Thông-điệp

THIÊN-CHÚA LÀ T̀NH YÊU

của giáo-chủ BIỂN-ĐỨC XVI

 

Phạm Hồng Lam

Dẫn-nhập

 

1. “ Chúa là t́nh yêu, và ai ở trong t́nh yêu, kẻ đó ở trong Chúa, và Chúa ở lại với họ (1 Yo 4, 16). Lời đó trong thư thứ nhất của thánh Gioan cho thấy hết sức rơ-ràng tâm điểm đức tin kitô giáo, cho thấy h́nh-ảnh Thiên-chúa của Kitô giáo và cả h́nh-ảnh con người bắt nguồn từ đó cũng như con đường sống của họ. Ngoài ra, qua đoạn đó, thánh Gioan cũng cho ta một thứ công-thức sống kitô-hữu: Chúng tôi đă nhận ra t́nh yêu Thiên-chúa gởi đến cho chúng tôi và chúng tôi đă tin vào t́nh yêu đó” (xem 4, 16).

 

Chúng tôi đă tin vào t́nh yêu đó: Kitô-hữu có thể nói lên cái quyết-định nền-tảng của đời ḿnh như thế. Cuộc đời kitô-hữu khởi đầu không phải với một quyết-tâm đạo-đức hay với một ư-tưởng lớn-lao nào, nhưng bằng cuộc gặp-gỡ một biến-cố, một con người đă mở ra cho đời ta một chân trời mới, và nhờ đó dẫn ta về một hướng sống quyết-định. Phúc-âm Gioan đă diễn-tả biến-cố đó như sau: Thiên-chúa đă yêu thế-gian quá đỗi, nên đă cho đi con một ḿnh, để ai tin vào con Ngài...  th́ sẽ được sống đời-đời” (3, 16). Với việc công-nhận t́nh yêu là tâm điểm, đức tin kitô giáo đă chấp-nhận nội-dung căn-bản của đức tin Do-thái, và đồng thời đă mở ra cho t́nh yêu đó những chiều-kích sâu rộng mới. V́ rằng tín-hữu Do-thái vẫn ngày-ngày cầu nguyện với câu trích từ sách Thứ-luật, qua đó nói lên một cách tóm-tắt tâm điểm cuộc sống đạo của họ: “Israel, hăy nghe! Gia-vê, Thiên-chúa chúng ta, là đấng độc-nhất. V́ thế ngươi hăy yêu Ngài hết ḷng, hết trí và hết sức” (6, 4-5). Đức Jesu đă nối lời răn yêu Chúa đó vào lời răn yêu người trong sách Levi: “Ngươi hăy yêu người bên cạnh như chính ḿnh ngươi” (19, 18) để kết thành một sứ-vụ duy-nhất (xem Mc 12, 29-31). Bởi v́ Thiên-chúa đă yêu ta trước (xem 1 Yo 4, 10), nên t́nh yêu không c̣n chỉ là một “giới răn”, nhưng là sự đáp trả lại quà tặng yêu thương của Chúa đă trao cho ta.

 

Trong một thế-giới thỉnh-thoảng người ta vẫn nối tên Chúa với việc trả thù và ngay cả dùng tên Ngài để kêu-gào thù-hận và bạo-lực, th́ đây là một sứ-điệp mang tính thời-sự cao và rất thực-tiễn.

V́ thế trong thông-điệp đầu-tiên này tôi muốn nói về t́nh yêu, t́nh yêu mà Chúa đă tặng cho ta và ta cần phải trao đi tiếp. Đó là nội-dung của hai phần lớn trong thông-điệp này, chúng có liên-hệ mật-thiết với nhau. Phần đầu mang tính suy-tư nhiều hơn, v́ tôi muốn – mở đầu cho sứ-vụ giáo-chủ của tôi – làm sáng-tỏ một vài điểm căn-bản về t́nh yêu mà Chúa đă trao ban cho con người một cách nhiệm-mầu và nhưng-không, đồng thời muốn chỉ ra sự liên-hệ nội-tại giữa t́nh Chúa đó với thực-tại t́nh yêu của con người. Phần hai cụ-thể hơn, v́ nó tŕnh-bày việc thực-thi giới-răn t́nh yêu tha-nhân của Giáo-hội. Đề-tài như thế rất rộng, mục-đích của thông-điệp này không nhắm tới việc giải-quyết tất-cả một cách rốt-ráo. Mong-ước của tôi là khai-triển một số yếu-tố nền-tảng để khơi dậy một sự sống-động mới nơi thế-giới qua việc đáp-trả thực-tế của con người trước t́nh yêu Thiên-chúa.

 

 

Phần Một

 

Tính hợp-nhất của t́nh yêu

trong cuộc tạo-dựng

và trong lịch-sử cứu-rỗi

 

Vấn-đề ngôn-ngữ

 

2. T́nh Chúa yêu ta là một vấn-nạn nền-tảng của cuộc sống và từ đó đặt ra những câu hỏi quyết-liệt: Chúa là ai và chính chúng ta là ai. Ở đây, chúng ta thoạt-tiên gặp phải một trở-ngại từ-ngữ. Ngày nay, “t́nh yêu” là một trong những từ được sử-dụng nhiều nhất và cũng là một từ bị lạm-dụng nhiều nhất, nó được gán cho muôn thứ nghĩa khác nhau. Mặc dù đề-tài thông-điệp này tập-chú vào nghĩa và cách thực-hành t́nh yêu theo lối hiểu của Kinh-thánh và của truyền-thống Giáo-hội, ta cũng không thể không t́m hiểu ư nghĩa của nó hàm-chứa trong các nền văn-hoá khác nhau.

 

Trước hết là nét muôn mặt của “t́nh yêu”: Chúng ta nói tới t́nh yêu tổ-quốc, t́nh yêu nghề-nghiệp, t́nh bạn, t́nh yêu công-việc, t́nh cha mẹ con cái, t́nh anh chị em, t́nh bà-con xóm-giềng, t́nh yêu tha-nhân và t́nh yêu Chúa. Nhưng trong toàn-bộ cái muôn mặt đó nổi lên t́nh yêu nam nữ như là thứ t́nh uyên-nguyên và uy-lực nhất, trong đó thể-xác và tâm-hồn tác-động bện chặt vào nhau, nó mở ra cho con người hứa-hẹn hạnh-phúc, và mọi thứ t́nh khác đứng gần bên nó, thoạt nh́n, đều trở nên mờ-nhạt. Câu hỏi đặt ra: Liệu các loại-h́nh t́nh yêu đó, bằng cách này hay cách khác, có lệ-thuộc vào nhau không, và t́nh yêu – dù biểu-hiện dưới nhiều dạng khác nhau – có phải là một thể thống-nhất hay không, hay là chúng ta đă dùng cùng một từ-ngữ đó để chỉ nhiều thực-tại khác nhau?

 

“Eros” và “Agape” – khác-biệt và hợp-nhất

 

3. T́nh yêu nam nữ là thứ t́nh không nẩy sinh từ lí-trí và ḷng muốn, nhưng có sức khống-chế con người. Người Hi-lạp xưa gọi nó là Eros. Nên biết, chữ Eros được nhắc đến hai lần trong Cựu-ước, nó hoàn-toàn không c̣n xuất-hiện nữa trong Tân-ước: Trong ba từ diễn-tả t́nh yêu trong tiếng Hi-lạp - Eros, Philia (t́nh bạn) và Agape – các sách Tân-ước chỉ dùng từ Agape, một từ rất được ít dùng trong thường-ngữ Hi-lạp. Ư-niệm t́nh bạn (Philia) được thánh-sử Gioan dùng và đào sâu ư nghĩa để diễn-tả t́nh đức Jesu đối với các môn-đệ. Khi đẩy từ Eros ra lề và dùng từ Agape để nói lên một cái nh́n mới về t́nh yêu, Kitô giáo rơ-ràng đă tạo nên một cái mới nền-tảng cho t́nh yêu. Các nhà phê-b́nh chống Kitô giáo kể từ thời Ánh sáng trở đi, mà giọng-điệu ngày càng tỏ ra gay-gắt hơn, đánh giá cái mới này hoàn-toàn tiêu-cực. Friedrich Nietzsche bảo rằng Kitô giáo đă đánh thuốc độc Eros; Eros đă không chết v́ thuốc đó, nhưng đă biến thành một cái ǵ xấu-xa [1]. Với phát-biểu đó, nhà triết-học Đức đă nói lên cái cảm-nhận khá phổ-biến: Phải chăng Giáo-hội dùng giới-răn và cấm-đoán để phá hư đi cái đẹp nhất của cuộc sống? Phải chăng Giáo-hội đă dựng bảng cấm trước thú vui mà Tạo-hoá đă ban cho con người để họ đạt hạnh-phúc và qua đó họ nếm được phần nào cái hạnh-phúc của Thiên-chúa?

 

4. Nhưng có thật vậy không? Có thật Kitô giáo đă phá hư Eros? Ta hăy nh́n vào thế-giới tiền Kitô giáo. Người Hi-lạp – cũng có liên-hệ bà-con với các văn-hoá khác – thoạt tiên nh́n Eros như là sự ngất-ngây, như lực khống-chế của lí-trí đến từ một “nổi giận của thần-linh”, nó lôi con người ra khỏi ngơ hẹp của thân-phận và giúp nó đạt tới hạnh-phúc tuyệt-vời nhờ sự khống-chế của sức mạnh thần-linh đó. Mọi quyền-lực khác trên trời dưới đất v́ thế trở thành thứ yếu. “Omnia vincit Amor”,  Virgil nói thế trong Bucolia “T́nh yêu thắng mọi sự. Và ông thêm: “Et nos cedamus amori” – “Cả chúng ta nữa cũng chịu thua t́nh yêu” [2].  Thái-độ này biểu-hiện qua tục thờ phong-nhiêu (phồn-thực) trong các tôn-giáo, mà chuyện đĩ-điếm “linh-thiêng” ta thấy nhan-nhản trong nhiều đền thờ cũng là một thành-phần trong đó. Như vậy, Eros được ca-tụng như là sức mạnh thần-thánh, như là sự kết-hợp với thần-linh.

 

Kinh-thánh Cựu-ước cực-lực chống lại loại tôn-giáo đó, coi đó là cơn cám-dỗ quyền-năng phản lại niềm tin vào một Thiên-chúa duy-nhất và là một thứ tôn-giáo thoái-hoá. Ở đây, Cựu-ước rơ-ràng không khước-từ bản thân Eros, nhưng chống lại sự biến chất phá-hoại của nó. Bởi v́ việc thần-thánh hoá Eros một cách sai-trái như ta thấy ở đây đă cướp đi phẩm-giá và chất người của nó. Các cô gái điếm có nhiệm-vụ tạo khoái-lạc thần-linh trong các ngôi đền thực ra không được đối-xử như những con người và những nhân-vị, song chỉ là những đồ-vật dùng để tạo “điên-loạn thần-linh” mà thôi. Họ thật ra không phải là những nữ thần, nhưng là những con người bị lạm-dụng. V́ vậy cái Eros hoan-lạc và vô-độ đó không đưa con người “xuất-thần” lên thần-linh, nhưng trái lại đẩy họ xuống vực sâu. Như vậy, Eros cần phải được điều-hướng và thanh-lọc, để nó không phải giúp con người có được chút khoái-lạc giây-lát, nhưng giúp họ nhấm-nháp được phần nào đỉnh cao của cuộc sống – cái hạnh-phúc mong-đợi của cả cuộc đời mỗi chúng ta.

 

Eros trong lịch-sử và hiện-tại

 

5. Cái nh́n ngắn-gọn về bức tranh Eros trong lịch-sử và hiện-tại cho thấy hai điểm. Điểm thứ nhất, t́nh yêu có liên-hệ với thần-linh một cách nào đó: Nó hứa-hẹn cái đời-đời, bất tận – một cái ǵ lớn hơn và hoàn-toàn khác hơn cái hằng ngày của cuộc sống chúng ta. Nhưng đồng thời ta cũng biết con đường dẫn tới đích-điểm đó không dễ t́m thấy, nếu cứ để mặc cho bản-năng khống-chế ḿnh. Cần những quá-tŕnh thanh-lọc và trưởng-thành, các quá-tŕnh đó có thể dẫn ta đi qua con đường hăm ḿnh. Đó không phải là khước-từ Eros, không phải là “đánh thuốc độc”, nhưng là để chữa lành giúp nó đạt tới cái cao-cả thật-sự của nó.

 

Sở-dĩ như vậy trước hết là v́ bản-chất con người bao gồm thể-xác lẫn tinh-thần. Con người trở thành chính ḿnh thật-sự khi đạt được sự thống-nhất nội-tại giữa tinh-thần và thể-xác; có được sự hợp-nhất đó th́ mới vượt thắng được thách-đố của Eros. Khi con người muốn ḿnh chỉ là tinh-thần không thôi và coi thường thể-xác như chỉ là một thứ di-sản thú-vật, lúc đó phẩm-giá của tinh-thần lẫn thể-xác sẽ mất. Và khi họ chối-từ tinh-thần, chỉ c̣n coi thể-xác là thực-tại duy-nhất, lúc đó họ cũng đánh mất chiều-kích cao-cả của ḿnh. Ông Gassendi, một môn-đệ của phái khắc-kỉ, trêu-chọc Descartes khi gọi ông này: “Này tinh-thần”. Và Descartes đă trả lời lại “Này thể-xác!” [3]. Không phải tinh-thần yêu hay thể-xác yêu, mà là con người, nhân-vị yêu như một thụ-tạo duy-nhất và thống-nhất, trong đó bao-gồm cả tinh-thần lẫn thể-xác. Chỉ khi cả hai thực-sự trở thành một, lúc đó con người mới là chính ḿnh. Chỉ như thế, t́nh yêu – Eros – mới trưởng-thành đạt tới chiều-kích cao-cả thật của nó.

 

Ngày nay, người ta tố-cáo Giáo-hội trong quá-khứ đă nhiều lần nhiều cách có thái-độ thù-nghịch với thể-xác, và những khuynh-hướng kiểu này xưa nay vẫn không thiếu. Nhưng cái lối ca-ngợi thể-xác, như ta thấy ngày nay, là nhầm-lẫn. Eros bị hạ xuống chỉ c̣n là “hành-vi tính-dục”, trở thành hàng-hoá, thành thuần-tuư “đồ-vật” có thể mua bán, và hơn nữa, chính con người như thế cũng trở thành hàng-hoá. Đó hẳn không phải cách chấp-nhận đại-độ của con người đối với thân-xác ḿnh. Nhưng trái lại, họ coi thể-xác và tính-dục thực chất chỉ là vật-chất để họ sử-dụng và lợi-dụng tuỳ ư. Người ta không xem hai thứ đó như là vùng không-gian thể-hiện tự-do của ḿnh, nhưng như là một cái ǵ để họ cố-gắng làm sao vừa thụ-hưởng vừa không nguy-hiểm tuỳ theo cách của họ. Thực-tế, chúng ta đang đứng trước cảnh hạ giá thân-xác con người: thân-xác này không c̣n được hội-nhập vào khung tự-do toàn-diện của cuộc sống của ta nữa, nó không c̣n là phản-ảnh sống-động của con người toàn-vẹn của ta nữa, nhưng bị đẩy vào phạm-vi thuần-tuư sinh-vật. Việc tụng-ca thể-xác giả-tạo đó có thể bật ngược thành ḷng thù-hận thể-xác rất nhanh. Đức tin kitô giáo, trái lại, luôn coi con người là hữu-thể thống-nhất gồm tinh-thần và vật-chất tác-động lên nhau và nhờ đó cả hai luôn có được sự cao-quư mới.  Vâng, Eros kéo ta tới lănh-vực thần-linh, đưa ta vượt lên trên chính ta, nhưng cũng chính v́ vậy nó cần một con đường thăng tiến, con đường hăm ḿnh, thanh-lọc và chữa-trị.

 

6. Con đường thăng tiến và thanh-lọc đó sẽ như thế nào trên thực-tế? T́nh yêu phải được sống ra sao để đáp-ứng được những hứa-hẹn của con người và của Thiên-chúa? Ta có thể t́m thấy những chỉ-dẫn đầu-tiên quan-trọng trong sách Diệu-ca, một trong những sách của Cựu-ước không xa-lạ ǵ với các nhà thần-bí. Theo quan-điểm chung hiện nay, các bài thơ trong sách đó nguyên là những bài thơ t́nh yêu, có lẽ người xưa soạn cho một đám cưới do-thái để ca-ngợi t́nh yêu đôi-lứa. Một chi-tiết rất bổ-ích cho chúng ta là sách dùng hai từ khác nhau để chỉ t́nh yêu. Đầu-tiên là chữ “dodim” - từ ở số nhiều, muốn nói đến một t́nh yêu đang kiếm-t́m chưa rơ-ràng, chắc-chắn. Chữ này sau đó được thế bằng từ “ahaba”, trong Kinh-thánh Cựu-ước nó được dịch ra tiếng Hi-lạp bằng một từ gần giống với “Agape”, và – như ta thấy – đó chính là từ Kinh-thánh muốn dùng để diễn-tả t́nh yêu. Đối lại với mối t́nh mơ-hồ đang đi t́m, giờ đây t́nh yêu đă được xác-định, qua việc khám-phá ra kẻ khác và v́ thế yếu-tố ích-kỉ, một yếu-tố trước đó vẫn bàng-bạc, nay biến mất. T́nh yêu giờ đây có nghĩa là chăm-lo cho kẻ khác và v́ kẻ khác. Nó không muốn chỉ riêng cho ḿnh nó nữa – chỉ biết trầm ḿnh trong cơn say hoan-lạc –‚ nhưng muốn điều tốt cho người ḿnh yêu: nó chấp-nhận từ-bỏ và sẵn-sàng trở thành kẻ hi-sinh.

 

Con đường thăng tiến và thanh-lọc nội-dung t́nh yêu cũng gồm cả yếu-tố dứt-khoát, dứt-khoát theo hai nghĩa: duy-nhất – “chỉ có một người này mà thôi” – và “cho măi-măi”. T́nh yêu bao-hàm cả cuộc sống trong mọi chiều-kích của nó, kể cả chiều-kích thời-gian. Không thể khác được, là v́ hứa-hẹn của t́nh yêu là chung-cuộc: T́nh yêu hướng tới đời-đời. Vâng, t́nh yêu là  “xuất-thần”, nhưng xuất-thần không phải trong nghĩa khoái cảm giây-lát, nhưng như là con đường luôn mở để cái Tôi khép kín của ta mở ra, chấp-nhận hi-sinh và nhờ thế gặp được chính ḿnh, và tất-nhiên, gặp được Chúa: “Ai t́m cách giữ cuộc sống ḿnh th́ sẽ mất, ai đánh mất th́ sẽ giữ được nó” (Lc 17, 33). Câu nói đó của đức Jesu ta gặp đi gặp lại với chút thay-đổi trong nhiều đoạn Phúc-âm  (xem Mt 10, 39; 16, 25; Mc 8, 35; Lc 9, 24; Yo 12, 25). Với những lời đó, đức Jesu tả cho ta thấy con đường của chính Ngài, con đường đi qua thánh-giá dẫn tới phục-sinh, con đường hạt cải rơi xuống đất, chết đi và nhờ đó sinh nhiều trái; nhưng qua đó, Ngài cũng nói lên bản-chất của t́nh yêu và của cả cuộc đời con người, khởi đi từ những hi-sinh của Ngài và từ t́nh yêu của Ngài đă được hoàn-thành qua hi-sinh đó.

 

7. Những suy-tư thoạt-tiên hơi nặng tính triết-lí của chúng ta về bản-chất t́nh yêu giờ đây đương nhiên dẫn ta về với đức tin trong Kinh-thánh. Câu hỏi đầu tiên đặt ra là, liệu những ư nghĩa khác nhau, ngay cả đối-chọi nhau, của chữ t́nh yêu có hé cho chúng ta thấy có một nội-dung chung nào đó giữa chúng không, hay chúng là những ư-niệm độc-lập phải đứng gần bên nhau; hay đặc-biệt là câu hỏi, sứ-điệp t́nh yêu được loan-báo trong Kinh-thánh và truyền-thống Giáo-hội liệu có chút liên-hệ ǵ với kinh-nghiệm t́nh yêu của con người không hay là ngược lại. Ở đây, chúng ta đối-diện với hai từ căn-bản, Eros như là t́nh yêu “đời (thế-gian)” và Agape là thứ t́nh yêu được h́nh-thành và tôi-luyện trong đức tin. Cả hai cũng thường được dùng như là thứ t́nh yêu “đi lên” hay “đi xuống” đối đầu nhau; ngoài ra c̣n có các phân-chia khác cũng bà-con với cặp trên như t́nh yêu thèm-muốn (amor concupiscentiae) và t́nh yêu hiến-tặng (amor benevolentiae), hoặc đôi khi người ta cũng nói đến thứ t́nh yêu vị lợi.

 

Trong ṿng thảo-luận thần và triết-học người ta thường đẩy những khác-biệt trên thành đối-lập: T́nh yêu kitô giáo là thứ t́nh đi xuống, hiến-tặng, là Agape; t́nh yêu phi kitô giáo, đặc-biệt trong văn-hoá Hi-lạp, ngược lại là t́nh đi lên, thèm-muốn nhục-dục, thứ t́nh thấm-đượm Eros. Nếu người ta triệt-để hoá sự đối-lập đó th́ bản-chất của Kitô giáo lúc đó sẽ tách-rời khỏi cuộc sống nền-tảng con người; nó trở thành một thế-giới đặc-biệt, xem ra th́ tuyệt, nhưng chẳng c̣n liên-hệ nào nữa với toàn-bộ cuộc sống con người. Trong thực-tế, t́nh yêu đi lên Eros và t́nh yêu đi xuống Agape không bao giờ hoàn-toàn tách-biệt nhau. Dù mang những chiều-kích khác nhau, khi cả hai càng xuất-hiện thống-nhất trong một thực-tại t́nh yêu, khi đó bản-chất thật của t́nh yêu càng được thể-hiện. Thoạt đầu, Eros đặc-biệt mang tính thèm-muốn, đi lên – là v́ mê-hoặc trước hứa-hẹn to-lớn về hạnh-phúc -, nhưng càng tiến gần người khác nó càng bớt vị-kỉ, càng nghĩ tới hạnh-phúc kẻ khác, càng lo-lắng cho họ, muốn hiến-tặng cho họ, muốn hiện-diện v́ họ. Lúc đó, yếu-tố Agape len vào trong nó, v́ nếu không, Eros sẽ tiêu-hư và sẽ mất chính ngay bản-chất của nó. Ngược lại, con người cũng không thể sống chỉ bằng t́nh yêu hiến-tặng, đi xuống. Con người không thể luôn cho đi, nó cũng phải được nhận lại. Ai muốn cho đi t́nh yêu, chính người đó phải được nhận về t́nh yêu. Thật vậy, như Chúa Kitô đă nói với ta, con người có thể trở thành nguồn suối tuôn chảy nước sự sống (xem Yo 7, 37-38). Nhưng để trở thành nguồn suối đó, chính người đó phải uống từ nguồn nước nguyên-thuỷ là Chúa Jesu Kitô, là đấng tuôn trào t́nh yêu Thiên-chúa từ trái tim mở rộng của Ngài (xem Yo 19, 34).

 

Các giáo-phụ đă thấy, bằng nhiều cách, mối liên-kết gắn-bó giữa t́nh yêu đi lên, đi t́m Chúa của Eros và t́nh yêu đi xuống, tiếp-tục trao tặng của Agape trong câu chuyện biểu-tượng về cái thang  Jacob. Kinh-thánh kể, tổ-phụ Jacob đă thấy trong giấc mơ, khi đang gối đầu ngủ trên một mảnh đá, một cây thang nối liền trời với đất và các thiên-thần đang lên xuống nơi thang đó (xem Kn 28, Yo 1, 51). H́nh-ảnh giấc mơ đó đă được đại giáo-chủ Gregorio diễn-giải trong tác-phẩm Qui-chế mục-vụ của ngài. Ngài nói, người mục-tử chân-chính phải biết đắm ḿnh trong chiêm-niệm. V́ có như thế họ mới cảm được từ đáy ḷng những khốn-cùng của kẻ khác như là của chính ḿnh: “per pietatis viscera in se infirmitatem caeterorum transferat” [4]. Ở đây, thánh Gregorio cũng đề-cập tới thánh Phaolô, người đă được kéo lên tới những bí-mật lớn-lao nhất của Chúa và chính từ đó, khi trở xuống, ngài đă có thể làm được mọi chuỵên cho mọi người (xem 2 Co 12, 2-4; 1 Co 9, 22). Ngài c̣n đưa ra thí-dụ tổ-phụ Mai-sen, người vẫn luôn ra vào tấm lều thánh để nói chuyện tay đôi với Chúa, để rồi khi rời Chúa quay trở lại có thể phục-vụ dân. Bên trong [lều] ông được kéo lên bởi những chiêm-ngưỡng, bên ngoài [lều] ông mở ḷng đón lấy gánh nặng của những người dân đau-khổ - “intus in contemplationem rapitur, foris infirmantium negotiis urgetur” [5].

 

8. Đó là câu trả lời thứ nhất, tuy c̣n chung-chung, cho hai câu hỏi trên. Tự nền-tảng, “t́nh yêu” là một thực-tại độc-nhất, nhưng nó mang nhiều chiều-kích – tùy lúc tùy nơi nó mang nặng mặt này nhiều hơn mặt kia, hoặc ngược lại. Ở đâu hai mặt hoàn-toàn rời nhau, ở đó t́nh yêu biến  thành tṛ cười hay quá lắm thành một thứ t́nh èo-uột. Và chúng ta cũng thấy dứt-khoát là đức tin trong Kinh-thánh không phải là một thế-giới bên lề hay một thế-giới đối-nghịch lại hiện-tượng t́nh yêu nguyên-thuỷ của con người, nhưng nó chấp-nhận toàn-thể con người, nó nhảy vào cuộc t́m-kiếm t́nh yêu của con người để thanh-lọc và mở ra cho con người những chiều-kích mới. Cái mới của đức tin kinh-thánh này biểu-hiện đặc-biệt trong hai điểm cần được làm nổi bật: trong h́nh-ảnh về Thiên-chúa và h́nh-ảnh về con người.

 

Cái mới của đức tin kinh-thánh

 

9. Trước hết là cái nh́n mới về Thiên-chúa. Trong các nền văn-hoá có liên-hệ với Kinh-thánh, h́nh-ảnh về Thiên-chúa và các thần-linh, trên căn-bản, không rơ-ràng và đồng-nhất. H́nh-ảnh này, trái lại, ngày càng rơ ra với con đường đức tin của Kinh-thánh, qua lời nguyện nền-tảng mang tên Schema của dân Israel: “Hăy nghe, hỡi Israel, Thượng-đế, Chúa của chúng ta, chỉ có một” (Tl 6, 4). Chỉ có một Thiên-chúa, Ngài là đấng tạo thành trời đất và v́ thế là Chúa của mọi người. Ở đây xác-định hai điểm có một không hai: Mọi thần-linh khác không phải là Thiên-chúa, và toàn thế-giới chúng ta đang sống là do Thiên-chúa tạo ra, do Thiên-chúa mà có. Dĩ nhiên đâu-đó cũng có những tư-tưởng về sáng-tạo, nhưng chỉ ở đây mới minh-bạch, là chỉ có một Thiênc-húa thật và duy-nhất, chứ không có chúa nào khác, chính Ngài là nguyên-ủy của mọi thực-tại và thực-tại h́nh-thành do sức mạnh lời tạo-dựng của Ngài. Điều này có nghĩa là thực-tại này mang h́nh-ảnh Ngài và Ngài yêu nó, bởi chính Ngài muốn có nó, chính Ngài “làm ra” nó. Từ đây xuất-hiện yếu-tố thứ hai: Thiên-chúa này yêu con người. Quyền-lực thần-linh, mà Aristoteles từ đỉnh cao triết-học Hi-lạp đă cố nắm bắt bằng suy-tư, thật ra là đối-tượng của thèm-muốn và của t́nh yêu cho mọi loài thực-tại: Chỉ v́ được thế-giới yêu ḿnh nên thần-linh đó đă cho thế-giới chuyển-động [6]; chính thần-linh này chẳng cần ǵ cả và cũng chẳng biết yêu, nó chỉ biết được yêu mà thôi. Thiên-chúa độc-nhất mà dân Israel tin, trái lại, biết yêu. T́nh yêu của Ngài lại thêm đặc-điểm là có chọn-lựa: Ngài đă chọn Israel trong muôn dân-tộc và yêu nó – dĩ-nhiên với mục-đích để cứu toàn-thể nhân-loại. T́nh yêu đó của Chúa có thể gọi được là Eros, và Eros này đồng thời cũng là Agape [7].

 

Đặc-biệt hai tiên-tri Hôsê và Êzêkiel đă mô-tả mối t́nh đó của Chúa đối với dân Israel bằng những h́nh-ảnh thật khêu-gợi: cuộc đính hôn và hôn-nhân. Phá hôn-ước hay làm điếm, do đó, là phục-vụ ngẫu-tượng. Như vậy, tục thờ phồn-thực (cơ quan sinh dục nam – nữ) với việc lạm-dụng Eros, như ta thấy trên đây, đă được đề-cập; và như vậy sự trung-thành của Israel đối với Thiên-chúa của họ cũng đă được nói đến ở đây. Chuyện t́nh của Chúa đối với Israel hệ-tại thẳm sâu ở chỗ là Ngài đă ban cho Israel luật Thora, nghĩa là đă mở mắt họ để họ thấy được bản-chất thực-sự của con người và đă chỉ cho họ con đường làm người chân-chính. Câu chuyện này hàm-chứa sự-kiện: con người cảm-nhận được ḿnh là người yêu của Thiên-chúa khi sống trung-thành với Thiên-chúa độc-nhất, và khám-phá ra niềm vui nơi chân-lí và công-lí, niềm vui nơi Chúa mà cũng là niềm vui của chính ḿnh: “Ngoài Ngài ra tôi đâu có ai trên trời? Với Ngài, tôi chẳng màng ǵ dưới đất... Nhưng tôi - hạnh-phúc được ở bên Chúa” (Tv 73 [72], 25. 28).

 

10. Eros của Chúa đối với con người, như ta đă nói, hẳn là Agape. Không phải chỉ v́ nó được ban tặng một cách hoàn-toàn tự-do và vô điều-kiện, nhưng cả v́ nó là t́nh yêu tha-thứ. Đặc-biệt Hôsê chỉ cho ta thấy chiều-kích Agape, vượt xa khía-cạnh nhưng-không trong t́nh Chúa, đối với con người. Israel đă “ngoại-t́nh”, xé bỏ kết-ước; Lẽ ra Chúa phải xét-xử và phụ-rẫy nó. Nhưng cũng từ đây Chúa cho ta thấy Ngài là Chúa chứ không phải là một phàm-nhân: “Làm sao ta nỡ bỏ ngươi, hỡi Êphraim, làm sao ta nỡ thí ngươi, hỡi Israel?...Ḷng ta chống lại ta, ḷng thương-hại sôi lên. Ta không nổi giận và sẽ không huỷ-diệt Ephraim. Bởi ta là Thiên-chúa, không phải là phàm-nhân, là đấng thánh ở giữa ngươi” (Ho 11, 8-9). T́nh yêu nồng-nàn của Chúa đối với dân Ngài - đối với con người - đồng thời là t́nh yêu tha-thứ. Nó quá lớn đến nỗi Chúa phải chống lại chính ḿnh, t́nh yêu Ngài phải chống lại công-lí của Ngài. Ở đây, kitô-hữu thoáng thấy bí-mật của thánh-giá hé mở: Thiên-chúa yêu con người đến đỗi chính Ngài đă nhập thế làm người, đi theo con người đến chết và với cách đó Ngài đă giao-hoà công-lí lại với t́nh yêu. 

 

Điểm lạ trên b́nh-diện triết-học và lịch-sử tôn-giáo về cái nh́n Kinh-thánh trên đây là, một mặt,  có thể nói chúng ta đứng trước một Thiên-chúa rất ư siêu-h́nh: Ngài là nguyên-uỷ của mọi thực-tại; nhưng nguyên-ủy sáng-tạo này - Lời, Lí-trí - đồng thời cũng là một t́nh-nhân với con tim đam-mê. Đó là Eros thăng-hoa tới tột-đỉnh, đồng thời đă được gội sạch đến mức hoà tan vào Agape. Từ đó ta có thể hiểu rằng, khi nhận Diệu-ca vào Kinh-thánh, Giáo-hội đă rất sớm muốn dùng những bài t́nh ca đó để ám-chỉ mối t́nh của Chúa đối với con người và của con người đối với Chúa. Bằng cách đó, Diệu-ca trong văn-chương Do-thái cũng như văn-chương Công-giáo đă trở thành một nguồn nhận-thức và kinh-nghiệm thần-bí, qua đó nói lên bản-chất đức tin kinh-thánh: Vâng, có sự kết-hiệp của con người với Thiên-chúa – đây là giấc mơ nguyên-thủy của con người -, song sự kết-hợp đó không hoà tan và biến đi trong đại-dương không tên của thần-linh, nhưng là một thể nhất-thống tạo ra t́nh yêu, trong đó Chúa và người cả hai vẫn là hai nhưng đồng thời cũng là một. Thánh Phaolô nói: “Ai kết-hợp với Chúa th́ trở nên một tinh-thần với Ngài” (1 Co 6, 17).

 

11. Như ta đă thấy, cái mới đầu tiên của đức tin kinh-thánh nằm nơi h́nh-ảnh về Thiên-chúa; cái mới thứ hai, cũng có liên-quan nội-tại với cái thứ nhất, là nơi h́nh-ảnh về con người. Câu chuyện sáng-tạo trong Kinh-thánh nói về sự cô-đơn của Adam, con người đầu-tiên, và việc Chúa muốn giúp y có người trợ lực bên cạnh. Mặc dù Adam có thể gọi tên tất-cả cầm-thú muông-chim và đưa chúng vào quan-hệ với cuộc sống ḿnh, nhưng đă chẳng có một thụ-tạo nào trong chúng có thể lấp đầy cái thiếu-vắng của y. Và Chúa đă dùng xương sườn y để tạo thành người nữ. Giờ đây Adam đă có cái y cần: “Chân này rơ là từ chân tôi và thịt này là từ thịt tôi” (Kn 2, 23). Đàng sâu chuyện này, chúng ta có thể có những h́nh-dung khác, chẳng hạn như chuyện thần-thoại của Platon, theo đó, thoạt-tiên con người mang dạng quả cầu, nghĩa là nó sống hoàn-toàn cho nó và chẳng cần ǵ ngoài khác, nhưng v́ kiêu-căng, nó đă bị thần Zeus cắt đi một nửa, v́ thế nó luôn-luôn hoài-vọng và đi kiếm nửa kia, để t́m lại cái toàn-thể đă mất [8]. Câu chuyện trong Kinh-thánh không nói đến h́nh phạt, nhưng có đề-cập tới sự bất-túc của con người - bản-chất con người là đi t́m tới người khác để làm trọn-đầy ḿnh; nó chỉ “trọn-đầy” khi có sự kết-hợp giữa người nam và nữ. Và câu chuyện kinh-thánh cũng đă kết-thúc bằng một lời tiên-tri về Adam: “V́ thế người nam sẽ bỏ cha mẹ và kết-hợp với vợ ḿnh và cả hai trở nên một xương thịt” (Kn 2, 24).

 

Ở đây có hai điểm quan-trọng: Eros đă nằm sẵn trong bản-chất con người; Adam “bỏ cha mẹ” lên đường t́m người nữ; chỉ sau khi cả hai kết lại họ mới thành con người trọn-đầy, họ trở thành một “xương thịt”. Điểm thứ hai cũng quan-trọng không kém: Theo chương-tŕnh tạo-dựng, Eros dẫn con người đi tới hôn-nhân, tới một gắn-bó mang tính duy-nhất và luôn-măi. Chỉ như vậy lệnh-truyền nội-tại của Eros mới được đáp-ứng. Hôn-nhân một vợ một chồng hợp với h́nh-ảnh Thiên-chúa độc thần. Cuộc hôn-nhân dựa trên t́nh yêu duy-nhất và luôn-măi được dùng để diễn-tả mối t́nh Thiên-chúa đối với dân Ngài và ngược lại: Lối yêu của Chúa trở thành khuôn-thước cho t́nh yêu con người. Ngoài Kinh-thánh ra chúng ta chẳng t́m đâu ra mô h́nh nối-kết chặt-chẽ giữa Eros và hôn-nhân như thế.

 

Jesu Kitô – t́nh yêu Thiên-chúa trở thành xương thịt

 

12. Dù cho tới lúc này ta chỉ nói nhiều về Cựu-ước, nhưng ta cũng đă thấy sự thẩm-nhập sâu-xa giữa Tân và Cựu-ước vào nhau để thành như một Kinh-thánh chung của đức tin kitô giáo. Cái mới thực-sự của Tân-ước không phải là những tư-tưởng mới, nhưng chính là h́nh-dáng đức Kitô, đấng đă hiện-thực hoá ư nghĩ thịt máu một cách lạ-lùng khó tin. Ngay cái mới trong Cựu-ước cũng không hệ-tại nơi tư-tưởng, nhưng nơi hành-động bất-ngờ và phần nào lạ-lùng của Thiên-chúa. Hành-động của Thiên-chúa đó giờ đây mặc lấy h́nh-thù bi-thảm qua việc Thiên-chúa đi t́m con “chiên lạc”, đi t́m nhân-loại đau-khổ và hư mất ngay chính trong đức Jesu Kitô. Khi đức Jesu nói trong các dụ-ngôn của Ngài về người mục-tử đi t́m chiên lạc, về người đàn bà t́m đồng tiền mất, về người cha chạy tới ôm lấy đứa con hoang trở về, th́ tất-cả những câu chuyện đó không chỉ là lời kể suông, nhưng đó là những cắt nghĩa về chính sự hiện-hữu và hành-động cùa Ngài. Cái chết trên thánh-giá là thể-hiện cao độ thái-độ Thiên-chúa chống lại chính ḿnh, qua đó Ngài tự hiến để nâng con người lên và cứu họ - đó là t́nh yêu thể-hiện trong h́nh-thái triệt-để nhất của nó. Nh́n lên cạnh sườn của Chúa bị đâm thâu, như thánh Gioan nói (xem 19, 37), ta hiểu được điểm khởi đầu của thông-điệp này: “Chúa là t́nh yêu” (1 Yo 4, 8). Ta có thể nh́n-ngắm sự thật này từ vết thương đó.

 

Và từ đó, giờ đây ta hiểu được t́nh yêu là ǵ. Từ vết thương đó kitô-hữu t́m thấy con đường sống và yêu của ḿnh.

 

13. Đức Jesu đă biến hành-vi hiến thân của ḿnh thành hiện-tại kéo dài qua việc lập ra phép Thánh-thể trong bữa tiệc-li . Ngài báo trước cái chết và sống lại của ḿnh qua việc trao chính ḿnh cho các môn-đệ dưới h́nh bánh rượu, trao thịt và máu ḿnh như là Manna mới (xem Yo 6, 31-33). Thế-giới cổ-xưa vẫn mơ rằng của ăn đích-thực của con người – cái mà con người cần để sống như là người - cuối cùng là Logos (Lời), là chân-lí muôn đời, th́ giờ đây Logos đó đă trở thành của ăn thực-sự - của ăn t́nh yêu - cho chúng ta. Thánh-thể đưa ta đi vào hành-vi tự hiến của đức Jesu. Không phải chúng ta rước Logos nhập-thể vào ḷng trong thế tĩnh, nhưng chúng ta bị cuốn vào lực đẩy của sự hiến-ḿnh đó. H́nh-ảnh cuộc hôn-nhân trước đây khó tưởng-tượng được giữa Thiên-chúa và Israel nay đă thành sự thật: Từ đối đầu với Thiên-chúa nay trở nên kết-hợp với Ngài qua kết-hiệp với sự hiến ḿnh của đức Jesu, kết-hiệp với thịt và máu Ngài. Sự “Nhiệm-mầu” của bí-tích thánh-thể, bí tích đặt nền-tảng trên việc Chúa hạ ḿnh xuống với ta, toả xa măi và vươn cao hơn mọi gặp-gỡ nhiệm-mầu của con người có thể đạt tới.

 

14. Bây giờ, một điểm nữa cũng cần để ư: “Nhiệm-mầu” của Thánh-thể mang tính xă-hội. Bởi v́ khi tôi rước lễ, cũng như bao người rước lễ khác, là tôi kết-hợp với Chúa Kitô. Thánh Phaolô nói: “Chỉ có một bánh. V́ thế nhiều người chúng ta cùng ở trong một thân-thể, bởi tất-cả chúng ta đều dự phần trong một bánh đó” (1 Co 10, 17). Kết-hợp với Chúa cũng là kết-hợp với tất-cả những ai được Ngài hiến thân. Tôi không thể giữ Chúa Kitô riêng cho tôi, tôi thuộc về Ngài chỉ khi nào tôi ở trong cộng-đoàn cùng với những người đă thuộc về hay sẽ thuộc về Ngài. Việc rước lễ lôi tôi ra khỏi tôi để đưa tôi tới với Chúa, và như vậy đồng thời làm tôi liên-kết với mọi kitô-hữu khác. Chúng ta trở thành “một thân-thể”, thành một hiện-hữu hoà tan vào nhau. Như vậy t́nh yêu Chúa và t́nh yêu người là một: Thiên-chúa nhập-thể kéo tất-cả chúng ta tới với Ngài. Như vậy, Agape giờ đây cũng là tên gọi của Thánh-thể: Trong Thánh-thể, Agape của Chúa đến với ta bằng xương bằng thịt, để rồi tiếp-tục hoạt-động trong ta và qua ta. Chỉ với nền-tảng bí-tích kitô giáo đó ta mới hiểu được đúng-đắn bài học t́nh yêu của Chúa Kitô. Việc Ngài nối luật-lệ và các tiên-tri vào cặp giới răn yêu Chúa thương người và việc Ngài xoáy toàn-bộ cuộc sống kitô-hữu vào trách-vụ đó, chẳng phải là chuyện thuần-tuư đạo-đức, và đạo-đức này có thể đứng một ḿnh độc-lập bên cạnh niềm tin vào Chúa Kitô và bên cạnh sự hiện-diện của Ngài trong phép Thánh-thể. Không: đức tin, phụng-vụ và đạo-đức tác-động trong nhau như một thực-tại duy-nhất, và thực-tại này được thành h́nh qua sự gặp-gỡ Agape của Chúa. Giờ đây, sự đối-lập thường thấy giữa phụng-vụ và đạo-đức biến mất: Chính trong “phụng-vụ”, trong việc rước lễ, đă bao-hàm sự-kiện được yêu và cho đi tiếp t́nh yêu. Không trở thành hành-động t́nh yêu thực-tiễn, phép Thánh-thể sẽ tự nó thành ra manh-mún, không lành-lặn. Ngược lại – như chúng ta sẽ phải bàn kĩ thêm điểm này trong phần sau – “giới răn” t́nh yêu chỉ có thể thực-thi được, bởi v́ nó không chỉ thuần-tuư là một yêu-cầu: T́nh yêu có thể “đặt (hàng)” được, v́ nó trước hết đă được trao tặng.

 

15. Có như thế ta mới hiểu được những dụ-ngôn lớn của đức Jesu. Từ chốn luyện-ngục anh nhà giàu (xem Lc 16, 19-31) van xin người ta loan-báo cho các anh em ḿnh biết về số-phận đang đón-chờ những ai không quan-tâm tới người nghèo khốn-khó. Có thể nói đức Jesu đă chụp lấy và mang đến cho ta tiếng kêu than đó, để cảnh-giác và đưa ta về đàng lành. Dụ-ngôn người Samarita nhân-hậu (xem Lc 10, 25-37) đặc-biệt làm rơ nghĩa hai điều. Cho tới lúc đó chữ “người bên cạnh” vẫn thường được hiểu là dân Israel và những ngoại-kiều cư-ngụ trên đó, nghĩa là ám-chỉ mối liên-kết của một dân-tộc hay của những cư dân trong một quốc-gia, nay biên-giới đó đă bị xoá: Người bên cạnh là hết thảy những ai cần tôi và những ai tôi có thể giúp-đỡ. Ư-niệm “người bên cạnh” trở thành phổ-quát và cụ-thể. Dù được mở ra cho tất-cả mọi người, ư-niệm đó không bao-hàm một t́nh yêu khơi-khơi từ xa, nhưng nó đ̣i-hỏi sự dấn-thân cụ-thể của tôi tại chỗ. Giáo-hội luôn có trách-nhiệm cắt-nghĩa mối dây xa gần đó, để con-cái ḿnh biết áp-dụng trong cuộc sống thực-tiễn. Sau cùng, đặc-biệt c̣n có dụ-ngôn lớn về phiên toà phán-xét (xem Mt 25, 31-46), qua đó t́nh yêu được dùng làm tiêu-chuẩn để quyết-định chung-thẩm về sự xứng-đáng của cuộc sống mỗi người. Đức Jesu coi ḿnh là những kẻ bất-hạnh: đói, khát, trần-truồng, ngoại-kiều, bị tù. “Những ǵ các bạn làm cho một trong những người anh em bé-mọn nhất của tôi, th́ các bạn đă làm cho tôi” (Mt 25, 40). Yêu Chúa mến người hoà tan trong nhau: Qua người bé-mọn nhất chúng ta gặp chính đức Jesu, và qua đức Jesu chúng ta gặp Thiên-chúa. 

 

T́nh yêu Chúa và t́nh yêu tha-nhân

 

16. Sau tất-cả những suy-tư về bản-chất t́nh yêu và ư nghĩa của nó trong đức tin kinh-thánh, hai câu hỏi liên-quan tới thái-độ của ta được đặt ra: Ta có thể yêu Chúa, là đấng ta không thấy không? Và: T́nh yêu có thể phát-sinh từ ư-chí (muốn có là có) được không? Hai câu hỏi này bao-hàm lí-lẽ bác-bỏ hai giới-răn trên. Làm sao yêu một đấng vô h́nh? Và nữa, không thể ra lệnh cho t́nh yêu, nó chỉ là một t́nh-cảm, có đó mà cũng không có đó, lí-trí không thể sản-xuất ra nó được. Xem ra Kinh-thánh xác-nhận câu phi-bác đầu, khi nói: “Ai nói ‚Tôi yêu Chúa’, mà lại ghét anh em ḿnh, th́ đó là kẻ nói dối. Bởi v́ ai không yêu anh em ḿnh, là những người họ thấy trước mắt, th́ không thể yêu Chúa, là đấng họ không thấy được” (1 Yo 4, 20). Nhưng câu này không hoàn-toàn loại-bỏ ư-tưởng có thể yêu Chúa, trái lại nó nêu lên rơ-ràng đ̣i-buộc yêu Chúa, như trong nội-dung thư thứ nhất của thánh Gioan đă nêu. Phải nhấn mạnh ở đây sự cḥng-chéo không thể tách rời giữa yêu Chúa và mến người. Cả hai là một, nên chi bảo yêu Chúa mà nhắm mắt với người hoặc thậm chí ghét người, là nói dối. Ta phải diễn-giải câu của thánh Gioan theo hướng này: Mến người cũng là con đường tới gặp Chúa, và làm ngơ với người cũng có nghĩa là nhắm mắt với Chúa.

 

17. Thực-tế đă chẳng ai thấy Thiên-chúa thật-sự ra sao cả. Dù vậy, Thiên-chúa không hoàn-toàn ẩn mặt, Ngài không quá xa chúng ta. Thánh Gioan viết trong thư (xem 4, 10): Trước hết Thiên-chúa yêu ta, và t́nh yêu đó tỏ-hiện giữa chúng ta, chúng ta thấy được nó qua việc Thiên-chúa “đă gởi Con một xuống thế-gian, để chúng ta nhờ Ngài mà được sống” (1 Yo 4, 9). Thiên-chúa đă tự tỏ-hiện cho ta, bởi v́ qua đức Jesu ta có thể nh́n thấy Thiên-chúa (xem Yo 14, 9). Quả thực, Thiên-chúa đă tỏ-hiện bằng nhiều cách. Trong lịch-sử t́nh yêu mà Kinh-thánh kể cho chúng ta nghe, Thiên-chúa đi tới với ta, t́m cách chiếm-đoạt ta – cho tới bữa tiệc li, cho tới lúc tim bị đâm thâu trên thánh-giá, cho tới những lần hiện ra của đấng Phục-sinh và những việc làm lớn-lao của Ngài, qua đó, với hoạt-động của các tông-đồ, Ngài đă dẫn Giáo-hội đang h́nh thành lên đường. Và trong lịch-sử tiếp theo của Giáo-hội Ngài cũng đă chẳng vắng mặt: Ngài luôn tái hiện tới với ta – qua những người phản-chiếu h́nh-ảnh của Ngài trong họ, qua lời Ngài, qua các bí-tích, đặc-biệt bí-tích Thánh-thể. Trong phụng-vụ và lời nguyện của Giáo-hội, trong cộng-đoàn sống-động của những kẻ tin chúng ta cảm-nhận và bắt gặp t́nh yêu Thiên-chúa, và cũng nhờ đó học biết cách nhận diện sự có mặt của Ngài trong cuộc sống thường ngày của ta. Ngài đă yêu ta và đang yêu ta trước hết; v́ thế chúng ta cũng có thể đáp-trả lại Ngài bằng t́nh yêu. Thiên-chúa không ra cho ta một mẫu t́nh-cảm mà ta không thể áp-dụng được. Ngài yêu ta, cho ta thấy và cảm được t́nh yêu của Ngài, và từ “t́nh yêu trước hết” đó của Chúa, chúng ta cũng có thể đáp trả lại t́nh yêu đó bằng cách để cho mầm t́nh yêu trong ta đâm chồi.

 

Ngoài ra, trong tiến-tŕnh gặp-gỡ này, ta cũng thấy rơ t́nh yêu không chỉ đơn-thuần là một cảm-giác. Cảm-giác th́ nay có mai không. Cảm-giác có thể là một mồi lửa tuyệt-diệu, nhưng nó không phải là toàn-bộ t́nh yêu. Trên kia, chúng ta đă nói đến tiến-tŕnh thanh-lọc và trưởng-thành làm cho Eros trở thành tinh-ṛng, t́nh yêu trở nên đúng nghĩa. T́nh yêu trưởng-thành bao-hàm việc nó lôi-kéo toàn lực con người, nó hội-nhập con người vào cái toàn-diện, có thể nói như vậy. Gặp-gỡ t́nh yêu Chúa qua các cách-thể khả mục như trên có thể tạo lên trong ta niềm vui, thứ niềm vui đến từ kinh-nghiệm được yêu. Nhưng gặp-gỡ đó cũng đ̣i-hỏi ư-chí và lí-trí của ta. Nhận biết Thiên-chúa sống-động là con đường dẫn tới t́nh yêu, và tiếng Vâng của ư-chí chúng ta trước ư muốn Thiên-chúa sẽ nối-kết lí-trí, ư-chí và cảm-giác của chúng ta lại thành một hành-vi t́nh yêu toàn-diện. Đó là một diễn-tŕnh không ngơi-nghỉ: T́nh yêu không bao giờ đă thành-tựu trọn-vẹn, nó thay-đổi và trưởng-thành theo cuộc sống và chính qua đó nó trung-thành với nó. Idem velle atque idem nolle [9] – muốn cái đó mà không muốn cũng cái đó; người xưa coi đó là nội-dung đích-thực của t́nh yêu: trở thành một-giống-nhau, điều này dẫn tới một ư muốn chung và một ư nghĩ chung. Lịch-sử t́nh yêu giữa Thiên-chúa và con người thể-hiện chính ở chỗ là ư muốn chung này lớn lên trong ư nghĩ và cảm-giác chung, và như thế ư (muốn) ta luôn tiến tới nhập vào trong ư Chúa: Đối với ta, ư Chúa lúc này không c̣n là ư của một kẻ xa-lạ nào nữa chỉ biết quàng lên ta những giới-răn, nhưng đó là ư của chính tôi, có được là v́ tôi nghiệm ra rằng Chúa đang ở trong tôi thật-sự cũng như tôi đang ở trong chính tôi [10]. Từ đó nẩy dần trong ta ư-thức xả thân cho Chúa. Từ đó Chúa trở thành hạnh-phúc của ta (xem Tv 73 [72], 23-28).

 

18. Như vậy, t́nh yêu tha-nhân theo nghĩa Kinh-thánh và đức Jesu dạy có thể thực-hành được. Nó thể-hiện qua sự-kiện v́ Chúa mà tôi yêu cả một kẻ thoạt-tiên tôi chả thích tí nào, một kẻ tôi chưa quen biết. Điều đó chỉ có thể xẩy ra khi có cuộc gặp-gỡ nội-tâm với Chúa; cuộc gặp này trở thành một ư muốn chung và đưa tới cảm-giác. Từ đó tôi nh́n tha-nhân không từ con mắt và cảm-quan của tôi nữa, mà từ góc-độ của Chúa Jesu Kitô. Bạn của Ngài là bạn tôi. Xuyên qua bề ngoài tôi thấy được ḷng họ đang mong-chờ một cử-chỉ t́nh yêu – một cử-chỉ quan-tâm, mà tôi cho họ không chỉ qua một tổ-chức bác-ái có trách-nhiệm hoặc có lẽ không phải do t́nh-thế chính-trị bó-buộc.  Tôi nh́n họ với con mắt Chúa Kitô và có thể cho họ nhiều hơn những cái họ cần bên ngoài: đó là ánh mắt yêu thương, là cái họ cần. Ta thấy ở đây sự tác-động qua lại cần-thiết giữa yêu Chúa và mến người, mà thánh Gioan đă nhấn mạnh rất nhiều trong thư thứ nhất của ngài. Nếu trong cuộc sống tôi hoàn-toàn không chạm được tới Chúa, th́ khi nh́n tha-nhân, tôi cũng chỉ thấy họ như một người lạ và không thể nhận ra h́nh-ảnh Chúa trong họ. Nhưng nếu tôi loại-bỏ t́nh mến người ra khỏi đời tôi và chỉ muốn “đạo-đức”, chỉ muốn chu-toàn “các bổn-phận tôn-giáo” của tôi mà thôi, th́ mối liên-hệ giữa Chúa và tôi cũng sẽ khô héo. Mối liên-hệ đó chỉ c̣n là “đúng”, nhưng vắng bóng t́nh yêu. Chỉ khi tôi sẵn-sàng tới với kẻ khác, tỏ ḷng yêu thương họ, khi đó tôi mới cảm được sự hiện-diện của Chúa. Chỉ qua phục-vụ tha-nhân mới giúp tôi mở mắt nh́n ra những ǵ Chúa đă làm cho tôi và Ngài thương tôi thế nào. Các thánh - chẳng hạn như chân-phước Terexa ở Calcutta – luôn-luôn múc mới khả-năng yêu người từ nguồn gặp-gỡ Chúa trong Thánh-thể , và ngược lại, việc phục-vụ tha-nhân lại giúp sự gặp-gỡ đó trở nên thắm-thiết và triệt-để. Yêu Chúa và mến người không thể tách nhau. Cả hai chỉ là một mệnh-lệnh. Nhưng cả hai được nuôi-dưỡng bằng t́nh yêu nhưng-không của Chúa đối với ta, Ngài đă yêu ta trước. Như vậy, đó chẳng c̣n là một “mệnh-lệnh” từ ngoài, một mệnh-lệnh bắt ta làm chuyện không thể làm được, nhưng là một kinh-nghiệm yêu đến từ bên trong, mà bản-chất của nó là phải luôn loan-truyền ra măi. T́nh yêu lớn lên bằng t́nh yêu. Nó “linh-thiêng”, bởi v́ nó đến từ Chúa và nó nối-kết ta với Chúa làm thành một Chúng ta. Nó khép lại những xa-cách giữa chúng ta và kết chúng ta thành một. Như thế cuối cùng “Chúa là tất-cả trong mọi sự” (xem 1 Co 15, 28).

CHÚ THÍCH

[1] Xem Jenseits von Gut und Böse, IV, 168

[2] X, 69

[3] Xem Descartes, Oeuvres, biên-tập bởi V. Cousin, Tập 12, Paris 1824, Tr. 95 tt.

[4] II, 5; SCh 381, 196

[5] Như trên

[6] Xem Metaphysik, XII, 7

[7] Xem Pseudo Dionysius Areopagit, trong sách Über die göttlichen Namen, IV, 12-14: PG3, 709-713, ông gọi Thiên-chúa vừa là Eros vừa là Agape.

[8] Xem Symposion, XIV-XV, 189c-192d

[9] Sallust, De Coniuratione Catalinae, XX, 4

[10] Xem Augustinus, Confessiones, III, 6, 11: CCL 27, 32