VIII

GIÁO HỘI TRƯỚC NHỮNG NGUY CƠ MỚI

 

1. Huy hoàng chợt tối

Cái chết của Carôlô mở ra cho Tây Phương một thời kỳ hết sức đau khổ, dă man, hỗn loạn và suy thoái. Sau nửa thế kỷ ánh sáng, tiếp đến 2 thế kỷ đắm ch́m trong đến tối. Quân mọi rợ lại bắt đầu xâm nhập, như rợ Slavia (wendes) (sau này trở thành Đại moravia). Quân Sarrasin-hải tăc Hồi Giáo gồm người Ảrập và căn bă các dân tộc thuỷ thủ làm chủ “Biển Ta” (Mare Nostrum) tức Địa Trung Hải. Rợ Normanđô và Scandinavia v.v… Người ta kể rằng Carôlô Cả, trong một hành tŕnh bên bờ đại dương, nh́n thấy những cánh buồm của người Viking, như hàng đàn chim đen báo họa, ngoài chân trời, đă khóc oà lên: Hoàng Đế đă thấy cơ nguy đang đe doạ con cháu kế nghiệp ngài.

Tây Phương một lần nữa lại bị mọi rợ hoá. Carôlô Cả đă tập hợp và thống nhất chủng tộc Nhật Nhĩ Man và t́m cách kết hợp nó với Lamă, bề ngoài th́ xem ra ông đă thành công và sự tổng hợp ấy có nhiều vẻ văn minh. Nhưng thực tế, người Nhật Nhĩ Man c̣n quá mọi rợ, các nhà trí thức, các giáo sĩ, ngay cả phép rửa, cũng không làm họ văn minh lên được.

Đế quốc Carôlô Cả không bền phần v́ những nguyên nhân khách quan, nhưng có phần do lỗi của ông, đó là việc kế vị. Khi phải chọn lựa giữa 2 nguyên tắc:Bá quyền Lamă Kitô giáo phổ quát và chủ nghĩa phe đảng cổ truyền của các bộ lạc Nhật Nhĩ Man, Carôlô đă chọn giải pháp hai.

Năm 806, người chia nước cho 3 con:

-Con cả: nước Pháp và Saxô

-Con thứ hai: miền nam xứ Gaule

-Con thứ ba: Nước Ư và nước Đức.

Theo luật người Franc, họ là 3 vua bằng nhau. Tước vị Hoàng Đế, Carôlô không nhắc tới và không ban cho ai cả. Nguyên tắc chia nước, như thế đă được đặt ra. Con cháu Carôlô, đến lượt họ, lại tiếp tục chia nước nữa, đến chỗ xé nát Tây Phương. Đây là điểm yếu của thiên tài Carôlô, nó chứng tỏ rằng người chưa có quan niệm Lamă về Nhà Nước.

Chế độ phong kiến, nền tảng của Xă hội Trung Cổ đang h́nh thành. Hỗn loạn liên tục, do việc quân mọi rợ xâm lăng, khiến kẻ yếu tập hợp lại chung quanh một vài kẻ mạnh, có khả năng che chở họ, hơn là chính quyền Đế Quốc hữu danh vô thực. Đó là nguyên tắc chỉ huy. Chính quyền trung ương suy thoái, các vị lănh đạo địa phương liền t́m cách tự trị. Văn minh thành phố sụp đổ, nông nghiệp trở nên quan trọng, đại địa chủ thành vua con. Họ được miễn trừ, v́ các vua-yếu-cho phép các đại địa chủ được thoát khỏi sự kiểm soát của cán bộ vương quốc, thay thế họ, trong lănh địa của ḿnh xử án, thu thuế, bắt lính. Giữa các “vua con” này với nhà vua có một liên hệ trực tiếp, không qua trung gian các cán bộ, họ là chư hầu của vua. Như thế, trên nguyên tắc, vua nắm được cả mạng lưới những kẻ trung thành, hoàn toàn lệ thuộc vào người, đáng tin hơn là bọn quận công, công tước quá quyền uy. Nhà vua có cảm tưởng rằng: quyền binh cá nhân người được gia tăng, quyết định của người được áp dụng nghiêm túc hơn. Thực tế, khi nhà vua có quyền uy, có nghị lực, th́ đúng như vậy, nhưng khi vua yếu, th́ quan hệ chư hầu liền chùng dăn và rơi vào cảnh hỗn loạn vô chính phủ, sứ quân.

Carôlô Cả đi vào con đường này. Người chấp nhận, triển khai các nguyên tắc chỉ huy, miễn trừchư hầu. Ông muốn rằng: “mỗi người dân tự do phải có một lănh chúa để vâng phục, lănh chúa này lại thần phục người cao hơn, cứ thế lên tới Hoàng Đế là ông! Người ta bảo Đế Quốc Carôlô là một Nhà Nước phong kiến”.

Suy thoái bắt đầu từ khi Lu-y, con ông, lên ngôi. Giáo Hội, từ nay vận mạng gắn liền với vận may của xă hội văn minh, trong hoàn cảnh như thế, vẫn làm cái công việc Giáo Hội đă làm từ thời Constantinô, khi Giáo Hội bắt đầu nắm trong tay trách nhiệm về thế giới. Giáo Hội nhẫn nại, can đảm vừa chống lại những sức mạnh thù nghịch đe doạ nhân loại, vừa chống lại cơ nguy bị lây nhiễm bên trong. Giáo Hội nhắc nhở rằng nguyên nhân đau khổ là tội lỗi và h́nh phạt bởi trời và không ǵ xảy ra ngoài thánh ư. Chính nhờ Giáo Hội mà thời hỗn loạn này c̣n giữ được mục đích và ư nghĩa, v́ Giáo Hội là hiện thân của nhân tố duy nhất c̣n đứng vững trong một thành phố bế tắc, Giáo Hội thấy quyền bính ḿnh ngày một gia tăng và chiếm lại thế thượng phong, tay trên đối với Đế Quốc.

2. Giáo Hoàng lấy lại thế bề trên Hoàng Đế

Trong ṿng ½ thế kỷ sau cái chết của Carôlô Cả, đă xẩy ra việc chuyển quyền kỳ diệu: đầu thế kỷ IX quyền lănh đạo Tây Phương Kitô giáo nằm trong tay Hoàng Đế, 50 năm sau khi Carôlô Cả qua đời (814) nó chuyển sang tay Đức Giáo Hoàng Nicôla I (858-867).

Chính cái quan niệm của Carôlô Cả về Đế Quốc  đă đưa đến việc này. Hoàng Đế  đă dùng Bí tích Rửa tội để làm dây ràng buộc các dân tộc, mà người đă b́nh định bằng vũ lực. Mà ơn phép Rửa tội là do Giáo Hội ban, tự nhiên Giáo Hội thấy ḿnh có quyền trên hết đời với các dân tộc kia. Đế Quốc  nói chung, được thiết lập trên Giáo Hội. “vai tṛ đầu tiên của nhà vua là bảo vệ Giáo Hội, và các tôi tớ Thiên Chúa. Công việc nhà vua là canh chừng để các linh mục thi hành thừa tác vụ của ḿnh, cũng như dùng vũ khí mà bảo vệ Giáo Hội của Thiên Chúa”. Nói như thế, người ta đă đi vào con đường lẫn lộn đạo đời. Thánh Âu Tinh không bao giờ viết rằng “vai tṛ đầu tiên của nhà nước là bảo vệ Giáo Hội”. Theo các lư thuyết gia này, chính giáo quyền, chính quyền tư tế, đă thiết lập nên quyền của nhà nước, và Vương Quốc chỉ c̣n là công cụ. Đây là nguồn gốc của thần quyền.

Lu-y Mộ Đạo, c̣n gọi là Lu-y Quá Tốt, may mắn thấy Đế Quốc thống nhất, có lợi cho ông. Hai em của ông là PêpinôCarôlô chết vào năm 810 và 811. Carôlô Cả, năm 813 đă đích thân đội triều thiên cho con. Trong vụ này Giáo Hội bị loại ra ngoài: chính Hoàng Đế  đă truyền ngôi cho con: “chính do sự nhất trí của người Franc, vua Lu-y đă kế vị cha” (Eginharđô). Vậy Đế Quốc muốn tách sự bảo hộ của Giáo Hội. Năm 816, đến thành Reims, Đức Giáo Hoàng Têphanô IV đă đội triều thiên cho Lu-y, trong một lễ tấn tôn thật sự và tuyên bố “Phêrô lấy làm vinh dự tặng ngài món quà này để ngài bảo đảm những quyền lợi chính đáng về tông toà”. Nhưng đó chẳng qua là một lễ nghi mà thôi.

Năm 817, Lu-y lại tái diễn cử chỉ của Carôlô Cả, bằng cách tự tay đội triều thiên cho trưởng nam của ông là Lôthariô trong một đại hội nhóm tại Aix (năm 823, khi Lôthariô qua Roma, Đức Giáo Hoàng Pascalê I vội vàng làm lễ tấn tôn cho ông!). Hơn nữa, Lu-y, trong các văn bản chính thức, không sài các tước hiệu vua nước Pháp và Lombarđô nữa, mà xưng là Hoàng Đế Augustô!

Thế là giữa Giáo Hội và Đế Quốc  tiềm tàng tranh chấp. Quanh Lu-y có một đảng chính trị rất đoàn kết, một bộ chỉ huy gồm các chức sắc, các nhà ngoại giao và các cán bộ cao cấp, tự coi là người nắm giữ học thuyết Âu Tinh, theo đó, Hoàng Đế do Thiên Chúa tuyển chọn, là đại diện Đức Kitô, phải đản bảo cho toàn thế giới Kitô giáo được hoà b́nh, trong đức tin duy nhất. Họ chủ trương một Đế Quốc  Kitô giáo thống nhất. Họ bảo vệ quyền lợi quốc gia, chống lại các công tước, các ông bự, chủ trương sứ quân phong kiến. Họ phản đối việc dân sự can thiệp vào việc bổ nhiệm Giám mục và chủ trương canh tân. Họ ủng hộ thuyết một kế thừa duy nhất, chống lại truyền thống chia nước của người Franc.

Lúc đầu triều Lu-y họ thắng thế: lễ đăng quang của Lôthanriô năm 817, di chúc ban toàn Đế Quốc  cho con trưởng, những người khác chỉ được những thái ấp nhỏ, là bằng chứng Lu-y theo thuyết trung ương tập quyền tuyệt đối này, nên khi cháu ông là Bênađô, phó vương ở Ư, mới 20 tuổi, bị bọn bất măn dụ dỗ, muốn độc lập, Hoàng Đế  đă đập tan cháu không thương xót!

Th́nh ĺnh mọi sự thay đổi. Lu-y là một kẻ yếu đuối và “mát”. Những cơn giận của ông rất đáng sợ (Bênađô là một nạn nhân), sau đó ông lại sẹp, hạ ḿnh sám hối và tha thứ tất cả. Lu-y– Quá Tốt …! Một kẻ địa vị cao như ông, mà cảm thấy ḿnh khốn cùng suy niệm, đọc sách tôn giáo, cầu nguyện, đẹp quá đi chứ, nhưng với điều kiện là những nhân đức Kitô giáo kia phải đi đôi với những đức tính cần thiết cho đấng bậc ḿnh (như Thánh Lu-y vua nước Pháp sau này chẳng hạn). C̣n Lu-y – Mộ Đạo, Lu-y – Quá Tốt của chúng ta chỉ là một thầy tu thiếu sót và thầy tu nửa mùa này lại thống trị thế gian! Năm 822, bốn năm sau khi đối sử tàn nhẫn với Bênađô (cậu này bị mắt móc chết), Lu-y lên cơn sám hối, ông làm việc đền tội công khai, tuyên bố trước mặt triều đ́nh rằng ông cảm thấy có tội trong nhiều trường hợp, về Đức tin, về đời sống, về chức năng. Hạ ḿnh sám hối, đối với một người thường rất đẹp, nhưng đây là nhà lănh đạo quốc gia…

Hơn nữa vị thầy tu nửa vời này lại rất đa t́nh. Năm 40 tuổi ông tái giá với người đẹp Giuditha, ông đă chọn trong một cuộc thi hoa hậu, bà này sanh thêm cho ông một Hoàng tử, đặt tên là Carôlô, tức “Carôlô – Sói đầu” sau này. Ông muốn bảo đảm cho Hoàng Tử bé, lúc đó chưa sói đầu, một lănh địa ngang với lănh địa của các anh, trong cuộc chia nước năm 817. v́ thế băo táp đă nổ ra. Đảng thống nhất cũng như 3 Hoàng Tử bị bớt phần chống lại ông. Chiến dịch vu khống – trong đó nhân đức của bà Giuditha bị ngược đăi – tiếp theo bà phản loạn. Suốt 10 năm, hết cách mạng cung đ́nh tới nội chiến. Lần đầu vua cha bại trận, lại buộc phải trở lại quyết định 817. Rồi do ảnh hưởng Giuditha, ông lại bắt đầu chính sách chia nước mới. Các con liên minh chống lại cha. Bị mọi người bỏ rơi, trong một trận đánh ở Alsaces ông bèn thoái vị tại Compiègne năm 833, với một thái độ hết sức khiêm nhường. Mấy tháng sau ông được phục vị. Ông lợi dụng cái chết của một người con, là Pêpinô, để tăng phần cho cháu  Carôlô – Sói Đầu. Thế là giặc lại nổ ra, và ông băng hà năm 840, vào đúng lúc con ông Lu-y tiến công chống ông.

Thái độ Giáo Hội trong giai đoạn này:

Trước hết là vai tṛ các Giám mục Franc (các Đức Giáo Hoàng c̣n dè dặt), những đấng ở trong phe chủ trương thống nhất là quyết định. Họ vẫn nuôi lư tưởng một Đế Quốc  Kitô giáo thống nhất, do giáo quyền thống trị. Khi Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IV, bị Lôthariô, hoàng tử phản loạn lôi đi theo, trong trận Alsace – Lorraine, chống lại vua cha Lu-y, th́ Đức Giáo Hoàng tỏ ra do dự, v́, làm thế, người nghiễm nhiên trở thành kẻ thù của Hoàng Đế , của đế quyền th́ chính các vị Giám mục kia đă chứng minh cho người thấy rằng: chính người nắm quyền tối thượng, không ai có quyền xét xử người, nhưng người xét xử mọi tín hữu, trong đó có Hoàng Đế. Ở Compiègne, khi Hoàng Đế phải nh́n nhận tội lỗi trước ngày thoái vị, th́ chính các vị Giám mục Franc này đă làm biên bản về việc đền tội này.

Thái độ trên, sở dĩ có, bởi v́ “các Giám mục là đại diện của Đức Kitô, cầm ch́a khoá nước trời”. Học thuyết của các Giám mục vẫn là học thuyết của Thánh Âu Tinh, trong Thành Tŕ Thiên Chúa. Hoàng Đế chỉ cai trị hợp pháp, khi bảo đảm hoà b́nh và công lư trong khắp thế giới Kitô giáo  và trong trường hợp này, Giáo Hội ủng hộ quyền Hoàng Đế. Nhưng giáo quyền, v́ là quyền tinh thần, ở trên quyền Hoàng Đế, và Giáo Hội tự dành quyền bầy tỏ thái độ của ḿnh. Nếu Hoàng Đế lỗi bổn phận, Giáo Hội sẽ bỏ và kết án Hoàng Đế. Đức Grêgôriô IV nói: “Ta có một sứ mạng về hoà b́nh và công lư, đó là hồng ân của Đức Kitô và là chính thừa tác vụ của Người”. Thẩm phán xét xử tội lỗi, Giáo Hội lần đầu đ̣i quyền xét xử ngay cả các vua chúa.

Sự thay đổi thật nhanh chóng, từ khi các Giáo Hoàng c̣n “nhẹ kư” trước một Carôlô Cả, đến nay chỉ có một thời gian ngắn. Nói cho ngay ở hội nghị Conpiègne, năm 833, dù quá đông giáo sĩ, nhưng không phải là một Công Đồng, không phải Giáo Hội lật đổ Lu-y, mà là Lôthariô con ông. Đức Giáo Hoàng và các Giám mục chỉ cổ vũ thôi. Bây giờ chưa phải là lúc Giáo Hội “truất phế” một Hoàng Đế như thế kỷ XI, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô VII sẽ làm, đối với Henri IV Hoàng Đế nước Đức…

3. Huynh đệ tương tàn

Lu-y qua đời năm 840. trước khi chết, ông trao gươm và triều thiên cho trưởng nam là Lôthariô. Ông này liền đ̣i các em phải thần phục hoàn toàn. Và Giáo Hội ủng hộ ông, nghĩa là ủng hộ nguyên tắc thống nhất. Trong triều ông có nhiều Tổng Giám mục, Đan Viện Trưởng, trong số có Rabanô Maurô, ở Fulda. Nhưng lư tưởng Đế Quốc Kitô giáo thống nhất bị nhiều phe nhóm ly khai tấn công. Lu-y và Carôlô, hai em của Hoàng Đế Lôthariô, liên kết chống anh, đ̣i độc lập cho Vương Quốc của họ, vào năm 840. Lôthariô thua, việc này bị coi như Chúa xử. Ngoài chiến trường, trong khi an táng những người tử trận, các Giám mục tuyên bố: chiến tranh chống lại Lôthariô là đúng. Ư tưởng thống nhất xẹp.

Lúc đó Giáo Hội nghĩ ra một quan niệm mới là hoà giải ba vua, một nền hữu nghị giữa các vua. “Đoàn kết trong bác ái Đức Kitô”, ba vua Tây Phương cùng nhau cứu văn sự thống nhất tinh thần của thế giới Kitô giáo.

Hai vua thắng trận, siết chặt quan hệ bằng Lời Thề ở Strasbourg (Lu-y người Nhật Nhĩ Man thề bằng tiếng Đức-Nhật Nhĩ Man, Carôlô Đầu Sói bằng tiếng Roma. Các bản văn này là những tư liệu đầu tiên bằng tiếng Đức và tiếng Pháp), trong đó họ thề bảo vệ anh em, cam kết giúp nhau. Lời thề đoàn kết này nhắm … đánh vào anh cả Lôthariô! Vụ kiện xảy ra ngay tại Aix (thủ đô của Hoàng Đế). Sau mấy tháng do dự, thương lượng, mua bán, người ta đi đến giải pháp. Đó là hoà ước Verdun, năm 843 hết sức nổi tiếng. Đế Quốc được chia làm 3 phần:

+Carôlô Đầu Sói nhận Vương Quốc Tây Francia (tức nước Pháp)

-Lôthariô nhận giải đất chen vào giữa, dài từ Hà lan tới Roma, gồm luôn 2 thủ đô Đế Quốc Tây Phương (Aix và Roma) với quyền Hoàng Đế. Đó là xứ Lôtharingia, trái độn giữa 2 Vương Quốc Pháp và Đức

Lư tưởng hữu nghị luôn được Giáo Hội nhắc nhở các phe liên hệ, qua các Công Đồng. Công Đồng năm 844 nói: “Quư vị hăy cẩn thận giữ đức bác ái giữa quư vị, hăy giúp đỡ nhau ư kiến và mau mắn trợ giúp nhau … hăy phục vụ hoà b́nh…” Giáo Hội thúc đẩy các vua hội họp. Luật pháp xuất hiện áp dụng chung cho cả 3 Vương Quốc.

Nếu Đế Quốc đă được thiết lập như một quyền lực thống nhất, nay bị chia rẽ, th́ vẫn c̣n một cái ǵ tồn tại nguyên vẹn, bất chấp mọi chia rẽ huynh đệ tương tàn, đó là Giáo Hội.

Các Giáo Hoàng dường như vẫn c̣n dè dặt. Các ngài đang có nhiều khó khăn. Như : kế vị nhau qua nhanh trên toà Thánh Phêrô (hàng chục đấng trong 20 năm). Bị người Ảrập Phi châu, người Serbia, người Hồi Giáo Tây Ban Nha đe doạ, mưu mô của Đế Quốc Lamă phá rối, như dấy lên các nguỵ Giáo Hoàng. Kinh nghiệm của Đức Grêgôriô IV, năm 833, cho thấy: dây vào những vụ tranh chấp giữa cha con, anh em thù địch không có lợi ǵ cho Toà Thánh. Tuy nhiên các Giáo Hoàng cũng ủng hộ chính sách hữu nghị, hoà hợp huynh đệ. Đức Sergiô II (844-847) viết cho 3 anh em, sau hiệp ước Verdun rằng: nếu họ không đoàn kết trong hoà b́nh Công Giáo, th́ người sẽ can thiệp chống lại họ. Đức Lêô IV cũng nhắc lại như vậy và đ̣i họ phải duy tŕ hoà b́nh và đảm bảo công lư.

Điều mà hệ thống hữu nghị thiếu sót, đó là không có một quyền b́nh có khả năng vượt lên mọi tranh chấp quyền lợi và bắt buộc áp dụng một số nguyên tắc. Hoàng Đế được các vua nh́n nhận chỉ là một cái bóng ma. Năm tháng trôi qua, sự nghi ngờ gia tăng giữa các anh em.

Lu-y người Nhật Nhĩ Man, với lũ con răng dài của ông, không dấu diếm ư đồ thống nhất bằng vũ lực, có lợi cho họ. Cả Lôthariô, cả Carôlô đều phải đoàn kết, chống lại họ. Nhưng chính bản thân 2 ông này cũng vẫn “xâu xé nhau như chó”.

Năm 855 Lôthariô chết. Vùng trái độn đổ. Trung thành với truyền thống chia nước tai hại, Hoàng Đế trước khi chết, đă chia nước cho 3 con:

-Lu-y II, con cả, làm Hoàng Đế và chiếm nước Ư.

-Lôthariô II chiếm miền Bắc: Vương Quốc Lotharigia (Alsace Lorraine)

-Carôlô Cả phần c̣n lại (Jura, Alpes, Provence)

Lập tức Lu-y người Nhật Nhĩ Man thèm muốn xứ Tây Pháp. Lợi dụng sự lộn sộn nội bộ trong Vương Quốc Carôlô Sói đầu, Lu-y người Nhật Nhĩ Man liền xông vào nước Pháp. Có lúc người ta tưởng hai miền nước Pháp sẽ hàn vào một dưới quyền của Lu-y người Nhật Nhĩ Man. Nhưng hàng Giáo sĩ xứ Gaule đă cứu nước Pháp. Bất măn v́ chiến tranh huynh đệ tương tàn, các Giám mục phản đối Lu-y, nhắc ông nhớ rằng Giáo Hội đă ban triều thiên cho ông, Giáo Hội có quyền lấy lại, như Samuel bỏ Saul, để phong vương cho David. Đây là một bước tiến nữa của giáo quyền. Giáo quyền không c̣n chỉ coi ḿnh như người kiểm soát các vua, mà ban đầu khẳng định rằng: bằng việc xức dầu, Giáo Hội làm ra các vua.

Sự đề kháng của hàng giáo sĩ Pháp đă giúp Carôlô Đầu Sói tái lập quân lực và thắng được ông anh quư. Nhưng người thắng trận thực sự là Hincmarô, Giám mục Reims, linh hồn của cuộc kháng chiến, một trong những người đầu tiên đă linh cảm được cái mà thời Trung Cổ sẽ được gọi là “thế giới Kitô giáo” (Chrétienté) nghĩa là nền hữu nghị của xă hội những người đă chịu phép rửa tội. Dưới sự hướng dẫn của ông, một đại hội được tổ chức ở Metz gay gắt kiểm điểm Lu-y v́ tội “chia rẽ Giáo Hội duy nhất”. Sau 2 năm thương thuyết, năm 860 đi đến chỗ đặt nền tảng cho một nền hoà b́nh khá bền. Giáo Hội đă cứu được sự thống nhất của Tây Phương.

Giờ đă điểm. V́ t́nh h́nh đă quá xấu, sứ quân, nội chiến, những băng ăn cướp mọc lên, núp dưới chiêu bài ủng hộ vua này, vua nọ, chúng tấn công các đan viện, bắt cóc các nữ tu, toàn bộ cộng đồng. Ngay thời mọi rợ cũng không đến nỗi thế. Điều này người ta gọi là “sống theo kiểu người Bắc” (Vivre à la Normande) bởi v́ những băng kẻ cướp này không ngần ngại liên minh, hoặc hội nhập với hải tặc người phương Bắc. Và những người phương Bắc (Nordman) là cơ nguy lớn đang đe doạ xă hội bấy  giờ.

4. Những người Phương Bắc.

Vào thế kỷ IX, tại Âu châu  Kitô giáo, 2 tiếng “người Bắc” bao hàm biết bao sợ hăi. Khi các tiền đồn báo động bọn hải tạc tới cửa sông là người ta đánh chuông báo động, người ta di tản, các thành luỹ đầy bảo vệ ngơ ngác, ú ớ. Hải tạc Phương Bắc bao trùm bí mật, chúng từ trong sương mù nhô ra, chúng rất dă man, chúng là biểu tượng h́nh phạt Chúa đổ xuống Âu châu tội lỗi! Phụng vụ hát: “Kẻo phải tay rợ Bắc Phương – Chúa chữa chúng tôi!” “Người Bắc” (Nordman) là từ chung để chỉ ba nhóm rợ lớn: Đan Mạch, Na Uy và Thuỵ Điển. Xă hội của họ gồm hai loại người tĩnh tại (nông dân, chăn nuôi, tiều phu, chạm gỗ) và lưu động. Đối với hạng này, chiến tranh là nguồn tài sản quyền lực và uy tín, được văn học nghệ thuật tôn vinh. Vua của họ thống trị một nhóm bộ lạc, bằng sức mạnh rất quyền uy và được tôn kính. Để chinh phục, họ có một loại dụng cụ hữu hiệu nhất là thuyền, vô địch thời đó. Khi vua chết th́ nằm trong những thuyền này, nên bây giờ ở các viện bảo tàng Bắc âu, mới c̣n. Có cái dài tới 25m, chạy bằng mái chèo, hoặc buồm. Chính trên những thuyền này, dưới sự chỉ huy của các lănh tụ hành quân dặc biệt gọi là Viking, rất oai hùng, người Bắc đă lao ḿnh vào những cuộc phiêu lưu táo bạo và bất bại.

Bất cứ ḍng sông nào họ cũng vượt qua, có khi họ vác thuyền mà đi. Rời thuyền, thuỷ thủ liền trở thành kỵ binh, ngựa họ bắt trong các xứ bại trận, hoặc mang theo trên tầu. Rợ Hồ ngày xưa, hoặc người Hungari sau này, bất lực nếu không có ngựa. Người Bắc là ông tổ lính thuỷ đánh bộ. Dụng cụ chiến tranh của họ thật hoàn hảo.

V́ thế họ mở rộng phạm vi hoạt động ra măi. Lần đầu tiên, họ cướp phá một Đan viện, ở North Umbria, năm 793. Trong 30 năm, họ chỉ cướp phá các đảo, rồi họ kiểm soát các cửa sông. Người NaUy nhắm vào nước Anh và Ái Nhĩ Lan. Năm 840, họ thiết lập ngay trên đảo Ái Nhĩ Lan của Thánh Patricio và một Vương Quốc Nordman ngoại giáo  tồn tại tới thế kỷ XII. Người Đan Mạch cướp phá lục địa. Thành Paris trong 40 năm bị vây 4 lần, cướp 3 lần, đốt 2 lần.

Thường các vua chống lại họ bằng cách “tự chuộc”, nghĩa là nạp một số tiền cho kẻ cướp, để nó tha cho, như Carôlô đầu Sói, Lôthariô II và nhiều người khác. Nhiều nơi chính quyền Tây Phương không làm ǵ cả, không chiến đấu, không thương thuyết. T́nh h́nh khoảng năm 850 rất bi đát, nông dân không dám cày cấy. Chỉ c̣n nước trốn. Hài cốt các Thánh được di tản lung tung, như hài cốt Thánh Martinô, Thánh Philibertô, việc này khiến ḷng sùng kính các Thánh phổ biến đi rất xa nơi nguyên quán của các ngài.

Giáo Hội không vất vả lắm để chứng minh rằng đây là bằng chứng Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ. Nhiều Công Đồng họp, tuyên bố theo thuyết Thánh Âu tinh, rằng tội lỗi Kitô hữu là nguyên nhân mọi bất hạnh. Lần này Giáo Hội hiếm có những vị lănh đạo anh hùng như trong thời mọi rợ xâm nhập, hầu như không có các Giám mục “bảo vệ thành”, các linh mục th́ chỉ biết rên lên rằng: “chính v́ tội lỗi anh em mà Thiên Chúa đă phạt chúng ta” và khuyên nhẫn nại từ bỏ. Nói cho ngay, rợ Bắc Phương không giống quân mọi rợ thế kỷ V. Người Normand tấn công nhiều nhất là các đan viện, những trung tâm của nền văn minh Carôlô, ở đó họ gặp được những kho tàng giầu có, là ḥm đựng hài cốt các Thánh, vựa lúa tràn đầy… Sau 4 thế kỷ, t́nh h́nh Giáo Hội đă thay đổi: hàng giáo sĩ trở thành đại tư sản. Vô số Đan viện được thành lập và sự giầu có của những đan viện ấy làm bọn hải tặc động ḷng tham. Mặt khác, người Phương Bắc độc ác hơn người Nhật Nhĩ Man nhiều. Người Nhật Nhĩ Man là một dân tộc nửa xâm lược, nửa di cư, c̣n rợ Bắc Phương, lính ít thôi, toàn thiện chiến, măi về sau họ mới nghĩ tới việc định cư. Giáo Hội bị hải tạc nhắm nhiều nhất, chúng đánh úp. V́ thế mà vào thế kỷ IX, Giáo Hội không có được những Giám mục hiền hách như thế kỷ V. Làm thế nào một Giám mục thế kỷ IX có thể thương thuyết với viên chỉ huy hải tạc, đă quyết định đánh thành Giám mục? Ngày 24 tháng 6 năm 843 Giám mục thành Nantes bị tàn sát ngay trước bàn thờ Thánh Ferrêol, trong nhà thờ thánh Phêrô và Phaolô, c̣n nói ǵ bây giờ? Chính các Thánh bổn mạng nhà thờ và đan viện đă đem học tới, không phải bản thân các ngài, mà là cái ḥm đựng hài cốt quư báu!

Nhưng cũng có những trường hợp đặc biệt. Nhiều nơi các tu sĩ đă đón người tị nạn và chiến đấu chống lại hải tạc. Cả một số Giám mục, như Foulques thành Reims, đích thân ngủ tại cửa thành. Năm 885, thành Paris cầm cự cả năm, bên cạnh công tước Eudes con của Robertô-Khoẻ tổ tiên nhà Capêtô, Đức Giám mục và đan viện trưởng Thánh Germanô-Đồng Nội. Khi lănh tụ người Bắc tới, chính Đức Giám mục đón họ tại toà Giám mục, từ chối đồng loă. Trong khi đó, chính quyền hết sức bất lực. Carôlô-Bự, ḍng dơi Carôlô Cả, thay v́ chiến đấu, đă nạp xứ Bourgonia cho rợ Phương Bắc, để chúng thôi hăm thành.

Ngoài ra Giáo Hội c̣n theo đuổi mọi sự nghiệp lớn lao, là làm cho rợ Phương Bắc trở lại. Người Bắc lúc đó là ngoại giáo, thờ thần chiến tranh, hoặc nông nghiệp, của người Nhật Nhĩ Man. Lu-y Mộ Đạo, lợi dụng cuộc cách mạng cung đ́nh ở Đan Mạch, thiết lập quan hệ hữu nghị với vua Haralđô II (c̣n trong bóng tối), Giám mục Mayencia lợi dụng lúc người mọi rợ ấy ở trong thành của ngài, để thuyết phục ông ta chịu phép rửa tội. Sau đó người ta gửi thừa sai đến tận các xứ miền Bắc, trong đó có Thánh Anschairô, táo bạo hơn Thánh Bônifaniô, v́ Thánh Bônifaciô hoạt động dưới sự bảo vệ của quân đội Pháp, c̣n Thánh Anschairô dấn thân vào đất ngoại, giáo hạt giống tin Mừng ở Đan Mạch, Thuỵ Điển. Năm 845, quân Viking Na Uy phá tan sự nghiệp của người, người lại làm lại. Cuối cùng tạo được 2 trung tâm Kitô giáo, là BIRCA và RIBE, tiên báo việc Tin Mừng hoá năm 1000.

5. Mong chờ một Giáo Hoàng Chế mạnh

Trong thế kỷ IX, Giáo Hội mở rộng ảnh hưởng. Nhờ Carôlô Cả và Lu-y Mộ Đạo, hàng giáo sĩ được chọn lọc kỹ hơn, huấn luyện khá hơn, sẵn sàng chiếm lấy địa vị hàng đầu trong thế giới Kitô giáo.

Về tín lư tầm quan trọng của Tây Phương bắt đầu tăng lên, loan báo sẽ nở rộ vào thời Trung Cổ sắp tới, như vụ Filioque, hoặc các cuộc tranh căi về phép Thánh Thể, về sự tiền định. Về chính trị, trong một Âu châu hỗn loạn, chỉ c̣n có lễ tấn tôn là một thực tại chắc chắn, tầm quan trọng của nó ngày một tăng lên. Công thức đội triều thiên nói: “Ngài hăy nhận lấy vương trượng, biểu tượng của vương quyền để ngài lănh đạo tốt Giáo Hội và dân Kitô giáo, đă được chao phó cho ngài”. Vua chỉ là vua, khi vua phục vụ Giáo Hội, các vua cũng công nhận như thế: Carôlô Đầu Sói, năm 859, bị đe doạ truất phế đă nói: “Kể từ khi trẫm được tấn tôn, trẫm không thể bị ai truất phế, mà không được các Giám mục, là những vị đă thánh hiến trẫm, xét xử trước”. Như thế rơ ràng đă nh́n nhận các vị lănh đạo Giáo Hội có quyền truất phế các vua. “Các giáo chủ có thể tấn tôn các vua, nhưng các vua không thể tấn tôn giáo chủ!” (Hincmarô)

Hincmarô, Giám mục Reims là lư thuyết gia về thượng quyền tinh thần, nghĩa là trong thực tế, lẫn lộn đạo đời có lợi cho đạo. Lư tưởng của ông là một Đế Quốc vinh quang, quyền uy, hoàn toàn được tổ chức theo các nguyên tắc công lư, nhưng là một Đế Quốc do Giáo Hội chỉ huy, do một số ít Tổng Giám mục quyền uy nắm trong tay (chế độ quả đầu), đưa tới thành tŕ Thiên Chúa. Lư tưởng này chính là lư tưởng của Carôlô Cả. Có thể, lúc đó, đây là kế hoạch duy nhất có giá trị, nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề khó khăn.

a) Chế độ phong kiến, lúc đó tự h́nh thành ở khắp nơi, nhằm sáp nhập Giáo Hội bằng 3 cách:

Các vua tịch thu (“thế tục hoá”) đất đai của Giáo Hội, phát cho những kẻ trung thành với ḿnh.

Nhiều linh mục, Đan viện trưởng, Giám mục “đặt ḿnh” dưới sự chỉ huy của một lănh chúa, quan hệ chính trị thay thế quan hệ giáo luật. “chẳng những tài sản Giáo Hội, mà ngay cả các nhà thờ cũng trở thành tư hữu của người đời”

Các vua chúa nghĩ ḿnh có quyền ban tước trong Giáo Hội, cũng như ngoài đời: các ngài phong một đầy tớ tốt lên làm đan viện trưởng một tu viện giầu có, như là phong họ làm một công tước, trông coi mọi tỉnh vậy–mà thường là cả 2. Các Toà Giám mục các đan viện trở thành bổng vua ban.

Kết quả là: cha sở bỏ đoàn chiên đi làm tuyên uư cho lănh chúa, có khi làm quản lư lănh địa của ông ta nữa. Đức đan viện phụ ra trận với một nhóm người trang bị vũ khí, theo lời tuyên thệ trung thành phong kiến. Tài sản giáo xứ bị coi là tư bản, đem ra khai thác, thuế thập phân bị tiếm dụng, tặng dữ của Kitô hữu bị ăn cắp trắng trợn. Các đan viện, các toà Giám Mục rơi vào tay người đời. Hàng giáo sĩ chân chính giảm đi, bắt buộc phải ăn xin, như các công đồng nói. Các chức vụ, xưa kia rất khả kính, nay chỉ định cho những kẻ bất xứng: Nàng Waldrada, vợ nhỏ của Lôthariô II được đức ông chồng ban cho một đan viện… nam, để người làm đan viện mẫu!

Trước vấn đề này nhiều tiếng phản đối, như Wala, đan viện trưởng Corbia, phản đối Lu-y Mộ Đạo, và các vị khác phản đối Pêpinô xứ Aquitania, chống Carôlô Đầu Sói v.v… Tại công đồng Yutz 836, trước mặt 3 vua họp lại, các Giám mục đă lớn tiếng yêu cầu chấm dứt lạm dụng. Ở Paris 846, Carôlô Đầu Sói phải hứa thôi không phong người đời làm đan viện phụ nữa, không thế tục hoá tài sản Giáo Hội nữa và trả lại những ǵ đă chiếm. Nhưng chỉ là hứa hăo.

b) Giáo Hội muốn áp đặt quyền bính của ḿnh trên xă hội loài người, nhưng quyền ấy do ai thi hành? Trong các cuộc tranh chấp chính trị, những người nắm vai tṛ số 1 là các Tổng Giám mục. Các ngài là những nhân vật đáng kể, có họ hàng với những nhân vật đáng kể, được mời vào triều, làm đại sứ, làm bộ trưởng, tạo thành hàng quư tộc Giám mục. Các ngài coi Giám mục thường như thuộc cấp, và các vua như kẻ thừa hành. Khi đế quyền suỵ đổ, các Tổng Giám mục đă đứng lên. Các ngài tranh chấp, trên với Đức Giáo Hoàng, dưới với các Giám mục. Các Giám mục thấy quyền bính của ḿnh bị giảm thiểu, không thể chịu được, trên bởi các Tổng Giám mục, dưới bởi các Giám mục phụ tá (Chorévêque). Các vị này, trên nguyên tắc giúp các Giám mục ban Bí tích. Định chế này từ Đông Phương du nhập, vào thế kỷ IV, V. Các vị này rất gần gũi nhân dân, có ảnh hưởng rất lớn, đă lấn át các Giám mục mà các vị đại diện, thường ở rất xa. V́ thế người ta đă thay thế các vị phụ tá này bằng chế độ Tổng Phó Tế.

Trong cả hai vấn đề khó khăn – phong kiến và nhân sự nói trên cần phải có Đức Giáo Hoàng mới giải quuyết được. V́ thế có một trào lưu, do nhiều nguồn khác nhau, muốn đề cao quyền Đức Giáo Hoàng lên. Lúc đó xuất hiện một tư liệu, sau này lịch sử gọi là “Sắc lệnh dỏm” (Fausses Décrétales). Tác giả của nó cũng mang một tên dỏm, là Isiđôrô Mercatôrô. Không ai biết ǵ về lư lịch của ông cả. Đừng vội kết án thiên tài làm đồ dỏm này, v́ người thời đó không có ḷng kính trọng trong chân lư lịch sử, như chúng ta ngày nay hằng cao rao. Lúc đó có 2 tuyển tập sắc lệnh Giáo Hoàng và nghị quyết công đồng, một được thu thập tại Ư, vào thế kỷ VI, bởi vị tu sĩ trứ danh Đêny-Nhỏ (le Petit) và một tại Tây Ban Nha, vào thế kỷ VII. Với quan niệm làm vinh danh Chúa hơn, thiên tài đồ dỏm đă “chôm” luôn 2 tập này. V́ từ đầu đến thế kỷ IV không có tư liệu nào, nên người đă sáng tạo ra 60 tư liệu, từ Thánh Phêrô qua đời tới Thánh Melchiađê! Rồi đoạn sau người chen thêm 35 tư liệu do người bào chế, vào với các tư liệu thật. Và người công bố toàn bộ, và người đương thời cứ nhắm mắt lại mà nghiên cứu. Măi 8 thế kỷ sau, người ta mới phát hiện ra “đồ dỏm”!

Ư đồ của thiên tài đồ dỏm thật rơ ràng: người chỉ muốn canh tân Giáo Hội, cung cấp vũ khí để Giáo Hội chống mọi sự đe doạ.

-Chống các Giám mục phụ tá, người có những văn bản chứng tỏ rằng quyền hạn của các vị này rất hạn chế, nhất là không được ban các bí tích. Ảnh hưởng các văn bản này lớn đến nỗi ở Pháp, chế độ Giám mục phụ tá biến mất từ đây.

-Chống các Tổng Giám mục, người khẳng định rằng: ngày xưa, các giáo chủ (Giám mục) đại diện trực tiếp của Đức Giáo Hoàng, có đủ mọi quyền.

-Chống phong kiến “thế-tục hoa” tài sản Giáo Hội, tư liệu hăm he đủ điều.

-Nhất là tư liệu luôn nhắc tới việc chạy đến cùng Roma, hay tới Toà Thánh, khẳng định thượng quyền của đấng kế vị Thánh Phêrô.

Dĩ nhiên, Giáo Hội chế không cần tư  liệu dỏm để củng cố địa vị. Nhưng Toà Thánh cũng không thể dửng dưng trước trào lưu hướng về ḿnh, mà “sắc lệnh dỏm” là một chứng tá. Trong nhiều tư liệu của giáo triều Roma, ta thấy rơ ảnh hưởng của Isiđôrô Mercatôrô, tác giả “sắc lệnh dỏm”.

6. Thánh Nicôla I (858-867)

Vị đại Giáo Hoàng đầu tiên của thời Trung Cổ.

Giờ của các vị Giáo Hoàng đă điểm, lẽ ra nó tới sớm hơn 10 năm, dưới triểu Thánh Lêô IV (847-855), nhưng hoàn cảnh lúc đó chưa cho phép, v́ c̣n bận bảo vệ Roma chống quân Hồi Giáo. Chính người đă đội triều thiên cho Lu-y II, con Lôthariô tại Roma, năm 850. Sau ngài, Giáo Hội trải qua một cơn khủng hoảng dữ dội: nguỵ Giáo Hoàng Anastasiô, chống lại Giáo Hoàng hợp pháp là Đức Bênêđictô III. (Chính giữa 2 triều Giáo Hoàng Lêô IV và Bênêđictô III, những người bôi bác Giáo Hội thời Trung Cổ, cũng như Tin Lành, phe Voltaire…) đă muốn chen vào thời đại Nữ Giáo Hoàng Gioanna, dài 2 năm. Ngày nay người ta chứng minh rằng: giữa hai triều Giáo Hoàng này, chỉ có mấy tuần lễ. Có một đồng tiền Lamă mang h́nh Đức Bênêđictô III và Hoàng Đế Lôthariô (chết ngày 17/9/855), trong khi Đức Lêô IV qua đời ngày 17/7). Đức Bênêđictô III là người thánh thiện, nhưng yếu đuối, 3 năm triều ngài ghi dấu sự thoái bộ của quyền Giáo Hoàng. Các Tổng Giám mục xứ  Gaule lợi dụng để gia tăng sự tự trị của họ. Nhưng ngài có công phát hiện trong Giáo triều, một phó tế trẻ có hạng, là Nicôla, và chọn làm bí thư của ngài. Năm 858, Đức Bênêđictô III qua đời. Thầy Nicôla lên kế vị.

Đức Nicôla lên kế vị,  nhờ sự ủng hộ của Lu-y II nước Ư. Lúc đầu người ta tưởng người là thụ tạo của chính quyền. Khi thấy Hoàng Đế Lôthariô II tôn vinh ngài bằng những nghi thức xưa kia các vị lănh đạo phần đời vẫn bầy tỏ trước các nhà lănh đạo tinh thần, như phủ phục, dắt ngựa (mà từ thời Đức Hađrianô I, người ta không c̣n giữ nữa) th́ thiên hạ cứ tưởng là tṛ hề. Nhưng người ta đă lầm. Đức Nicôla xứng đáng là đấng kế vị các Thánh Lêô Cả và Grêgôriô Cả, người rất mạnh mẽ với cái bề ngoài khiêm tốn. Ngài đầy nghị lực, can đảm và hết sức khôn ngoan. Mục đích của ngài rất rơ: thiết lập quyền Giáo Hoàng trên hết mọi quyền bính dưới đất.

T́nh h́nh bấy giờ thuận lợi cho việc gia nhập sân khấu chính trị của Giáo Hoàng Chế. Nền “hữu nghị dỏm” của con cháu Carôlô Cả suy sụp vĩnh viễn, mở đầu thời kỳ khủng hoảng, kết quả là làm cho Đế Quốc Tây Phương suy thoái vĩnh viễn. Khi một vua chết, là họ hàng liền nhảy vào cướp sản nghiệp của ông. Tước vị Hoàng Đế, mà Lu-y II nước Ư mang sau khi Lôthariô I qua đời, mất tầm quan trọng. Tuy nhiên có một điểm bất lợi là sự đe doạ của người Hồi Giáo, khi Đức Giáo Hoàng phải kêu gọi tới binh đội Carôlô. Nhưng sau vụ cướp phá đền thờ Thánh Phêrô, năm 846, áp lực của họ giảm đi đến đời Đức Nicôla th́ cơ nguy Giáo Hoàng không c̣n trực tiếp nữa. Đức Giáo Hoàng có thể ra tay.

Việc Đức Giáo Hoàng can thiệp vào lănh vực chính trị là vụ li dị của Hoàng Đế Lôthariô II. Lôthariô đă sống chung nhiều năm với một cung phi, tên là Walđrađa (mà ông ban cho một Đan viện… nam để làm Đức Viện Mẫu!) có nhiều mặt con. V́ lư do chính trị, Hoàng Đế lại kết hôn với Thêuberga, em một công tước. Ông này cũng là Đan viện trưởng… thường dân của Đan viện Thánh Mauriciô-ở-Valais, mất phẩm chất. Mấy tháng sau Waldrada nổi cơn ghen với Hoàng Hậu chánh thức, sui Hoàng Đế bỏ bà ấy đi. Lôthariô cũng kiếm được mấy Giám mục dễ bảo cho vụ này. Hoàng hậu Thêuberga “thú nhận” nhiều tội lỗi, mà bà quả quyết đă phạm với ông anh gian ác, và hôn nhân bị huỷ bỏ. Nhưng khi tỉnh trí lại, bà liền phản cung, khiếu nại lên Đức Giáo Hoàng. Trong vụ này, bà được Đức Tổng Giám mục Reims, là Hincmarô ủng hộ. Đức Nicôla cũng ủng hộ hoàng hậu bị truất phế; trước mặt Lôthariô ngài khẳng định, hôn nhân bất khả phân, và buộc Lôthariô buộc phải nhận  hoàng hậu trở lại. Nhưng, đồng thời vụ này trở thành gút mắt trong chính trị Tây Phương, v́ nếu Lôthariô không có con với Thêuberga, chết không hoàng tử nối ngôi, th́ hàng xóm sẽ chia quyền kế vị của ông. Nhưng Đức Nicôla vẫn ngoan cường, dă man tàn bạo không làm người sợ, có đêm một ḿnh ngài chèo thuyền qua sông Tibrô, để thoát tay kẻ thù và trốn vào đền Thánh Phêrô. Cuối cùng Lôthariô phải nhận lại hoàng hậu, và không bao giờ dám đưa đức Đan Viện Mẫu Waldrada của ông lên ngôi. Tại công đồng Roma 865 Đức Giáo Hoàng là trọng tài Âu Châu, người ta phải nhận các phán quyết của ngài.

Chẳng những chiến đấu chống các vua chúa Tây Phương, Đức Giáo Hoàng c̣n đương đầu với triều đ́nh Byzancia trong suốt triều đại người nữa: ngài từ chối chuẩn y việc truất phế thượng phụ Inhă và đưa Phôtiô lên thay.

Ngày trong Giáo Hội ngài làm hết sức để quyền Giáo Hoàng được kính trọng.

-Tại Pháp, chính Tổng Giám mục Hincmarô cũng bị người hăm treo chức (a divinis). Người đưa ra thượng quyền Toà Thánh  để chống lại chủ trương quyền của các công đồng tỉnh và các Tổng Giám Mục Pháp.

-Tại Ư, Tổng Giám mục Gioan thành Ravenna đ̣i tự trị, tịch thu các địa phận chung quanh và áp bức thần dân của Quốc Gia Giáo Hoàng, liền bị mời tŕnh diện Roma. Gioan thành Ravenna vinh hiển toan né, liền bị ngài ra lệnh lên án! Lu-y can thiệp, Đức Giáo Hoàng nói với những người Hoàng Đế phái đến “quư vị dám bảo vệ một kẻ bị tuyệt thông ư?” rồi đích thân người đến Ravenna, trục xuất Tổng Giám mục Gioan, sửa lại những bất công do ông gây ra, một cách rất can đảm, khiến Tổng Giám Mục phải nhượng bộ.

Chỉ trong 9 năm vắn vỏi, vị đại Giáo Hoàng đă đặt Toà Thánh Phêrô vào một địa vị chưa từng có. Thoát khỏi sự thống trị của Byzancia, thoát ách chư hầu Đế Quốc Carôlô, Giáo Hoàng Chế quả đă lên đến thượng đỉnh thế giới Kitô giáo. Đức Nicôla thường nhắc đi nhắc lại rằng: “Tinh thần hơn xác thịt bao nhiêu, việc tinh thần cũng hơn việc trần thế bấy nhiêu”. Kẻ thù của người nổi giận: 2 Tổng Giám mục thuộc phe Lôthariô gọi Đức Nicôla là kẻ tự nhận là Giáo Hoàng, tự coi là tông đồ giữa các tông đồ, và tự bắc ḿnh lên làm Hoàng Đế cả thế giới. Nhưng phản kháng vô ích. Đức Nicôla I là vị Giáo Hoàng đầu tiên được nền văn minh Au châu nh́n nhận là vị lănh đạo của ḿnh, là vị Giáo Hoàng Trung Cổ đầu tiên, tổ tiên trực tiếp của các Đức Grêgôriô VII và Innôcentê III.

Nhưng sau ngài, hỗn loạn phong kiến lại thắng, và bản thân Giáo Hoàng cũng bị lôi cuốn vào cảnh hỗn loạn đó. Nhưng dù sao cũng đă có một gương mẫu, dù gương mẫu đó chưa được noi theo. Một nhà kư sự đă viết: “Từ thời Thánh Grêgôriô, không Giáo Hoàng nào so được với Đức Nicôla, người ngự trị trên các vua, các bạo chúa và bắt họ phục quyền người, như thể người là chủ thế giới vậy”

7. Tàn dư quá khứ-Hứa Hẹn Tương Lai

Giáo Hội phụ trách đời sống trí thức của Tây Phương, sau thời phục hưng Carôlô như thế nào?

Trong t́nh h́nh Âu châu lúc đó: liệu sự suy thoái chung có làm sụp đổ toàn bộ những kết quả tươi sáng mà cuộc Phục Hưng Carôlô đă đạt được không? Liệu sự tan ră của Đế Quốc có làm tan vỡ vĩnh viễn sự thống nhất văn hoá của Tây Phương không?

Cả hai nguy cơ này đều đă tránh được nhờ vai tṛ của Giáo Hội.

-Năm 829, các chức sắc nhóm họp tại Worms đă thỉnh cầu Lu-y–Mộ Đạo tiếp tục quan tâm đến các trường học “để những cố gắng của tiên đế không hoá ra vô ích”

-Việc Giáo Hội dùng tiếng Latinh trong Phụng vụ và học đường đă cứu văn sự thống nhất. Trong khi ngôn ngữ riêng, đi đôi với việc h́nh thành các quốc gia riêng. Giáo Hội đă cứu văn được nền tảng chung của văn minh Tây Phương.

-Nền văn học mang tính cách Giáo sĩ. Dần dần không c̣n người thường, như Eginharđô, làm văn hoá nữa. Văn sĩ thường dân duy nhất thời này là Nitharđô cháu Carôlô Cả, viết lịch sử chiến tranh huynh đệ, chính nhờ ông ta có văn bản Lời Thề ở Strasbourg.

-Nghề viết lách thuộc về các tu sĩ và linh mục…. Từ “Clerc”: “phần tử của hàng giáo sĩ” có nghĩa là “người có văn hoá”

-Trường học chuyên môn hoá: trường ḍng cho các tập sinh. Trường nhà thờ chánh toà cho các kinh sĩ tương lai.

Trước tráo lưu này cũng có người phản đối (như Thánh Bênêđiđô thành Aniana sợ học hành làm cho người ta trở nên kiêu ngạo, nhưng sự phản đối này không có tính quyết định: khắp Tây Phương tu viện trở thành trung tâm văn hoá.

-Các tu sĩ-sao-chép-viên hy sinh suốt đời để viết những hàng chữ-nhỏ-Carôlô, nắn nót trên giấy trắng, trang trí những chữ hoa, h́nh vẽ, có khi chen vào nguyên bức hoạ rất đẹp. Công việc nhẫn nại, đơn điệu này là nền tảng mọi sự phát triển trí thức. Chính nhờ các bản sao của họ trong các tu viện thế kỷ IX, mà chúng ta mới có được các tác giả cổ điển, (các bản sao trước đó hiếm lắm). Từ nước Ư (Ravenna, núi Cassinô, Bobbiô-một đan viện Colombanô), từ những thư viện phong phú, một bản chép tay quư giá, do mướn, hoặc mua, đă tới các tu viện ở xa, như Tours, Fulđa… Có khi đó là một trong những tác phẩm vô giá, sản xuất từ các xưởng ngày xưa ở Antiôkia, Alxanđria… Khi sách tới nơi là một biến cố lớn, là một vinh dự lớn cho “nhà ta”, lập tức các nhóm viết chữ đẹp liền làm việc, sao chép lại, rồi phổ biến đi khắp xứ.

-Các bậc thầy tư tưởng đều thuộc các đan viện lớn. Cũng có vài Giám mục nhà văn, nhưng hầu như tất cả các ngài đều là cựu tu sĩ (Tổng Giám mục Hincmarô xuất thân từ đan viện Thánh Đêni). Không đan viện lớn nào không sản xuất một vài nhân vật quan trọng.

-Nhật Nhĩ Man có các đan viện Fulada (mộ Thánh Bonifaciô) Corvey, Thánh Gallô… Fulda có Rabanô (784-856) được thầy ông là Alcuinô thêm cho tên Maurô để nhớ Thánh đệ tử ruột của Thánh Bênêđictô. Rabanô là chủ trường đan viện, thủ thư, rồi đan viện trưởng, ngài dây ḿnh vào tất cả mọi biến cố thời đại và các cuộc tranh chấp thần học.

-Lyon là một trung tâm trí thức có ảnh hưởng lan toả lớn, sản xuất ra Giám mục Agobarđô, Phó tế Florus

-Tây Pháp nhiều đan viện nổi tiếng: Thánh Đêni, Ferriêres, Thánh Martinô thành Iours, Thánh Biển Đức–trên–sông Loire, Jumiège Thánh Wandrillô, ở Normandie, Thánh Riquiêrô, nhất là Corbia… tất cả đều nổi tiếng, và đều có những nhân vật xuất sắc.

-Có thể nói chẳng những cuộc “Phục hưng” trí thức thời Carôlô vẫn tiếp tục khoảng 70 năm nữa, sau khi Hoàng Đế qua đời, mà nó c̣n phát triển mạnh là đàng khác, để rồi lu mờ vào cuối thế kỷ IX.

Các hoạt động trí thức, các môn tôn giáo dĩ nhiên là nổi nhất.

-Thần học c̣n chưa phân biệt với triết học,  nhưng nhiều người đă ư thức rơ ràng phương hướng phải theo.

-Luân lư, nhất là luân lư chính trị, tŕnh bầy những nguyên tắc đúng đắn (Gương các vua, Vương Đạo)

-Chú giải đă có ư tưởng giải nghĩa Thánh Kinh theo lịch sử càng đúng càng tốt, chứ không phải chỉ theo nghĩa tượng trưng.

-Truyện Thánh nở rộ, người ta viết lại hạng các Thánh, bút pháp có hay hơn, nhưng hiếm trung thực.

Các môn khác:

-Thi ca, nhất là bằng tiếng Nhật Nhĩ Man, có 3 tác phẩm (Tận Thế, Tin Mừng)  được coi như những cái mốc đầu tiên trong văn học Đức.

-Toán học, h́nh học Euclide và số học Nicomaccô cũng được dịch ra và cắt nghĩa. Khoa học tự nhiên: Động vật học c̣n thơ mộng, “phăng”, như coi cơn lân (licorne) cũng như con sư tử hay con ngựa, nhưng thực vật học được nghiên cứu nghiêm túc hơn, nhất là về sau (v́ tu sĩ ăn chay)

-Địa dư người ta cố gắng mở rộng kiến thức.

-Một tu sĩ sáng tác một bài thơ… sói đầu, chủ đề cốt lơi là tất cả mọi thiên tài đều… sói đầu, câu nào cũng bắt đầu bằng chữ C (Calvus: Sói!)

Tất cả các tu viện lớn đều ư thức về trách nhiệm văn minh hoá, các tu sĩ cố gắng làm cho các tín điều và luân lư của Tin Mừng thấm nhiễm tâm hồn b́nh dân. Trước khi có cuộc xâm nhập của rợ Bắc Phương, ảnh hưởng của các Đan viện Corbia, Thánh Biển Đức –trên sông Loire, Jumiège rất lớn. Trong các xứ Nhật Nhĩ Man, các tu sĩ có thói quen dịch các công thức rửa tội, các kinh nguyện cơ bản… ra tiếng b́nh dân, đă đóng góp rất nhiều vào sự phát triển và cố định tiếng Đức tương lai.

Nghệ thuật cũng không bị bỏ rơi, có tiến bộ là khác.

-Âm nhạc: Notker tu-thi-sĩ Thánh Gallô, rất giỏi âm nhạc, đă triển khai Ca Tiếp Liên. Phụng vụ Trung Cổ rất thích thể loại này.

-Kiến trúc thế kỷ IX vẫn mang tính cách linh cảm, t́m kiếm, ṃ mẫm, như thời Carôlô Cả. Mô h́nh nhà thờ Hylạp (Nhà nguyện cung điện Aix) biến dần, Mô h́nh Vương Cung Thánh Đường xưa lại chiếm ưu thế, ḷng ngang (transept), thích ứng từ đây, vẽ thành h́nh Thánh Giá trên mặt đất, nhiều nơi có 2 cung thánh (1 đông, 1 tây), để cho đối xứng, người ta thêm một ḷng ngang thứ 2 nữa, và một hậu tẩm. Cung thánh rất cao. Các nhà thờ ở Tây Phương, không thuộc đan viện, có một tiền đ́nh (atrium) để tránh tiếng ồn bên ngoài. Ṿm tháp vẫn tiếp tục được xử dụng cho mô h́nh thánh giá Hylạp, dui kèo vẫn c̣n lộ ra. Mái, ṿm trần (vôute) du nhập vào Tây Phương từ 3 thế kỷ, bắt đầu phát triển, tháp, giao điểm giữa 2 ḷng ngang-dọc, mọc lên hầu như khắp nơi, đôi khi c̣n thêm tháp canh – c̣n chưa dính vào với toàn bộ kiến trúc – dâng kính Đức Micae và Gabriel.

Các nhà thờ ít c̣n trang trí bằng các bức khảm, mà bằng bích hoạ, pannô sơn và kính mầu. Các tác phẩm này không tồn tại được đến ngày nay, nhưng ta có thể có một ư niệm về các nghệ thuật này, khi xem các tiểu hoạ (miniatures) trong các sách chép tay. Nghệ thuật tiểu hoạ đă khá kỳ diệu thời Carôlô Cả, nay trở thành những kiệt tác. Chủ đề được mở rộng, kỹ thuật đa dạng. Một số tác phẩm thời đại, như Thánh Kinh của Carôlô – Đầu Sói, ở Paris, Thánh vịnh ở tu viện Thánh Gallô… tuyệt vời. Các tiểu hoạ này duyên dáng kỳ lạ, v́ nghệ sĩ dùng mầu theo sở thích, chứ không theo thực tế,  như ngựa tím, hoặc xanh lá cây, mặt, lông, tóc đỏ, mầu ngọc… với ư đồ biểu tượng rơ ràng. Điêu khắc vẫn c̣n chạm ngà, làm b́a sách phụng vụ, c̣n hơi vụng.

Trong một thời đại bi quan tiêu cực, tất cả những điều kể trên tạo nên vài tia lạc quan. Đừng phán đoán đời sống trí thức thế kỷ IX qua những kinh điển thời nay. Đó là tư tưởng, là nghệ thuật của một xă hội mới lớn, c̣n ngây thơ, c̣n ṃ mẫm, giữa bắt chước quá khứ và táo bạo quá đáng, trong đó có nhiều sáng tạo hứa hẹn tương lai. Thế kỷ IX đặt nền tảng cho sự phát triển tương lai của nền văn minh trí thức và nghệ thuật, nhưng sự suy thoái về đạo đức, có thể kéo theo sự suy thoái về trí thức và nghệ thuật một cách dễ dàng…

8. Roma và cơ nguy Hồi Giáo

Năm 867, vị đại Giáo Hoàng Nicôla I vừa nhắm mắt, th́ triệu chứng thay đổi t́nh thế Giáo Hội và những điểm báo sự sụp đổ sắp tới đă biểu hiện. Nói cho ngay, thế giới Kitô giáo, ngay dưới triều đại Đức Giáo Hoàng Nicôla cũng có chỗ tối:

Nước Ư đang rơi vào cảnh hỗn loạn. Bắc thuộc người Franc (trừ Vênêzia), Nam thuộc Byzancia, Trung thuộc quốc gia Giáo Hoàng và quận công Lombarđô xứ Bênêventô. Các lănh chúa địa phương, các thành phố, đến cả các Giám Mục chính trị, đều muốn tự trị kiểu phong kiến. Sự hỗn loạn dẫn tới tạo phản, như người Napôli kêu người Ảrập đến giúp đánh người Lombarđô.

-Roma: mọi cuộc bầu Giáo Hoàng đều bị các phe phái dính vào.

-Quốc gia Giáo Hoàng, trong đó Đức Giáo Hoàng là vua, nhưng ngài có quyền bắt giam một quư tộc làm loạn, hay c̣n phải tham khảo ư kiến các vua Carôlô, nhất là vua ở Pavia? Ở đây, cũng như ở Roma, vấn đề tuỳ thuộc uy tín cá nhân, vào nghị lực của Đức Giáo Hoàng .

-Hồi Giáo: Đế Quốc Hồi Giáo lúc đó đang tan ră. Nhưng các mảnh của nó vẫn c̣n đáng sợ. Họ nhắm vào miền Nam nước Ư và đảo Sicilia. Năm 826 Hồi Giáo bắt đầu đánh đảo Sicilia; năm 831 họ chiếm thành Palermô; năm 839 thành Messina, năm 859 chiếm trung tân xứ này cả đảo Sicilia đang dần dần rơi vào tay Hồi Giáo.

Sự chia rẽ giữa người Kitô giáo giúp Hồi Giáo tiến vào nước Ư dễ dàng hơn. Năm 836 thành Napoli kêu gọi họ tới giúp chống quân Lombarđô, người Hồi Giáo liền “giải phóng”, nhưng lại ở ́ tại Tarentô… Năm 840 Kitô giáo phản bội lại nộp cho họ thành Bari. Năm 846, người Hồi Giáo chiếm PortôOstia, dọc sông Tibrô, họ đến cướp phá đền Thánh Phêrô (lúc đó c̣n ở ngoại thành Roma). Người Lamă phản công vô hiệu, may nhờ các bức tường cổ thành khiến họ quyết định rút lui, ẵm theo chiến lợi phẩm đă cướp được của đền thờ. Nhưng cũng như xưa kia quân Pharaon vùi thây nơi Biển Đỏ, quân Hồi Giáo cũng bị băo biển đánh ch́m. Thảm kịch xảy ra năm 846 này khiến người đương thời rất sợ hăi, kỷ niệm này c̣n tồn tại trong một bài ca nhan đề “Phá Thành Roma”. Người ta coi như lời cảnh cáo của Trời cao. Hoàng Đế Lôthariô đánh thuế đặc biệt để lấy tiền tái thiết Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô. Năm 848 Đức Giáo Hoàng Lêô IV cho xây một trường thành lớn để bảo vệ đền Thánh Phêrô, tạo ra thành Lêôni trong vườn Vaticanô.

Đức Hadrianô II (867-872): không bằng Đức Nicôla, nhưng không đến nỗi “theo đuôi Hoàng Đế” như người ta viết. Bề ngoài, bộ vó người không có uy tín chút nào: vừa chột, vừa thọt. Bản thân người lại có điều tai tiếng: người đă là linh mục từ 25 năm, trước khi chịu chức người đă có gia đ́nh. Người đem vợ và con vào ở trong điện giáo tông. Cô con gái Đức Thánh Cha lại bị một chàng trai hào hoa phong nhă tên là Eleuthêrô bắt cóc! Chẳng đặng đừng Đức Thánh Cha phải xin Hoàng Đế Lu-y II can thiệp chống lại kẻ dụ dỗ. Thật là ngậm đắng nuốt cay đối với một Đức Giáo Hoàng! Anh chàng Eleuthêrô liền giết người yêu và người mẹ vợ hờ, tức con gái và vợ Đức Thánh Cha! Dĩ nhiên uy tín Đức Hadrianô II xuống quá.

Trong Giáo Hội, tất cả những ai muốn tiếp tục sự nghiệp và chính sách của Đức Cố Giáo Hoàng Nicôla đều lo âu. “Bây giờ tất cả những kẻ bị Đức Thánh Cha trừng trị, v́ tội ngoại t́nh, hoặc tội ǵ khác, đều nhiệt t́nh làm việc để phá huỷ những ǵ người đă làm, xoá bỏ tất cả những ǵ người đă ra lệnh”. Riêng Đức Giáo Hoàng Hadrianô th́ lại không chối bỏ sự nghiệp của đấng tiền nhiệm: người buộc Hoàng Đế Lôthariô II phải thề không quan hệ tội lỗi với nàng ái phi kia nữa. Dù sao uy tín Toà Thánh vẫn cứ xuống.

Năm 865, Lôthariô qua đời. Các chú người là Carôlô-Đầu Sói và Lu-y người Nhật Nhĩ Man, muốn thu hồi sản nghiệp của cháu. Carôlô Đầu Sói nhanh tay, 4 tuần sau, liền đội triều thiên tại Metz. Rồi ông lại muốn “chôm” luôn tước vị Hoàng Đế của Lu-y II, vua nước Ư, người duy nhất có khả năng giúp nước Ư chống lại quân Hồi Giáo. Hai anh em Carôlô- Đầu Sói và Lu-y người Nhật Nhĩ Man thoả thuận chiếm gia sản người quá cố, bất chấp công bằng và lợi ích chung. Đức Giáo Hoàng liền phản đối, bảo vệ quyền lợi về lănh thổ của Lu-y II. Tổng Giám mục Reims, là Hincmarô, được vua trao nhiệm vụ, đă trả lời Đức Giáo Hoàng một cách rất hỗn sược, rằng chính trị th́ phải làm bằng gươm, bằng kiếm, chứ không phải bằng vạ tuyệt thông, và rằng nếu như các vấn đề tôn giáo thuộc quyền Đức Giáo Hoàng th́ các vẫn đề chính trị lại thuộc về các vua”. Chỉ mới 3 năm thôi, ḷng người đă thay đổi biết bao!

Triều Đức Hađrianô II là lúc thế quyền trở lại phản công chống giáo quyền. Để đối phó với mối nguy Hồi Giáo ngày một lớn, trong khắp miền Trung và miền Nam nước Ư, cần phải có một quân lực. Sức mạnh tối cần thiết ấy ở nơi Hoàng Đế Lu-y II.

Lu-y II sinh năm 822, là trưởng nam Lôthariô I, năm 22 tuổi làm phó vương tại Ư với tước hiệu “vua người Lombarđô”, năm 850 thêm chức Hoàng Đế. Người ngự tại Pavia, thủ đô của người Lombarđô, khi người đi đánh giặc th́ Hoàng Hậu Engelberga một người đàn bà đẹp và nghị lực cầm quyền. Lu-y II trị v́ 30 năm, đánh nhau liên tục, chống nhiều kẻ thù. Kẻ thù trước mặt không đáng sợ bằng kẻ thù đàng sau lưng, như quận công xứ Bênêventô, vài Giám mục các chú hoặc anh em. Ngay cái tước hiệu Hoàng Đế năm 850 – 4 năm sau vụ cướp phá đền Thánh Phêrô – Đức Lêô IV đă ban cho người v́ ḿnh người có khả năng chống quân Hồi Giáo, tước hiệu này cũng gây khó cho người. V́ Hoàng Đế Byzancia lúc bấy giờ là Basiliô I, người sáng lập ra nhà Macêđônia, không công nhận ngai vàng Pavia ngang hàng với ḿnh. Lu-y II đáp lại rằng: người được Roma của Thánh Phêrô tấn tôn, người kế thừa Roma xưa, là Hoàng Đế hợp pháp hơn các Hoàng Đế của “tân Roma”, một tên Đông Phương khả nghi, nói tiếng Latinh không thông!

Đức tin sâu sắc, trách nhiệm đối với thế giới Kitô giáo, Lu-y II, có ư tưởng rằng Thập Tự Chiến là tối cần thiết, phải loại Hồi Giáo ra ngoài Âu châu. Năm 847 ông ngăn chặn quân Ảrập gần Bênêventô 852 đập tan cuộc tấn công Hồi Giáo ở miền Nam, 866-871 đích thân chỉ huy các cuộc hành quân khó khăn tại miền Nam. Mục đích chính của ông là tái chiếm Bari, sau 4 năm ông đă thành công.

Thái độ các Giáo Hoàng:

Năm 855, Đức Lêô IV qua đời, người kiểm tra việc bầu cử tân Giáo Hoàng rất căng, đ̣i bầu lại Đức Bênêđictô III. Ba năm sau, phó tế Nicôla là ứng viên của người, quan hệ của hai đấng rất tốt đẹp, nhưng hai bên cùng mạnh cả, nên không tránh được đụng độ. Nhưng đến đời Đức Hadrianô II th́… hết! Dù Đức Giáo Hoàng đắc cử không có sự hiện diện của Hoàng Đế, và ngoài sự kiểm soát của ngài. Nhưng v́ sợ quân Hồi Giáo, Đức Giáo Hoàng hết sức o-bế Hoàng Đế như: “người không phí sức trong các trận huynh đệ tương tàn, giữa Kitô hữu với nhau, người chiến đấu để bảo vệ Giáo Hội, v́ sự an toàn của Toà Thánh, để giải phóng các tín hữu”…

Thế là từ năm 850-875 t́nh h́nh lại trở lại như thời Carôlô Cả. Việc lănh đạo thế giới Kitô giáo lại về tay Hoàng Đế chăng? Việc lựa trọn giữa hai quyền chưa có ǵ chắc chắn cả, nó tuỳ thuộc vào cá nhân của Đức Giáo Hoàng hoặc Hoàng Đế. Hiện chưa ngă ngũ. Bá quyền tinh thần, như Đức Nicôla chưa được: Đức Nicôla là một nhân vật ngoại hạng, điển h́nh cho tương lai, chứ hiện tại với Đức Hadranô II, bá quyền sao được? C̣n Hoàng Đế có kiên quyết tỏ ra là chủ soái, đối với các Vương Quốc của các chú của ông, nhưng quyền binh của ông chỉ giới hạn ở nước Ư mà thôi. Khi em ông là Lôthariô II qua đời, Carôlô Sói Đầu và Lu-y người Nhật Nhĩ Man chia nhau lănh thổ của ông ta, th́ Hoàng Đế cũng chỉ phản kháng vô ích.

Tháng 8 năm 871, trong một cuộc nổi loạn ở Bênêventô, Hoàng Đế bị bắt, rồi được giải phóng, đă nhận thấy rằng: tưởng người đă chết, các chú người liền nhào vào các quốc gia của người và bà Engelberga, vợ người, không biết làm ǵ hơn là làm cho 2 ông chú chồng  hiếu chiến kia chống lại nhau!

Trong khi đó Đức Hađrianô II qua đời (872). Năm 875, Hoàng Đế Lu-y II cũng chết, hưởng dương 53 tuổi, tuyệt vọng về một thế giới chỉ có hận thù và phản bội.

9. Đức Giáo Hoàng Gioan VIII (872-882)

Đức Gioan VIII là một Giáo Hoàng rất già, gần 70 tuổi. Từ ít là 40 năm rồi ngài đă phục vụ giáo triều, giữ nhiều chức vụ quan trọng, như cố vấn riêng của Đức Nicôla I. Ngay khi vừa lên ngôi, ngài đă tỏ ra đầy nghị lực: khi quân Hồi Giáo đổ bộ Terracina, cách Roma hơn 40 Km, người đă đích thân đến tận nơi, bắt 18 chiếc tầu và 600 tù binh.

Tuy vậy, nước Ư cần phải có người bảo vệ, sau cái chết của Hoàng Đế Lu-y II. V́ không luật kế vị cho Đế Quốc, v́ Carôlô Đầu Sói (Pháp) và Lu-y người Nhật Nhĩ Man (Đức) đều có thể làm Hoàng Đế, nên cả Tây Phương đều nhất trí cho rằng quyết định thuộc Đức Giáo Hoàng. Hơn nữa lễ tấn tôn Lu-y II trước kia là một tiền lệ, đă ấn định vĩnh viễn truyền thống cho rằng quyền lựa trọn Hoàng Đế thuộc về Đức Giáo Hoàng.

Đức Gioan VIII chọn Carôlô Sói Đầu. Không phải chỉ v́ ông này có văn hoá, mộ đạo, Kitô hữu tốt, quen các vấn đề thần học, mà c̣n v́ ông ta can đảm và nghị lực. Theo lời mời của Đức Giáo Hoàng, ông ta nhanh nhẩu tới Roma, và được tấn tôn Hoàng Đế vào dịp lễ Giáng Sinh năm 875, đúng ¾  thế kỷ sau ông nội người là Carôlô Cả. Ngài c̣n gán cho Carôlô Sói Đầu cả Vương Quốc Pavia nữa. Từ đây nước Ư và nước Pháp đều nặng kư như nhau, Hoàng Đế có lợi cá nhân trực tiếp khi bảo vệ nước Ư. Đế Quốc ngày một trở nên Lamă hơn.

Kế hoạch là thế, nhưng thực tế nước Pháp của Tân Hoàng Đế Carôlô Sói Đầu gặp rất nhiều khó khăn:

-Rợ Bắc Phương tiến công, thay v́ chiến đấu, Carôlô dùng vàng để “tự chuộc”, đem vàng “triều cống” Rợ Bắc Phương” rơ ràng là thất nhân tâm.

-Các ông lớn, bất măn v́ bắt buộc phải hành quân ở bên Ư, gây rối khắp nơi, rồi thành nổi loạn, do những ông bự nhất nước cầm đầu.

-Ư tưởng về một Đế Quốc thống nhất làm Lu-y người Nhật Nhĩ Man và các con ông bất măn, chiến tranh nổ ra.

-Ở Ư các đại lănh chúa, như quận công Spôlêtô quận công Napôli, Amalfi, chỉ bận tâm làm tiền, buôn bán, cướp bóc, sống theo ư riêng, không biết ǵ tới vua Pháp Carôlô Sói Đầu cả!

Dẫu vậy Đức Gioan VIII vẫn không thất vọng, ngài yêu cầu Carôlô sang Ư, chống quân Hồi Giáo, từ năm 877 vẫn thường khuấy phá. Chung quanh Đức Giáo Hoàng phản bội ngày một nhiều. Quận công xứ Spôlêtô, trên nguyên tắc, là người “bảo vệ” Roma, nhắm thống trị thành này. Giám mục Portô, là Formôsiô, giận v́ không được làm thượng phụ người Bulgaria, hoặc làm… Giáo Hoàng, đă âm mưu nhiều lần với Đế Hậu Engelberga, goá phụ Lu-y II, các ông hoàng miền Nam rất khoái phản bội, bất chấp mọi án tuyệt thông, không ngừng móc nối với người Hồi Giáo. Cuối cùng nhờ khéo léo, nhờ đối thoại, nhờ hứa hẹn, Đức Gioan VIII đạt được một liên minh chống Hồi Giáo, khi tất cả đều sụp đổ: Carôlô Sói Đầu, vào mùa thu năm 877, vừa vượt dăy Alpes, mắc bệnh chết khốn cùng, trong một túp lều heo hút.

Một lần nữa lại phải kiếm cho ra một Hoàng Đế, nghĩa là một đấng bảo vệ.

Ở Roma: quận công Spôlêtô với hầu tước Toscane gây kinh hoàng. Đức Gioan VIII bị giam trong đền Thánh Phêrô, bị cắt đứt với thế giới Kitô giáo. Người đă vượt biển sang Pháp để t́m một ông vua, nhưng thất vọng: 2 trong 4 vua nhà Carôlô, mà người trông cậy đang lâm bệnh, là Carloman, con Lu-y người Nhật Nhĩ Man và Lu-y-Cà-Lăm, con Carôlô Sói Đầu. C̣n công tước Bôsônô, thích làm vua xứ Provencia và Bourgoni hơn là làm hoàng đế. Cuối cùng chỉ c̣n Caralô-Bự con Lu-y người Nhật Nhĩ Man, tâm thần yếu đuối và kinh phong. Đức Gioan VIII đành tấn tôn Carôlô Bự vậy, v́ không c̣n ai hơn (881). Các đại lănh chúa Pháp cũng thích một ông vua Nhật Nhĩ Man xa xôi, hơn là một vua Pháp, cho dù vua đó có là một con nít, ra đời sau khi cha chết đi nữa.

Quân Hồi Giáo lại tiến công. Lần này làm phản là quận công-Giám mục Anastasiô thành Amalfi; thành Gaêta cũng rước voi về đầy mồ. Carôlô Bự không làm ǵ cả, không chống ai cả, không chống quận công Spôlêtô, cũng không chống quân Hồi Giáo. Kẻ thù duy nhất mà người khấng chống, lại là Bôsônô, vua Provencia! Rợ Bắc Phương, cướp phá hỗn loạn ngày một tăng. Khi bệnh hoạn chụp xuống người, Carôlô Bự bỏ hết mọi ư nghĩa cứu nguy nước Ư. Trong hoàn cảnh như vậy Đức Giáo Hoàng than rằng: “Ta đi t́m ánh sáng, nhưng chỉ thấy tối tăm. Ta kêu gọi trợ giúp, v́ ta không dám ra ngoài thành, v́ nơi đó tàn phá rất ghê gớm. Nhưng không ai đến giúp ta  cả, không Hoàng Đế, người con tinh thần của ta, không có bất cứ người nào, thuộc bất cứ xứ nào…”. Nhưng người vẫn nghĩ ra được một giải pháp: người kêu gọi tới “Khối Kitô giáo”, đ̣i hỏi trách nhiệm tập thể của những người đă chịu Phép Rửa Tội, điều này sẽ trở thành nền tảng đạo lư thời Trung Cổ. Nghĩ tới “Khối Kitô giáo” Đức Gioan VIII đă đi trước thời cuộc 150 năm. Để bảo vệ Khối Kitô giáo, Đức Giáo Hoàng kêu gọi tới Nhà Nước Kitô giáo duy nhất, đáng kể lúc đó là Byzancia. Quyết định quan trọng đối với Giáo Hội. Lúc đó Byzancia ở trong tay Phôtiô, kẻ đầy tham vọng mà từ thời Đức Nicôla, Toà Thánh vẫn chống lại. Giáo Hội Đông Phương vừa công bố (13/3/880) nguyên tắc về vương quyền của Byzancia trên Roma. Bất chấp điều đó. Đức Gioan VIII coi Byzancia là sức mạnh duy nhất, lúc đó vừa được nhà Macêđônia trung hưng, có khả năng cản bước tiến của Hồi Giáo. Nhờ tài ngoại giáo của người, Hải quân Byzancia đă đánh bại Hồi Giáo. Các hầu quốc phản bội ở miền Nam phải thần phục Hoàng Đế Byzancia. Thế là Đức Giáo Hoàng đă cứu nước Ư khỏi sự đe doạ Hồi Giáo.

Lúc đó Hincmarô, Tổng Giám mục Reims, người luôn luôn ủng hộ nhà Carôlô, đă qua đời vào Vọng Giáng Sinh năm 882, ở Epernay, nơi ông tị nạn, v́ Reims đă bị rợ Bắc Phương chiếm. Tây Phương trong t́nh trạng hoại tử, vị Giáo Hoàng lăo thành trực giác thấy điều này. Trong những tuần đầu năm 883, hung tín bay khắp Âu châu: vào những ngày cuối năm có âm mưu chống Đức Gioan VIII, do những kẻ Đức Giáo Hoàng nhắm thanh trừng. Họ bắt ngài uống thuốc độc, nhưng thấy thuốc lâu kết quả, họ liền giết cụ già bằng búa. Thế là kết liễu cuộc đời đau khổ và anh hùng của vị Giáo Hoàng cuối cùng của thế kỷ IX, người đă có ư thức về Tây Phương, vị Giáo Hoàng đầu tiên trong lịch sử đă có ư thức về Khối Kitô giáo.

10. Tây phương ch́m trong đêm tối

Mười năm (15) năm chót thế kỷ IX, đêm đen khải hoàn và giấc mộng lớn của nhà Carôlô sụp đổ vĩnh viễn.

Mọi mối nguy đă đè nặng trên thế kỷ, sau cái chết của Carôlô Cả, bây giờ đều bung ra. Quân mọi rợ đe doạ khắp nơi: Rợ Bắc Phương, năm 881 chiếm thành đô Aix, tàn phá cung điện, lấy nhà nguyện trứ danh làm chuồng ngựa. Nhiều lănh tụ Tây Phương lấy việc dám đương đầu với quân ăn cướp này làm vinh dự, như Lu-y III, con Lu-y-Ngọng (mới 20 tuổi), hoặc Eudes thành Paris.

Quân Hồi Giáo từ miền Nam Ư. Năm 890 họ định cư ở dăy Môrô (Maures) xây thành tŕ tại đó, và từ đó lên măi. Rợ Slavia (Wendes), của xứ Đại Moravia, nhiều lần cướp phá, thêm một loại rợ mới là người Hungaria (tự nhận là Magyars) da vàng, họ hàng với rợ Hung Nô, bắt đầu tiến sang Tây Phương.

T́nh trạng thê thảm trên đóng góp nhiều vào sự tiến bộ của chế độ Phong Kiến, nảy sinh từ những khó khăn thời đại. Xuất hiện nhiều triều vua chúa địa phương như Rôbertô Khoẻ, tổ tiên nhà Capêtô sau này. Hệ chư hầu ngày một bành trướng v́ quyền bính nhà vua suy yếu. Nhiều cán bộ công nhân viên chính quyền xưng hùng xưng bá nơi họ trị nhậm. Chế độ phong kiến h́nh thành trên sự ră đám của thế giới Carôlô, nạp Tây Phương cho một đám bụi quyền bính.

Giáo Hội bị ảnh hưởng: tài sản Giáo Hội bị “thế tục hoá” ở Đức có nơi (Bavaria) người ta (Arnoul) “thế tục hoá” toàn bộ tài sản Giáo Hội, trên thực tế. Ở Pháp các lănh chúa chiếm vô số Đan viện bị rợ Bắc Phương tàn phá, hoặc mới chỉ đe doạ thôi. Các chức tước trong Giáo Hội bị “giáo dân hoá”: Đan viện trưởng và Giám mục-chiến sĩ ngày một nhiều. Quan trọng nhất là 2 quyền bính Hoàng Đế và Giáo Hoàng đều xuống cấp, Giáo Hội không c̣n thấy ai khôn ngoan để lănh đạo.

Tháng 1 năm 888, Carôlô Bự suy huyết năo chết. Trong số những người có họ hàng nhiều ít với nhà Carôlô có hầu tước Bêrengêrô, Lu-y vua xứ Provencia, quận công Arnoul vốn là con ngoại hôn. Ngoài ra có Guy thành Spôlêtô chẳng có họ hàng ǵ với nhà Carôlô cả, nhưng có lính đánh thuê Hồi Giáo cũng muốn làm Hoàng Đế! Lần lượt lên làm Hoàng Đế:

+Guy thành Spôlêtô: Đức Giáo Hoàng Stêphanô V phải công nhận v́ sợ quân Hồi Giáo.

+Arnoul: được Đức Stêphanô V bí mật kêu gọi và Đức Formôsiô coi là cứu tinh thế giới và đội triều thiên cho. Arnoul chết sớm, triều thiên Hoàng Đế sang đầu các bù nh́n:

-Lambertô thành Spôlêtô.

-Lu-y xứ Provencia

-Bêrengêrô. Các vị này coi chức Hoàng Đế rất nhẹ, thậm trí không buồn đội triều thiên tại Roma nữa. Và Lu-y xứ Provencia bị người bà con Bêrengêrô bắt và ra lệnh móc mắt trước mặt ḿnh.

Các Giáo Hoàng lên kế vị nhau nhanh như ma đuổi.

-Đức Marinô I: không tới 3 năm.

-Đức Hadrianô III: 17 tháng. Rồi tới những triều Giáo Hoàng 4 tháng, 1 tháng, có triều 17 ngày. Các cuộc bầu cử Giáo Hoàng có những vị móc ngoặc. Cuối cùng, Giám mục Portô, là Formôsiô lên ngôi Giáo Hoàng (891-896). Khi người qua đời, tất cả kẻ thù của người liên minh lại trả thù người một cách ghê gớm: xác chết của vị Giáo Hoàng già bị quật lên khỏi mồ, đặt ngồi trên một chiếc ghế, để đại hội công đồng, do Đức Tân Giáo Hoàng Stêphanô VI kẻ thù của người chủ tŕ, xét xử. Tất cả quá khứ của vị Giáo Hoàng quá cố đều được khui ra; nào là những vụ phiêu lưu, âm mưu, thiếu xót đối với pháp luật. Một giáo sĩ, bị khủng bố, sợ chết điếng, trả lời thay mặt người chết, đă “thú nhận” hết mọi tội ác. Thế là người ta cử hành lễ nghi giáng chức người chết, lột phẩm phục Giáo Hoàng đă dính khắn vào thịt rữa, đến cả cái áo nhậm mà khổ hạnh này vẫn mặc bên trong cũng lột luôn. Người ta chặt các ngón tay phải của người, những ngón tay bất xứng đă từng giơ lên chúc phúc cho dân. Cuối cùng thây ma được giao cho quần chúng, cặn bă xă hội, chúng vứt xác xuống sông. Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ, làm sập Vương Cung Thánh Đường Latêranô, bản thân Đức Stêphanô VI bị lật đổ, v́ dư luận phẫn nộ, bị bỏ tù, rồi bị siết cổ. Đức Formôsiô được phục hồi danh dự, công vụ của “công đồng thây ma” bị huỷ bỏ và sóng sông Tibrô đưa di hài đức cố Giáo Hoàng dạt vào bờ, người ta rước kiệu xác người vào đền Thánh Phêrô, để đền tội, và người ta bảo rằng cả đến tượng các Thánh cũng cúi đầu  chào kính, khi linh cữu đi qua.

Sau khi Hoàng Đế Bêrengêrô qua đời, suốt 40 năm ngai Hoàng Đế bỏ trống và suốt 60 năm Toà Thánh ở trong tay một nhóm phụ nữ, họ tuỳ tiện đưa người lên. Tây Phương hai đầu, nay không c̣n đầu nào cả. Về vật chất, việc xâm lược suốt 75 năm đă tàn phá quá nhiều: những làng có ba trăm bếp lửa,  nay c̣n 5, các thị trấn bị bỏ phế, 2 cửa khẩu chính thời đó biến thành làng đánh cá. Số đan viện bị tàn phá không đếm nổi – trong trường hợp này, ngoài thiệt hại vật chất c̣n thất thoát tinh thần, v́ các thư viện của đạn viện bị đốt. Về tinh thần: công đồng Trosly năm 909 viết: “các thành phố thưa dân, các đạn viện bị phá, bị đốt, xứ sở trở thành hoang vu. Như người sơ khai sống không luật lệ và không kính sợ Thiên Chúa, buông ḿnh theo đam mê dục vọng, ngày nay mọi người làm những ǵ họ cho là tốt, khinh thường thiên luật và nhân luật và các điều răn hội Thánh. Kẻ mạnh áp bức kẻ yếu và người ta cướp tài sản Giáo Hội. Loài người sâu xé nhau như cá biển”.

Đó đây vẫn cónhững người chống lại t́nh trạng tha hoá nói trên, như nhà Rôbertianô ở Pháp, vua Alfrêđô Cả ở Anh, quư tộc ở Đức, các thành phố ở Ư. Qua đó đă thấy h́nh thành những nét lớn của Tây Phương Trung Cổ.

Có 2 sự kiện phấn khởi:

1) Ư tưởng đế quốc vẫn c̣n sống sót: năm 962 Ottôn sáng lập ra Thành Đế Quốc Lamă – Nhật Nhĩ Man.

2) Sự xuất hiện các vương quyền dân cư.

Cơ may của Tây Phương vẫn nằm trong Giáo Hội, dù ngai Hoàng Đế suy yếu. Giáo Hội vẫn là ánh sáng tối thượng. Duy Giáo H