Phát sinh từ thời nhà Mêrôvê1 và nở rộ vào thời Carôlô. Các xứ có đạo lâu đời như Ư, Gaule thêm nhiều nhà thờ, mọc lên trên những vùng mới khai phá. Ở Đức, giữa thế kỷ IX c̣n ít, nhà thờ mọc lên khắp nơi ở nông thôn một thế kỷ rưỡi sau, ở xứ Bôhêmia, Balan, Hungari đầy nhà thờ.
a) Quanh nhà thờ là Giáo xứ, chính từ thời kỳ này, từ này chỉ định vĩnh viễn tổ chức cơ bản, mà ngày nay chúng ta gọi là “giáo xứ”. Mỗi giáo xứ có một vị lănh đạo, lúc đó c̣n gọi là “kỳ lăo” (Presbyter) chứ chưa gọi là cha sở. Một chủ chăn một đoàn chiên. Cấm cha xứ không được nhận con chiên làng khác sang dự lễ xứ ḿnh, trừ ra họ đang đi đường văng lai. Trên nguyên tắc, cha xứ tuỳ thuộc Đức giám mục một cách chặt chẽ, mặc dù quyền Giám mục thường hay tranh chấp với quyền lănh chúa phần đất mà giáo xứ toạ lạc. Nhà thờ xứ trước kia chỉ là nhà tranh vách đất, nay bắt đầu xây dựng bằng đá, là biểu tượng của cộng đồng, là nơi thánh, để cử hành phụng vụ, là nhà chung nơi hội họp của dân Chúa, tiền đường là nơi cử hành các việc công. Người ta yêu quư và kính trọng nhà xứ, người ta dâng cúng rất quảng đại.
-Thuế thập phân, công đồng Trosly (909) đă ấn định đánh bằng 1/10 hiện vật, từ nay đánh trên tất cả lợi tức(chứ không phải trên hoa mầu mà thôi) không có vẻ là quá nặng. Nhà thờ, nơi người ta lănh bí tích rửa tội, là nơi, hằng năm với phụng vụ người ta theo dơi các mùa, trở về là nơi người ta mơ ước được chôn cạnh đó sau khi chết, quả là một tế bào sống của cơ thể Kitô giáo.
b) Toà Giám mục mặc dù bị phong kiến thấm nhiễm, trong nhiều trường hợp nó tước đoạt cả chức tước lẫn tài sản, nhưng cơ cấu này vẫn trường tồn, không ǵ phá huỷ được. Quan niệm “Thành” Lamă c̣n tồn tại nơi toà Giám mục. “Thành”, thời đó chỉ những thành kín có tường thành vây quanh, nơi ngự trị của một Giám mục, dù nó không phải là một thành của đế quốc Lamă xưa, trong thành có “nhà thờ chính toà”, mẹ các nhà thờ trong miền. Các Kitô hữu rất hănh diện và chi nhiều tiền để nó được cao và lớn. Nhà thờ chính toà được đặt dưới sự phù trợ của các vị thánh nổi tiếng, nhất là ĐưcTrinh Nữ và thánh Têphanô hoặc các tông đồ hay một nhân vật trong tân ước, được coi như đấng sáng lập địa phận. Chung quanh Giám mục có một bộ chỉ huy: các Kinh Sĩ họp thành Kinh Sĩ Hội phụ tráhc việc đọc kinh chung trong thành Giám mục, tương tự như các tu sĩ, cũng có luật như kiểu đan tu, chặt chẽ nhiều ít. Các kinh sĩ chọn trong giới giáo sĩ ưu tú, thườgn khá đông( ở Pháp kinh sĩ hội nhỏ nhất có 12 kinh sĩ, lớn nhất ở nhà thờ chánh toà Chartres là 72 cũng làm các chức năng hành chánh, quản lư tài sản toà Giám mục, phụ trách trường học và công tác bác ái đứng đầu là vị tổng phó tế. Quyền hành của các Đức Giám mục vượt quá giới hạn thành lan đến một lănh thổ rộng lớn gọi là địa phận, một đơn vị đế quốc xưa. Trên nguyên tắc quyền này thuộc về toà Giám mục. Là chủ hoặc quản lư những tài sản rất lớn (do thuế thập phân của các xứ đóng góp và do nhiều lễ vật dâng hiến). Đức Giám mục là nhân vật hàng đầu của xă hội Kitô giáo, như đă thấy từ 7,8 thế kỷ.
Quả là phong kiến có dây vào các toà Giám mục. Giám mục bị thế tục hoá, nhiều vị mất phẩm chất nhưng vẫn có những Giám mục vĩ đại. Những vị xây cất không biết mệt như:
-Giám mục Noyon tái thiết nhà thờ chánh toà, bị rợ bắc phương phá huỷ năm 900.
-Giám mục Metz biến đổi hoàn toàn nhà thờ chánh toà của người.
-Các Giám mục Beauvais hoàn thành nhà thờ chánh toà sau 70 năm cố gắng, từ 924 đến 996.
-Đức Giám mục Fulbertô mở ngay công trường tái thiết nhà thờ chánh toà Chartres năm 1020, sau khi nhà thờ bị hoả hoạn thiêu rụi.
Những vị Giám mục phong kiến cũng là những Kitô hữu quảng đại, bác ái, chăm sóc người hèn mọn, ngạn ngữ thời này có câu: “Sống dưới gậy giám thật là tốt”
c) Tu viện giữ luật thánh Biển Đức, là thành tŕ Kitô giáo và văn minh. Mỗi tu viện là một trung tâm lan toả trong một miền rộng lớn nhiều ít. Dân chúng đến sinh sống quanh đó, tạo ra những khu trù mật những thành phố. Khắp Tây Au bao trùm môt mạng lưới tu viện, với những mắt ngày một mau.
Đan viện cũng bị ảnh hưởng phong kiến, như đan phụ là người phần đời chẳng hạn, nhưng nó vẫn được trang bị để đương đầu với các lănh chúa tốt hơn giáo sĩ triều. Tu viện có ba vũ khí là sự bảo vệ của nhà vua, của lănh chúa lân cận (đại tụng) và sự miễn trừ, trực thuộc Toà Thánh. Hai kẻ thù của một đan viện là Giám mục và công tước. Cả hai đều ghen tức v́ đan viện có quyền lực và giầu có, v́ các tu sĩ được độc lập. Công tước tính chuyện sử dụng tài sản của tu viện c̣n Giám mục, ngoài chuyện này c̣n thêm ḷng nghi ngờ vị Đan Phụ v́ trong cộng đồng người là chủ ngay sau Thiên Chúa. Để chống lại, các tu sĩ sử dụng ba vũ khí sẵn có:
1) Nhiều đan viện “tự hiến cho vua”, như thế công tước và Giám mục không dám trắng trợn với nhà ḍng. Các vua nhà Capêtô ngay từ đầu đă áp dụng chính sách bảo vệ các đan viện. Đan viện trở thành những trung tâm độc lập, thành tŕ của trật tự, hiệp nhất, trung thành trước nạn hỗn loạn phong kiến ngày một tăng, vườn ươm các chính khách các nhà văn sẽ tái tạo nước Pháp. Các vua Capêtô mang nợ các đan viện lớn như Fleury, Cluny, Thánh Đêni, Thánh Martinô thành Tours, Thánh Bênigna thành Dijon, Thánh Riquiêrô… rất nhiều.
2) Nếu vua ở qúa xa, hoặc quá bận, người chỉ định một lănh chúa lân cận làm đại tụng (Avoué), vị này dùng vũ lực tránh cho đan viện mọi nguy hiểm. Nhưng than ôi thường th́ các vị đại tụng này cũng chỉ là kẻ tham ô. Nhưng đây là một sự dữ cần thiết nhỏ hơn, hơn là bỏ mặc đan viện cho mọi kẻ tham lam, tuy nhiên có một số vị đại tụng đă trung thành phục vụ các đan viện đă được trao phó cho họ.
3) Cuối thế kỷ VIII đă xuất hiện, và phát triển trong năm thế kỷ kế tiếp, thói miễn trừ, tu viện được đặt trực thuộc Toà Thánh. Đây là một phương thế vĩ đại cứu văn nền đan tu. Từ năm 751, Đức Giáo Hoàng Zacharia đă đặt Đan viện Fulda dưới quyền tài phán trực tiếp của Rôma, để đan viện này không phải thần phục bất cứ một giáo hội nào. Gương này được nhiều người theo. Trực thuộc Đức Giáo Hoàng trở thành giấc mộng của các ḍng tu: Vêzêlay được miễn trừ năm 865, Fleury năm 878… thậm chí khi các vua lập đan viện th́ cũng đặt nó “dưới sự bảo trợ của các thánh Tông Đồ”. Không ai được đụng đến các đan viện miễn trừ, bằng không sẽ bị phạt rất nặng. V́ thế tự nhiên các đan viện trở thành công cụ của Toà Thánh.
d) Toà Thánh vào thời kỳ này bị dằng co giữa các thế lực gây đổ vỡ, đồng thời vẫn phát triển và chuẩn bị tương lai, dù hầu như không ư thức điều đó. Chung quanh các vị Giáo Hoàng yếu đuối hoặc bất xứng, bên cạnh giáo triều thối nát, là cả một tập thể giáo sĩ, làm việc v́ vinh quang của Giáo Hội. Đó là 7 vị phụ giúp Đức Giáo Hoàng trong việc cai trị, giống như các quan phụ giúp hoàng đế Byzancia. Vai tṛ các vị này trong thế kỷ X giảm đi. Ba vị đầu tiên trong số bảy vị tạo thành Viện Chưởng An, có nhiệm vụ soạn thảo và gửi các công văn của Toà Thánh. Viện này đă có ít ra là 4 thế kỷ. Các Giáo Hoàng có thể qua đi nhưng viện chưởng ấn vẫn tồn tại và trong cơn sóng gió chính viện này đă cầm lái con thuyền Thánh Phêrô. Phẩm giá Toà Thánh có được phần lớn nhờ các viên lục sự vô danh này.
e) Các đặc sứ Toà Thánh giúp Đức Giáo Hoàng can thiệp vào khắp nơi một cách rất hữu hiệu.
f) Sự kiện quan trọng nhất trong một thế kỷ rưỡi này là địa vị Hồng Y. lúc đầu từ này chỉ định cách mơ hồ cácvị giáo sĩ chính của một nhà thờ. Đầu thế kỷ X, từ Hồng Y có nghĩa “chính”. Lúc đầu chỉ là một từ phù phiếm dùng cho chẳng những môt số nhân vật tôn giáo cao cấp ở Rôma mà cả Constantinôpôli, Milanô, Ravenna, Padoua, Laon, Sens, Colonia, Compostellanô và nhiều nơi khác. Nhưng cũng trong thế kỷ X, ở Rôma, vị “giáo sĩ chính” (HồngY) tranh thủ được uy tín đáng kể, một phần v́ các Giáo Hoàng bị lu mờ. Các vị gồm ba bậc: Hồng Y Giám mục , Hồng Y linh mục và Hồng Y phó tế.
-Hồng Y Giám mục: là 7 Giám mục các thành kế cận Rôma như Ostia, Albanô, Portô…xa nhất là Palestrina cách Rôma 39 km. Địa phận nhỏ, ít bận rộn, các ngài có thể phục vụ toà thánh, phụ tá Đức Giáo Hoàng trong các buổi hội họp lớn.
-Hồng Y Linh mục là các cha sở của những giáo xứ chính tại Rôma. Trong một thời gian lâu chỉ có 25 vị. Tước hiệu thứ 26 là thánh Têphanô ở Coeliô, thiết lập vào thế kỷ X. Trong khi các Hồng Y Giám mục phục vụ nhà thờ Chúa Cứu Thế ở Latêranô, các Hồng Y Linh mục luân phiên phục vụ trong ba đại vương cung thánh đường Thánh Phêrô, Thánh Phaolô Ngoại Thành và thánh Lôrensô Ngoại Thành.
-Hồng Y Phó tế là những người thừa kế 7 phó tế đầu tiên và những phó tế 7 khu vực trong Thành. Bây giờ các ngài ít bận rộn với các “khu vực” mà làm việc ở điện Latêranô.
Ba loại Hồng Y này chưa họp thành Hồng Y đoànvà cũng chưa phụ trách việc bầu Giáo Hoàng. Nhưng v́ trong ba loại giáo sĩ này có những nhân vật ưu tú nên tự nhiên họ trở thành một đoàn thể. Khi toà thánh muốn cho việc bầu cử Giáo Hoàng thoát khỏi ảnh hưởng của Hoàng đế Nhật Nhĩ Man th́ đă dựa vào Hồng Y đoàn. Năm 1059 Đức Nicôla II trao cho viện Hồng Y trách nhiệm chỉ định Giáo Hoàng.