5. Các cuộc chinh phục mới cho Thánh Giá

 

Vào lúc Giáo Hội Đông Phương Byzancia gieo hạt giống Tin Mừng nơi các xứ Bulgaria, Đại Moravia, Nga, các thừa sai Nestôriô tranh thủ các dân từ Malabar đến Tây Tạng, từ Turkestan đến Trung Quốc, Giáo Hội Tây Phương cũng đang làm những cuộc chinh phục mới.

a) Miền Trung Au và Đông Au

Dân Slavia ở Đức: Carôlô Cả và các Hoàng Đế kế vị ông không nghĩ tới việc tiến sâu vào các bộ lạc Slavia. Nhưng khi các Hoàng Đế người Saxon nắm vận mệnh đế quốc, họ muốn đập tan ổ  chống đối này. Dưới thời Henricô Săn Chim Ottô Cả, Giáo Hội đă tham gia vào công tác của họ, cũng một cách tương tự như cách Carôlô Cả đă làm xưa đối với Saxon, nhưng thô bạo hơn: các linh mục và tu sĩ đi theo binh đội, tổ chức Giáo Hội, củng cố tổ chức hành chánh quân sự, đấu tranh tôn giáo thêm vào đấu tranh chủng tộc. Kết quả là người ngoại giáo bại trận hết sức thù ghét các thừa sai Nhật Nhĩ Man có bàn tay đẫm máu và thù ghét luốn cả tôn giáo t́nh yêu mà các đấng đă tŕnh bày quá dở. Dĩ nhiên các Tổng Giám Mục MagdebourgHambourg đăng toà dễ dàng. Nhưng khi người bại trận nổi loạn (980–983) th́ họ liền thắt cổ một trong các Giám mục của họ, bắt bớ vầ tra tấn các giáo sĩ, cướp phá nhà thờ và các tu viện. Lại phải mở chiến dịch mới, lại phải cử thừa sai mới, Kitô giáo mới bắt rễ một cách èo uột trong các miền này. Thánh Adalbertô thành Hambourg, vào giữa thế kỷ XI, mặc dù hết sức trung thành với tinh thần Đức Kitô, cũng chỉ đạt được những kết quả mong manh. Năm 1066 lại xẩy ra một cuộc nổi loạn mới.

b) Xứ Hungaria

-Sau khi bành trướng hung hăn vào đầu thế kỷ X, đập tan xứ Đại Moravia, người Hungaria bị chặn lại năm 955 ở đồng bằng lớn sông Danube, họ trở thành nông dân tĩnh tại (không c̣n du mục nữa) và lẫn lộn với dân địa phương. Họ cũng có đôi chút ư niệm về Kitô giáo–các giáo sĩ đă quan tâm đến tù nhân Magyar ở Đức, nhiều vị thừa sai đă muốn tranh thủ họ cho Đức Kitô. Pilgrinô, Giám mục Passau bí mật nuôi ư đồ biến xứ Hungaria thành một toà Tổng Giám Mục của người và người chậy chọt Roma. Thất bại, nhưng tham vọng của người đă đưa nhiều thừa sai tới cửa Sông Danube.

-Năm 970 quận công Gésa kiểu rằng muốn cứu nước phải theo Kitô giáo. Vợ ông là Thánh nữ Ađêlaiiđa, một công chúa Slavia, và Thánh Adalbertô thành Praha làm việc để mở nước Chúa.

-Năm 997, con của Gêsa và Ađêlaiiđa, khi Rửa Tội lấy tên là Têphanô, lên cầm quyền. Người hết hôn với Gisêla, một công chúa Đức. Và biến nước ḿnh thành một vương quốc tự trị.

-Năm 1001 Đức Giáo Hoàng Sylvestre II phong người làm “Vua Tông Đồ”. Giáo Hội Hungaria có hàng Giáo phẩm với các Tổng Giám Mục và Giám mục. Nhiều cộng đồng đan tu thành lập trên đât Hung. Tin Mừng hoá nông thôn, xây dựng làng xă, mở rộng nền văn minh. C̣n phải cố gắng nhiều năm để Tin Mừng thấm nhiễm miền nông thôn hẻo lánh, nhưng bước quyết định đă vượt qua. Thánh Têphanô là Clovis của người Hungaria. Nhưng thánh thiện hơn vua người Franc nhiều –và, cạnh người, Thánh nữ Ađêlaiida là một Clotiđa khác.

-Xứ Bohêmia là một mảnh của xứ Đại Moravia, đă bị người Hungaria xưa đánh bại. Giáo Hội đă rửa tội cho người Magyar (Hungaria) cũng không bỏ người Bohêmia, là kẻ thù của họ. Xứ này ít được các thừa sai Byzancia của Thánh Cyrillô và Thánh Mêthôđiô đụng tới. Phiếm thần c̣n mạnh. Việc Tin Mừng hoá gặp nhiều khó khăn.

Thánh nữ Ludmilla, v́ truyền bá đức tin Kitô giáo đă chịu tử đạo (920) chính nàng dâu ngoại giáo đă xiết cổ mẹ chồng.

Thánh Weuceslasô, cháu của người, nhờ người đă trở thành một Kitô hữu vĩ đại, đă mời các thừa sai tới địa phận của người, xây nhà thờ chánh toà Praha, tử đạo năm 935, do tay người em út là Boleslasô lănh tụ phe ngoại giáo. Boleslaô I, kẻ tội phạm, đă sám hối và trở lại chính sách của anh. Các con gái ông ta đều là Kitô hữu đă lập những tu viện đầu tiên. Con trai ông là Boleslaô II đă lập toà Giám mục Praha, năm 973, và mời Thánh Adalbertô về làm Giám mục toà này. Khoảng năm 1000 ở đây c̣n nhiều việc phải làm, nhưng Thánh Adalbertô chán nản bỏ toà Giám mục của người, vào một Đan Viện ở Ư, rồi chịu tử đạo tại Phổ.

-Xứ Ba Lan: Trong trường hợp này cũng vậy, việc trở lại có sự can thiệp của một phụ nữ: Thánh nữ Dombrowska, một công chúa người Bohêmia. Chồng bà là quận công Miecsyslav, được bà cố vấn, vừa theo chính sách Kitô giáo, vừa hoà hoăn với các Hoàng Đế Nhật Nhĩ Man. Một toà Giám mục được thành lập ở Poznan. Nhưng, để tránh lệ thuộc Đế Quốc, quận công đă xin làm chư hầu Toà Thánh.

Con của Miecsysla và Dombrowska là Boleslaô Can Đảm (992–1025) đă lập ra Vương Quốc Ba Lan Kitô giáo, cũng như Thánh Têphanô, người lợi dụng thuyết “liên bang Kitô giáo” của Hoàng Đế Ottô III để đưa xứ sở thoát khỏi sự bảo hộ của Đế Quốc Nhật Nhĩ Man. Hài côt Thánh Adalbertô thành Praha, tử đạo tại Phổ, được chuyển về Gnieznô thủ đô của người. Ottô III đă đến cầu nguyện trước mộ của đấng khi c̣n sống người đă hết ḷng ngưỡng mộ. Vua Balan lợi dụng hoàn cảnh để xưng vương. Giáo Hội Balan được thành lập với toà Tổng Giám Mục Gnieznô và các toà Giám mục Kolberg, Breslau, Cracôvia trực thuộc. Ở Balan, cũng như ở Hungari và Bohêmia, người ngoại giáo c̣n phản kháng. Năm 1033 họ đốt tu viện, tàn sát một phần lớn hàng giáo sĩ. Casimirô I “Đấng Phục Hưng Nước Balan” đă dứt điểm một cách khôn ngoan, cơn khủng hoảng này. Hạt giống Tin Mừng đă bén rễ, không ǵ bứng đi được.

Thế giới Scandinavia từ thế kỷ IX đến XI đă đi từ phiếm thần sang Kitô giáo – Hải tặc, từng cướp phá các xứ Kitô giáo, lănh nhận bí tích Rửa Tôi.

Haralđô “răng xanh” là vua phương Bắc đầu tiên lănh Bí tích Rửa Tội, năm 950, với sự trợ giúp của hoàng hậu Gunhilđa, đă cố gắng đưa dân Đan Mạch trở lại.

Olafô Đấng thánh, vua Nauy, cựu thuỷ thủ, đă mời nhiều linh mục và tu sĩ từ Anh sang loại trừ phiếm thần.

Ericô, ở Thuỵ Điển do dự giữa hai niềm tin, nhưng con người Olafô là Kitô hữu có chí tông đồ.

Knutô Cả (1017–1035), là nhân vật quan trọng nhất của các dân tộc này, đă tạo ra một đế quốc huy hoàng, gồm các đảo Anh Quốc và tất cả xứ Scandinavia, và Kitô giáo hoá đế quốc ấy. Sự nghiệp chính trị của ông không tồn tại, nhưng cố gắng xoá bỏ phiếm thần của ông rất hữu hiệu.

Sau khi ông mất, Đế Quốc của ông tan ră. Năm 1050, với sự ủng hộ của Tổng Giám Mục  Adalbertô thành Hambourg, các cộng đồng Kitô giáo phương Bắc được thành lập, trên b́nh diện quốc gia, với hàng giáo phẩm riêng, trực thuộc Roma.

Kitô giáo của các xứ Scandinavia có nền tảng chắc chắn, từ đó tung ra các thừa sai đến tận các xứ xa xôi:

-Băng đảo (Islande): nơi đây họ c̣n thấy những kỷ niệm của các tu sĩ người Celtica, con cái Thánh Columbanô và Thánh Brenđanô–Thuỷ Thủ và họ đă lập các cộng đồng, vết tích nay vẫn c̣n.

-Thanh đảo (Groenland), do Erikô–Đỏ phát hiện ra vào thế kỷ X. Nhà thờ và tu viện mọc lên. Người ta t́m thấy phế tích của 12 nhà thờ và mộ của một Giám mục. Xứ này có một Giám mục từ năm 1126 – chôn không có ḥm, nhưng với một gậy bằng răng cá ngựa (hải mă). Răng hải mă đóng vai tṛ quan trọng trong nên kinh tế Thanh Đảo: người đảo này đă dùng răng hải mă đóng thuế cho Đức Giáo Hoàng … Cộng đồng này biến mất vào thế kỷ XV, theo lời người ta nói, là do thời tiết quá lạnh, khiến cây cỏ cần thiết cho đoàn vật chết hết.

Đă từ 3 thế kỷ, Tây Ban Nha ở dưới ách Hồi Giáo. Ở miền Bắc nẩy ra xứ Castilla, gồm thành LêônGalicia, nơi có mộ Thánh Giacôbê Tiền, ở Compostellanô. Phía Đông Bắc nẩy ra các vương quốc Aragona và Navarrea và trên Địa Trung Hải có Công Quốc Barcelona. Suốt thế kỷ X nguy cơ Hồi Giáo vẫn tồn tại ở Tây Ban Nha, ngay miền Nam nước Pháp thỉnh thoảng cũng bị họ tiến công.

Chính Kitô giáo Pháp vào Năm 1000 đă dấy lên việc “Tái Chiếm”: Thánh Giacôbê ở Compostellano rất thiết thân với tâm hồn tín hữu. Năm 987, công tước Barcelona đă kêu gọi Hugues Capêtô đến giúp chống lại quân Hồi. Nhưng không có kết quả. Về sau, nữ công tước Ermessinđa thành  Barcelona lại kêu gọi cứu giúp và Rogêrô, người Normanđô đă bay tới cứu giúp người đẹp một cách rất hào hoa phong nhă và gây kinh hoàng cho quân Hồi. Ít lâu sau, tới lượt quận công Guillaumô Sanche xứ Gascogne vượt dẫy Pyrênê tàn phá các thành Hồi Giáo. Rồi xứ Bourgonia thể theo lời yêu cầu của Đức Đan Viện phụ Cluny, là Thánh Ođilôn đă tiến công bờ phía đông Tây Ban Nha. Đan Viện nổi danh lần này đă nhận được một phần lớn chiến lợi phẩm. (Nicêphôrô Phôcasô cũng làm vậy với Đan Viện Athos)

Thế là, ngay từ ½ đầu thế kỷ XI, việc “tái chiếm” xứ Tây Ban Nha của lịch sử thời Trung Cổ đă bắt đầu.