốt trở lại, các vua của họ và Giáo Hội hết sức nhất trí. Các công đồng quốc gia Tây Ban Nha đồng thời cũng là nghị viện. Các nghị phụ làm luật, các vua xin các ngài sửa luật. Trở thành Hội Đồng Tư Vấn, hoặc Toà Án Tối Cao, các ngài xét xử và cách chức các công chức nhà nước Tây Ban Nha. Giáo Hội, từ lễ tấn tôn vua Wamba, đă biến việc này thành bí tích, tự thấy ḿnh hết sức gắn bó với Nhà Nước.
-Sự gắn bó này cũng có mặt hay: nhờ ảnh hưởng Kitô giáo, luật pháp Tây Gốt ít mọi rợ nhất trong các luật Nhật Nhĩ Man. Các công đồng nghị viện dùng quyền nhà nước để tổ chức hàng giáo sĩ, kiểm tra việc huấn luyện, duy tŕ tŕnh độ. Dường như một số sự khắc khổ về luân lư, c̣n tồn tại trong Kitô giáo Tây Ban Nha, là hậu quả của phản ứng của Giáo Hội đối với khuynh hướng buông tuồng của một số vua.
-Nhưng mặt dở cũng nhiều: cũng như ở Byzancia, hoặc đối với các vua nhà Mêrôvê, ở xứ Gaule, sự gắn bó quá chặt chẽ giữa Giáo Hội và Nhà Nước có những kết quả không hay. Giáo Hội có uy quyền trong Nhà Nước, nhưng thực tế Nhà Nước kiểm soát Giáo Hội. Bề ngoài vua là đứa con hèn mọn nhất của Mẹ Giáo Hội, vua quỳ gối, phủ phục khi bước vào pḥng họp công đồng, vua rút lui để thánh công đồng tự do thoải mái. Nhưng chính vua lại triệu tập hoặc không triệu tập công đồng. Chính vua ấn định chương tŕnh nghị sự và bảo đảm việc thi hành các nghị quyết công đồng. Chính vua là người đặt thêm vài nhân vật cao cấp “thường dân” vào bên cạnh hàng giáo phẩm, được chỉ định đúng luật. Và cuối cùng, chính vua, nhiều lần bắt buộc các công đồng phải chuẩn y những sự dẫm chân hoặc tiếm quyền của ḿnh. Ở Tây Ban Nha, cũng như ở Gaule, việc các vua can thiệp vào việc chỉ định giám mục đôi khi dẫn đến gương mù.
Bận bịu với các vấn đề chính trị, Giáo Hội Tây Ban Nha có hướng nh́n các vấn đề tôn giáo bằng con mắt chính trị. Các vị lănh đạo tôn giáo sống như những chức sắc cao cấp phần đời, hơn là như những vị chủ chăn, các ngài nghĩ đến Tây Ban Nha trước khi nghĩ đến Công Giáo. Trong thái độ đối với Roma, bề ngoài các ngài tỏ ra hết sức tôn kính và trung thành, nhưng khi Đức Giáo Hoàng can thiệp vào các vấn đề tôn giáo của Vương Quốc Công Giáo Tôlêđô Vinh Quang th́ các ngài lại tỏ ra ngạc nhiên. Sự gắn bó quá chặt với Nhà Nước làm chân trời của Giáo Hội Tây Ban Nha bị hạn hẹp lại và khiến Giáo Hội ấy lúng túng trong khi hành động.
Giáo Hội, với tư cách một định chế, đă bị thiệt hại nhiều trong tai hoạ này, nhưng Kitô giáo đă đâm rễ sâu vào tâm hồn Tây Ban Nha, quân xâm lược không sao bứng nổi. Người Hồi Giáo chỉ là thiểu số. Ở nhiều nơi, họ giao việc kiểm soát cho người Dothái, hoặc cho người Tây Ban Nha-Hồi Giáo hoá một cách hời hợt, đổi đạo v́ lợi, những người này (gọi là “Maulas”), nói chung, tỏ ra dễ dăi với anh em. T́nh h́nh Kitô hữu trong nước Hồi Giáo Tây Ban Nha (Giáo Hội Tây Ban Nha nay c̣n tự nhận là “Mozarabe”) biến đổi tuỳ từng tỉnh và từng thế kỷ, nhưng không bao giờ họ bị khổ sở như Kitô hữu Phi Châu Hồi Giáo. Hơn nữa, họ vẫn c̣n hy vọng.
Kháng chiến: người Tây Ban Nha rút vào núi, tập họp, tổ chức, vũ trang. Chỉ 5 năm sau thảm hoạ lực lượng của họ đă khá. Một trong những lănh tụ kháng chiến đầu tiên là Pêlagiô, lập chiến khu trong dăy núi ở vùng Galicia, năm 718, xưng vương, trung hưng triều đại Tây Gốt. Bị bắt, bỏ tù, vượt ngục. Người Hồi Giáo tổ chức truy lùng với người Berbère, người Ả-rập, Kitô hữu phản bội, trong đó có giám mục Oppas, Pêlagiô và du kích miền núi của ông toàn thắng, đó là chiến thắng Covadonga, mà các nhà thơ Tây Ban Nha hết lời ca ngợi.
Dần dần, các ổ kháng chiến được h́nh thành ở miền Bắc. Vua Alphonsô I người Công Giáo, rể Pêlagiô biến Oviêđô thành thủ đô của người Asturia. Từ những thành tŕ mong manh ở Bắc Tây Ban Nha ấy, về sau, măi về sau, sẽ trở thành khởi điểm cuộc Tái Chinh Phục, phản công chiến thắng.
Tại sao người Hồi Giáo không thanh toán những đối thủ tầm thường ấy? Có thể v́ nội bộ họ lủng củng. Giữa khalife ở Damas và các đại diện của ông ở Tây Ban Nha, quan hệ không tốt lắm. Một vị đại diện ở đây đă lấy goá phụ của vua Rodrigue, khiến ông bị nghi là thân dân bại trận và bị khalife ra lệnh giết chết. Mặt khác, quân Berbère ghen với người Ả-rập, sự đối lập này thỉnh thoảng lại nổ thành nổi loạn. Năm 750 nhà Abbassides lên thay thế. Một người thuộc ḍng họ Omméiades, thoát chết trong cuộc tàn sát, là Abd-er-Rhaman trốn sang Tây Ban Nha, chiếm thành Cordoua, lập ra toà khalife độc lập, chống lại toà khalife ở tân thủ đô Bagdad (do nhà Abbassides mới lập ra ở Lưỡng Hà). Nhờ tất cả các biến cố này mà các vương quốc bé nhỏ của Kitô giáo Tây Ban Nha mới tồn tại và đâm rễ.
Nhất là thế giới Hồi Giáo, sau 100 năm chinh phạt, nay hết khí thế. Vào thế kỷ VIII họ chỉ bành trướng từ bước nhỏ, chứ không nhanh, mạnh, khổng lồ, như lúc đầu. Hai lần họ định tiến công Châu Âu đều thất bại: ở phía Đông họ bị chặn lại, năm 718, dưới chân thành Byzancia và ở phía Tây, năm 732 bị người Francô chặn ở Poitiers. Người Hồi Giáo không hiểu rằng: dạy dỗ và thuyết phục th́ hơn đánh nhau, nên họ không làm cho nền văn minh của họ thành nền văn minh của cả thế giới, có khả năng đương đầu với nền văn minh Kitô giáo được.
Vào thế kỷ VII, đế quốc Đông Phương cũng bị mọi rợ hoá tương tự như Tây Phương, hồi bị người mọi rợ xâm nhập. Các điều khoản về kỷ luật của công đồng “Ṿm”, c̣n gọi là công đồng “Năm-Sáu” cho ta một ư niệm về phong hoá của xă hội Byzancia hồi đó. Ta phải kinh ngạc về những điều công đồng đó cấm, hoặc tố giác, chẳng hạn công đồng nhắc nhở hàng giáo sĩ rằng: làm chủ nhà chứa là bất hợp pháp, hoặc nhắc nhở các tín hữu rằng: làm chuyện xác thịt trong nhà thờ là làm ô uế chốn tôn nghiêm. Công đồng tuyệt thông các nữ tu vi phạm lời khấn, các bác sĩ và hộ sinh chuyên môn phá thai, buôn bán tranh ảnh đồi truỵ…
Tính độc ác của các h́nh phạt, chẳng những áp dụng cho thường phạm, mà cả cho tù chính trị và tù… thần học nữa: sẻo mũi, cắt tai, cắt lưỡi, móc mắt v.v. là điều rất thông dụng. Hành quyết là tṛ giải trí đối với quần chúng thường xảy ra dưới triều Giutinianô II, “Hoàng đế có lỗ mũi bị sẻo”. Các vị thánh, như thánh Giáo Hoàng Martinô, thánh Maximô Hiển Tu đều bị đối xử dă man như vậy.
Thói tục ngoại giáo lại xuất hiện, như lễ lạc ngoại giáo phóng túng, thầy pháp, phù thuỷ, khai thác sự nhẹ dạ cả tin của giới b́nh dân. Những điều này cho thấy nước sơn Kitô giáo quá mỏng, mặc dù 6 thế kỷ sơn phết. Năm 717, khi thành Pergamô bị người Ả-rập vây hăm, dân trong thành đă giết một người đàn bà có thai để cầu an!
Nhưng ở Byzancia mọi sự đều mâu thuẫn. Bên cạnh mặt xấu vừa kể có mặt tốt:
Ảnh hưởng Kitô giáo trên luật pháp, từ luật Giutinianô đến luật Lêô III, người Isaurianô.
Dù tội lỗi, xă hội Byzancia tin sâu sắc. Các cuộc chiến thần học là một bằng chứng. Họ ăn chay rất ngặt. Dự lễ rất đông. Các điều khoản công đồng “Ṿm” về việc linh hướng, hoặc về việc Kitô hữu phải chiến đấu với tội lỗi rất hay, thấm nhiễm truyền thống các Giáo Phụ Hylạp. Đức tin của xă hội Byzancia có vẻ h́nh thức, lấy việc bái quỳ và đọc kinh lâu thay cho cơi ḷng trong sạch nhưng không thể chối rằng: đức tin ấy vẫn tồn tại trong một số tâm hồn với phẩm chất rất cao.
Việc sùng kính Đức Trinh Nữ, do phản ứng chống bè rối Nestoriô, xúc phạm đến Người, tâm hồn người dân Byzancia hướng về Đức Maria “cách riêng”. Ngoài lễ Sinh Nhật Đức Trinh Nữ có từ thế kỷ VI, hoàng đế Mauriciô ấn định vĩnh viễn lễ Đức Bà “Ngủ” vào ngày 15/8. ít lâu sau, để kính Đức Bà Constantinôpôli, người ta tổ chức “Tuần lễ Thánh Mẫu”, trong đó người ta hát thánh thi, tŕnh diễn các vở kịch thánh, trong đó Mẹ Chúa Kitô chiếm vai chính.
Vào thế kỷ VIII lễ “Thành Thai” (Conception) được thiết lập. Đó cũng là thời “Ca đứng” (hyme acathiste: nghĩa là phải đứng mà hát) được triển khai, trong đó người ta tŕnh bày các mầu nhiệm về Đức Trinh Nữ, thời thánh Sôphrônô thành Giêrusalem giảng về Đức Maria “Đồng Công”, thánh Anrê đảo Crêta giảng về Thánh Mẫu học phổ thông.
Phụng vụ: thế kỷ VII và VIII là những thế kỷ lớn của các nhà phụng vụ Đông Phương. Phụng vụ Antiokia cổ, có từ thế kỷ IV được cố định vào thế kỷ VI, rất đẹp. Lễ nghi uy nghi, tỉ mỉ, với đồ trang trí rực rỡ ánh vàng, áo lễ, được đặt ra dần dần trong khắp Giáo Hội, và đàn Orgue. Phụng vụ thánh Basiliô đă xử dụng từ lâu, được thay thế bằng phụng vụ thánh Gioan Kim Khẩu, thêm vào Tuần Thánh, và một số ngày Mùa Chay, một phụng vụ đặc biệt mượn từ truyền thống Giêrusalem, đó chính là phụng vụ Tiền Thánh Hiến (không có truyền phép, giống như Thứ Sáu Thánh).
Thánh lễ ở Constantinôpôli thế kỷ VII và VIII rất đẹp, rất lâu-2 tiếng-Bắt đầu với phần “chuẩn bị”, cử hành kín trong kho thánh các thừa tác viên dâng của lễ: bánh có men, rượu nước, xếp đặt rất tỉ mỉ, và để nói lên rằng đây là của lễ của toàn thể cộng đồng, người ta đọc kinh “nhớ kẻ sống và kẻ chết”. Phần 2: Tiểu Nhập cử hành ngoài Vách Ảnh Thánh (Iconostase). Vách này bằng gỗ, hoặc cẩm thạch, đôi khi rất cao, phân cách nơi thánh với ḷng nhà thờ, trang hoàng rất nhiều ảnh Đức Trinh Nữ và các thánh. Vách có 3 cửa thông giữa nơi thánh và ḷng nhà thờ. Thầy Phó Tế và dân chúng đối đáp kinh K