IX

BAZANCIA TRUNG HƯNG

VÀ LY KHAI VỚI ROMA.

 

1. Nhà Macêđônia

Trong 1/3 cuối cùng thế kỷ IX, trong khi Tây Phương lụn bại, th́ Đông Phương lại phục hưng. Sự trung hưng này là sự nghiệp của nhà Macêđônia, được thiết lập năm 867 bởi Basiliô I, và tồn tại 2 thế kỷ. Các Hoàng Đế nối tiếp nhau cẩn thận đội triều thiên cho con ngay trước mặt ḿnh để bảo đảm ḍng máu hoàng gia, những người đẻ trong hồng bào “đẻ bọc điều”. (Hoàng Hậu sanh con trong pḥng lát đá vân ban và cẩm thạch đỏ). Suốt 200 năm con cháu vị nông dân người Macêđônia đă trị v́ đầy quyền uy, đến nỗi nếu có kẻ tiếm vị (xảy ra 3 lần) th́ kẻ đó không hề nghĩ tới việc xoá bỏ hoàng tộc mà chỉ t́m cách sáp nhập ḿnh vào hoàng tộc đó mà thôi.

Nhà Macêđônia có cái may là hổ phụ sinh hổ tử, gồm toàn những nhân vật đáng kể, hầu như liên tục kế vị nhau, rất ít kẻ “xoàng”.

Basilêô I (867-886), lực sĩ “đô con”, thất học, mù chữ, vào triều để coi ngựa, đă lật đổ Hoàng Đế cuối cùng của nhà Isaurianô, là vua lười và “sỉn” Micae III, loại trừ, bằng tội ác, những kẻ nào cản đường ông, kể cả Hoàng Đế, nhưng một khi đă trở thành Hoàng Đế th́ ông cũng ra phết, kẻ sát nhân đă trở thành hiệp sĩ Thập Tự Chinh.

Constantinô VII (913-957), trí thức, văn sĩ, nghệ sĩ hướng về những sự tinh thần, triều đại ông là một trong những đỉnh cao của nền văn minh Byzancia. Nhưng khi ông ra oai th́ rất kinh khủng.

Nicêphorô Phôcasô (963–969) hắc ám từ lông, da, đến cá tính, vô duyên nhạt lộc, lên ngôi nhờ người đẹp, thế mà khi vừa đội triều thiên ông đă tỏ ra là Hoàng Đế hơn cả Hoàng Đế, cương quyết ngoan cường.

Basilêô II (976–1025), mệnh danh “người tàn sát quân Bulgaria”, lên ngôi khi 18 tuổi, trong suốt triều đại dài (gần 50 năm), tỏ ra trách nhiệm và nghị lực, chính nhờ người mà ảnh hưởng Byzancia lan toả rất nhanh khắp Đông Phương đến tận nước Nga.

Khó khăn các vị phải đương đầu cũng nhiều: B́nh dân nổi loạn, âm mưu lúc nào cũng có, nếu thành công th́ hoàng đế hôm qua sẽ bị chặt đầu, thủ cấp vứt cho đám đông, chí ít cũng là chặt cắt một phần thân thể, hoặc móc mắt. Các tỉnh ly khai. Các bè rối mới. Sứ quân, hỗn loạn, phong kiến. Hồi Giáo c̣n kiểm soát Địa Trung Hải và các đảo, gây khó khăn cho thương nghiệp Byzancia. Rợi Bulgaria, thời vua Bôrisô I, năm 865, đă có ư đồ “Toàn Nga Tư Lạp Phu” (Paslavia), đă thử thực hiện thời sa hoàng Simêon (893–927) nhưng bị Hoàng Đế Basilêô II “người tàn sát quân Bulgaria” tiêu diệt.

Trong khi phải đối phó với những khó khăn nhiều mặt như thế, các Hoàng Đế vẫn biết áp dụng một chính sách đối nội kiên quyết và thông minh: hoàn chỉnh luật pháp, quản lư tài chánh tốt (chỉ có đế quốc Bagdad mới giàu có bằng) quản lư dân (nhờ cán bộ công nhân viên và hàng giáo sĩ), kiểm soát kinh tế…

-Thương nghiệp lại phồn vinh: mất Syria, Aicập, Ethiopia và các hải cảng ở Á Châu, họ hướng về phía Bắc, biển Egêa và Hắc Hải, Trung Á và An Độ. Gỗ trở về bằng đường sông, da thú, nô lệ, Vênêzia bắt đầu lên. Quân lực vững mạnh binh sĩ–nông dân đóng ở biên giới. Hải thuyền đă từng phản công đẩy lui quân Ảrập khỏi Nam Ư, một phần đảo Sicia và nhất là đảo Crêta. Uy quyền Byzancia về vật chất và chính trị được nhận thấy ở mọi nơi, đi đôi với sự lan toả ảnh hưởng đạo đức, trí thức và tinh thần. Một thời “Phục hưng” đă xẩy ra trong 200 năm dưới thời các Hoàng Đế nhà Macêđonia, nghệ thuật và văn học được nhờ. Constantinôpôli ra vẻ thủ đô của thế giới, là đầu năo của văn minh.

-Và là thành tŕ Đức Tin Kitô Giáo. Đối với Byzancia th́ quyền lợi của họ và của Đức Kitô là một. Trước mặt người Hồi Giáo và ngoại giáo, binh sĩ Byzancia không phục vụ Tin Mừng đấy ư ? Các nhà bác học, kiến trúc sư, nghệ sĩ Byzancia lại không thi đua tôn vinh Thiên Chúa đấy ư ? Quần chúng và hoàng đế đều gắn bó với Kitô giáo, nhưng vẫn là thứ Kitô giáo lạc điệu, thiếu hài hoà trước kia, bây giờ vừa nặng thêm: vừa mộ đạo, vừa h́nh thức, đ̣i hỏi luân lư cao, đi đôi với buông tuồng, đam mê dục vọng, luôn quá đáng, tốt quá, hoặc xấu quá, Kitô giáo của các nhà khổ hạnh cao cả, của quần chúng cuồng tín, của các chức sắc chính trị, hoàng đế lấy quyền áp đặt các tín điều, sùng kính ảnh thánh lại rơi vào thái quá, như trước khi xảy ra vụ tranh chấp đập phá ảnh thánh vậy.

Các Hoàng Đế tự coi ḿnh là nhân chứng Kitô giáo, là hiện thân Kitô giáo, nhưng Kitô giáo của các ngài là Kitô giáo thiếu hài hoà, đầy mâu thuẫn.

Basiliô I lên ngôi sau hàng loạt tội ác, cai trị hết sức cứng rắn, đồng thời rất dịu dàng, bác ái với những người nghèo hèn.

Nicêphôrô Phôcasô đắn đo giữa tu viện và ngai vàng sống nhiều năm như tu–binh, th́nh ĺnh lên cơn yêu cuồng sống vội, với người đàn bà đẹp đă đưa ông lên ngai vàng, 50 tuổi c̣n đam mê như thanh niên.

Nhiều vị vừa thần bí vừa… vừa thần kinh, như bà Thêôphanô, vợ của Lêô VI, rất đẹp, sống khổ hạnh lạ lùng: trừ lễ nghi triều đ́nh bắt bà phải mặc áo đẹp, c̣n bà xuất hiện trước mặt chồng áo quần rách mướp, trải chiếu nằm đất, ăn rau, uống nước lă…! Dĩ nhiên thứ Kitô giáo đầy mâu thuẫn này có kèm theo sự buông tuồng về t́nh dục và độc ác, thường thấy tại Byzancia. Hoàng Đế lấy vợ 3, 4 lần, rồi ly dị, rồi tục huyền, nhân t́nh lềnh khềnh giữa cung điện, là đại diện Đức Kiô ư ? Hoặc Basiliô II bắt 15.000 người Bulgaria, ra lệnh móc mắt toàn bộ, trừ 100 người được đặc ân giữ lại một mắt để thấy đường mà dẫn những người khác về xứ…

Tuy nhiên, các Hoàng Đế nhà Macêđônia này vẫn cứ là những đấng bảo vệ Đức Tin, là những tiền phong của Tin Mừng. Đập phá ảnh thánh, thất bại của năm 834, thời đế hậu Thêôdôra, không c̣n xuất hiện giữa thanh thiên bạch nhật  nữa, chỉ tồn tại ở các tỉnh xa, trong những phe phái chống đối Hoàng Đế độc tài… Một bè rối mới, xuất hiện ở Tiểu Á, là Nhị Nguyên Thuyết Ba Tư, ngày xưa đă nhập vào học thuyết Manikê, nay ngóc đầu dậy, đó là bè rối Phaolô. Các Hoàng Đế Macêđônia, nhất là Basiliô II, sẽ đập tan (bè rối này c̣n được người Armênia, phổ biến sang Bulgaria, Nga, Serlia, ảnh hưởng đến bè rối Albi sau này). Đồng thời nhờ sự ủng hộ của các Hoàng Đế, các thừa sai mới có thể làm việc dễ dàng.

2. Người Tư Lạp Phu ( Slavia) trở lại.

a) Người  Slavia, từ thế kỷ III, đă ở đồng bằng lớn, nay là Liên Xô cũ. Trong năm 500, họ đă tiến về phía tây, đến Sicilia, Bôhêmia (Tiệp Khắc ngày nay) và phía Nam đến Bulgaria. Vào 1/3 cuối cùng thế kỷ IX đă có 3 quốc gia Tư Lạp Phu (Slavia) quan trọng là: Bulgaria, Môravia và nước Nga (Russia). Xứ Môravia bị người Hungaria xâm nhập chia thành hai nhóm: Bôhêmia và Yougoslavia (Nam Tư ngày nay). Nước Nga có hai thủ đô Novgorod ở phía Bắc và Kiew ở phía Nam. Vào thế kỷ X các ông hoàng xứ Kiew trở nên quan trọng và lănh địa họ là một trong những trung tâm lớn của nền văn minh Lục Địa.

Việc Tin Mừng hoá các dân tộc này đă có từ lâu, qua quan hệ thương mại, qua các binh sĩ tợ tá trở về xứ họ, các cựu tù nhân được giải phóng.Từ hồi Carôlô Cả, và các Hoàng Đế kế vị, việc Tin Mừng hoá vùng Slavia trở thành kế hoạch của Giáo Hội, Tây Phương và Đông Phương cùng quan tâm.

Carôlô Cả sau khi b́nh định xứ PannoniaCroatia liền gởi thừa sai đến đó, đến tận biên giới, nơi ngày nay là Ba Lan.

Byzancia, quan hệ quân sự, ngoại giao thương mại các xứ  Slavia đang gia tăng, đă tung linh mục và tu sĩ đến đó.

Trong nhiều nơi, sự cạnh tranh Đông Tây dẫn đến kết quả không tốt, như người Slavia miền Nam nửa (Croatia, Dalmatia) theo Roma, nửa (Serbia, Motênêgrô) theo Byzancia, nhưng, nói chung, là một sự thi đua thánh.

b) Tin Mừng hoá xứ Môravia (Tiệp Khắc): Thánh Cyrillô và Mêthôđô

Xứ Slavia đầu tiên theo Kitô giáo là Môravia, gồm xứ Bôhêmia và Slôvakia (Tiệp Khắc ngày nay) vào đầu thứ kỷ IX xứ này đang phát triển. Các thương gia Hylạp và Vênêzia đă đem hạt giống Tin Mừng đến. Các thừa sai người Franc cũng vậy (từ Rastibona, hoặc Passau đến). Năm 845, mười bốn Hoàng Tử Tiệp Khắc lănh Bí Tích Rửa Tội, bởi tay các linh mục Tây Phương. Năm 852 Công Đồng Mayencia nói đến khối Kitô giáo c̣n bán khai ở Môravia”. Nhưng đồng thời các tu sĩ Hylạp cũng tiếp tục đến. Thế là nhiều. Năm 846 Lu-y – Người Nhật Nhĩ Man đặt Ratislav lên ngai vàng xứ Bôhêmia, hy vọng nhờ vậy kiểm soát được quốc gia láng giềng nguy hiểm này. Nhưng vừa lên ngôi, ông hoàng tử tuổi trẻ này chỉ có một ư nghĩa thoát ách Đế Quốc Nhật Nhĩ Man. V́ ông đă được Rửa Tội, ông nghĩ cách làm cho dân ông trở lại là điều quan trọng. Trước hết ông xin Roma gửi đến cho ông các thừa sai người Ư biết nói tiếng Slavia. Roma không thể thoả măn, ông hướng về Byzancia. Năm 862 một phái đoàn Moravia đến điện Hoàng Đế, lúc đó là Hoàng Đế và sỉn Macae III. May bên cạnh ông có Thượng Phụ Phôtiô. Vị này hiểu ngay đây là dịp hớt tay trên Toà Thánh Roma, ông liền trả lời thuận yêu cầu của ông hoàng trẻ xứ Môravia.

Hai anh em Constantinô (sau đổi thành Cyrillô) và Mêthôđiô sinh tại Thessalonica, nơi có đông người Slavia ở. Cả hai nói rành tiếng ấy. Cyrillô c̣n trẻ, rất thông minh, chính ông đă t́m thấy hài cốt thánh Clêmentê Giáo Hoàng ở Cherson, nơi thánh nhân qua đời, trong khi lưu đầy. Người Moravia chưa có mẫu tự riêng, để diễn dịch ngôn ngữ của họ. Thánh Cyrillô chế ra cho họ một mẫu tự pha phách tiếng Hylạp, Hipri và Copte (Aicập) đó là mẫu tự Glagolitique tổ tiên của mẫu tự Nga ngày nay. Người dịch Phụng vụ ra tiếng Slavia và viết bằng mẫu tự Glagolitique người vừa chế ra.

Năm 863 hai anh em tới Moravia. Công việc không dễ dàng ǵ. Các thừa sai Latinh, nghĩa là người Nhật Nhĩ Man, gây khó dễ và việc các vua Carôlô người Đức can thiệp không ngừng bằng vũ lực vào xứ này rất nguy hiểm cho Cyrillô  và Mêthôđiô. Bất chấp tất cả, và nhờ biết tiếng, các ngài đă đạt được nhiều tiến bộ nhanh chóng: quần chúng bắt đầu lănh nhận Bí Tích Rửa Tội. Việc này làm người Tây Phương đâm lo – đối với họ việc dùng tiếng Slavia trong Phụng vụ có vẻ phạm thượng và họ tố cáo lên Đức Giáo Hoàng rằng, những người đang cạnh tranh với họ kia là những kẻ rối đạo nguy hiểm. Năm 868, trong khi hai anh em chờ tầu ở Vênêzia để đưa mấy môn đệ của họ về Byzancia xin chịu chức, bản thân hai đấng chưa phải là Giám Mục, th́ cho họ nhận được lệnh Đức Nicôla I mời đến Roma để biện minh. Khi hai đấng đến Roma, trong hành lư có một món quà đẹp nhất mà người ta có thể dâng lên Đức Giáo Hoàng là hài cốt Thánh Clêmentê. Thế là mọi sự êm xuôi. Đức Hađrianô II cho phép họ cử hành thánh lễ bằng tiếng Slavia. Thánh Cyrillô qua đời tại Roma.

Thánh Mêthôđiô một ḿnh trở lại với chức Tổng Giám Mục và quyền hạn trên một địa phận rộng mênh mông, bao trùm cả nước Tiệp Khắc và hầu hết nước Nam Tư ngày nay. Những năm cuối đời Thánh Mêthôđiô cũng không được yên. Người lại bị các chức sắc Đức chỉ trích thậm tệ, bị bắt, bị đánh đ̣n, không ngừng bị tố cáo với Roma là rối đạo và bị Đức Gioan VIII, không rơ vấn đề, lệnh cho người được dùng tiếng, Slavia để giảng chứ không được dùng để cử hành Phụng vụ. Nhưng vị thừa sai này vẫn ngoan cường. Khi người qua đời, vào năm 884, xứ Moravia lại thắng. Các môn đệ người bị xua đuổi, phải di tản sang Bulgaria. Và các cộng đồng Kitô giáo do hai vị tông đồ Cyrillô và Mêthôđiô sinh ra đă hướng về Tây Phương vĩnh viễn với Roma. Nhưng, nếu xứ Bôhêmia, về sau, trở thành thành tŕ Kitô giáo miền Trung Au, chính là nhờ công nghiệp hai Thánh Cyrillô và Mêthôđô, hai vị thánh người Byzancia, vậy.

Tin Mừng Hoá Xứ Bulgaria.

Môn đệ hai thánh Cyrillô và Mêthôđiô di tản đến Bulgaria, đă gặp thấy nơi đây một cộng đồng Kitô giáo vững mạnh. Khoảng vài chục năm trước, vua Bôrisô đă lănh nhận Bí Tích Rửa Tội, năm 863 hoặc 864 và người đă bắt hàng quí tộc phải noi gương người. Nhưng người lại sợ theo đạo rồi Vương Quốc người sẽ lọt vào quỹ đạo  Byzancia, nên người xin thành lập một toà Thượng Phụ độc lập cho Giáo Hội Bulgaria. Thượng Phụ Constantinôpôli, lúc đó là Phôtiô, chỉ trả lời bằng những trang tư duy siêu h́nh ! Bôrisô, lúc đó liền quay về Đức Giáo Hoàng Nicôla I, xin người ban cho ơn ấy, đồng thời hỏi người về nhiều điều vua c̣n thắc mắc, như Rửa Tội rồi người c̣n được  phép mặc quần theo kiểu quốc hồn quốc tuư của dân tộc người chăng ? C̣n được lấy đuôi ngựa làm cờ chăng ? C̣n được lấy nhiều vợ chăng? Đức Nicôla I trả lời vô cùng khôn ngoan và hứa ban cho một Toà Giám Mục và gửi cho vua nhiều sách Latinh, khiến Bôrisô thích trí, xua đuổi  hết thừa sai Byzancia khỏi Vương Quốc của người !

Tiếc thay chính sách có thể khiến người Bulgaria găn bó với Roma ấy lại không được Đức Hađrianô II theo. Người từ chối không cho lập toà Thượng Phụ, khiến Bôrisô nổi giận, gởi một phái bộ sang Byzancia, xin cho nước Bulgaria được thần phục toà thượng phụ Constantinôpôli. Phôtiô khấng ban ơn này cho vua, năm 870. Chín năm sau để được Đức Giáo Hoàng Gioan VIII công nhận, Phôtiô đă đề nghị bỏ người Bulgaria, nhưng vua Bôrisô vẫn chống lại, các linh mục Latinh bị xua đuổi, thay thế bầy các linh mục Hylạp. Thế là cộng đồng Kitô giáo Bulgaria theo Byzancia về tôn giáo và về văn hoá. Nhưng vấn đề ngôn ngữ Phụng vụ lại được đặt ra. Khi các môn đệ Thánh Cyrillô và Mêthôđiô đến xứ này, áp dụng phương pháp của các bậc thầy, họ lại bắt đầu giảng bằng tiếng Slavia và cử hành các lễ nghi bằng tiếng này. Họ chế ra một mẫu tự mới gọi là mẫu tự Cyrillique tổ tiên của mẫu tự Bulgaria ngày nay. Bôrisô nhận thấy đây là một phương pháp hay để dung hoà sự lệ thuộc tinh thần vào. Byzancia và khát vọng độc lập của ông, nên ông ủng hộ việc này và hoàn chỉnh việc Tư Lạp Phu hóa (Slavia–Hoá) nốt các nhân tố Á Châu nguyên thuỷ.

Sau Bôrisô, con trai út của ông là Simêon tiếp tục chính sách này : trở thành Sa hoàng (Tsar) nghĩa là Hoàng Đế, ông tổ chức “Giáo Hội  tự trị”, với lănh tụ tôn giáo là Tổng Giám Mục Ochriđa. Đầu thế kỷ IX khi Hoàng Đế Basiliô II”, người tàn sát quân Bulgaria”, sát nhập nước Bulgaria vào Đế Quốc Byzancia, th́ sự độc lập tôn giáo này vẫn tồn tại, ít nữa là trên danh nghĩa. Thấm nhiễm văn hoá Byzancia, nhưng phụng vụ và lễ nghi Slavia, Kitô giáo Bulgaria từ nay đóng vai tṛ gạch nối giữa Byzancia và các xứ Slavia khác: Xứ Serbia trở lại giữa năm 870 và 890 và người Nga vào khoảng năm 1000.

Tin  Mừng Hoá Nước Nga.

Năm 861, lần đầu tiên Byzancia quan hệ với người Nga. Năm đó thuyền bè của người Nga đến tiến công thủ đô Constantinôpôli và bị đẩy lui, nhờ nghị lực của Đức Thượng Phụ Phôtiô và nhờ một phép lạ của Đức Trinh Nữ. Dẫu vậy, cuộc tiếp xúc đầu tiên này vẫn tạo được vài quan hệ và một phái bộ thừa sai được gởi tới Kiev.

Đầu thế kỷ, quan hệ giữa Đế Quốc Đông Phương và người Nga vừa nhiều vừa phức tạp. Buôn bán với nhau. Đánh nhau như vụ ông hoàng Igor chống Constantinôpôli năm 941. Ảnh hưởng Kitô giáo thấm nhiễm vào nhiều thành của người Nga, qua các thừa sai Latinh và Hylạp.

Năm 945 goá phụ của ông hoàng Igor, là bà hoàng Olga theo Kitô giáo, lễ nghi Hylạp hay Latinh không rơ. Chịu phép Rửa Tội tại Byzancia Byzancia, nhưng bà lại xin Hoàng Đế Germania là Othon I gửi thừa sai cho. Trong đất nước rộng mênh mông này, phiếm thần c̣n mạnh, việc truyền giáo không phải dễ. Suốt nửa thế kỷ ngoại giáo c̣n chống cự, việc giết người để tế thần vẫn c̣n, nhiều lần các thừa sai phải cuốn gói.

-Khoảng năm 1000, việc Kitô giáo hoá mới được tổ chức, một cách có hệ thống nhờ cháu của Olga, là ông hoàng Vlađimir. Vị tông đồ này là vị khổng lồ, vơ biền, dữ tợn, nhưng chết trong áo hối nhân, và nổi tiếng bác ái, từ bi, điển h́nh Kitô giáo Nga đầy mâu thuẫn Đức Tin và tội lỗi sống chung rất hoà b́nh. Vlađimir lúc đó c̣n ngoại giáo, bận đánh giặc, và o bế các cô gái hơn là đọc kinh, tuy nhiên ông đă nhớ được một bài học lớn, học từ nơi bà thánh Olga, là muốn thiết lập quan hệ hữu ích với “thành tŕ được Thiên Chúa bảo vệ” th́ tối cần thiết phải theo Kitô giáo. Một giai thoại nổi tiếng quả quyết rằng: người đă triệu vào triều, đại biểu của các đạo, kể cả đạo Hồi, người đă gởi sứ giả khác đi tham quan tại chỗ nhiều loại nhà thờ khác nhau. Các đại biểu có t́nh thuyết phục nhất là người Hylạp. C̣n các sứ giả được gửi tới Byzancia th́ tỏ ra rất nhiệt t́nh: “Chúng tôi cứ nghĩ ḿnh đă ở trên Thiên Đàng”.

Năm 987, Vlađimir trở lại.1 Ông xin cưới nàng công chúa “đẻ bọc điều” Anna, em của Hoàng Đế. Với nàng, ảnh hưởng Byzancia du nhập nước Nga vĩnh viễn. Các nhà thờ với ṿm tháp thiếp vàng, bắt chước kiểu Đông Phương Hylạp, mọc lên trong các thành luỹ đất. Giáo sĩ Byzancia là những cán bộ đầu tiên của các cộng đồng Kitô giáo mới. Sách vở tôn giáo nhập khẩu hầu như toàn là sách Hylạp, nhất là thánh Gioan Đamat.

Sự gắn bó tinh thần của nước Nga với Giáo Hội “ Chính Thống” Đông Phương, xẩy ra đúng lúc có sự đổ vỡ vĩnh viễn giữa Byzancia và Roma, có tầm quan trọng rất lớn. Tuy nhiên sự gắn bó này không đi đến chỗ lệ thuộc hoàn toàn. Các cộng đồng Kitô giáo Nga, tiếp xúc liên tục với cộng đồng Moravia và Bulgaria, thấy được cái lợi mà phụng vụ Slavia đem đến cho họ. Khi xứ Đại Moravia bị quân Hungaria làm sụp đổ và khi xứ Đại Bulgaria bị Hoàng Đế Basiliô II “người tàn sát quân Bulgaria”, đánh gục, nhiều người đă di tản sang Nga tị nạn và đă đem phụng vụ Slavia đến đó. Từ năm 1019 đến 1054, ông hoàng Jaroslap, tập họp vững chắc nước Nga, cũng cổ vũ khuynh hướng này. Từ đó Kitô giáo Nga mặc lấy một h́nh thức vĩnh viễn: là con tinh thần của Byzancia nhưng các dữ kiện bên ngoài là Slavia, cho đến ngày nay.

Việc nước Nga gắn bó với Giáo Hội Hylạp, ngay từ thời lập quốc, đă đặt nước này ra ngoài khuôn khổ lịch sử, mà trong đó Giáo Hội Công Giáo đă rèn nên nền văn minh Tây Phương là Au Châu.

Kitô giáo Nga nhận được từ Byzancia nhiều khuyết điểm: chỉ nhắm vào sự thẩm mỹ, vào sự sa hoa lộng lẫy, vào những điều hời hợt, không có khả năng thấm nhiễm sâu xa vào tâm hồn ngoại giáo xưa.

Các Giám Mục Byzancia là cán bộ công nhân viên hơn là chủ chăn các tu sĩ Byzancia hoàn toàn xa cách thế gian, và thù ghét văn hoá, nên không thể đóng vai tṛ như các Giám Mục và tu sĩ Tây Phương đă đóng.

Tất cả đặc điểm của Kitô giáo Slavia bắt nguồn từ đây. Năm 1054, khi ông hoàng Jaroslav qua đời và cả Au Châu quay sang thời Trung Cổ th́ nước Nga có hai nét đặc trưng sau đây: 1/ Giáo Hội hấp dẫn tín hữu bằng sự huy hoàng thần bí của phụng tự, không dậy dỗ ǵ ngoài những kinh kệ Slavia, 2/ lư tưởng tu tŕ cao quá cuộc sống thường ngày. Nghĩa là không hữu hiệu.

Nói chung, nhờ sự cố gắng của Byzancia mà Giáo Hội  đă chinh phục được khối người đông đảo kia cho Tin Mừng. Rửa Tội cho dân Slavia, Byzancia đă hoàn thành một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Trong khi Hồi Giáo chiếm Tây Ban Nha, Bắc phi và xứ Syria Kitô giáo, th́ việc chinh phục những vùng đất mới này là một sự “bù lỗ” Chúa quan pḥng ban cho Kitô giáo. Đổi lại bao nhiêu đổ nát là sự thăng tiến vinh quang của các ông hoàng Kitô giáo Kiev, đến nỗi các vua Au Châu rất mong ước được cầu hôn với họ. Đông Phương Kitô giáo bị xé nát.

3. Thập Tự Chinh Byzancia.

Thế kỷ X là thế kỷ của những Thiên Anh Hùng Ca Byzancia, của các Hoàng Đế nhà Macêđônia chống quân Hồi Giáo. Trước đó, các vua cuối cùng nhà Isauriana cũng đă từng chống quân Hồi Giáo. Năm 845 tài chiếm thành Ancyra (Ankara), trong cuộc hăm thành Amôrium, 40 sĩ quan Hylạp, bị bắt làm tù binh đă thà chết chẳng thà chối Đức Kitô. Năm 858 chiến thuyền Byzancia tấn công thành Damiette ở Aicập. Năm 863 một ông tướng của Micae III đă tàn sát quân Hồi Giáo ở Paphlagonia, trong số có cả viên Emir.

Nguy cơ Hồi Giáo vẫn nặng nề. Lúc đó họ chiếm đóng miền Nam Ư, xứ Dalmatia và, năm 870, chiếm đảo Malta, mưu đồ biến Địa Trung Hải thành một cái hố của Hồi Giáo. Lúc đó Hoàng Đế Lu-y II của nhà Carôlô ngoan cường chống lại họ, và Đức Giáo Hoàng Gioan VIII đề nghị Đông Tây họp nhau để chống Hồi Giáo.

T́nh h́nh nội bộ Hồi Giáo thoái hoá trầm trọng. Khalife ở Bagdad (Abbasides) từ năm 861 chỉ c̣n quyền hành ở Bagdad, và Irắc, các tỉnh khác tự trị. Nhà Fatimides, con cháu trực tiếp của Fatima, con gái ông Mahomet, ở Phi Châu hoàn toàn độc lập vào đầu thế kỷ X, chiếm Sicilia rồi chiếm Aicập năm 969. Ở Tây Ban Nha nảy ra một nhà thứ ba, nhà Omméiades. Chẳng bao lâu Đế Quốc Giáo Hội lâm vào cảnh hỗn loạn.

Nhà Fatimides ở Phi Châu ră đám: Algêria và Môrôcô phân tán thành những hầu quốc người Berbères, xứ Syria thoát ách khalife ở Cairô.

Nhà Abbassides nội chiến liên tục trong gia đ́nh và các dân bị trị nổi dậy..

Khoảng năm 1000, Đế Quốc Hồi Giáo kiệt quệ.

Thập Tự Chinh Byzancia bắt đầu năm 924 thời Hoàng Đế Rômanô Lêcapênô (919–944), kẻ tiếm vị, mà Hoàng Đế Constantinô VII đă khôn ngoan mời vào ban lănh đạo.

Năm 904, thành Thessalonicca bị quân Hồi Giáo từ Phi Châu tiến quân, hầu như toàn bộ dân số bị tàn sát, những người sống sót – 22.000 thanh niên nam nữ – bị bán tại các chợ nô lệ ở đảo CrêtaTripôli. Lúc đó các Hoàng Đế Byzancia c̣n bận đương đầu với Bulgaria. Hoà ước năm 927 và cái chết của sa hoàng Simêon khiến Vương Quốc này yếu đi, lúc đó Romanô Lêcapênô mới quay sang Hồi Giáo.

Từ đây ít có năm nào Byzancia không tiến công Giáo Hội, nhưng trong 20 năm trời, t́nh h́nh c̣n hỗn độn: dưới thời Hoàng Đế Constantinô VII, rồi thời con ông là Romannô II. Hoàng Đế c̣n quá trẻ, trao quyền cho thái giám Giuse Bringas, ông này trao việc chiến đấu chống Hoàng Đế cho Nicêphôrô Phôcasô.

Lúc đó bắt đầu những năm phi thường, nổi tiếng trong lịch sử Lamă. Đảo Crêta được chiếm lại vào năm 961, sau đó là Tarsô, Cilicia. Sau đó, Nicêphôrô Phôcasô trở thành Hoàng Đế, lấy bà vợ goá của Hoàng Đế Romanô II, tiếp tục tấn công Hồi Giáo: chiếm lại đảo Chypre đă mất vào tay Giáo Hội từ thế kỷ VII. Syria rũ bỏ ách Hồi Giáo. Mùa thu 969 tái chiếm Antiôkia, trả hận bao thế kỷ nhục nhă. Nhưng mấy ngày sau chiến thắng vinh quang này, người anh hùng bị vợ phản, bị một viên tướng khác cạnh tranh vinh quang với ông, tên là Gioan Tzimisces mà vợ ông mê hắn, giết chết.

Gioan Tzimisces làm chủ Đế Quốc, cũng như làm chủ quả tim người đẹp, bảo hộ 2 hoàng tử c̣n nhỏ, tiếp tục kế hoạch lớn của vị tiền nhiệm. T́nh h́nh bây giờ khó khăn hơn: Hồi Giáo vừa chiếm Aicập, đóng Palestina và xứ Libanô. Dầu vậy Gioan Tzimisces vẫn tiến thẳng đến những Nơi Thánh. Tin tức chiến thắng bay về Byzancia rất nhanh, người ta cầu nguyện, người ta dâng cúng tiền bạc, người ta t́nh nguyện nhập ngũ, đi giải phóng Mồ Thánh. Thánh Damas đầu hàng. Quân đội Hylạp tiến vào Palestina. Đă 335 năm, từ ngày Hoàng Đế Hêracliô bại trận, hôm nay những người lính của Đức Kitô mới lại đặt chân trên Đất Thánh. Quân đội của Gioan vừa cầu nguyện vừa hô vang chiến thắng. Nhưng, mùa đông 975, Gioan Tzimiscês lâm bệnh, có lẽ là bệnh chấy rận (typhus) phải chở gấp về Constantinôpôli và qua đời tại đó, tháng giêng 976.

Basiliô II (976–1025), lo chinh phục Bulgaria và Armênia, đă bỏ Palestina không hành động ǵ, ngay cả khi,, vào năm 1009–1010, lo chinh phục Bylgaria và Armênia, đă bỏ Palestina không hành động ǵ, ngay cả khi, vào năm 1009–1010, người Hồi Giáo bách hại Kitô hữu, đốt các nhà thờ, huỷ diệt cả Mồ Thánh.

Các Hoàng Đế Macêđônia đă chuẩn bị cơ sở xuất phát cho Thập Tự Quân của Godefroy de Bouillon. Từ năm 1000, quan hệ giữa người Hylạp và người Ảrập trở nên rất lịch sự, kính trọng lẫn nhau.

Byzancia đă có công chỉ ra con đường thánh chiến tương lai. Kỷ niệm các chiến công của họ c̣n tồn tại măi trong thi ca: lâu đời về sau, trong các thành phố Đông Phương, ngay cả khi phải sống ách Hồi Giáo Thổ, người ta vẫn c̣n kể những chiến tích, của những vị lănh tụ trẻ suốt đời chiến đấu chống quân ngoại giáo hết sức anh hùng.

4. Cêsar – Giáo Hoàng chủ nghĩa

a) Sự nghiệp của nhà Macêđônia củng cố thêm việc tôn thờ Hoàng Đế. Lễ nghi triều chính mặc tính cách hầu như bí tích. Sách lễ nghi, viết dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Constantinô VII, nêu rơ từng chi tiết phải giữ trong các lễ nghi Rửa Tội, Hôn Phối, Đăng Quang hoặc An Táng của các đấng “ đẻ bọc điều”, hoặc là tiếp tân các đại sứ, cho tới những việc nhỏ nhất trong cuộc sống Hoàng Đế. Chưa bao giờ việc phủ phục, bái quỳ, hôn chân, các chức tước phù phiếm được sử dụng nhiều đến thế. Hiếm, rất hiếm có hoàng đế nào dám rũ bỏ cái ách bằng vàng đó, may ra có Basiliô II mà thôi.

Các nghi thức này mang tính cách tôn giáo đến mức tối đa. Nghi thức trở thành phụng vụ “Thánh Điện” được tuyên bố là “thánh như nhà thờ”. Hàng tháng người ta đều “làm phép” pḥng ngủ và pḥng ăn trong thánh điện, bằng việc đi hiệu ảnh thánh và hát thánh ca. Y phục của hoàng đế được truyền thống ấn định, tựa như lễ phục của giáo sĩ, nào áo chùng trắng, nào áo choàng thêu vàng, dát ngọc cứng ngắc. Triều thiên to tướng với Thánh giá trên đỉnh giống như mũ ba tầng.

Đôc đáo nhất là đêm Phục Sinh, tại Vương Cung Thánh Đường Đấng khôn Ngoan, đích thân Hoàng đế đóng vai Đức Kitô phục sinh. Người đứng quay mặt về phía dân chúng, thân thể quấn đầy những vải băng bằng vàng, hai đùi bọc trong khăn liệm, chân đi giép bằng vàng, một tay cầm vương trượng h́nh thánh giá, tay kia cầm một tuí đất cát lầy từ Mồ Thánh gói trong… bọc điều. Chung quanh có 12 chức sắc tượng trưng 12 Tông Đồ…

Hoàng Đế là những vị lănh đạo tinh thần, nhờ việc tấn tôn, người thi hành chức vụ thánh. Người là linh mục quyền của người là siêu nhiên. Khi người phong một cán bộ cao cấp, th́ người làm việc đó nhân danh Ba Ngôi và nhờ “uy linh của ta, từ nơi Thiên Chúa mà đến”.

Thực tế, việc hầu như thần hoá Hoàng Đế này, trong 2 thế kỷ dưới các triều đại nhà Macêđônia, Giáo Hội càng lệ thuộc Ngai vàng hơn trước. Cêsar–Giáo Hoàng chủ nghĩa vốn đă là điều bất hạnh của Byzancia, nay đạt tới đỉnh cao của nó. Giáo Hội ở trong tay Hoàng đế hơn trước. Người ta không c̣n phân biệt tôn giáo và chính trị nữa. Trong triều, chức sắc, hoạn quan, chen vai thích cành nhau. Chức vụ có ảnh hưởng nhất là Lễ Bộ Thượng Thư, trung gian giữa Hoàng Đế và Giáo chủ, và thường người được chỉ định kế vị Giáo chủ. T́nh trạng khác hẳn Tây Phương, ngay khi các Hoàng Đế kiểm soát Giáo Hội một cách chặt chẽ và dây ḿnh một cách trắng trợn vào nội bộ Giáo Hội, họ vẫn nh́n nhận nơi Giáo Hội một quyền bính ở ngoài thẩm quyền của họ, và trước quyền bính đó họ phải chào thua . Ở Byzancia, Giáo Hội và Đế quốc là một. Lễ tấn tôn không sinh ra Hoàng Đế, nó chỉ nh́n nhận một thực trạng được thiết lập do cha truyền con nối, hoặc do sức mạnh, do sự nhất trí của nhân dân và các ông lớn…

b) Thượng Phụ Constantinôpôli.

Thực tế chỉ c̣n một toà Thượng Phụ Constantinôpôli kể từ khi các toà Antiôlcia, Alêxanđria Giêrusalem rơi vào tay Hồi Giáo. Thượng phụ Constantinôpôli đóng vai tṛ Giáo Hoàng Đông Phương. Chính người tấn tôn Hoàng đế và nhận lời thề Hoàng Đế tuyên đọc trong dịp này, rằng sẽ trung thành với các tín điều và bảo về Đức Tin chân chính. Người có tài sản mênh mông hầu khắp nơi trong Đế Quốc và cả một hàng ngũ tu sĩ trực thuộc người, chứ không chịu thuộc quyền các Giám Mục. Người có quyền chính trị như quyền can thiệp vào tất cả mọi vấn đề trong đó chính thống có thể bị đe doạ (mà điều này chỉ có Chúa biết) quyền xét xử hoặc cử ra các quan toà trong các vụ án lớn, tham dự vào quyền nhiếp chính trong trường hợp các Hoàng đế c̣n vị thành niên. Khi được cử làm Thượng Phụ, người thề trung thành với Hoàng đế, không âm mưu chống lại Hoàng Đế.

Trên nguyên tắc, Thượng Phụ có thể là tiêu biểu cho sự độc lập của Giáo Hội trước ngai vàng, nhưng trong thực tế lại không được vậy. Các Hoàng Đế Macêđônia đă thu xếp để nắm chắc nhân vật nguy hiểm này. Ngay từ đầu triều đại, Basiliô I đă tịch thu việc bầu cử. Cho tới bấy giờ, Thượng Phụ được chỉ định bởi một loại “mật viện”, gồm đại diện hàng giáo sĩ, nhân dân và Cung Đ́nh. Nhưng, từ nay, các Tổng Giám Mục họp tại Vương Cung Thánh Đường Đấng Khôn Ngoan, với sự hiện diện của ông Bộ Trưởng bộ lễ, đại diện Hoàng Đế, các ngài đề nghị ba ứng viên, nếu một trong ba được Hoàng Đế ưng thuận vị đó sẽ được tấn phong, bằng không Hoàng đế sẽ chọn một vị khác! V́ thế Thượng Phụ là người của Hoàng đế, đôi khi là thành viên của Hoàng Gia, chú út chẳng hạn, như đă xẩy ra ba lần, hầu như luôn luôn là cán bộ cao cấp–như Phôtiô đă từng là Bộ Trưởng trước khi lên chức Thượng Phụ. Phụ trách tôn giáo, làm sao người quên được cái tiền căn “dân sự” của người. Trên toà Thượng Phụ, các ngài vẫn cứ là “Thủ Tướng” của Hoàng đế? Suốt hai thế kỷ nhà Macêđônia, nhiều người trong số các vị là những nhà quản trị tài ba, những lănh tụ thông minh và nghi lực, nhưng là chính khách hơn là người của Giáo Hội. Phục vụ quyền lợi Nhà Nước Byzancia hơn là quyền lợi của Giáo Hội.

Dù vậy, nhiều lần các Thượng Phụ cũng đương đầu với các Hoàng đế, nhưng không phải v́ vấn đề luân lư hay đức tin, mà v́ Giáo Luật, như cấm bà goá chồng, lấy ông góa vợ, điều này khiến Thượng Phụ và Nicêphôrô Phôcasô tranh chấp nhau dữ dội. Hoặc cấm tục huyền, tái giá tới lần thứ tư–có khi mới thứ ba thôi cũng đă bị cấm–hai Thượng Phụ liên tiếp đă chống Hoàng đế Lêô VI về việc này. Ở Roma, theo nguyên tắc Thánh Phaolô, kẻ goá bụa muốn  tục huyền tái giá bao lần cũng được, các cuộc tranh chấp về những vấn đề h́nh thức như vậy không thể quan niệm nổi. Trong khi đó, trái lại, các giáo phẩm cao cấp ở Byzancia rất dễ dăi trong việc làm phép cưới trong những vụ rơ ràng là tội lỗi và ngoại t́nh, hoặc cử hành lễ tấn tôn cho các hoàng đế đă lên ngôi bằng dao găm hoặc thuốc độc.

Việc các Thượng Phụ phủ phục trước một hoàng đế Byzancia, như Gioan Tzimisces sau khi ông này làm thịt Nicêphôrô Phôcasô, để chiếm ngôi và chiếm vợ của ông ta, hoặc các ngài bợ đỡ mụ Thêôphana II thay chồng như thay áo (đừng lộn với bà Thêôphana nửa thần bí nửa thần… kinh) lấy Hoàng Đế Romano II, rồi Nicêphôrô Phôcasô, rồi Gioan Tzimismes hay là việc các ngài xu nịnh Hoàng Hậu Zoê 50 tuổi c̣n làm phép cưới một cách vô cùng long trọng thể với một thanh niên 20… đều là những chuyện chẳng hay ho ǵ. Đó là dấu hiệu cuả sự lệ thuộc chính quyền quá đáng. Một vị Tổng Giám Mục, để giúp Hoàng Đế, chủ người, thủ tiêu một kẻ thù lấn cấn, đă lợi dụng sự hiệp lễ để cho người này một bánh thánh tẩm thuốc độc!

c) Tu sĩ

Ở Tây Phương, Giáo Hội cũng có sai lỗi, nhưng có một nhân tố giúp Giáo Hội canh tân, là tu sĩ. Ở Đông Phương, trái lại, các tu sĩ không thể đóng vai tṛ này. Sau cuộc tranh chấp Anh Thánh, các tu sĩ càng nhốt ḿnh trong các tu viện, chỉ cầu nguyện và tư duy mà thôi. Các tu sĩ thế kỷ IX và X khác xa các tu sĩ thế kỷ VI và VII. Họ không làm chính trị nữa, không xuất hiện nữa, như đă chết đối với thế gian Thánh Thêôđôrô cấm các tu sĩ của ḿnh không được nói chuyện với người đời nữa. “Trốn xă hội để tự cứu độ” đă trở thành khẩu hiệu đời tu. Không muốn can thiệp vào việc đời, tổ chức học hành, hay bảo vệ văn hoá. Thái độ này khiến Giáo Hội Đông Phương kết nghạnh khô cứng và mặc cho Cêsarô Giáo Hoàng chủ nghĩa múa gậy vườn hoang.

Việc chính quyền dây vào nội bộ Giáo Hội đă dẫn đến những cuộc tranh chấp khiến Kitô hữu mất hiệp nhất. Đỉnh cao của nhà Macêđônia và Cêsarô–Giáo Hoàng chủ nghĩa trùng hợp với thời kỳ Đế Quốc Carôlô sụp đổ và thăng tiến quyền Giáo Hoàng ở Tây Phương. Ngay tại Đông Phương, thái độ ngoan cường của Đức Giáo Hoàng, trong vụ tranh chấp ảnh thánh, đă khiến uy tín người tăng lên. Về h́nh thức, quyền của Roma luôn được tôn trọng các tu sĩ tranh chấp nhau, Hoàng đế Lêô VI, gặp khó dễ trong việc kết hôn lần thứ tư, đều nại tới Đức Giáo Hoàng. Đức Thượng Phụ vẫn thông báo việc ḿnh đắc cử cho Đức Giáo Hoàng trước khi tấn phong. Các Công Đồng cũng họp phần lớn thời gian dưới sự chủ tŕ của đặc sứ Giáo Hoàng. Nhưng thực tế việc chống đối có tính cốt lơi một ngày kia phải nổ ra thôi.

5.Vấn đề Phôtiô.

Bắt đầu vào cuối thời nhà Isaurianô với một vụ bầu thượng phụ.

Thượng Phụ Y Nhă, người của hoàng hậu mộ đạo Thêôđôra (người đă tái lập việc tôn kính Anh Thánh) là thượng phụ thánh thiện, nhưng ít kinh nghiệm. Nghe người ta đồn rằng Hoàng Đế trẻ tuổi lười và “sỉn” Micae III, trong lúc say sưa hay gọi các bạn nhậu của ông là “các giám mục và các thượng phụ của ta” và hay chặn đường các đám rước mà chơi, và rằng ngài Bardas chú của Hoàng đế, một bộ trưởng quyền uy, có quan hệ gây gương mù gương xấu với con dâu của ông ta, đức thượng phụ I-Nhă liền lên tiếng phản đối. Thậm chí ngày lễ Hiển Linh 858 ngài không cho quan Bardas hiệp lễ. Thế là đến tháng 11, Đức I-Nhă bị khiển trách v́ những rối loạn xẩy ra trong thành phố, một phần do lỗi của người, rồi người ta thuyết phục người từ chức, người ta bỏ người vào một tu viện ở một quần đảo “cấm pḥng” và bị truất phế. Đây không phải là lần đầu tiên một Hoàng đế giúp một Thượng Phụ nên thánh kiểu đó, nhưng vụ này gây ra khủng hoảng dữ dội.

Người được chọn lên thay thế là Photiô, con một vọng tộc, một người cậu của ông lấy em hoàng hậu Thêôđôra và một chú từng là Thượng Phụ. Từ trẻ đă là Cán Bộ hành chánh cấp cao, là Sứ Thần bên cạnh Khalife ở Bagdad, rồi Bộ Trưởng Cung Điện, một trong những nhân vật quyền uy nhất trong triều. Rất giỏi văn học, văn phạm, triết lư thần học. Tính t́nh khôn khéo, kiên quyết, độc tài. Là tín hữu chân thành, Kitô hữu đích thật, kiểu Byzancia Phe Cêsarô–Giáo Hoàng chủ nghĩa của Hoàng đế và những ai thích một Kitô giáo co dăn, hợp thời đều thích ông.

Trước trách vụ thánh thiện, nhưng nặng nề này, Phôtiô rất do dự, người ta phải thuyết phục măi ông mới khấng nhận. Có một trở ngại là ông là giáo dân thường thôi. Nhưng không sao, ngày xưa Thánh Ambrôsiô cũng thế. Thế là ngày 20/12/858 Phôtiô chịu chức “cắt tóc”. Bốn ngày sau người chịu các chức khác: Độc Thư, Phụ Phó Tế, Phó Tế, và Linh Mục. Và lễ Giáng Sinh người được tấn phong Thượng Phụ – bởi một tay vị Tổng Giám Mục đă bị Đức I-Nhă treo chức và tuyệt thông. Sự hiện diện của Thượng Phụ I-Nhă thật lấn cấn. Người ta hứa hẹn với người đủ điều, ban tặng ngài những tước hàm, danh dự nhưng ngài phản kháng, một Công Đồng họp vội vă phản đối người cũng không thu xếp ổn thoả được. Nhiều vụ nổi loạn chống Phôtiô xẩy ra khắp nơi, nhiều Tổng Giám Mục tuyên bố đứng về phía Đức I-Nhă. Tu Viện Trưởng Tu Viện Stoudion nổi tiếng bị lưu đầy đi. Đức Thượng Phụ già bị lưu đầy ra một ḥn đảo , mặc dù người đă từ chức hợp lệ, mặc dù người đă thừa nhận quyền của Phôtiô, mặc dù người không khiếu nại lên Đức Giáo Hoàng hay đến một Công Đồng, người vẫn cứ là một biểu tượng chống đối Hoàng Đế. Kẻ thù của Hoàng Đế âm mưu đưa Thêôđôra lên ngai Hoàng Đế và đưa Đức I-Nhă về toà Thượng Phụ, họ bị bắt và cuối cùng Đức I-Nhă bị cách chức.

Lúc đó Đức Giáo Hoàng mới nhập cuộc. Tất cả các Thượng Phụ, khi đắc cử, đều viết thư cho các Thượng Phụ ở bốn toà kia, giải thích việc ḿnh đă được chọn và tấn phong như thế nào và tuyên xưng Đức Tin. Đối với các Thượng Phụ Alexandria, Antiôkia, và Giêrusalem việc thông báo chỉ có tính cách h́nh thức, v́ các vị ấy đang là tù nhân của Hồi Giáo, nhưng với Roma việc này cực kỳ là quan trọng. Thư trả lời của Giáo Triều là một sự công nhận chính thức. Đức Giáo Hoàng nhận thư của Phôtiô là Đức Nicôla I (858–867). Người liền xử dụng quyền kiểm tra của Thượng Quyền Roma. Dù khôn khéo thế mấy, thư của Phôtiô vẫn có kẽ hở, vẫn ḷi đuôi. Đức Nicôla trả lời bằng một bức thư dè dật, đồng thời gửi hai đặc sứ tới Hoàng Đế Micae “sỉn”, với trọng trách điều tra về việc bầu cử thượng phụ vừa qua. Bức thư hai vị đặc sứ mang theo nhấn mạnh t́nh bất hợp quy tắc của việc bầu cử, nhân thể cũng yêu cầu Hoàng đế trả lời Giáo Hội Tây Phương các phần lănh thổ ngày xưa đă bị Đức Lêô III người Isaurianô tước khỏi quyền tài phán của người. Hai đặc sứ tới Byzancia, hoặc bị Phôtiô lung lạc, hoặc v́ lư do nào khác, hai ngài chủ toạ một Công Đồng, chẳng những công nhân Phôtiô, mà Đức I-Nhă, một lần nữa, lại bị kết án. Khi Đức Nicôla nghe các đặc sứ của ngài báo cáo, không một giây do dự, ngài liền cách chức các vị, v́ đă vượt qúa quyền hành. Trong khi đó một phái đoàn thuộc phe Đức I-Nhă tới Roma (nhưng không phải do vị thượng phụ bị truất phế này cử đi) mang theo tất cả tư liệu về thảm kịch và kêu nài công lư. Một Công Đồng họp tại Roma năm 863 và các nghị quyết được gửi tới Byzancia và ba toà thượng phụ khác được cho biết là Đức Giáo Hoàng từ chối không công nhận Phôtiô. Một bản án Phôtiô lời lẽ rơ ràng hơn nữa được gửi tới Hoàng Đế.

Cuộc tranh chấp trở nên căng v́ vấn đề Bulgaria. Vụ Phôtiô xẩy ra đúng vào lúc Vua Bôrisô lănh nhận Bí Tích Rửa Tội (863-864) và đang phân vân lựa chọn giữa lễ nghi Latinh và lễ nghi Hylạp giữa sự thần phục Đức Giáo Hoàng, ở xa hơn và tự do hơn,và vị Cêsar –Giáo Hoàng Đông Phương cạnh nách. Việc Bôrisô chọn Ṭa Thánh là tự nhiên thôi. Đức Nicôla I không để lỡ cơ hội, người đă lợi dụng sự vụng về của Phôtiô trong vụ này, để tỏ ra hết sức ưu ái đối với Bôrisô. Việc đuổi các thừa sai Hylạp ra khỏi nước Bulgaria đă là dư luận Byzancia bất măn và Đức Thượng Phụ đă lật đật khai thác ngay sự việc này. Một phái bộ Giáo Hoàng được gửi sang Constantinôpôli để cho Hoàng đế biết rằng nước Bulgaria từ nay thuộc về Lamă. Phái bộ bị ngược đăi bỏ tù một thời gian rồi lại bị trục xuất.

Phôtiô biết được những khó khăn Đức Nicôla lúc đó đang gặp phải, như việc người vừa cách chức các Tổng Giám Mục đă chấp thuận việc ly dị của Vua Lôthariô II 1, ông ta liền lănh đạo cuộc tiến công chống Đức Nicôla I, tố cáo người nuôi dưỡng các “ư đồ không thể biện minh được” và đă có những sáng kiến nguy hiểm về tín điều. Và Giáo Hội Byzancia tuyên bố truất phế Đức Giáo Hoàng! Thế là khởi đầu một chiến lược, rất tai hại đối với Giáo Hội là nhấn mạnh những điều dị biệt nhỏ nhất, đánh nổi mọi cự ly, đầu độc, có hệ thống, các vết thương tự ái nhỏ, ghen tuông và đối lập.

Tháng 11 năm 876 bầu khí Roma – Byzancia, đang căng tới cực điểm, th́ dùng một cái,cách nhau có 10 ngày, cả hai đối thủ đều biến khỏi sân khấu. Đức Nicôla I qua đời ngày 13 và Phôtiô bị hạ bệ ngày 23.

Đức Hadrianô II kế vị Đức Nicôla I.

Nhà Isaurianô dứt điểm. Basiliô I đoạt ngôi Hoàng đế, sau khi giết Bardas và Hoàng đế Micae III, ông vội vàng tống khứ Phôtiô tạo vật của Bardas là điều tự nhiên. (và ông đă thực hiện việc này với một sự mau lẹ quá đáng và Công Đồng Constantinôpôli869-870 bị Giáo Hội Đông Phương loại ra ngoài danh sách các Công Đồng chung một thời gian lâu). Basiliô I lập lại hoà b́nh trong Giáo Hội  bằng việc hoà giải với Roma, đặt tất cả những người thuộc phe vị “tử đạo” I-Nhă vào hàng ngũ của ḿnh. Nhưng chẳng bao lâu Hoàng đế nhận thấy đă hoà hợp quá chặt chẽ với Roma và ông ghen v́ Đức Hadrianô sủng ái Hoàng Đế Tây Phương Lu-y II hơi nhiều. Ong xét thấy những lời tuyên bố thần phục người ta đ̣i hỏi phe Phôtiô là quá đáng. Và một lần nữa vấn đề Bulgaria lại làm cho mọi việc rối thêm.

Vua Bôrisô nổi giận, v́ xin Roma một toà thượng phụ độc lập cho nước ông mà không được, liền quay sang Basiliô I. Hoàng Đế nhận thấy ngay tầm quan trọng của vấn đề liền vội vàng thảo luận ngay với người Bulgaria. Thượng Phụ I-Nhă chấp thuận tấn phong một Tổng Giám Mục và 10 Giám mục cho nước Bulgaria, phản ngay Toà Thánh đă từng bảo vệ ông. Để vớt vát, Đức Hadrianô II cũng tấn phong Thánh Mêthôđiô làm Tổng Giám Mục Sirmium.

Việc đổ vỡ Đông Tây cũng chưa xẩy ra ngay. Giữa hai bên có nhiều quan hệ, nhiều truyền thống chung. Các Đức Giáo Hoàng, vào thời Carôlô Cả đă hướng về Tây Phương, bây giờ lại phải quay sang Đông Phương, v́ nhà Carôlô ở Au Châu suy thoái, bỏ các ngài bơ vơ trước muôn ngàn đe doạ, nhất là cơ nguy Hồi Giáo.

Đức Gioan VIII (871-882) đă kêu gọi người Hylạp chống lại sự xâm nhập của Hồi Giáo. Đức Gioan VIII giỏi ngoại giao hơn chiến đấu, nên người hướng về hoà giải.

Phôtiô biết chờ thời. Rốt cuộc ông đă thiết lập được quan hệ với Đức Gioan VIII . Thượng Phụ I-Nhă, bị Roma trách về việc người đă hầu như phản bội, trong vụ Bulgaria, đă xích lại gần Phôtiô. Basiliô I cần thầy dậy cho các hoàng tử cũng đă chọn Phôtiô vào chức vụ này, v́ ông là người rất giỏi. Khi Đức I-Nhă qua đời, Phôtiô trở lại Toà Thượng Phụ dễ dàng.

Ở Roma gió đổi chiều. Một Công Đồng, mệnh danh là “Công Đồng Photiô” họp tháng 11-879, công nhận Đức Tân Thượng Phụ, xoá bỏ các bản án cũ. Phôtiô cũng nhận những lời khiển trách của vị Giáo Hoàng già Gioan VIII một cách rất đạo hạnh.

Nhưng Bulgaria vẫn không cấp chiếu khán nhập nội cho các thừa sai Latinh, và Giáo Hội Đông Phương kiếm chuyện trách cứ Tây Phương  v́ đă có những sáng kiến mới có vẻ khả nghi, nhất là việc dùng từ Filioque trong Kinh Tin Kính.

Khi thế kỷ IX kết thúc t́nh h́nh bề ngoài xem ra tốt. Giáo Hội Đông- Tây hoà giải. Quân đội Byzancia đến giúp Roma đẩy lui Hồi Giáo tại Nam Ư. Thực tế một vết thương đă mở ra có thể bị làm độc lại. Phôtiô đă biến mất, Ông bị thất sủng, năm 886 bởi Hoàng đế Lêô VI, người kế vị Basiliô I. (Lêô VI chính thức là con Basiliô I, nhưng thật ra ông là con ngoại t́nh của Micae III. Hoàng Đế này dă gả nhân t́nh của ḿnh cho Basiliô I kẻ được ông sủng ái. Vậy, Cha chính thức của Lêô VI là người đă giết bố thật của ông. V́ thế vị Hoàng đế trẻ tuổi này thù ghét tất cả những ai đă phục dịch Basiliô I). Nhưng sách của Phôtiô vẫn tiếp tục phổ biến nhất là cuốn “Chống những ai nói rằng Roma là Toà số một” và cuốn “Luận về Đức Thánh Linh” trong đó ông tấn công các “sáng kiến” Lamă. Từ đây sự chống đối Đông -Tây nặng thêm: Trước kia, Thượng Quyền Roma không bao giờ bị đem ra bàn căi, bây giờ nó bị đặt vấn đề. Xưa nay chỉ có các Đức Giáo Hoàng kết án các bè rối Đông Phương, bây giờ Giáo Hội Byzancia có sáng kiến chỉ trích giáo lư của Toà Thánh. Vụ Phôtiô đă mở ra con đướng ly khai. Vị Thượng Phụ trở thành tiền hô của Giáo Hội Byzancia ly khai khỏi Roma. Như sẽ xẩy ra 150 năm sau.1

6. Micae Cêrulario và cuộc ly khai Hylạp.

a) Sự đổ vỡ lâu xảy ra v́:

Trong thế kỷ X, các sử gia Byzancia c̣n mải tán tụng các chiến công chống Hồi Giáo và chống Rợ Bulgaria.

Ngai Giáo Hoàng suy sụp v́ phe phái, gương mù thời kỳ đen tối nhất của Giáo Hội.

Các ngành của nhà Carôlô lần lượt tàn lụi ở Tây Phương, khiến Byzancia yên tâm.

Thỉnh thoảng có những lư do, đột xuất nhưng quan trọng, khiến Byzancia hoà hoàn với Roma, như vụ Hoàng đế Lêô VI cưới vợ lần thứ tư, bị Đức Thượng Phụ làm khó dễ, đă nại đến Đức Giáo Hoàng và  được người ủng hộ, những dịch vụ loại này các Hoàng Đế  không quên được.

Sự hợp tác Roma-Byzancia rất cần để chống cơ nguy Hồi Giáo, rồi Rợ Bắc Phương.

b) Nhưng các nguyên nhân chống đối vẫn c̣n đó:

Việc trung hưng của Byzancia, dưới thời nhà Macêdônia, khiến Giáo Hội Đông Phương lớn tiếng đ̣i độc lập, tự trị. Ba toà Thượng Phụ kia, dưới quyền Hồi Giáo, hầu như đă bị lu mờ, chỉ c̣n hai nhà lănh đạo Roma Cũ và Roma Mới mặt đối mặt. Sau Phôtiô, các Thượng Phụ ở Constantinôpôli ngày càng tính rời Toà Thánh, chẳng hạn như việc báo tin đắc cử không c̣n đều đặn nữa.

Giữa hai Giáo Hội không c̣n chống đối giáo lư. Xét về một mặt nào đó, đây là điều đáng tiếc, v́ khi tranh căi thần học, ở Byzancia vẫn luôn luôn có một phe dựa vào Đức Giáo Hoàng. Ngai Giáo Hoàng ngày nay không c̣n đóng vai tṛ thành luỹ của chính thống nữa.

Vấn đề Filioque do Phôtiô dấy lên, nói cho ngay măi về sau người ta mới say sưa tranh căi.

Trái lại có vô số khó khăn về lễ nghi. Ở Đông Phương cứng ngắc, đồng nhất khắp nơi, trong khi Tây Phương rất đa dạng, các chi tiết nhỏ nhặt dưới mắt người Byzancia cũng hoá quan trọng.

Tân chủ nghĩa ái quốc Hylạp, do việc trung hưng của nhà Macêđônia  bốc lên, đă khiến giai cấp lănh đạo Byzancia lên mặt khinh bỉ Tây Phương mọi rợ, đang làm mồi những trận đánh đẫm máu và rối mù.

Các tu sĩ ly khai với Roma, v́ họ thất vọng thấy các Đức Giáo Hoàng công nhận Phôtiô, cho phép Hoàng đế làm phép hôn phối đến lần thứ tư, và đưa lên toà Thượng phụ những nhân vật bất xứng. Chẳng hạn Đức Giáo Hoàng Gioan XI đă giúp cậu bé Thêôphylactê con út của Hoàng đế Rômanô Lêcapênô, đắc cử thượng phụ. Người ta truyền chức Linh Mục lúc cậu 10 tuổi và tấn phong Thượng Phụ khi cậu 16 tuổi, thực chất cậu chỉ mê có ngựa.

Thực tế, giữa thế kỷ X, sự trung thành với Roma trong ḷng người Byzancia rất mong manh, chỉ cần một sự chính trị là sự tách rời từ từ trở thành đổ vỡ.

-Hai sự kiện lịch sử hoàn tất việc chuẩn bị lâu dài này:

1/ Sự xuất hiện của Thánh Đế Quốc Lamă Nhật Nhĩ Man. Sự kiện này chứng tỏ Toà Thánh vẫn trung thành với chính sách thân Tây Phương, với những “quân mọi rợ” kia.

2/ Việc chỗi dậy của ngai Giáo Hoàng, dưới ảnh hưởng của cuộc canh tân Cluny và với sự ủng hộ trực tiếp của các Hoàng Đế Nhật Nhĩ Man. Các sự kiện đổ vỡ đă tập họp xong.

c) Người gây đổ vỡ là Micae Cêrulariô, Thượng Phụ Constantinôpôli, từ 1043 đến 1058, hồi trẻ chỉ bận tâm làm việc chính trị, từng dự vào một âm mưu quan trọng và mơ làm Hoàng Đế. Trở lại, làm tu sĩ, liền thành một nhà khổ hạnh, say mê thần học! Không thành Hoàng Đế, ông thành Thượng Phụ. Vừa đắc cử ông đă tuyên bố “chức vụ ông không kém chức vụ của hoàng bào và triều thiên” và ông quyết định trở thành Giáo Hoàng Đông Phương.

Khoảng 1050, Micae Cêrulariô tiến công. Lư do:

-Lúc đó Hoàng Đế Đông Phương Constantinôpôli IX, Hoàng Đế Tây Phương Henricô III và Đức Giáo Hoàng Lêô IX họp nhau chống Rợ Bắc Phương và Hồi Giáo. Thượng Phụ Micae Cêrulariô e rằng ảnh hưởng của Đức Giáo Hoàng tại miền Nam Ư làm mờ ảnh hưởng của người, nhất là trước cái “tam đầu chế” kia, Đức Giáo Hoàng và hai Hoàng Đế b́nh đẳng, tự nhiên Đức Thượng Phụ thấy ḿnh tụt xuống hàng thứ yếu! Người vốn ghét Roma bây giờ lại thấy tham vọng của ḿnh bị đe doạ: một sự việc xẩy ra vào năm 1052 cho thấy thượng quyền mà người đang mơ ước đem lại cho “Toà ta” đang có cơ nguy như thế nào, đó là việc Đức Tân Thượng Phụ Thánh Phêrô thành Antiokia đă giữ tục lệ cũ là gửi thư báo tin đắc cử lên Đức Giáo Hoàng. Việc này dĩ nhiên, Đức Thượng Phụ Cêrulariô không đời nào làm.

Ông quyết định hành động, bắt Hoàng Đế ngưng chính sách hoà hợp kia lại. Micae Cêrulariô tiến công theo một hướng, ông biết chắc dân chúng sẽ theo ông, đó là hướng các lễ nghi cực thánh. Ném đá dấu tay, ông khiến các vị Giám Mục dưới quyền dấn thân vào cuộc chiến. Tổng Giám Mục Lêô thành Ochrida, ở Bulgaria – lúc đó hoàn toàn thần phục Byzancia -  viết thư cho Giám Mục thành Trani ở miền Hạ Ư (vị này trực thuộc Roma mặc dù giáo phận nằm trong lănh thổ Byzancia, như thế không khác chi Cêrulariô viết cho Đức Giáo Hoàng). Ít lâu sau, một tu sĩ của Tu Viện Stoudion cũng viết một truyền đơn. Cả hai văn bản đều có ư đồ như nhau: tố cáo những sai lầm của Giáo Hội Tây Phương. Những sai lầm ghớm ghiếc như:

-Hiệp lễ với bánh không men, bánh chết, vật chất không sự sống, bắt chước thói tục của quân Du dêu.

-Ăn thịt không cắt tiết, vi phạm thô bạo các lệnh truyền của Thánh Linh.

-Ăn chay ngày thứ bảy: ư đồ giữ ngày Sabát.

-Bỏ Halleluia trong Mùa Chay, trái truyền thống.

-Linh Mục không để râu: hết ư!

Theo lệnh Thượng Phụ các nhà thờ Latinh ở Constantinôpôli phải đóng cửa, trong cơn hỗn loạn Thánh Thể bị dầy đạp dưới chân.

Cạnh Đức Giáo Hoàng Lêô IX bấy giờ có Đức Hồng Y Humbertô thành Moyenmoutier, người rất thông minh kiên quyết, chủ trương canh tân Giáo Hội. Người dịch các tư liệu ra tiếng Latinh và Đức Giáo Hoàng trao cho người phụ trách việc trả lời. Người không bàn căi các chi tiết mà người Byzancia nêu ra, người khẳng định quyền Tông Toà, mà Công Đồng Nicêa đă xác nhận, là “không thể bị xét xử bởi bất cứ ai”. Tắt một lời người đặt vấn đề đúng chỗ: Thượng quyền Roma và tính Công Giáo “phổ quát” của nó.

Đồng thời Micae Cêrulariô, không dấu diếm, viết cho Đức Thánh Cha rằng: “nếu ngài làm cho tên tôi được tôn kính trong một nhà thờ ở Roma thôi, tôi bảo đảm sẽ làm cho tên ngài được tôn kính trong khắp thế giới”. Đó là một cách ông ta coi ḿnh b́nh đẳng với Đức Giáo Hoàng, và ông ta đă nhận được thư trả lời rằng Giáo Hội Đông Phương hăy ở lại trong sự hiệp thông cùng Phêrô, hoặc nó sẽ chỉ c̣n là “dị giáo, ly giáo, hội đường của Satan”. Lời lẽ bắt đầu nóng rồi.

Đức Lêô IX cử sang Constantinôpôli, để thu xếp vấn đề này, Đức Hồng Y Humbertô và một vị nữa, tên là Frêđêricô, sau này là Giáo Hoàng Clêmentê IX, cả hai đều thiếu mềm dẻo và không quen vấn đề ngoại giao phức tạp của người Byzancia. Hai ông Tây này chấp nhận căi lấy về bánh không men và bánh có men, chỉ trích việc các linh mục Đông Phương có gia đ́nh, các ngài rơi vào bẫy của Micae Cêrulariô, ông này chỉ muốn kéo dài việc bàn căi để đầu độc dư luận. Dân Byzancia khẳng định rằng tất cả các thánh lễ do người Tây Phương cử hành từ đầu cho tới bây giờ đều không thành, đều vô hiệu. Trong khi đó đức Thượng Phụ cứ im lặng, ít can thiệp, chờ giờ.

Và chính các Đức Đặc Sứ Toà Thánh kéo chuông báo giờ đó. Ngày 16/7/1054, Đức Hồng Y Humbertôvà các phụ tá đến Vương Cung Thánh Đường Đấng Khôn Ngoan vào giờ lễ trọng. Sau khi hung hăn chỉ trích Đức Thượng Phụ là làm loạn, chống lại quyền bính của Đức Giáo Hoàng, Đức Hồng Y bèn long trọng đặt bản án tuyệt thông trên bàn thờ rồi ra khỏi Vương Cung Thánh Đường, các đấng rũ bụi giầy và nói: “Nguyện cầu Chúa thương xem và xét xử chúng ta”. Cứ chỉ ngoại mục này, theo ư Đức Hồng Y, phải mang tính quyết định và sẽ khiến Hoàng đế đập tan Micae Cêrulariô. Nhưng đứng về mặt giáo luật mà xét, nó hoàn toàn vô nghĩa, v́ hai lư do: 1/ Các đắc sứ khéo léo không ai làm như thế. 2/ Đức Giáo Hoàng Lêô IX đă qua đời từ ngày 16/4, quyền đại diện người không c̣n. Cứ chỉ ngoạn mục kia có tính quyết định thật, nhưng không quyết định như ư Đức Hồng Y Đặc Sứ.

Người được lợi là Micae Cêrulariô. Đang bị cáo là kiêu ngạo, muốn xé rách Tấm Ao liền lại không đường may của Chúa, từ đây ông ta nghiễm nhiên trở thành đấng bảo vệ Giáo Hội Đông Phương, bị quân Tây Phương chà đạp! Nhân dân xiết chặt hàng ngũ sau lưng ông.

Hoàng Đế Constantinô IX, đang muốn hoà hợp với Roma để chống Rợ Bắc Phương, liền thử dàn xếp. Nhưng một vụ nổi loạn xẩy ra, Hoàng Đế chỉ c̣n biết đi t́m sự an ủi trong ṿng tay cô nhân t́nh trẻ.

-Thánh Phêrô Thượng Phụ Antiôkia, muốn đứng ra làm trung gian hoà giải, liền bị đẩy ra một cách khinh khi.

Bây giờ làm chủ Đông Phương, Cêrulariô mới dứt điểm vấn đề: ông mang sắc tuyệt thông ra đốt tại quảng trường, nhưng chỉ đốt bản sao thôi, c̣n bản chính người giữ để làm “bằng chứng ô nhục muôn đời” của quân Tây Phương.

Ngày 24/7/1054 Công Đồng Giáo Hội Đông Phương họp với một tá Tổng Giám Mục, tại Vương Cung Thánh Đường Đấng Khôn Ngoan công bố một chiếu chỉ Công Đồng, trong đó quân Latinh  bị kết án đắc tội, v́ đă muốn làm sai lạc Đức Tin chân chính. Mấy tuần sau Cêrulariô lại bổ sung thêm một bản văn, gọi là ấn định các quyền của Toà Constantinôpôli đối với Roma, ông tự coi ḿnh là đại diện duy nhất của Kitô giáo chân chính.

Micae Cêrulariô đă thắng. Tại Constantinôpôli người làm chủ. Nhưng người lại muốn dây ḿnh vào những cuộc khủng hoảng chính trị xẩy ra liền liền sau năm 1054, khi nhà Macêđônia sụp đổ. Ông âm mưu lật đổ Micae VI năm 1057 và đưa Isaac Comnène lên thay, lập ra một triều đại mới. Nhưng Comnène không muốn là một đứa con nít, bên cạnh vị Thượng Phụ. Lễ Giáng Sinh 1058, lợi dụng lúc Đức Thượng Phụ tĩnh tâm trong một tu viện, xa quần chúng Constantinôpôli, ông liền ra lệnh bắt giữ, sắp đem ra xử th́ người qua đời. Dư luật quần chúng quá khích, khiến Hoàng đế phải đích thân đi rước xác vị “tử đạo”, một cách hết sức long trọng, đem về, phải để cho Giáo Hội “phong thần”. Về sau, dưới thời Constantinô X, ông này lấy cháu ruột của Cêrulariô, Đức thượng Phụ được phong hiển thánh và mừng lễ hàng năm.

Trong năm 1054, cuộc ly khai Hylạp đă hoàn tất và c̣n tồn tại măi. Hai bên đều phải chịu trách nhiệm. Một bên th́ kiêu ngạo, điêu ngoa, một bên th́ vụng về, cố chấp. Đến ngày phán xét biết trả lời sao v́ sự đổ vỡ này, đă nhận thấy từ lâu, nhưng người ta đă không lấy bác ái mà tránh đi?

Ngay bấy giờ, ở Roma, cũng như ở Constantinôpôli, dư luận đều cho rằng phe ta đă toàn thắng. Người Latinh tự hào v́ đă đập tan sự kiêu ngạo của Thượng Phụ. Người Byzancia tự hào v́ đă cứu Đức Tin khỏi sai lầm vô đạo của quân Tây Phương. Đức Hồng Y Humbertô cũng tự hào trong một báo cáo tràng giang đại hải. Tại Constantinôpôli, người ta thích thú đọc một tập sách nhan đề “Luận về quân Franc”, trong đó người ta đọc được biết: ở Tây Phương, trong khi đang lễ, phụ nữ vẫn tới đùa dỡn, nhí nhảnh với các linh mục, ngồi cả lên toà Giám Mục nữa. Với những sách vở như thế, dần dần ăn sâu vào đầu óc người dân một sự đối lập ngu xuẩn.

Hiếm có nhưng Kitô hữu đích thật cảm thấy đau đớn v́ vết thương của Giáo Hội, như Thánh Phêrô thành Antiôkia, hay như tu sĩ Georgiô, dám tuyên bố năm 1064 rằng “không hề có sự khác biệt nào giữa người Hylạp và người Latinh”.

Lâu lắm khối Kitô giáo mới chấp nhận ư tưởng ly khai. Các Giáo lữ hành hương Đất Thánh vẫn tiếp tục đi ngang lănh thổ Byzancia. Các Đức Giáo Hoàng vẫn giữ quan hệ chính thức với các Hoàng Đế Đông Phương. Có Hoàng Đế, như Micae VII, rộng tay làm phúc cho các tu viện Tây Phương, nhất là Núi Cassinô. Ở Kiew không có thay đổi ǵ trong quan hệ với Tây Phương cả. Ba cô gái của ông hoàng Jaroslav (qua đời một cách đạo đức năm 1054) vẫn lấy các vua Pháp, Hungaria và NaUy, không gặp khó khăn ǵ về tôn giáo cả. Ngược lại, các công chúa Tây Phương lấy các hoàng tử Kiew cũng không hề có cảm giác ḿnh sống trong vùng ly khai. Sách Tin Mừng ở thành Reims, dùng trong lễ Tấn Tôn các vua Pháp, là một cuốn sách Slavia, do hoàng hậu Anna, con gái Jaroslav đem theo khi kết hôn với vua Henricô I. Một thế kỷ sau, một công chúa Nga, với một nhóm thiếu nữ, đă lập một tu viện ở Giêrusalem, và Giáo Hội Latinh đă phong thánh cho bà, dưới tên thánh nữ Euphrôsina.

Nhưng vết rách không lành và ngày càng toặc ra. Việc Rợ Bắc Phương chiếm các lănh thổ Byzancia ở Ư và, về sau, việc lôi thôi do Thập Tự Quân, khiến việc ly khai trở nên vĩnh viễn.

Trong những thập niên gần đây, với phong trào đại kết, hai Giáo Hội đă có những cố gắng xích lại gần nhau, như việc đức Phaolô VI gặp Đức Athenagoras tại Thánh Địa năm 1964, việc trả lại đầu Thánh Anrê Tông đồ cho Hylạp, lễ giải vạ trong ngày bế mạc Công Đồng Vaticanô II, ngày 7/12/1965 v.v…

7. Tín hữu Byzancia-Núi Athos

Nhưng Byzancia không phải toàn Thượng Phụ kiêu ngạo và thần học gia hiếu chiến. Đức Tin các Giáo Phụ Cappadoce, của những vị bảo vệ Anh Thánh không v́ những chủ chăn xấu, dắt đoàn chiên vào đường ly khai, mà tắt đi. Ngày nay ở Tây Phương nhiều Kitô hữu vẫn c̣n hướng về Đông Phương, như về một nguồn mạch lớn lao ít người biết tới.

Thế kỷ IX–X, trên lănh vực giáo lư, lănh vực người Byzancia vốn là bậc thầy, không có ǵ lạ. Anh đuốc thần học đă chuyển sang Tây Phương. Sau Thánh Gioan Đamat (+794) và Thánh Thêôđôrô Stuđitô (+826), ở Đông Phương không có ai nổi tiếng bằng nữa. Nhà thần học độc nhất đáng kể than ôi, lại là… Photiô ông viết về Thánh Linh, bôi bác công thức Filioque. Sau khi ông chết, ảnh hưởng độc hại của tác phẩm này vẫn tồn tại.

Nhưng tâm hồn Byzancia ở chỗ khác. Ở nơi nhân dân say mê các lễ nghi, các luật lệ, các thực hành hầu như mê tín, nhưng đức tin rất cảm động. Nó ở nơi các linh mục, được phụng vụ bảo vệ đời sống tinh thần. Nó ở nơi các tu sĩ sống xa thế gian, trong núi, trong sa mạc, để tận hiến cho Thiên Chúa.

Nghi thức chủ nghĩa không ngừng gia tăng. Kitô giáo Byzancia khác căi vă với Giáo Hội Latinh về những tiểu tiết làm ta phải ngạc nhiên, họ cũng tranh chấp với Giáo Hội Armênia v́ Giáo Hội này, khi ăn chay, cấm ăn trứng và pho mát! Điều này khiến người Hylạp tuyên bố là “lạc giáo lợm giọng”. Nhưng các lễ nghi tỉ mỉ ấy không ngăn cản việc phát triển một đức tin sâu xa. Như phong trào sùng kính Đức Maria, đă nảy sinh và phát triển trong các thế kỷ trước, tiếp tục lớn mạnh, cuộc gẫy đổ năm 1054 không dập tắt được. Như Đức Tin đầy nhiệt t́nh của các Hoàng Đế, các nhân vật cao cấp, rất thành tâm, dù lạc điệu, đi từ tội ác đến sám hối, từ đời cuồng nhiệt đến khổ hạnh, như ĐứcTin thanh b́nh, nội tâm của các bà vợ, bà mẹ, các nữ tu. Tất cả những điều nói trên, cùng với phụng vụ huy hoàng tạo cho Đông Phương một vẻ đẹp đặc biệt.

Một trong những chứng tá hùng hồn nhất của Kitô giáo Đông Phương thế kỷ IX–X là bậc đan tu. Nhiều đan viện thành lập thời Macêđônia c̣n sinh động đến ngày nay. Việc tranh chấp Anh Thánh đă băi bỏ các tu viện trong Đế Quốc, nhiều luật pháp được ban hành gây khó dễ cho bậc đan tu, như cấm tuyển tập sinh… Phe Đập phá Anh Thánh đổ, đan tu coi như thắng trận lại bung mạnh. Các tu viện xưa như núi Olympia lại rất đông thỉnh sinh. Nhiều đan viện mới được thành lập, có khi rất xa, như Grotta Ferrata, gần Roma các hoàng đế, hoàng hậu, hoàng tử, các nhân vật bự đều lập ḍng và dành quyền kiểm tra nhà họ đă lập. Ơn gọi rất nhiều, đến nỗi nhiều lần chính quyền phải giới hạn, tuổi đi tu từ 10 tuổi được đôn lên 16 tuổi, cấm công chức công nhân bỏ nhiệm sở đi tu. Các cộng đồng thế kỷ IX, X là những vườn ương các Kitô hữu ưu tú, nơi hầu như độc quyền sản xuất Giám Mục.

Các đan viện phụ Đông Phương, tuy xa cách thế gian không trực tiếp tác động đến xă hội, chứng tá về ḷng tin, khổ hạnh, thánh thiện của nhiều vị rất đáng nể. Thời này h́nh thức biệt tu Đông Phương, do Thánh Antôn, Thánh Pacômô, Thánh Sabas chế ra (anachoritisme) giảm xuống. Phần lớn các đan viện giữ luật Thánh Basiliô: sống chung, vâng phục, chay tịnh, lao động bắt buộc, tựa như ở Cluny. Việc “cầu nguyện liên tục” được thi hành hầu như khắp nơi. Trong nền đan tu Đông Phương ảnh hưởng “người đời” không mạnh như ở Tây Phương phong kiến.

Một trong những biến cố lớn của thời này là việc thành lập tu viện Núi Athos. Ở nới thâm sâu cùng cốc nước Hylạp, trên một giải đất dài 45km, núi Athos từ lâu vẫn có những nhà khổ tu, phân tán trong các ẩn viện. Năm 962 Thánh Athanasiô–Phố–Tu1 (de la laure) đă đến nơi đây và “Núi Thánh” nhờ người đă có bộ mặt như ta thấy ngày nay.

Thánh Athanasiô sinh tại Trêbizonde, lớn lên tại Constantinôpôli, trở thành tu sĩ và làm linh hướng của vị hoàng đế tương lai Nicêphôrô Phocasô. Lần đầu tiên người tới Athos, năm 985, làm ẩn sĩ: Nicêphôrô đem người về làm Tổng Tuyên Uư Hải Quân, năm 961 đă giải phóng đảo Crêta khỏi ách Hồi Giáo. Sau đó Thánh Athanasiô lại trở về Athos, lập một “phố tu”, Nicêphô dâng tất cả chiến lợi phẩm đă chiếm được của Hồi Giáo cho phố Tu này. Chẳng bao lâu quanh tu viện này–sau những khó khăn v́ đụng chạm với các đấng tịch tu–toàn bộ Núi Athos được tổ chức. Phố Tu Lớn trở thành trung tâm của cộng hoà đan tu, c̣n sinh động tới ngày nay, được lịch sử, chiến tranh và người Thổ đều tôn trọng.

Nơi đây, trong cảnh hoang vu Địa Đàng, lời kinh liên tục được dâng lên Thiên Chúa, bởi hàng ngàn tâm hồn từ khắp thế giới Kitô giáo “Chính Thống” tới, họ nói 5 hoặc 6 thứ tiếng khác nhau. Trong vách đá cheo leo, là những hang của các thầy biệt tu” (anachorete), sống một ḿnh với Thiên Chúa cho tới chết, như thời ông Thánh Antôn. Đó đây trong rừng là những tu viện nhỏ của các đấng “viện tu” (cénobite) và những lều trong đó vài ba đấng ẩn tu sống với nhau. Đó đây những đan viện đồ sộ, như cả một thanh tŕ, thành tŕ của đức tin, với những kho tàng như truyện cổ tích.

Đời sống tôn giáo ở đây đă thay đổi nhiều từ thời các vị hoàng đế, giữa hai trận đánh, lại đến “cấm pḥng”?

Ngôi nhà thờ kiểu thánh giá Hylạp, Catholicon, vẫn đứng giữa sân vuông, chung quanh có các nhà nguyện. Trong các nhà ăn, các bàn bằng đá, đó đây có khoét lỗ làm dĩa, bóng láng, do tay của biết bao thế hệ tu sĩ. Trên các vách tường là những bích hoạ tŕnh bày những cảnh huy hoàng của Giáo Hội Byzancia. Nơi đây toả ra một bầu không khí tĩnh tâm, cầu nguyện, vui vẻ, thanh b́nh, dưới ánh mặt trời Hylạp rực rỡ, trong tiếng sóng biển ŕ rào. Các tu sĩ mặc áo đen rộng, như bay lượn đó đây, thinh lặng trầm mặc. Th́nh ĺnh có tiếng mơ vang dội: một tu sĩ trẻ đi ngang, tay cầm một thanh gỗ, tay kia cầm búa gơ, thay chuông. Thế là khắp nơi các tu sĩ đen vội vă tiến về nhà thờ “Catholicon”. Và qua cánh cửa mở rộng bắt đầu tiếng hát thánh vịnh chậm đều…