CHÚA THÁNH THẦN
VÀ HOA TRÁI THẦN KHÍ (Gl 5)
Lm. G.B. Hoàng Văn Khanh
THÁNH THẦN NHƯ MỘT NGÔI VỊ: THÁNH THẦN T̀NH YÊU
Ngôn ngữ thần học gọi Thần Khí như một Ngôi vị. Khái niệm Ngôi vị bao hàm tư cách và chức năng. Khi nói Cha là Ngôi vị th́ tư cách của Ngôi vị đó "là Cha" và chức năng của Ngôi vị đó là "làm Cha", tức sinh ra Con, yêu thương Con. Khi nói Con là Ngôi vị, th́ tư cách của Ngôi vị Con "là Con" và chức năng là "làm Con", nghĩa là đón nhận sự sinh ra và t́nh yêu của Cha, đồng thời đáp trả bằng t́nh con thảo. Vậy, đâu là tư cách và chức năng của Ngôi vị Thần Khí ? Vấn đề đă được đặt ra từ những thể kỷ IV-V trong bối cảnh một số lạc thuyết chủ trương Thần Khí không thể ngang hàng với Chúa Cha v́ được Chúa Cha đổ tràn (Ed 39,29), được Cha trao ban (Ga 7,39); cũng không thể ngang hàng với Chúa Con v́ được Con sai đi (Ga 15,26). Để đối phó với những lạc thuyết đó, ngôn ngữ Công đồng và thần học đă sử dụng những khái niệm triết học đồng bản thể, nhiệm xuất, nhiệm xuy để khẳng định thần tính của Chúa Thánh Thần, Đấng được phụng thờ và tôn vinh hoàn toàn cùng với Chúa Cha và Chúa Con.
Trong tương quan với Chúa Cha và Chúa Con, Thần Khí xem ra như thiếu Ngôi vị tính, thụ động: được ban cho, được đổ tràn, được sai đến. nhưng trong khi thi hành sứ vụ được giao, ngôn ngữ Kinh Thánh cho thấy Thần Khí như một Đấng đầy ngôi vị tính, năng động, mạnh mẽ, tích cực (Is 11,1-5; Tl 3,10; 1S 1,6; 10,1; Am 3,8; 7,14; Gr 20,7). Kinh Thánh cho thấy Thần Khí tuôn tràn như cơn mưa đem sự sống cho vùng đất khô cằn (Is 32,15; 44,3; Ed 36,25; Gr 3,1), như sinh khí làm sống động những bộ xương khô (Ed 37), như một sáng tạo mới thay đổi bộ mặt xứ sở (Is 32,16), thay đổi con tim, ḷng dạ con người (Is 59,21; Tv 143,10; Ed 39,29), tác sinh (Ga 6,63; Lc 1,35), tái sinh (Ga 3,8), phục sinh (Rm 8,11), mạc khải chân lư (Ga 16,13).
Thánh Gregoriô Naziance đă sử dụng ư niệm processio để bênh vực thần tính của Chúa Thánh Thần (procedit a Patre). Từ ngữ này được Công đồng Constantinople I đưa vào tín biểu. Sau đó, sự xuất phát của Thánh Thần được thần học đặt tên là spiratio hoặc processio amoris. Spiratio do spiritus, spirare có nghĩa là thở ra, thở ra t́nh yêu (spirans amorem). Processio amoris là ǵ ?
Do sự thông đạt hoàn toàn giữa Cha và Con nảy ra t́nh yêu. Thánh Thần ví với t́nh yêu giữa Cha và Con. Trong lịch sử thần học, khi tŕnh bày mối liên hệ giữa Thánh thần với Cha và Con, người ta nhận thấy có hai lối diễn tả khác nhau nơi Tôma và Bonaventura, tuy cả hai cũng dựa trên Augustin.
Thánh Augustin đă ví sự xuất phát của Thánh Thần với t́nh yêu: amans, quod amatur, amor. Tôma đi từ Thiên Chúa như là Hữu thể (Esse), một hữu thể tinh thần với hai tác động là tri thức và yêu mến; từ đó có hai nhiệm xuất của Lời và của T́nh yêu (tức Ngôi Hai và Thánh Thần). Thánh Bonaventura th́ khởi sự từ Thiên Chúa như là Sự Thiện (Bonum). Sự Thiện tự bản chất là thông đạt toả lan (bonum diffusivum sui). Thiên Chúa là Sự Thiện tuyệt đối, cho nên cũng trào ra và thông đạt: Cha là kẻ yêu thông ban ḿnh cho Con; Con là kẻ được yêu tiếp đón t́nh yêu của Cha; Thánh Thần là t́nh yêu nối kết Cha và Con.
Dù diễn tả cách nào đi nữa, Thánh Thần vẫn được coi như T́nh Yêu liên kết Cha và Con, T́nh Yêu trao ban hỗ tương. Hơn thế nữa, T́nh Yêu ấy không khép kín trong nội tại của Thiên Chúa, nhưng tiếp tục trao ban dạt dào ra ngoài. V́ thế, tất cả mọi hoạt động của Thiên Chúa ra bên ngoài (tạo dựng và cứu chuộc) đều được coi như trào ra từ t́nh yêu trao ban nội tại của Ba Ngôi (x. AG 2). Như vậy, tất cả những ǵ Thiên Chúa thực hiện đều bắt nguồn từ t́nh yêu dạt dào của Người. Nói thế có nghĩa là tất cả những ǵ Thiên Chúa làm trong vũ trụ và lịch sử nhân loại đều bởi Thánh Thần, t́nh yêu trao ban và đón nhận giữa Cha và Con. Đối lại Thánh Thần biểu lộ cho thấy Thiên Chúa là T́nh yêu, là Hồng ân trao ban (1Ga 4,8.16).
Nơi con người, t́nh yêu thường mang tính chiếm đoạt đối tượng thiện hảo, giữ khư khư cho ḿnh; c̣n nơi Thiên Chúa, t́nh yêu thông ban chứ không nắm giữ chiếm đoạt. Hơn thế, khi ban phát chính ḿnh, t́nh yêu nơi Thiên Chúa ra như huỷ diệt chính ḿnh. Chúa Giêsu đă từng nói không có t́nh yêu nào cao quư cho bằng chết cho người ḿnh yêu (Ga 15,13). Ngài đă tự hạ, tự huỷ cho đến chết trên thập giá (Pl 2,6-11). Cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về Thánh Thần T́nh yêu. Ngài không tỏ ḿnh xuất hiện nhưng âm thầm tác động trong vai tṛ mối dây liên kết Cha với Con. Ngài cũng là mối dây kết tụ Hội thánh nên một gia đ́nh và đưa về hiệp nhất với Thiên Chúa. Ngài được ví như hơi thở làn gió. Ngài là t́nh yêu kín đáo nép ḿnh trong nội tâm sâu thẳm của Thiên Chúa cũng như trong thâm tâm của con người (1 Cr 2,11). Tuy nhhiên chính nhờ việc ẩn danh xoá ḿnh đó mà Thánh Thần tinh yêu duy tŕ cho các bản vị được tự lập chứ không bị xoá nhoà tiêu diệt. Con người khi yêu th́ muốn chiếm đoạt hoàn toàn người ḿnh yêu, muốn hoàn toàn đồng hoá với đối tượng yêu; c̣n t́nh yêu nơi Thiên Chúa th́ không như thế. Sự thông đạt t́nh yêu đ̣i phải duy tŕ hai chủ thể, nếu không th́ không c̣n là thông đạt. Giữa ḷng Thiên Chúa Ba Ngôi, luôn luôn có sự thông đạt: t́nh yêu liên kết các ngôi vị, tạo nên hiệp nhất nhưng không huỷ bỏ sự phân biệt Ba Ngôi. Đó là mầu nhiệm thông hiệp: hợp nhất trong khác biệt đa dạng. Thánh Thần t́nh yêu bảo đảm cho sự thông hiệp giữa ḷng Ba Ngôi th́ cũng trở thành nguyên tố và mẫu mực cho sự thông hiệp trong Hội thánh.
THÁNH THẦN TÁC ĐỘNG TRONG LỊCH SỬ CỨU ĐỘ
Đành rằng phải chờ đến Tân ước, mạc khải về Thánh Thần như một Ngôi vị mới rơ ràng, thế nhưng khi đọc lại toàn thể lịch sử cứu độ dưới ánh sáng Phục sinh, Kitô hữu nhận ra tác động của Chúa Thánh Thần ngay từ buổi đầu sáng tạo. Phân tích các bản văn Cựu ước, ta thấy nói tới "ruah Yaweh" (Thần Khí Chúa) không những đă hiện diện vào buổi đầu tạo dựng vũ trụ, nhưng c̣n tiếp tục duy tŕ cho các vật được hiện hữu. Nếu Thiên Chúa rút Thần Khí lại th́ mọi vật tan tành mây khói. Thánh Thần được kêu cầu như Thần Khí tác tạo (Creator Spiritus).
Cựu ước cho thấy Thần Khí Chúa hoạt động cách đặc biệt nơi lịch sử Israel, qua việc kêu gọi và thành lập dân Thiên Chúa mà lịch sử tạo dựng là hậu cảnh cần thiết. Xuất hành là khởi đầu cho tạo dựng mới. Qua Xuất hành và qua kinh ngiệm sa mạc, Thần Khí dẫn dắt Israel về Đất hứa. Môisê được lănh nhận Thần Khí để lănh đạo dân (Ds 11,16); từ Môisê, Thần Khí xuống trên 70 vị bô lăo (Ds 11,17.25-26). Môisê mong toàn dân được đầy Thần Khí (Ds 11,29). Điều này sẽ được ngôn sứ Gioen xác định vào ngày cuối cùng (Ge 3,1-5) và sẽ thành hiện thực vào Lễ Hiện xuống đầu tiên (Cv 2,1tt). Thần Khí từ Môisê qua Giosuê bằng việc đặt tay (Đnl 34,9; Ds 27,18-23); và từ đây bắt đầu một truyền thống sống động mà đối tượng là Thần Khí: các Thủ lănh nhận Thần Khí (Tl 3,10), Saul là vị vua đầu tiên của Israel nhận Thần Khí (1 Sm 10,6), rồi Đavít (1 Sm16,13)...
Niềm hy vọng của dân là được lănh nhận Thần Khí như các ngôn sứ đă từng loan báo (Is 32,15; 44,3; Ge 3,1-5). Ngôn sứ Giêrêmia nói về Giao ước mới do Thiên Chúa thiết lập bằng Luật ghi trong tâm hồn (Gr 31,31tt). Êdêkien cho rằng lời hứa về Giao ước mới và Lề luật ấy cốt tại những ân phúc của Thần Khí (Ed 36,26-27) là sự thánh thiện, sự trung tín, sự sống (Ed 37,1-14). Các ngôn sứ khẳng định sẽ xuất hiện Đấng được xức dầu (Messia = Kitô) là vị vua tràn đầy Thần Khí, có nhiệm vụ dẫn đưa dân đến cùng Thiên Chúa của họ. Isaia đệ nhị tŕnh bày người Tôi tớ đầy Thần Khí để đem Thần Khí đến cho muôn dân (Is 42,5). Người Tôi Tớ được chọn để làm giao ước với dân và nên ánh sáng chiếu soi muôn nước (Is 42,5-6), mang cứu độ đến tận cùng trái đất (Is 50,4-11).
Đến thời viên măn, Tân ước cho thấy tác động của Thánh Thần trong cuộc đời sứ vụ của Chúa Giêsu, từ nhập thể đến Phục sinh; rồi từ Phục sinh, Thánh Thần trở nên hồng ân mà Đức Kitô ban cho nhân loại. Có thể kể ra ba trường hợp điển h́nh:Thánh Thần can thiệp đặc biệt vào lúc nhập thể (Truyền tin), Lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa, Chúa Giêsu chịu chết trên thập giá. Chính lúc Chúa Giêsu tắt thở, không phải trút hơi ĺa đời mà là trao nộp Thần Khí. Chương tŕnh cứu rỗi được hoàn tất do việc Đức Kitô hiến mạng sống cho người ḿnh yêu; cử chỉ t́nh yêu ấy được đóng ấn với sự trao ban Thần Khí. Thần khí được ban từ hồi nguyên thuỷ, nay được ban dồi dào từ cái chết của Đức Kitô như mạch suối nước hằng sống (Ga 19.20; 7,37-39). Việc trao ban Thánh Thần được biểu thị hữu h́nh khi Chúa Giêsu nói: "Các con hăy nhận lấy Thánh Thần" (Ga 20,22). Thánh Phaolô nói Thánh Thần được trao ban từ cuộc phục sinh của Đức Kitô trở thành sinh lực cho ta, biến ta thành con cái Chúa và là bảo chứng cho việc chúng ta sống lại mai sau.
Thời của Hội thánh. Chúa Thánh Thần là tác nhân siêu việt. Người đă nói qua các ngôn sứ, qua việc chuẩn bị và hiện thực hoá mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô trong tâm hồn mọi người và trong lịch sử nhân loại. Người giữ vai tṛ chủ đạo trong toàn bộ sứ vụ của Giáo hội, đặc biệt sứ vụ truyền giáo (MR 21). Người chuẩn bị cho sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo hội qua việc gieo văi và phát triển những ân huệ nơi tất cả mọi dân tộc, nơi nền văn hoá và tôn giáo của họ. Chính Thánh Thần là Đấng gieo văi những hạt giống của Lời (sermences du Verbe) đang hiện diện nơi họ và chuẩn bị cho sự chín mùi của họ nơi Đức Giêsu Kitô. Nhiệm vụ này được thực hiện đầy đủ khi mọi người được hoàn toàn trở thành những tạo vật mới nơi h́nh ảnh của Thiên Chúa, mà qua đó họ đă được tiền định từ ban đầu. V́ thế, chỉ có một sứ vụ cứu độ từ Chúa Cha đến với nhân loại, thông qua Đức Giêsu Kitô, Người Con Một, Ngôi lời nhập thể, và Chúa Thánh Thần (RM 36). Đặc biệt, sách Công vụ đề cập đến hoạt động của Thánh Thần, xuất hiện như Đấng linh hứng của Lời, Đấng thổi sinh khí cho đời sống Giáo hội, Đấng hướng dẫn sứ vụ truyền giáo của Giáo hội.
THÁNH THẦN VÀ HOA TRÁI THẦN KHÍ
1. Thánh Thần như ân huệ (Spiritus Sanctus ut Donum)
Trong ḷng Ba Ngôi, Thánh Thần là T́nh yêu trao ban giữa Cha và Con. T́nh yêu trao ban ấy tràn trào trên vũ trụ và nhân loại. Đặc biệt, Thánh Thần là ân huệ Thiên Chúa Cha ban cho Hội thánh qua Đức Kitô chết và sống lại. Thánh Thần tuôn tràn trên Hội thánh nhiều dạng hồng ân khác nhau nhằm xây dựng Hội thánh và cộng đoàn. Thần học thường nói tới bảy ân huệ của Chúa Thánh Thần. Thần học về bảy ân huệ dựa trên đoạn văn Is 11,1-2. Ngôn sứ nói đến vị vua lư tưởng thuộc ḍng Đavít, được Thần khí trang điểm với các nhân đức lỗi lạc vượt xa các tiền bối. Theo nguyên bản Hipri, có 6 đức tính ghép từng đôi một: Thần khí khôn ngoan và thông hiểu (Esprit de sagesse et dintelligence); Thần khí định liệu và mạnh bao (Esprit de conseil et de force); Thần khí nhận biết và kính sợ Giavê (Esprit de science et de crainte de Yahvé). Không hiểu v́ lư do ǵ mà đức tính chót (kính sợ Giavê) lại được lặp lại ở câu 3 tiếp theo (Ngài được đầy tràn Thần khí kính sợ). Có lẽ v́ muốn tránh sự trùng hợp lặp lại, nên bản dich Septante và Vulgata đă đổi kính sợ Chúa ở câu 2 ra là hiếu thảo (eusebia, pietas). Từ đó có thể đếm được 7: Khôn ngoan (sapientia) giúp ta gắn bó với Thiên Chúa, nguồn hạnh phúc đích thực; Thông hiểu (intellectus) ban cho ta hiểu biết sâu xa các chân lư đức tin; Nhận biết (Scientia) giúp phán đoán giá trị của các thụ tạo theo ánh sáng đức tin; Định liệu (consilium) cho ta biết chọn lựa con đường nào hợp ư Chúa và ngoan ngoăn để Chúa hướng dẫn; Hiếu thảo (pietas) ban cho ta ḷng tôn thờ Thiên Chúa với tinh thần con thảo và liên hệ với mọi người như con một Cha; Mạnh bạo (fortitudo) giúp vượt thắng mọi khó khăn hoặc chịu đựng đau khổ bằng sức mạnh Chúa ban; Kính sợ Chúa (Timor dei) để biết tránh tội và loại bỏ sự quyến luyến của cải trần thế khi nó làm mất ḷng tôn kính yêu mến Chúa.
Thánh Tôma đă tŕnh bày cách hệ thống vai tṛ của 7 ơn Chúa Thánh Thần trong đời sống của Kitô hữu. Theo Tôma, con người khao khát t́m kiếm hanh phúc. Hanh phúc thật là Thiên Chúa v́ chỉ có nơi Chúa, con người mới t́m thoả măn tất cả mọi khát khao về hiểu biết và ước muốn. Làm thế nào để đạt hạnh phúc ấy? Bằng hai cách: sự cố gắng của con người qua việc thực hành các nhân đức, đàng khác nhờ vào chính Thiên Chúa. Thực vậy Chúa đến giúp đỡ chúng ta bằng lời chỉ giáo của Người (Tôma gọi là Luật Chúa) và bằng ân sủng (Tôma nhấn mạnh luật mới = luật Tân ước hệ tại ơn thánh của Chúa Thánh Thần ghi khắc trong tâm khảm con người. Trong bối cảnh đó mà Tôma tŕnh bày 7 ân huệ Chúa Thánh Thần. 7 ân huệ ấy được ban cho ta để kiện cường 7 nhân đức trụ, cốt điều khiển tất cả các hành vi: 3 nhân đức đối thần (tin-cậy- mến), 4 nhân đức luân lư: khôn ngoan, công bằng, tiết độ, can đảm. Tương ứng với đức tin là hai ơn thông hiểu và nhận biết; với đức cậy là ơn kính sợ; với đức mến là ơn khôn ngoan, với đức khôn ngoan là ơn định liệu, với đức công bằng là ơn hiếu thảo, với tiết độ là ơn kính sợ, với đức can đảm là ơn mạnh bạo.
2. Hoa trái Thần Khí (Gl 5)
Thư Galát và Rôma rất giống nhau về giáo thuyết. Thư Rôma quảng diễn với những luận cứ sâu sắc những đạo lư mà Phaolô đă tŕnh bày trong thư Galát: Luật không có khả năng ban ơn công chính hoá. Luật không c̣n giá trị khi Chúa Kitô đến. Ngài chết để giải thoát chúng ta khỏi nô lệ luật. Mọi người tội lỗi được công chính hoá không phải do việc tuân giữ luật, nhưng nhờ đức tin vào Đức Kitô chết và sống lại. V́ thế, Kitô hữu nổ lực sống đời sống mới bằng sự thánh thiện và bác ái trong niềm hy vọng chờ đợi ngày Chúa quang lâm.
Thư Galát nhấn mạnh hơn vai tṛ của luật là nhà sư phạm (Gl 3,23-26). Đặc biệt, trong thơ Galát, thánh Phaolô minh định thế giá tông đồ của ḿnh (Gl 1-2; 6,17). Thánh nhân minh chứng ngài là tông đồ như các tông đồ, v́ được Chúa Giêsu phục sinh chọn gọi và trực tiếp mạc khải. Thơ Galát c̣n cho ta biết nhiều về con người và hoạt động của Phaolô. Do đó, ta thường dùng thơ Galát so sánh với Công vụ để t́m hiểu về thân thế và hoạt động truyền giáo của thánh nhân.
Mở đầu chương 4 thư Galát, Phaolô đề cập đến sự tự do đích thực của Kitô hữu. Ngài khẳng định bao lâu c̣n sống dưới lề luật, con người không thể có tự do; chỉ khi nào biết đặt ḿnh dưới luật của Thánh Thần, ta mới có thể đạt tới tự do đích thực và trổ sinh hoa trái Thần Khí đối nghịch với những hành động của xác thịt.
Sau đó Phaolô liệt kê 14 hành động xấu mà Phaolô gọi là hành động do xác thịt làm băng hoại con người, đó là "dâm bôn, ô uế, phóng đăng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ say sưa" (Gl 5,19-21). Đối lại với những hành động theo xác thịt này, Phaolô trân trọng nêu lên 9 thái độ tích cực mà ngài gọi là hoa trái của Thần Khí, đó là: "bác ái, hoan lạc, b́nh an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ" (Gl 5,22-23)
Theo Phaolô, các hành động tích cực kể trên không do khả năng con người đắc thủ. Ngài dùng từ hoa trái để ám chỉ đó là ân huệ, nghĩa là cái ǵ thật đáng yêu, quyến rũ, tốt đẹp, tự phát, tươi vui và ngọt ngào như trái trăng thơm ngon trổ sinh từ "Thánh Thần". Ta sống và thực hiện nhưng chính Thánh Thần làm phát sinh hoa trái. Ngài dùng ở số ít (dù là 9 hành vi) như muốn cho thấy sự thống nhất của đời sống mới ngược với cuộc sống phân rẽ theo xác thịt và theo tinh thần thế gian. Do đó, từ hoa trái diễn tả sự phong phú của các ân huệ Thánh Thần. Những thực tại sống động kia được Thánh Thần đặt nơi mỗi người, không riêng cho ai, để điều hành cuộc sống mới do Đức Kitô chết và phục sinh đem lại. Đó chính là nền luân lư Kitô giáo đích thực hoàn toàn đối nghịch với nền luân lư giới hạn và mang tính áp đặt. Phaolô gọi dó là nền Luân lư Tân ước, Luân lư Tin Mừng, Luân lư Thánh Thần.
Nói đến luân lư, thường người ta nghĩ ngay đến việc được phép làm điều này điều nọ và cấm không được làm thế này khác (không được v́ dó là tội). Đó chỉ là mức độ sơ đẳng và tự nhiên của luân lư. Cao hơn là một luân lư bổn phận (E. Kant): đáp ứng quyền lợi, đ̣i hỏi chính đáng của kẻ khác; bổn phận và trách nhiệm xây dựng xă hội; tôn trọng quyền lợi tha nhân.... Ở đây, Phaolô tŕnh bày một luân lư cao hơn, đẹp hơn nhiều v́ nói đến cái tốt, cái đẹp, cái tươi mát, đem lại hạnh phúc, tạo nên cuộc sống tươi vui hy vọng và phong phú. Đó chính là nền luân lư Tin Mừng, luân lư của Thánh Thần, không chỉ nhằm xây dựng một xă hội trật tự, công bằng, mà nhất là tạo dựng một xă hội tươi vui, yêu thương và huynh đệ mà Đức Phaolô VI và Đức Gioan Phaolô II gọi là một nền văn minh t́nh thương.
Kitô hữu trổ sinh Hoa Trái Thần Khí bằng ba cách thế theo lối diễn tả Thánh Kinh:
- con tim, nghĩa là bằng những t́nh cảm sâu đậm nhất của tâm hồn;
- miệng lưỡi, nghĩa là bằng đối thoại lắng nghe;
- đôi tay, nghĩa là bằng hành động.
Như thế, ta có thể chia hoa trái Thần Khí thành ba phạm trù:
- Hành động con tim: yêu thương, hoan lạc và an b́nh.
- Hành động miệng lưỡi: nhẫn nhục, nhân hậu và hiền hoà.
- Hành động đôi tay: tốt lành, trung tín, tự chủ.
Tất cả đều tạo nên vẻ đẹp và duyên dáng cho đời sống Kitô hữu theo bát phúc, sự phong phú sung măn của một cuộc sống theo Tin Mừng.
1. T́nh yêu
T́nh yêu được xếp đầu trong bảng hoa trái Thần Khí. Ta có thể t́m một ví dụ cụ thể về t́nh yêu trong Lc 7,11-17 (Đức Giêsu hồi sinh con trai bà goá Naim) hay câu chuyện người Samaritanô. Tinh yêu gợi lên biết bao ư nghĩa xuyên suốt các Tin Mừng. Ở đây, chỉ cần dừng lại nơi hai ư chính trong mạch văn thơ Galát:
- T́nh yêu Thiên Chúa đổ tràn trong tâm hồn chúng ta. Đây chính là thái độ tóm kết toàn bộ luân lư Tin Mừng. Trong Gl 5,14 Phaolô đă khẳng định: "Tất cả Lề luật được nên trọn lành trong điều răn duy nhất này là ngươi phải yêu mến người thân cận như chính ḿnh".
- Một nghĩa khác tổng quát hơn, đó là sự chân t́nh, ḷng cảm mến, ḷng tốt. Đây là một thái độ nội tâm đi trước mọi tư tưởng, lời nói, hành động hướng về điều thiện, là thái độ cơ bản và tiên quyết cho việc mở rộng tâm hồn đón nhận luân lư mới của Tin Mừng. Ta lược qua đoạn Tin Mừng Luca về việc hồi sinh cho con trai bà goá Naim để thấy rơ hơn. Trong sự kiện này, ta dễ nhận ra 3 thái độ: trên đôi tay, trên miệng và trong con tim.
Từ sự chạnh thương của con tim (trong Kinh Thánh, từ chạnh ḷng thường dùng cho Thiên Chúa) dẫn tới lời an ủi vỗ về và sau cùng đưa tới hành động. T́nh yêu hay ḷng chân thành của con tim khơi mào cho mọi hành động kế tiếp. T́nh yêu chính là sự chân t́nh, ḷng thương cảm, con tim rộng mở. Đó chính là khả năng hiểu được nỗi đau, niềm vui của người khác. Rm 12,9-10.15 nói đến sự chạnh thương bằng: "Vui với người vui, khóc với kẻ khóc", nghĩa là đi vào được trong các tâm t́nh của anh em.
Tiếng sympathie (sumpàscho) có nghĩa là hoà đồng với. Sự chân t́nh, ḷng cảm mến tạo nên ư muốn trao dâng và hiệp thông với kẻ khác trước khi làm cho họ điều tốt lành. Ngược lại với t́nh yêu chân t́nh là sự độc ác của con tim, tâm hồn hẹp ḥi đưa tới ích kỷ, hưởng thụ, kiêu căng và dửng dưng trước mọi hoàn cảnh của người khác (người giàu có và Lazarô nghèo khổ).
Hăy biến ḿnh thành t́nh yêu để t́nh yêu ấy chan hoà khắp nơi và cho mọi người. Thiên Chúa là T́nh yêu (1 Ga 4,8). Con người được tạo thành giống h́nh ảnh Thiên Chúa (St 1,26). T́nh yêu là căn tính và lư do hiện hữu của con người: con người được dựng nên v́ và cho t́nh yêu. Đó vừa là dấu chỉ của người môn đệ Đức Kitô vừa là mệnh lệnh: "Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy là chúng con yêu thương nhau"; "Các con hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương các con". Đó cũng là tiêu chuẩn của phán xét chung (Mt 25).
2. Sự tốt lành
Nếu t́nh yêu là hành động của con tim làm nền tảng cho mọi hành vi thiện hảo, th́ sự tốt lành là hành vi thuộc đôi tay, cũng gọi là sự tốt lành hành động.
Tốt lành là ǵ? Sự tốt lành dịch từ Hy ngữ agatosùne, có nghĩa là một hành động tốt phát sinh hiệu quả tốt nơi người khác. Để hiểu hành động này tốt lành này, ta có thể đọc lại Cv 9,36t: Tabitha, một phụ nữ "tốt lành" không những bằng những lời lẽ tốt đẹp mà nhất là bằng "đôi tay", tức bằng hành động để giúp đỡ và phục vụ người khác. Trong diễn từ tại nhà Corneille, Phêrô nhấn mạnh đến Đức Giêsu, Đấng là sự tốt lành khi nói: "Đi tới đâu là Ngài thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi v́ Thiên Chúa ở với Ngài" (Cv 10,38). Đức Giêsu bày tỏ sự tốt lành qua việc chữa lành - vừa biểu thị sự tốt lành vô cùng của Thiên Chúa, vừa bày tỏ Ngài là Đấng Messia mà các Ngôn sứ đă từng loan báo. Cảm động nhất là câu chuyện chữa người câm điếc do Marcô thuật lại (Mc 7,36-37), hoặc Đức Giêsu chữa người mù bẩm sinh trong Tin mừng Gioan.
Sự tốt lành có khả năng biến đổi người khác, tạo cho họ niềm vui, hy vọng và khát khao xây dựng lại cuộc đời. Như thế, sự tốt lành là hoa trái Thần Khí làm nảy sinh trong tâm hồn agapè, tức t́nh yêu, ḷng thương cảm; cũng chính sự tốt lành thúc đẩy ư chí thực hành điều tốt cho mọi người.
Sự tốt lành xuất phát từ Thiên Chúa là Đấng tốt lành: "Sao nói Tôi nhân lành? Chẳng có ai nhân lành, trừ một ḿnh Thiên Chúa" (Lc l8,18-19). Chúa tốt lành nên Người đă tạo thành vũ trụ nhân loại, và mọi sự Người dựng nên đều tốt lành (St 1). V́ sự tốt lành là hoa trái của Thần Khí, chứ không do nỗ lực con người thủ đắc, nên có được là do khiêm tốn cầu xin và biết hết ḷng tri ân. Sự tốt lành c̣n là biểu lộ niềm vui trong tâm hồn.
Có thể nói niềm vui là nguồn của ḷng tốt lành. Ông Booz bày tỏ sự tốt lành khi kết hôn với bà Ruth. Trước khi kết hôn, Sách Rút 3,7 viết: "Ḷng ông Booz vui tươi hớn hở". Huấn ca 30,22 viết: "Tâm hồn sướng vui th́ con người giàu sức sống". Sự tốt lành c̣n bộc lộ niềm vui khi biết trao ban: "Cho th́ vui hơn là nhận" (Cv 20,35).
Trong thơ gởi giáo đoàn Êphêsô, khi nói đến đời sống mới trong Đức Kitô, thánh Phaolô nhắc lại sự tốt lành xuất phát từ ánh sáng của chân lư Tin Mừng: "Vậy anh em hăy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những ǵ là tốt lành, công chính và chân thật" (Ep 5,9). Như thế, ḷng tốt lành Tin Mừng cảm hứng từ sự tốt lành cứu độ của Đức Kitô, một tốt lành không ngừng giải thoát, thi ân và sáng tạo. Sự tốt lành theo Tin Mừng khao khát làm cho kẻ khác điều ḿnh ước ao cho bản thân, và như thế là đă làm trọn lề luật: "Anh em hăy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn Lề luật Đức Kitô" (Gl 6,2). Sự tốt lành hướng về tha nhân để mong và làm điều thiện hảo cho anh em theo tinh thần của 1 Cr 13,4-7; nhưng hoàn toàn khác với t́nh nhu nhược mặc ai muốn làm ǵ th́ làm, vô tư chẳng cần lưu tâm, v́ ḷng tốt lành luôn tôn trọng và thăng tiến nhân phẩm. Ḷng tốt lành xây dựng con người và cuộc sống cho ḿnh và cho mọi người. Đó chính là t́nh yêu, là Chúa yêu tôi và đến lượt ḿnh, tôi bày tỏ cho kẻ khác: "Hăy yêu nhau như Thầy yêu anh em" (Ga 13,34). Yêu cả những kẻ thù ghét ḿnh (Mt 5,44-48). Và như thế, ta mới thật sự nên "trọn lành như cha trên trời là Đấng trọn lành" (Lc 6,36).
Nghịch với ḷng tốt lành là tâm hồn xấu xa, độc ác, chuyện tạo sự xấu cho anh em. Tâm hồn độc ác phá hủy đời sống; đó cũng là chính hành động của ma quỷ nhằm tiêu diệt thế giới, lịch sử, nhân loại. Nhân loại luôn có nguy cơ bị ma quỷ và bè lũ phá hủy và tiêu diệt, nhưng cũng không ngừng được giải thoát và cứu độ bởi Thiên Chúa tốt lành và những ai thuộc về Người.
3. Tiết độ và tự chủ
Đây không phải là những nhân đức nền tảng như những nhân đức mà chúng ta vừa tŕnh bày trên: ḷng yêu thương, sự chân t́nh, ḷng thương cảm, sự tốt lành. Nhưng là những yếu tố hết sức quan trọng cho đời sống bản thân và xă hội.
Tiết độ, Hy ngữ là epieikeia, xuất hiện 7 lần trong Tân ước, thường trong những khuyến dụ luân lư. Epieikeia có nghĩa ǵ? Trong thơ gởi tín hữu Êphêsô 4,4-5, epieikeia được dịch là điều hoà (modération) hay là nhă nhặn (affabilité). Trong thơ thứ hai gởi giáo đoàn Côrintô (2 Cr 10,1), nó có nghĩa là sự hiền hoà (douceur). Trong Công vụ (Cv 24,3-4), nó có nghĩa là ḷng khoan hậu (clémence). Dựa vào những ư nghĩa trên, ta có thể hiểu epieikeia là ḷng tôn trọng đối với kẻ khác của những ai có chút quyền hành. Hiểu và thực hiện điều ấy, chắc chắn xă hội sẽ hạnh phúc hơn: ngược lại xă hội sẽ đầy dẫy những bất công và tranh chấp. Điều này cũng được áp dụng trong gia đ́nh giữa cha mẹ và con cái, trong học đường giữa thầy tṛ, trong Giáo hội giữa Chủ Chăn và đoàn chiên, giữa giám mục và linh mục...
Epieikeia là sự tôn trọng, nhă nhặn, điều hoà, mềm mỏng, quân b́nh trong việc áp dụng luật lệ và nguyên tắc. Đó là khả năng biết trước những trường hợp ngoại lệ thích hợp. Đó cũng là sự chiếu cố đối với kẻ dưới người gặp hoàn cảnh khó khăn... Đức Giêsu là mẫu gương lư tưởng cho chúng ta trong việc thực thi epieikeia: "Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa, là không nghĩ phải nhất quyết duy tŕ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng dă hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận tôi đ̣i, trở nên giống phàm nhân, sống như người phàm. Người lại c̣n hạ ḿnh, vâng lời cho đến chết là cái chết trên thập giá..." (Pl 2,6-8).
Sự tự chủ giúp kiềm chế các t́nh cảm cá nhân, đẩy lui bản năng dùng uy quyền, từ chối mọi t́m kiếm tư lợi, tránh xa mọi lợi dụng áp đặt trên kẻ bề dưới, kẻ yếu đuối, nghèo hèn... Sự tự chủ giúp xa lánh tinh thần tự tôn, bạo lực trong mọi tương giao, kể cả bạo lực luân lư. Sự tự chủ giúp lánh xa mọi lạm dụng làm giảm nhẹ nhân phẩm người khác. Đó quả là một nhân đức xă hội nền tảng. Đức Giêsu là mẫu mực cho sự tự chủ khi Ngài chỉ biết t́m và ban hạnh phúc cho người khác. Thánh Phaolô viết trong thơ Galát: "Không có luật nào chống lại những điều như thế" (Gl 5,23). Thánh Phêrô viết trong 1 Pr 3,8-10: "Anh em hăy đồng tâm nhất trí, thông cảm với nhau, hăy yêu thương nhau như anh em, hăy ăn ở nhân hậu và khiêm tốn... Ai là người thiết tha được sống và ước ao hưởng chuỗi ngày hạnh phúc, th́ phải giữ mồm giữ miệng, đừng nói lời gian ác điêu ngoa".
4. Ḷng nhân hậu - hiền hoà - nhẫn nại
Ḷng nhân hậu (chrèstotès: bienveillance, amabilité) trước hết là cách cư xử của Chúa đối vớt con người như Chúa Giêsu đă nói: "Thiên Chúa nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác" (Lc 6,35). Đức Giêsu đă từng phá đổ những rào cản của các truyền thống Do thái để đồng bàn với những người thu thuế, đi t́m và gặp gỡ những người tội lỗi... Ḷng nhân hậu đặt người khác trong sự thoải mái nhẹ nhàng, dù họ đang trong t́nh trạng bối rối; ḷng nhân hậu bày tỏ sự tôn trọng, quan tâm và cởi mở đối với người khác, làm cho họ thấy ḿnh có giá trị và từ đó hy vọng trào dâng để làm lại cuộc đời. Nhân hậu c̣n là sự ân cần vồn vă với người khác. Ta hiểu rơ điều này khi đọc lại câu chuyện thăm viếng (Lc 1,39-45). Ḷng nhân hậu quả là một nghệ thuật đón tiếp, gặp gỡ, trao đổi... làm kẻ khác cảm thấy dễ chịu, vui tươi và sẵn ḷng cộng tác (x. Rm 12,10).
Sự hiền hoà (prautes). Nhiều khi người ta hiểu lầm sự hiền hoà với yếu đuối, ngây ngô. Không! Đây là một đức tính anh hùng mà Đức Giêsu đă từng dạy: "Hăy học cùng Ta v́ Ta hiền lành và khiêm nhường trong ḷng" (Mt 11,29). Hiền lành là điều được Đức Giêsu chúc phúc: "Phúc cho ai hiền lành" (Mt 5,5). Ngươi hiền lành đồng hoá với người nghèo (anawim). Sự hiền hoà làm dịu nóng giận mà Giacôbê từng khuyên trong Gc 1,19-21.
Nhẫn nại (makrothumos: longanimité). Đâu là nhân đức giúp ta sống niềm hy vọng trong mọi hoàn cảnh khó khăn, nếu không phải sự nhẫn nại. Nó liên kết với sự nhă nhặn và hiền hoà để là ai thành bộ ba quan trọng cho cuộc sống trong tương quan xă hội. Trước hết, ta đọc lại bài dụ ngôn Đức Giêsu kể trong Lc 13,6-9 nói về sự nhẫn nại. Sau đó, ta cũng thấy Sách Khôn ngoan 15, 1-2 khẳng định nhẫn nại là một thái độ thần linh. Thiên Chúa không hề nôn nóng. Người luôn nhẫn nại chờ đợi. Nhiều dụ ngôn Tin Mừng cho biết Thiên Chúa luôn nhẫn lại chờ đợi người tội lỗi hối cải để ban ơn tha thứ. Nhẫn nại là đức tính của người tông đồ, nhà giảng thuyết, mục tử không hề được nản ḷng, dù trước những thất bại trước mắt, nhưng có can đảm chờ đợi để khoảng cách và thời gian Chúa Thánh Thần hoạt động!
5. Vui mừng và b́nh an
Nếu trong Cựu ước vang lên những tâm t́nh vui mừng qua các thánh thi, thánh vịnh, thánh ca, những tâm t́nh chúc tụng, tạ ơn, thờ phượng; th́ niềm vui càng phở lở biết mấy trong Tân ước như trong diễn từ biệt ly, Đức Giêsu đă từng nói với các môn đệ về niềm vui (Ga 15,11; 16,22-24). Vui mừng (chara) xuất hiện 59 lần trong Tân ước. Các bản văn Luca, Gioan và Phaolô đặc biệt tràn đầy niềm vui; chẳng hạn Pl 4,4-7. Heinrich Schlier gọi niềm vui là sự oà vỡ của niềm hy vọng.
Thiên Chúa yêu thích kẻ cho với niềm vui (2 Cr 9,7) v́ đó là cách cho tốt nhất. Đức Phaolô VI nói trong Thiên Chúa, tất cả đều là niềm vui v́ tất cả là ân ban. Niềm vui gắn liền với ân huệ: vui khi cho và vui được đón nhận.
Niềm vui c̣n là dấu hiệu Chúa Thánh Thần hiện diện trong tâm hồn, và trong cộng đoàn. Sứ mệnh và mọi hoạt động của Đức Kitô nhằm kiến tạo và đem lại cho ta niềm vui, sự hoan lạc sung măn trong Nước Trời mà ngay từ bây giờ bắt đầu. Trong ư nghĩa đó, niềm vui là đặc tính của Nước Thiên Chúa.
Đối lại với niềm vui là sự buồn chán làm mọi cái nên nặng nề. Buồn chán c̣n là tên gọi của sự trầm uất, một căn bệnh thời đại do bất măn, bi quan về cuộc đời và định mệnh...
B́nh an là tổng hợp mọi điều thiện hảo như Kinh Thánh thường hiểu. Ta có thể đọc lại ba bản văn đặc biệt đề cập đến sự b́nh an: Pl 4,7; Cl 3,14-15; 2 Cr 13,11. Trước khi nói về sự b́nh an, Thánh Phaolô nói: "Anh em đừng lo lắng ǵ cả" (Pl 4,6).
Thật vậy, nghịch lại với b́nh an không phải chỉ là chiến tranh cho bằng sự lo âu, băn khoăn, lo lắng? V́ thế, b́nh an trước hết là yếu tố giúp ta thoát khỏi lo âu; và đó là một ân huệ do Chúa thương ban. B́nh an c̣n là cảm giác "như ở nhà", nghĩa là cảm thấy thân thiện thoải mái trong bầu khí gia đ́nh. Gia đ́nh đây là nhà Chúa, là sự an nghỉ trong Chúa như thánh Augustin từng thốt lên: "hồn con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa". B́nh an c̣n là kết quả của một tâm hồn trong sáng, tin tưởng phó thác, biết từ bỏ.
Sau cùng, hạnh phúc cho ai biết kiến tạo hoà b́nh (Mt 5,9). Người kiến tạo hoà b́nh cần biết đơn giản hoá vấn đề; biết khoanh tṛn vấn đề, hạn chế và giải quyết nhanh chóng các tranh chấp.
Kết luận
Sau một ṿng rảo qua vườn cây Thánh Thần để tham quan và chiêm ngắm các hoa trái của Người. Đáng khâm phục biết bao kiệt tác vĩ đại của Người, đó là xây dựng con người mới, con người theo Tin Mừng. Những hoa trái của vườn cây Thánh Thần ấy đều tóm gồm trong t́nh yêu, nghĩa là mối tương quan đích thực và tốt đẹp giữa Thiên Chúa với con cái của Người. Từ t́nh yêu, trổ sinh muôn ngh́n trái trăng: hoan lạc, an b́nh, tươi vui, hiền hoà, khiêm tốn, nhẫn nhục, tự chủ, từ tâm... Tất cả đều phát sinh từ mối tương quan tốt dẹp và thánh thiện mà ta có với Thiên Chúa và với tha nhân. Điều này làm nhớ lại lời thánh Phaolô trong thơ gởi tín hữu Côlôsê: "Trên hết mọi đức tính, anh em phải có ḷng bác ái: đó là mối dây liến kết thiện hảo" (Cl 3,14). Hoa trái th́ vô vàn, nhưng chung quy chỉ là một: T́nh yêu. Yêu thương là hoan lạc, là an b́nh, là từ tâm, là dễ thương, là khiêm tốn, nhă nhặn, ôn hoà... (x. 1 Cr 13). Do đó cần mở rộng con tim và cơi ḷng cho ân huệ Thánh Thần, Đấng là T́nh yêu.
Thư mục:
M. Quesnel, Les épitres aux Corinthiens, CE 22, 1977
E. Cothenet, L’épitre aux Galates, CE 34, 1980
J. Murphy OConnor, L’existence chrétienne selon Saint Paul, Cerf, 1984