CĂN TÍNH CỦA LINH MỤC
THÁNH LỄ TẠ ƠN .
TÂN LINH MỤC ANTÔN NGUYỄN THANH VŨ.
GIÁO XỨ AN NGĂI 03 THÁNG 6 NĂM 2008.
Lm Antôn Nguyễn trường Thăng
Trong những ngày qua, tại thánh đường nhiều giáo xứ trong giáo phận Đà Nẵng vang lên những bài ca cảm tạ v́ hồng ân linh mục Chúa đă thương ban. Tại Trà Kiệu trong thánh lễ truyền chức linh mục, bao lần chúng ta đă nghe những lời thật cảm động. “ Xin đáp lại tiếng Chúa dắt d́u. Ngài gọi con trở thành ánh sáng... Đêm với ngày biết nói năng ǵ. V́ t́nh thương không bờ không bến ( Hoan ca tận hiến) “ Đầu con Chúa xức đượm dầu . Ly rượu con đầy tràn chan chứa. Ḷng nhân hậu và t́nh thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời ( TV 22 ) “ Thân con mọn hèn đâu xứng đáng với t́nh Chúa.Thương con nên Chúa gọi mời ra đi tung gieo lời ngài ( Hiến lễ tinh yêu) T́nh nào yêu con hơn bao mối t́nh trần gian..T́nh nào yêu con khi con là tội nhân. T́nh nào yêu con nâng con lên hàng bạn thân...Có một t́nh yêu lạ lùng, rất bao la hơn đại dương. Chúa yêu con nhiều khi con c̣n trong bóng tối. Đang khi con là thân yếu đuối.. ( Có một t́nh yêu) Biết lấy ǵ cảm tạ..T́nh Chúa thương con từ thưở con c̣n hư vô..ngài gọi con vào đời..thương con như biển rộng mênh mông ( Bài ca tạ ơn) Oi hồng ân tuyệt vời là cho con được hiện hữu trong Đức Kitô ( Hiện hữu trong Đức Kitô).
Trong thánh lễ hôm nay những điệp khúc và tâm t́nh tạ ơn lại tiếp tục vang lên qua các bài đọc Cựu và Tân ước mà cao điểm là lời Tin mừng Thánh Gioan đoạn 15, câu 16.
“ Không phải anh em đă chọn thầy, nhưng chính thầy đă chọn anh em và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái ( Gioan 15, 16.)
Hai mươi thế kỹ đă qua đi , kê từ ngày Đức Kitô thiết lập chức vụ linh mục công giáo, mọi người vẫn hướng về linh mục và đặt câu hỏi “ linh mục là ǵ, linh mục là ai? tại sao có linh mục? Chính bản thân linh mục cũng tự hỏi, tôi là ai? Tại sao tôi mà không phải bạn bè tôi? Về học vấn : họ tài giỏi hơn tôi. Về khả năng lănh đạo: họ rất xuất sắc . Về đạo đức : họ rất thánh thiện. Về ḍng tộc, quê hương ,về khả năng tài chánh...họ hơn tôi nhiều. Mà tại sao Chúa không chọn họ...lại là tôi???
Linh mục đă trở thành một huyền nhiệm.
Tưởng rằng chữ linh mục đă bị thế giới nầy quên lăng, đă được đưa vào viện bảo tàng trước thế kỷ 21 như nhiều chuyên viên các thế kỷ 18, 19, 20 dự đoán. Thế mà lạ thay, chữ linh mục vẫn c̣n rất sống động trong thời đại toàn cầu hóa, thời đại xa lộ thông tin hôm nay. Tôi thường có một lối giải trí là gỏ một từ nào đó vào công cụ t́m kiếm của Google. Không biết Nhật ngữ, Hoa ngữ, An ngữ, Nga ngữ và hàng ngàn ngôn ngữ khác viết chữ linh mục như thế nào, nhưng từ linh mục chỉ qua vài ngôn ngữ quen thuộc như từ priest , tiếng Anh tôi thấy hiện ra 72.900.000 tài liệu, từ pretre tiếng Pháp có 4.830.000 tài liệu, từ sacerdote tiếng Ư và tiếng Tây Ban Nha 6.850.000 lần , tiếng Đức priester 6.180.000, và cuối cùng là tiếng Việt từ linh mục cũng hiện ra 6.160.000 bài viết
Hóa ra linh mục vẫn c̣n có chỗ đứng trên thế gian nầy, trong thời đại con người chinh phục không gian, chế ngự nguyên tử, du hành nguyệt cầu.
Cái nh́n và đánh giá về linh mục cũng thật đa dạng, thôi th́ thượng vàng hạ cám, linh mục thánh thiện, đạo đức, tài ba lổi lạc cũng có mà tội lỗi khốn nạn cũng không vừa.
Sự hiện diện của linh mục làm cho nhiều kẻ vui mừng , nhưng bóng của ông đi qua cũng làm cho nhiều người khó chịu.
Nhiều người tâng ông lên tận trời , linh mục “ Alter Christus’’, Chúa Kitô khác hoặc thứ hai, nhưng kẻ khác d́m ông dưới đáy địa ngục’’ sọ thầy cả lót đáy hoă ngục’’.
Linh mục luôn là đề tài ăn khách : để ca tụng hoặc hạ bệ.
Do đâu con người nầy có những nghịch lư, những mâu thuẩn nội tại.
Nữ tiểu thuyết gia Lệ Hằng trong cuốn tiểu thuyết Tóc Mây, sôi nổi một thời, đă đặt thẳng câu hỏi.
Linh mục thánh thiện hay tội lỗi ?
Cuộc tranh cải sẽ không thể nào chấm dứt. Quả thật nếu t́m sự thánh thiện th́ linh mục cũng có thánh thiện, mà đề cập đến tội lỗi th́ linh mục cũng yếu hèn không kém.
Vậy muốn đi t́m chân dung linh mục ta phải dùng đến ‘’ kính hiển vi Tân Ước’’ để khám phá ra hợp chất kỳ lạ nầy.
Trong thư thứ nhất, gưĩ cho Timôtê, thánh Phaolô đă gọi, linh mục là ‘’Homo Dei ‘’ Người của Thiên Chúa’’ ( 1 Tm 6,11 )” Phần anh, hởi người của Thiên Chúa, hăy tránh xa những điều đó; hăy gắng trở nên người công chính, đạo đức, giàu ḷng tin va ḷng mến, hăy sống nhẫn nại và hiền ḥa.”
Phân tích hợp chất nầy chúng ta sẽ t́m ra căn tính của linh mục.
Là homo người, là con cháu Ađam Evà nguyên tổ phản loạn, th́ cái ‘’ gen’’ tội nguyên đă ăn sâu vào đời sống người linh mục, cho nên họ cũng có thể phạm tội, ngă sa, yếu đuối… Chức vụ linh mục không bảo vệ họ vô nhiểm trước cạm bẩy cám dỗ hằng ngày. V́ thế nếu linh mục phạm tất cả những giới răn của Chúa và Hội Thánh th́ cũng chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên.
Chúa Giêsu không cầu nguyện với Chúa Cha ‘’ cất họ ra khỏi thế gian’’ mà chỉ cầu cho họ ‘’ khỏi ác thần.’’ ( Ga 17, 15)
Nhưng linh mục là người “Của Thiên Chúa’’Homo Dei” , tức khắc linh mục được bao trùm trong hương thánh thiện. Một lời nói và một cử chỉ của linh mục trong khi thi hành các nhiệm tích sẽ trở thành những phép lạ.
‘’ Cha rửa con Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần’’ , một con người dưới quyền ma quỷ được ơn tái sinh, ơn sinh lại làm con Chúa, làm con Hội Thánh qua bí tích Rửa tội.
‘’ Vậy cha tha tội cho con Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần’’ th́ một tội nhân bên bờ vực thẳm hoả ngục được cứu sốngqua Bí tích giao ḥa.
Và ngay cả Thiên Chúa vô cùng cao cả cũng chấp nhận lời đề nghị của linh mục ‘’ Nầy là Ḿnh Thầy, Nầy là Máu Thầy’’ để hiện diện trong nhiệm tích Thánh Thể.
Ôi, linh mục, ngươi mong manh biết bao và cũng dũng mănh dường nào.
Sự dũng mănh ấy chắc chắn không phát xuất từ miêu duệ đất bùn AĐam , Evà mà từ hồng ân, từ sức mạnh thần thiêng Thiên Chúa.
Hương thơm quư giá được chứa đựng trong chiếc b́nh đất sét dễ vỡ.
Bản trường ca tuyệt bút của T́nh Yêu Thiên Chúa được viết trên nền đất bụi mỏng manh.
Cái hợp chất lạ lùng : thánh thiện và yếu hèn đă tạo nên con người linh mục.
Tuy linh mục mang thân phận yếu hèn, nhưng qua con người đó sự thánh thiện và nguồn ân sủng của Thiên Chúa hiện diện.
Hôm nay, trước những linh mục c̣n ngát thơm dầu thánh hiến và nhiều linh mục đă ‘’ kinh qua’’ những năm tháng bụi trần, xin anh chị em hăy cầu nguyện cho các linh mục, hăy nâng họ chỗi dậy khi con người trần tục vùng lên như muốn đè bẹp con người thần thiêng.
Xin tất cả hăy cùng cảm tạ hồng ân tuyển chọn của Chúa, v́ ‘’ bụi tro, ôi thân con là bụi tro đâu đáng chi ’’, chỉ v́ t́nh thương bao la đă cất nhắc anh em linh mục lên một địa vị quá cao sang diệu kỳ.
Chúa muốn dùng họ để tiếp tục hiện diện trên thế giới nầy. Các linh mục sẽ là đôi chân, là đối tay nối dài của Chúa; là tiếng nói tha thứ , là ánh mắt, là nụ cười, la con tim yêu thương của Chúa giữa thế giới c̣n nhiều khổ đau nầy.
Trên quê hương An Ngăi nầy, một quê hương nghèo nàn “ đất cày lên sỏi đá” nhưng t́nh Chúa vẫn dỏi theo trên 350 năm qua. Qua lịch sử, chúng ta ít biết đến tên An Ngăi v́ tài liệu lịch sữ chỉ nói đến Bàu Nghè. Tú tài Trần Nhật Tỉnh, người làng Quan Nam đă ghi trong Ḥa Vang Huyện Chí : An Ngăi đông, An Ngăi tây xưa hợp làm một xă, tục xưng là Bàu Nghè [Hựu án An Ngăi đông, An Ngăi tây cổ v́ nhất xă, tục xưng Bàu Nghè )
Nơi đâ đă in dấu chân các vị tu sĩ Ḍng Tên tiên khởi như Francesco Busomi. Francesco Pina, Đắc Lộ vào thời kỳ đầu truyền giáo tại Touron, Đà Nẵng.
Sau thời kỳ các linh mục ḍng Tên đặt nền móng kế đến các linh mục Thừa sai Paris tiếp nối công việc. Cha Vachet năm 1672 cho biết. "Trên đường (từ Huế) về Phai phô (Hội An) chúng tôi viếng các nhà thờ trên đường đi và chúng tôi đă dừng lại một ngày để thăm thôn Bao nhé, đây là một tổng nhỏ gần như toàn ṭng, người ta đếm được 8000 (giáo dân) quy tụ trong 4 nhà thờ khác nhau... phải mất 12 ngày để giải tội”, Ngài cho biết Đức Cha Lambert de La Motte, trong chuyến viếng thăm Địa Phận Đàng Trong lần thứ hai đă dừng lại ở nơi hẻo lánh nầy, một làng hầu như toàn ṭng, giáo dân 1500 người. Nơi đây có thể kể tên linh mục Hainques 1669. Linh mục Guiart mất ngày 24 tháng 5 năm 1673. Năm 1681, cha Lenoir làm việc tại khu vực nầy với 4 nhà thờ và 8000 giáo dân. Cuối thế kỷ 17, dầu thế kỷ 18 vùng nầy được gọi là "thiên đường các nhà truyền giáo" (paradis des missionnaires). Vào thời kỳ mà các linh mục luôn di động th́ nơi đây được diễm phúc có riêng cho ḿnh một vị mục tử coi sóc với một xứ đạo có ngân quỹ riêng và tổ chức nhân sự rơ rệt., Thừa sai Le Noir ”là vị đầu tiên trong số các thừa sai có được tư cách quản xứ, ngài có đầy đủ các năng quyền (patentes) dưới mọi h́nh thức."
Qua thế kỷ 18, các linh mục Godefroy 1712, cha Flory 1728, cha Bougine 1734 làm việc tại vùng nầy.
Cuộc bách hại của Vơ Vương năm 1750 đă khiến toàn bộ 50 linh mục hoạt động trong Giáo phận Đàng Trong bị trục xuất. Một vài linh mục như Joseph d'Azema trốn ở vùng Bàu Nghè cuối cùng cũng phải ra tŕnh diện và bị điệu về Đà Nẵng. Rồi chiến tranh nhà Nguyễn, Chúa Trịnh và Tây Sơn bùng nỗ năm 1774. Nhân dân trong vùng vô cùng điêu đứng. Linh mục Habout hoạt động tại đây đă viết :
"trong vùng núi, nơi mà con đă rửa tội cho một số đông lương dân đă hầu như hoàn toàn bị phá huỷ. Ở Bàu Nghè, năm qua (1774) từ tháng tư đến tháng chín âm lịch, có 600 giáo dân bị tử nạn Ở một nơi khác, cũng trong khoảng thời gian ấy, có đến 1500 giáo dân chết”
Qua thế kỷ 19, Ḥa b́nh lập lại chưa được bao lâu th́ cuộc bách hại do vua Minh Mạng khởi động năm 1835 ập đến và kéo dài đến 1887.
Chính trong cơn băo táp kinh hoàng ấy, Đức Cha Cuenot Thể quyết định xuống tàu thương gia Borel đang buôn bán tại Cửa Hàn về địa phận. Ngày 12-5-1835, từ Phố Mới (Singapore) tàu ra khơi, đến 28-5 đến băi Mai Liên, tỉnh Phú Yên cho năm người xuống đi ghe ra Quảng nam báo tin để đón. Ngày 30-5-35 tàu tới Cửa Hàn nhưng tới 16 tháng 6 vẫn chưa lên bờ được. Măi đến 24-6-1835, giáo dân mới đưa ghe ra đón. Lên băi Thanh Khê, có vơng chực sẵn, đưa về họ An Ngăi "vào nhà ông trùm Nên, là nhà đạo đức, là nơi tin cậy, thường các cha ẩn ḿnh tại đó". Vườn Trùm Nên chính là dải dất chúng ta đang cử hành thánh lễ. Tuy gặp bao nhiêu nguy khốn nhưng Đức Cha Thể vẫn lập hai Chủng viện ( Nhà trường) một tại Mương Lở ( tỉnh B́nh Định ) và một tại Bàu Nghè ( chính xác là họ đạo Tùng Sơn). Chính tại An Ngăi, Đức cha đă phong chức linh mục cho “ sáu linh mục Việt Nam là cha Hoan, cha Lănh, cha Lộc, cha Ṭng, cha Tư, cùng cha Linh.”
Ba năm sau tức 1838, ngài chuyển về G̣ Thị và được diễm phúc tử đạo tại đó năm 1861. Nhưng tại họ đạo An Ngăi nầy những tên vườn Đức Cha Thể, giếng, hầm trú Đức cha vẫn c̣n đó , cách nhà thờ An ngăi hiện nay chứng 300 mét đường chim bay. ( Mở ngoặc : xin Giáo phận Đà Nẵng và giáo xứ An Ngăi quan tâm khôi phục những di tích nầy.)
Máu các thanh tử đạo là hạt giống trở sinh tín hữu đă được minh chứng tại vùng thánh địa nầy. Tiếp tục truyền thống tốt đẹp ấy, qua thế kỷ 20, giáo xứ đă hiến dâng nhiều người con trong chức vụ linh mục : Cha Diện ( Ḥa Mỹ) phục vụ giáo phận Kontum, cha Chánh, cha Tư, cha Ai, cha Tới ,Cha Tađêô Mừng, Đức cha Phanxicô Xavie Nguyễn Quang Sách, và lm An Tôn đang chia xẻ với quư vị. Tưởng rằng với tên Thăng...th́ mọi hy vọng linh mục cũng “ thăng luôn” nhưng qua thế kỷ 21, những hạt mầm lại vươn lên với cha Thạnh , hôm nay cha Vũ và ít lâu nữa phó tế Kính cũng sẽ tiếp tục.
Hơi dài ḍng một chút nhưng quên những trang lịch sử đau thương và huy hoàng ấy , chúng ta quên mất gốc gác, sẽ không c̣n nhận ra t́nh thương Thiên Chúa dỏi theo mỗi bước đường chúng ta đi.
Và thưa cha, rồi những ồn ào , lễ lạc của những ngày đầu mới được thụ phong sẽ qua mau.
Rồi những lời xông hương tán tụng, cầu chúc sẽ xa bay… và Thánh Giá Đức Kitô sẽ đè nặng trên vai cha.
Con đường Thánh Giá mới là chính con đường Chúa mời gọi cha.
Tất cả cộng đoàn, bà con, thân hữu hứa sẽ tiếp tục cầu nguyện và nâng đở cha trên bước đường tiến đến Núi Thánh để ‘’ được trở nên khí cụ b́nh an của Chúa’’, và cũng xin hợp ư với cha trong niềm vui tuyển chọn .
Hợp với cha, giáo phận Đà Nẵng nói chung và An Ngăi nói riêng.. sẽ cùng cha tạ ơn t́nh thương vô bờ bến của Thiên Chúa.
‘’ Hồng ân Thiên Chúa bao la. Muôn đời con sẽ ngợi ca ơn Người.’’