KITÔ HỌC III
CHƯƠNG IX
Qua Kinh Tin kính, Giáo hội tuyên xưng như sau về Đức Kitô: “v́ loài người chúng tôi và để cứu độ chúng tôi, ngài đă từ trời xuống thế...” đă sống, đă chết và sống lại. Thực vậy, “ngoài Ngài ra, không ai đem lại ơn cứu độ; v́ dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đă được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4:12). Toàn bộ Tân Ước nhắm vào duy chỉ một điều là cắt nghĩa “mục đích” ấy. Tin mừng là không ǵ khác ngoài “lời cứu độ ấy: lógos sôtêrías taútês” (Cv 13:26), hằng tác dụng trong chúng ta qua phép Thánh tẩy (x. Rm 1:16). Được gọi là Cứu độ học, khoa thần học nghiên cứu về ơn cứu độ ấy. [114]
CỨU ĐỘ HỌC
Thuật ngữ “Cứu độ học” là từ dịch của danh từ Soteriologia trong tiếng Latinh. Từ Hylạp (Tân Ước) Sôtêría có nghĩa là việc cứu rỗi, và lógos là lời, ư, hoặc trí, v.v. V́ vậy, từ ghép soteriologia có nghĩa là ‘lời’ bàn về, học hỏi về công cuộc cứu độ. Theo nghĩa hẹp, Kitô học t́m hiểu về Đức Kitô để biết Ngài là ai, c̣n Cứu độ học th́ nghiên cứu về Đức Kitô để biết Ngài đă làm ǵ. Đức Giêsu Kitô là Emmanuen, “Thiên Chúa-ở-với-chúng-ta,” mà cũng vừa là Jehoshua, “Giavê cứu độ,” là “Thiên Chúa-cho-chúng-ta.”
Trong thần học hệ thống, có khi Cứu độ học được để tách ra khỏi Kitô học, làm thành một thiên chuyên khảo; c̣n khuynh hướng ngày nay th́ tổng hợp làm một cả hai khía cạnh của mầu nhiệm về “Đấng Cứu tinh tuyệt đối” là Đức Giêsu Kitô. [115] Những công việc Đức Giêsu đă làm mạc khải cho biết Ngài là ai (x. Ga 5:36; 10:25); v́ thế, nghiên cứu về sự nghiệp Đức Kitô là thực ra, chỉ để biết Ngài rơ hơn.
Mục đích của Cứu độ học là phân tích và đào sâu ơn cứu độ theo những cách nh́n khác nhau gặp thấy trong Tân Ước. Kinh Thánh cũng như các Giáo phụ và các thần học gia sau này đă mở ra nhiều viễn cảnh nhận thức về ơn ấy. Lư do là v́ việc cứu độ là một công tŕnh rất ư phức tạp: vừa là việc do Đức Kitô (và cả Ba Ngôi) thực hiện, vừa là ơn con người mở ḷng ra để nhận lấy. Đó là lănh vực của nhiệm mầu. V́ thế, Kinh Thánh đă phải dùng nhiều đến phép ẩn dụ, đến lối diễn đạt bằng biểu tượng, khái niệm, phạm trù, v.v. rất khác nhau, mượn từ các lănh vực thương mại, luật pháp, chính trị, xă hội, y học, phụng tự, thiên nhiên vũ trụ, v.v., để chúng bổ túc lẫn nhau nhằm giúp cho hiểu đầy đủ hơn về công tŕnh của Đức Kitô. [116] Tóm lại, Tân Ước dùng đến ba mô thức để giải thích hoạt động cứu độ của Đức Kitô: 1) Đức Giêsu lịch sử là đường cứu độ; mô thức này dùng những h́nh ảnh như: Thầy dạy, mục tử, y sĩ... gặp thấy trong Phúc âm Nhất lăm. 2) Thập giá và phục sinh, với những h́nh ảnh: Đấng ḥa giải và Thượng tế, gặp thấy trong các thư của Phaolô và thư Do thái. 3) Sự việc Nhập thể với h́nh ảnh của Đấng mạc khải, gặp thấy đặc biệt là trong văn bộ Gioan. V́ thế, thần học không thể chỉ đơn thuần dựa vào một ư niệm hoặc một phạm trù không thôi để dựa theo đó mà xây dựng Cứu độ học. Trong Tân Ước, giáo lư về công cuộc cứu độ xuất hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau: có thể là qua một công thức tuyên tín hay một lời nhắn nhủ, hoặc một bài tường thuật, v.v. Mỗi xác quyết về Đức Kitô (Đấng Cứu độ) là một khẳng định về chức năng của Ngài, hoặc là về các sự việc Ngài đă làm cho chúng ta.
Giữa các lời khẳng định như thế, nên phân biệt những công thức có Thiên Chúa làm chủ thể tác động với những công thức trong đó con người làm chủ thể thụ động và đi liền với những ǵ con người đă thực hiện được để dâng lên Thiên Chúa. Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa và con người đă nên một; do thế, hoạt động của Ngài mang tính chất “thần nhân”: ở trong Ngài, hai hướng “đi lên” và “đi xuống” bắt gặp nhau. Dù thế th́ cũng c̣n phải lưu ư là tất cả những cách nói ấy đều là những cách diễn đạt theo ẩn dụ, là những cách nói với ư nghĩa “phàm trần”; thế nên, cần phải được ư nghĩa siêu nhiên của đức tin bổ túc thêm cho. [117]
Lịch sử giáo lư này (Cứu độ học) khác với lịch sử Kitô học: trong khi giáo lư về Đức Kitô chỉ được h́nh thành và xác định một cách cam go qua nhiều lần họp công đồng chung và vô số những cuộc tranh luận sôi nổi, th́, dù có nhiều quan điểm và ư kiến thần học khác nhau, giáo lư về công cuộc cứu độ của Ngài bao giờ cũng gặp được lập trường đồng nhất về đức tin. V́ thế, tài liệu phía huấn quyền để lại cũng rất ít. Tài liệu đầu tiên và quan trọng nhất là tín quy của công đồng NixêConxtăntinốp: “...v́ loài người chúng tôi...” (DS 150). Ở Tây phương, dù không phủ nhận việc cứu chuộc, th́ trường phái Pêlagiô (thế kỷ 5-6) cũng đă hiểu quá sai lạc về sự nghiệp của Đức Kitô; v́ thế, công đồng Orange đă phải minh định rằng việc công chính hóa và cứu độ loài người là kết quả công tŕnh Đức Kitô chịu chết trên thập giá (n. 530; x. DS 391). Hai công đồng Conxtăntinốp II (n. 553) và III (n. 681) đă xác định rơ hơn về tầm mức cứu độ nêu lên ở trong tín điều vừa nói. [118] Phải đợi cho đến công đồng Trentô th́ mới có được một học thuyết dồi dào về ơn cứu độ. Trong khóa 6, bàn về sự công chính hóa (n. 1547), và khóa 22 (n. 1562), bàn về hy tế Thánh thể, dựa vào những phạm trù “đền tội,” “công đức” và “lễ tế” (x. DS 1520tt; 1738tt), công đồng đă minh tŕnh về học thuyết đó. Khoản 21, bàn về việc công chính hóa, đă định tín như sau: “Nếu ai chủ trương rằng Thiên Chúa đă ban Đức Kitô cho loài người, chỉ như là Đấng Cứu độ cần phải tin tưởng, chứ chẳng phải cả như là Đấng lập luật cần phải vâng theo, th́ sẽ bị tuyệt thông” (DS 1571). Nhiều tác giả coi khoản định tín này như là lối nói theo kiểu “a fortiori” (càng có lư mạnh hơn). Thế nên – và cũng nhân cuộc bùng lên của đợt khủng khoảng Giansêniô (n. 1653) – huấn quyền đă phải can thiệp để khẳng định rơ Đức Kitô đă chết cho tất thảy mọi người (x. DS 2005). Công đồng Vaticanô I đă phác thảo cả một tài liệu về “Đức tin Công giáo” với một chương mang tựa đề: “Ân sủng của Đấng Cứu độ,” nhưng v́ bị gián đoạn (n. 1870), nên không có giờ bàn luận sâu rộng về chủ đề. V́ vậy, chưa bao giờ Giáo hội định tín về giáo lư căn bản này.
Dù truyền thống Kitô giáo không bao giờ đặt vấn đề về công cuộc cứu chuộc, th́ cách gián tiếp, nhiều giả thuyết và lạc giáo kitô học đă hiểu sai và giảm nhẹ tầm trọng yếu của sự nghiệp Đức Kitô. [119]
Thần học thường gióng theo khuynh hướng văn hóa thời đại mà giải thích mầu nhiệm cứu độ. Trong thiên niên kỷ thứ nhất, các Giáo phụ thường nhấn mạnh đến quan điểm hữu thể và thần nghiệm (ontological, mystical), với xu hướng “hạ giáng,” nghĩa là Đức Kitô (Thiên Chúa) nhập thể và sống lại, hiện đang cứu rỗi và thần hóa loài người. Trong thiên niên kỷ thứ hai, thần học thường nhấn mạnh đến khía cạnh pháp lư, với xu hướng “thượng thăng,” và dùng những phạm trù thục tội, đền bù thay, v.v. Tất cả đều đồng ư là Cứu độ học đă đi qua một khúc quanh quan trọng kể từ khi thánh Anxenmô Canterbury († 1109) đề xướng học thuyết về Đền tội, làm nên dạng thần học kinh viện chung của cả hai phía công giáo và tin lành. [120] Thật ra, bao giờ thần học cũng lưu ư đến cả hai xu hướng trên đây. Thần học ngày nay thường nhấn mạnh đến khía cạnh tu đức học trong công cuộc cứu độ của Đức Giêsu, như thấy được qua các dạng thần học chính trị và giải phóng. [121] Ba mẫu quan niệm trên đây tương ứng với ba h́nh ảnh về Đức Kitô: Đức Kitô chiến thắng, Đức Kitô tế phẩm và Đức Kitô điển h́nh. Nhưng cả ba đều cần phải được bổ túc và phải bổ túc cho nhau, để giữ cân bằng hợp lư giữa hai yếu tố trong hoạt động cứu độ, tức là: ơn của Thiên Chúa và tự do của con người.
Cứu độ học không được quên đi rằng rốt cuộc, “ơn cứu độ” là chính Thiên Chúa tự trao hiến ḿnh cho con người trong Đức Kitô, và v́ thế, cần phải luôn luôn đi sát với Kitô học; bởi, nếu không th́ “ơn” chủ yếu ấy sẽ có thể bị lư trí phân tán để biến thành những “mối lợi” riêng biệt như: ơn thánh hóa, hiện sủng, các ân huệ của Thánh Thần, sự cư ngụ của Ba Ngôi, v.v. làm như thể là cần phải phân chia hoạt động cứu độ duy nhất của Đức Kitô ra nhiều “mầu nhiệm” chồng chất lên nhau, như: việc nhập thể, cuộc rao giảng về vương quốc, các phép lạ, cuộc tử nạn, biến cố sống lại, v.v. Nếu tiến hành theo phương pháp phân tích th́ khó có thể tránh được t́nh trạng ấy; v́ vậy, phải làm sao để quy hướng tất cả về với tâm điểm tổng hợp duy nhất là bản thân Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ loài người. Đồng thời, cả việc đào sâu mạc khải lẫn truyền thống thần học phải biết dành ưu tiên hàng đầu cho mầu nhiệm phục sinh, là hành động cứu độ độc đáo và tiểu biểu nhất; chính do vậy mà có lúc Cứu độ học đă được quan niệm như là nỗ lực nghiên cứu về “giá trị” của cuộc tử nạn thập giá... Thiên khảo luận sẽ ra sức phối ḥa các yếu tố này.
Đức Giêsu, Đấng Đă Được Sai Đến
Khởi điểm của mọi hành động cứu độ là sứ mệnh của Đấng Cứu thế (x. HĐTG 2) – và cụ thể mà nói – là chính t́nh yêu của Chúa Cha. Nếu Đức Kitô đă “xuống thế v́ loài người chúng ta,” th́ chính là v́ “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một...” (Ga 3:16). [122] Nguồn suối tuyệt đối của ơn cứu độ là Thiên Chúa Ba Ngôi và ư định cứu độ phổ quát của Người (x. 1Tm 2: 4). “Sứ mệnh” khởi sự từ trong Thiên Chúa, rồi xuất hiện ra giữa lịch sử loài người, lịch sử cứu độ: v́ trong cuộc hiện hữu vĩnh hằng, Cha “sinh ra” Con hằng hữu, nên cũng chính Người đă “sai” Con ḿnh đi vào trong thời gian. Dĩ nhiên là phải hiểu các khái niệm này theo cách loại suy. Bởi được sinh ra, nên Con “thuộc về” Cha; th́ cũng vậy, bởi được sai đi, nên Đức Giêsu “vâng lời” Cha. Tựa như đặc tính của Con là “được sinh ra” do Cha, th́ cũng vậy, đặc tính của sứ mệnh hoặc của công tŕnh Đức Giêsu là “vâng phục.” Chính v́ thế Đức Giêsu đă có thể nói: “Lương thực của Thầy là thi hành ư muốn của Đấng đă sai Thầy...” (Ga 4:34; x. 8:28-9). Tổng kết sứ mệnh của ḿnh, Đức Giêsu nói: “Thầy từ Chúa Cha mà đến thế gian. Thầy lại bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha” (Ga 16:28). Tóm lại, Chúa Cha là nguồn gốc và là cùng đích của công cuộc cứu độ. Đó là lư do tại sao Kinh Thánh gọi Thiên Chúa là Đấng Cứu tinh (x. Is 43:11; Hs 13:4; 1Tm 4: 10, v.v.).
“Ơn cứu độ” đă nhập thể nơi Đức Giêsu (x. Tt 2:11). Khi nh́n lại chính ḿnh, Đức Giêsu nhận ra “căn tính” của ḿnh là “Đấng được sai đi.” [123] Phúc âm Gioan lưu ư nhiều lần về điểm này (x. Ga 3:17.34; 5:37; 6:40.44, v.v.); các thánh sử khác cũng nêu bật giáo lư này (x. Mt 15:24; Mc 9:36tt; Lc 20:13); thánh Phaolô coi điểm này như là chân lư nền tảng của Tin mừng (x. Rm 8:3; Gl 4:4, v.v.). Tóm lược giáo lư chung này, thư Do thái gọi Đức Kitô là “tông đồ” hoặc Sứ giả của Thiên Chúa (x. Dt 3:1). Thêm vào đó, “được sai” c̣n có nghĩa là “được ban cho” như Gioan viết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đă ban Con Một...” (Ga 3:16). Điều “được ban” là một ơn, một ân huệ, và trong trường hợp này là ơn cứu độ. V́ vậy, khi ẵm bồng Hài Nhi Giêsu, ông già Simêon đă kêu lên: “Chính mắt tôi đă thấy ơn cứu độ” (Lc 2:30), mà theo ư Thiên Chúa, mọi người cũng sẽ được thấy (x. Lc 3:6).
Mục đích của sứ mệnh ấy là “để cứu rỗi chúng ta...” hoặc, như Gioan viết, “để cho thế gian nhờ Ngài mà được cứu độ” (Ga 3:17). Tuy nhiên, lư do cuối cùng vẫn là t́nh yêu của Chúa Cha; bởi t́nh yêu đích thực cốt tại hành động tự trao ban chính ḿnh cho người yêu. Khi Chúa Cha tự trao ban ḿnh là trao ban Con Một ḿnh, v́ Con là “bản thân khác” của Người, là h́nh ảnh trác tuyệt và độc đáo của Người. Thế nên, nếu trong nội vi thần tính, Thiên Chúa là t́nh yêu (x. 1Ga 4:18), th́ trong cuộc nhập thể để tự trao hiến cho chúng ta, Thiên Chúa là Emmanuen, “Thiên Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Mt 1:23); nói cách khác, Đức Giêsu là “Thiên Chúa-tự-trao hiến-cho-chúng-ta.” Thư gửi Titô gọi Đức Giêsu là “cuộc hiển linh của ḷng từ hậu và nhân ái (philanthropia) Thiên Chúa, Đấng Cứu độ chúng ta” (Tt 3:4). Đó là nội dung tin mừng đầu tiên sứ thần loan báo cho các mục tử ở Bêlem: “Hôm nay, một Đấng Cứu độ đă sinh ra cho anh em” (Lc 2:11).
Đấng được sai đến để cứu độ trần gian, đă mặc lấy thân phận tôi tớ vâng phục ở giữa một xă hội tội lỗi, một xă hội phản loạn, không chịu vâng phục (x. Rm 5:19; Dt 2:2). Vâng phục là tự phó ḿnh trong tay Chúa Cha để cho thế gian được cứu rỗi; thế th́, không có ǵ là lạ nếu Tân Ước quan niệm công cuộc cứu chuộc như là hành vi vâng phục: theo Gioan, thái độ vâng phục là cội gốc của hành động cứu rỗi (x. Ga 4:34; 5:30; 6:38; 14:31). Phaolô đối chiếu hành động bất phục tùng của Ađam (tội lỗi) với thái độ vâng phục của Đức Kitô (Đấng công chính hóa: x. Rm 5:19; Pl 2:8-9). Thư Do thái cũng giải thích hệt như thế: Thiên Chúa không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng hài ḷng với thái độ của Đấng vâng lời thực thi ư Người (x. Dt 10:5-9). Phúc âm Nhất lăm đă gợi lại thái độ vâng lời rướm máu ấy qua tŕnh thuật về biến cố vườn Ghếtsêmani (x. Mt 26:42tt). Sứ mệnh cứu độ của Giáo hội (và của mỗi thành viên) cũng phải rập khuôn theo mẫu gương ấy, bằng không th́ dù có hoạt động thế nào đi nữa – lớn lao bao nhiêu, tiếng tăm đến mấy đi nữa – cũng chỉ là “thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng” (1Cr 13:1).
Thế Giới Bị Hư Mất
Nói đến cứu độ tức phải hiểu là có một t́nh trạng lâm nguy hoặc tử vong đang cần được giải thoát hay cấp cứu. Tân Ước dùng một số ẩn dụ để tŕnh tả t́nh trạng thế gian sống xa cách Thiên Chúa. Loài người đang “ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần” như được gợi lên qua thánh thi “Chúc tụng Đức Chúa” (Benedictus: x. Lc 1:79; Mt 4:16), nhưng vẫn khư khư từ chối không chịu đón nhận ánh sáng (x. Ga 1:5). Được cứu độ là được đưa từ t́nh trạng tăm tối ấy vào trong ánh sáng rạng ngời (x. Ep 5:8; 1Ga 2:8; Rm 13: 12; Cl 1:13; 1Pr 2:9, v.v.). Đó là kết quả của hành vi tự do đón nhận, bởi ngược lại, cũng có thể là “người ta đă chuộng bóng tối hơn ánh sáng” (Ga 3:19): tội là thế. [124]
T́nh trạng kia c̣n tệ hơn cả thảm trạng ban đầu được gọi là nguyên tội; Gioan gọi đó là “tội trần gian” mà Đức Kitô phải tẩy xóa (x. Ga 1:29). Phaolô đă nói đến t́nh cảnh nan giải của lương dân (x. Rm 1:18tt); nhưng tiếp đó, ngài quả quyết là cả đến Do thái nữa cũng “bị tội lỗi thống trị” (Ga 3:9). [125] Theo các tông đồ, ai phạm tội th́ người ấy trở thành nô lệ, nô lệ của tội lỗi (x. Ga 8:34; Rm 6:17-19; 2Pr 2:19), nô lệ của lề Luật (x. Rm 8:2; Gl 4:5), nô lệ của những “yếu tố vũ trụ” (x. Gl 4:3), nghĩa là con người chịu đi thờ lạy “những vật tự bản chất không phải là thần” (x. Gl 4:8), và v́ thế Gioan nhận định: “tất cả thế gian đều nằm dưới ách thống trị của Ác thần” (1Ga 5:19), đang đóng vai “Thủ lănh” để xưng hùng xưng bá trong nhân loại (x. Ga 12: 31; 14:30; 16:11; 1Cr 4:4; Ep 2:2). Cơi tội ác ấy là một thực tại khó hiểu, huyền bí, là, theo Phaolô, “mầu nhiệm của sự gian ác” (2Tx 2:7). Ngôn ngữ thần thoại này biểu hiện một thực tại khốc hại hằng từng giây từng phút đe dọa loài người.
Cứu độ học cần phải biết đẩy tội lỗi lui vào hậu cảnh, và tập trung trọn chú tâm vào đối tượng của ḿnh là ơn cứu độ; bởi có thế th́ mới tránh cho tận tuyệt được cơ nguy trở thành một thứ “tội học” (hamartology). Kế hoạch của Thiên Chúa là kế hoạch cứu độ nhờ Đức Kitô. Dù cho nguyên tội đă không xảy ra, th́ mọi ơn sủng cũng đều, cũng vẫn là ơn của Đức Kitô. Khi dùng cách nói: Thiên Chúa “cứ để” hoặc “chịu cảnh” loài người phạm tội, thần học ngầm hiểu là sự “cho phép” này cũng đă được lồng vào trong kế hoạch cứu độ; tội lỗi không làm cho Thiên Chúa ngạc nhiên hay bỡ ngỡ; Người không cần phải thay đổi hoặc hiệu chỉnh kế hoạch!
Tâm lư mà nói, có cảm thấy cần được cứu rỗi, th́ mới mong đánh giá đúng ơn Chúa. Trở ngại lớn nhất trong việc đón nhận ơn giải ḥa của Thiên Chúa là con người không cảm thấy ḿnh tội lỗi. [126] Xă hội ngày nay không c̣n áy náy về tội, không thấy tội lỗi, làm như đă mất đi cảm thức về tội lỗi, và c̣n hơn nữa, cứ tưởng ḿnh vô tội, ḿnh công chính. Ngày xưa Đức Giêsu đă nói với Biệt phái: “Nếu các ông đui mù, th́ các ông đă chẳng có tội; nhưng giờ đây các ông nói rằng:‘chúng tôi thấy,’ nên tội các ông vẫn c̣n” (Ga 9:41). Quả là đúng như thế đối với xă hội ngày nay.
Mâu thuẫn của t́nh trạng nói trên là ở chỗ này: một đàng th́ tội lỗi tràn ngập, hiển nhiên trơ trẽn; nhưng đàng khác, không một ai chịu nhận trách nhiệm, chỉ biết đổ tội cho những nguyên do ǵ khác, cho là v́ cơ cấu xă hội (chế độ chính trị, hệ thống kinh tế, v.v.), v́ những yếu tố tự nhiên nằm ngoài tầm tay (như điều kiện di truyền, chẳng hạn), v́ nền giáo dục (cấm kỵ cổ hủ, nền luân lư thủ cựu, lỗi thời, tẩy năo) v.v. Có khi nhiều thần học gia và giáo lư viên cũng rập theo vũ điệu ấy: cứ một mực chụp mũ cho rằng: ư thức tội lỗi c̣n non nớt, không lành mạnh, tiền công đồng... Sở dĩ cảm thức về tội lỗi bị phai mờ đến như thế, có thể là v́ nhiều lư do: có khi chỉ v́ cứ cố ư “giam hăm chân lư” bởi sợ sự thật sẽ tố cáo (x. Rm 1:18); có thể là v́ c̣n nhiều người trong thế hệ này vẫn đang ở trong mức độ luân lư sơ đẳng, chưa trưởng thành về mặt lương tâm; cũng có lẽ là v́ phản ứng chống lại một quan niệm quá tiêu cực, bi đát về thân phận con người; hoặc là v́ quá ỷ lại vào ơn Chúa. Dù sao, muốn có được ư thức về tội lỗi, th́ thường phải cần đến một “yếu tố xúc tác,” chẳng hạn như một kinh nghiệm đặc thù, một vị linh hướng, v.v. Quả thật tội lỗi chỉ hiện rơ trong ánh sáng đức tin. Các thánh thường có cảm thức rất nhạy bén về tội lỗi.
Thế giới ngày nay đang ngụp lặn trong tội ác, đang nhiễm nặng bất công. [127] Khổ đau không giảm bớt, khổ đau của vô số quần chúng, nhất là của những kẻ vô tội, bất lực: đếm sao cho hết những người di cư tị nạn phải lánh xa quê hương để thoát cho khỏi bàn tay áp bức của những chế độ độc tài bất công, những trại tạm trú đầy nghịt nạn nhân của những chiến dịch diệt chủng; hàng triệu triệu công nhân đang bị bóc lột; bần cùng, bệnh tật, tham ô, áp bức... hiện ra nhan nhản trước mắt; biết bao nhiêu người phải thiệt mạng oan uổng v́ rối loạn, chiến tranh, cách mạng... Ích kỷ là thường t́nh, sức mạnh là luật, công bằng bị bán đứng. Tiền của, khoái lạc, quyền bính là những loại ngẫu tượng tối cao, được tôn thờ ngày càng kỹ lưỡng, cẩn trọng hơn: chúng ngang nhiên phô bày thói vô luân của chúng trên mọi thứ phương tiện truyền thông đại chúng. Lương tâm ngay chính cảm thấy bất lực: gắng sức làm cho tốt, thế mà kết quả lại ra xấu. Con người cảm thấy như có một “kẻ nội thù” nằm vùng ở trong tâm ḷng ḿnh, bởi những khuynh hướng xấu có vẻ mạnh hơn ư định tốt; thánh Phaolô đă chia sẻ kinh nghiệm ấy: “Sự thiện tôi muốn th́ tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm (Rm 7: 19; x. Rm 7:15-25). Dùng ngôn ngữ thời nay, th́ có thể nói đó là trạng thái tha hóa. Tại sao? T́nh trạng này không chỉ là hậu quả do bẩm tính hữu hạn bất toàn của thọ tạo, nhưng c̣n là âm mưu của một ư muốn tự do bất lương, thậm chí có kẻ c̣n nghĩ là có một bàn tay chủ mưu nào đó đang ngấm ngầm lập chương tŕnh lèo lái bộ máy xă hội loài người đến chỗ “hoạt động” như vậy.
Ai là người chịu trách nhiệm? –V́ nhân loại sống mật thiết liên đới với nhau, cho nên tất cả những ai phạm tội th́ đều liên can vào việc dấy lên “lực lượng tội ác.” Chịu trách nhiệm với ai? – Với Thiên Chúa. Thiên Chúa đă tạo dựng con người vô tội, đă nâng con người lên b́nh diện siêu nhiên để chia sẻ cho hạnh phúc của Người, cũng như đă trao phó cho loài người trái đất làm “lạc viên” mà khai thác hầu chung sống với nhau và với Người trong tinh thần gia đ́nh... và trong tự do. Dùng cách biểu đạt bằng dụ ngôn, Sách Sáng thế (x. St 1–10) tŕnh thuật về phương án của Thiên Chúa và hậu quả của sự việc con người lạm dụng tự do; thần học gọi đó là t́nh trạng nhân loại sa ngă. Và như thế là tội lỗi đă và c̣n tiếp tục gây hại cho phận mệnh cánh chung của con người. Thiên Chúa đă dành cho con người một phận mệnh đời đời là sống với Người, nhưng nếu con người tự do không muốn, th́ sẽ tách ra khỏi Người: đó là hành động tội lỗi, đó là con đường dẫn tới hỏa ngục. Đức tin kitô không thể giữ thái độ mập mờ làm như thể t́nh trạng đó không nghiêm trọng; mạc khải của Tân Ước đă minh nhiên nói về mối nguy ấy (x. Mt 25:41; Lc 13:27; 2Tx 1:9, v.v.).
Lịch sử cho thấy là loài người không thể tự giải phóng ḿnh khỏi ách tội ác được; thần học cho biết là con người không có khả năng tự nâng ḿnh lên trên b́nh diện siêu nhiên, tức không thể tự ḿnh tạo cho ḿnh có được sự sống của Thiên Chúa. Từ đầu, Thiên Chúa đă gieo vào ḷng con người mầm cậy trông ở một Đấng sẽ đến trong tương lai (x. St 3:15); Tân Ước cho thấy rơ Đức Kitô là Đấng Cứu độ. Vấn đề là nhân loại có ư thức như thế không? Có đặt niềm hy vọng vào một điều ǵ, vào một ai không?
Ư Niệm Kitô Giáo Về Ơn Cứu Độ
Mỗi tôn giáo quan niệm theo một cách về sự cứu độ. [128] Kitô giáo hiểu ơn cứu độ như một thực tại phức tạp, phong phú, có tác dụng trên mọi chiều kích của hữu thể thọ tạo. Không chỉ là cái đối nghịch với “mất mát” với “hư hỏng” v.v. (như chẳng hạn “chữa lành” đối nghịch với “ngă bệnh,” “trả lại” với “cướp mất,” “đền bù” với “gây hại,” “làm ḥa” với “gây hấn,” v.v.), mà c̣n hơn nhiều nữa. Cách chung, các kitô hữu quan niệm về ơn cứu độ một cách rất mơ hồ và thiếu sót. Ơn cứu độ là t́nh trạng tối hậu trong đó, tất cả những nhu cầu và khát vọng chính đáng của con người đều được thỏa măn, và v́ thế, trong đó, các cá nhân cũng như cộng đoàn nhân loại đều hưởng được hạnh phúc sung măn. [129]
Nguồn liệu chủ yếu của việc t́m hiểu về ơn cứu độ là Kinh Thánh và kinh nghiệm liên tục của truyền thống Giáo hội. Dù t́m hiểu về cùng một thực tại, th́ những thời đại khác nhau cũng nhấn mạnh đến những khía cạnh khác nhau. Hiện giờ, do ảnh hưởng của công đồng Vaticanô II và công cuộc phục hưng trong Giáo hội tại Châu Mỹ Latinh, đặc biệt là với việc thần học giải phóng xuất hiện và các văn kiện của Medellín và Puebla, thần học có xu hương nêu bật những chiều kích trần thế của ơn cứu độ và mối quan hệ với nỗ lực giải phóng về mặt chính trị cũng như xă hội. Nỗ lực dấn thân được coi như là một nguyên tắc chú giải và t́m hiểu, v́ ơn cứu độ là một thực tại sống động; bởi thế, theo quan điểm của một số tác giả, muốn hiểu về ơn cứu độ, th́ phải trực tiếp can dự vào thế sự hoặc là một cách thần nghiệm hoặc là một cách năng động.
Không thể định nghĩa ơn cứu độ một cách trừu tượng hay tiên thiên; nhưng muốn hiểu th́ cần phải nhờ vào phương thức miêu tả. Vắn tắt mà nói, ơn cứu độ là khả năng được tham dự vào đời sống của Thiên Chúa, trong Thần Khí và qua trung gian Đức Kitô. 2Pr 1:4 nêu lên hai yếu tố: tích cực là “được thông phần bản tính Thiên Chúa,” c̣n tiêu cực là “được thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian.” Nhấn mạnh nhiều hơn đến yếu tố tích cực, Truyền thống Đông phương gọi đó là ơn “thần hóa”; c̣n thần học Tây phương th́ v́ chú ư nhiều hơn đến khía cạnh tiêu cực, nên gọi là việc chuộc tội; nhưng hai phía đều lưu ư đến cả hai khía cạnh. Ngoài ra, ơn cứu độ c̣n là một tiến tŕnh, và đồng thời cũng là một trạng thái, được Kinh Thánh mạc khải qua nhiều h́nh bóng và ẩn dụ khác nhau.
Theo Kinh Thánh, [130] ơn cứu độ là kết quả của việc Thiên Chúa can thiệp cứu giúp con người, từng cá nhân cũng toàn bộ xă hội loài người. Trước hết, đó không phải một điều ǵ Thiên Chúa ban hoặc làm ở nơi ta, song là mối quan hệ đối với Người, mối quan hệ xác định tư thế của mỗi cá nhân đối với Người. Kinh Thánh dùng nhiều từ ngữ để diễn tả những khía cạnh hoặc giai đoạn của tiến tŕnh ấy. Nói cho đúng, việc cứu rỗi quy hướng về với sự tuyệt đối, t́nh trạng chung cục, và bao hàm tất cả những ơn Thiên Chúa ban ở đời này và trong đời sau.
Trong Cựu Ước, ơn cứu độ được miêu tả rất cụ thể: có thể là việc cứu một cá nhân khỏi cảnh nguy hiểm, nhất là khỏi chết; việc chữa lành một bệnh nhân, chuộc lại một nô lệ hoặc tài sản của gia đ́nh, hoặc là giúp đáp ứng những nhu cầu bách thiết, v.v.; đối với dân tộc là chiến thắng, là an ninh trong quê hương bờ cơi, v.v. (x. Tv 7:11; 18:28; 22:22; 34:19tt; 55:17; 69:2, v.v.). Ơn cứu độ là kinh nghiệm lịch sử của toàn dân, đặc biệt là kinh nghiệm về cuộc Xuất hành (x. Xh 15:2). Chúa Giavê giải phóng dân Người khỏi cảnh nô lệ và dẫn họ “vào một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật...” miền đất lư tưởng (x. Xh 3:8.17; 13:5; 33:3, v.v.). V́ ưu ái dân Người, Thiên Chúa đă dùng những trung gian, thường là những lănh tụ hoặc tiên tri, mà đem ơn cứu độ đến cho dân (x. Tl 2:16.18; 9:15.31; 13:5; Is 7:8; 9:6; 11:9, v.v.). Dù sao th́ cũng cần phải ư thức rơ là chính Giavê giải cứu, chứ không phải ai khác (x. Tl 7; Is 63:8tt; Hs 13: 4; 14:2tt,v.v.). Thiên Chúa “mua lại,” “chuộc lại” dân Người (x. Mc 6:4; Đnl 7:8; 13:6); ngay cả khi chỉ về cuộc giải thoát toàn dân từ nơi lưu đày đưa về quê hương, Kinh Thánh cũng đă dùng từ “chuộc lại” (x. Gr 31:11; Dcr 10:8; Is 50:2). Ư nghĩa muốn nói lên là Thiên Chúa dẫn đưa dân Người trở về với Người (x. Xh 19:4), và qua ư nghĩa này, dân Ítraen đă bắt đầu quan niệm việc cứu độ theo chiều kích siêu nghiệm: được cứu rỗi là nghỉ ngơi bên Chúa, cho dù vẫn chưa có được ư niệm rơ ràng và phổ quát (x. Tv 16:10-11; Kn 3:1tt; 2Mcb 7:14, v.v.).
Tân Ước dùng một số từ Hylạp khi đề cập đến chủ đề này, chủ yếu là danh từ sôtêría (sự cứu độ, chừng 45 lần), cũng như các động từ sôzô (cứu rỗi, 106 lần) và điasôzô (cứu rỗi, 8 lần); ngoài ra c̣n có danh từ sôtêr (vị cứu tinh, 16 lần). C̣n có những từ khác mang ư nghĩa tương tự, như là từ lưtron (giá chuộc) và một số từ ghép; cọng thêm vào đó là các từ rưomai (giải thoát), apolưô (giải phóng), và những từ ngữ luật pháp, phụng vụ liên quan đến việc “công chính hóa,” “chuộc tội,” “tế lễ,” v.v.
Công cuộc cứu độ là nội dung của “Tin mừng,” là nguồn hạnh phúc được loan báo từ khi Đấng Cứu tinh mới chào đời (x. Lc 1–2). Hoạt động của Đức Giêsu mang lại ơn cứu độ cho dân Ngài: sức khỏe, bánh ăn, ơn tha thứ, được trừ khỏi quỷ, được hồi sinh... Như thế, việc cứu độ cũng mang một ư nghĩa trần thế. Ư nghĩa ấy c̣n được thấy rơ qua các vụ được thoát nạn: Phaolô trong dịp đắm tàu v́ băo (x. Cv 27:20.31.34), hoặc các môn đồ trong trường hợp tương tự giữa biển hồ Galilê (x. Mc 8:25; 14: 30); hoặc là qua hành động chữa lành bệnh nhân (x. Mc 5: 23. 28). Tuy nhiên, mang ư nghĩa chủ yếu tôn giáo, “cứu độ” là dấu chỉ vương quốc Thiên Chúa đă đến, dấu chỉ lộ hiện qua việc trừ quỷ (x. Lc 11:20tt), hoặc tha tội hay chữa lành bệnh nhân (x. Mc 2:1-12tt), qua việc tha tội và khôi phục địa vị trong xă hội (x. Lc 7:50). Đặc biệt, “cứu độ” có nghĩa là Đức Giêsu bước vào cuộc đời của một người, chẳng hạn như Dakêu (x. Lc 19:9). Cuối cùng, “cứu độ” là nội dung tổng quát hoặc là hoa quả của Tin mừng; chính v́ thế mà Tin mừng được gọi là “lời cứu độ” (Cv 13:26), “con đường cứu độ” (Cv 16:17), hoặc là “sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa” (Rm 1:16). Ơn cứu độ được chuyển ban qua phép Rửa tội (x. Mc 16:16).
Mục đích của Phép Rửa tội là “thanh tẩy cho sạch tội lỗi” (Cv 22:16); vậy, ơn cứu độ có tác dụng 1) xóa bỏ tội ác, 2) công chính hóa tội nhân, và 3) dẫn đưa vào một t́nh trạng hữu thể mới.
Tội lỗi là một thực tại bí nhiệm; v́ thế, không thể có được ư niệm trực tiếp về nó, và chỉ có thể hiểu được phần nào nhờ ẩn dụ. Kinh Thánh dùng một số tỷ dụ: so sánh tội với vết nhơ, và v́ thế, cứu rỗi được quan niệm như là xóa sạch (x. Kh 1:5; Tt 3:5; Ep 5:26); hoặc so sánh tội lỗi với cái chết, thế nên, ơn cứu độ là sự sống mới (Mt 7:14; Rm 6:4; Ep 5:26; 2Tm 1:10; 1Ga 3:14; Kh 2:7; 7:17, v.v.); hoặc coi tội lỗi như là món nợ đối với Thiên Chúa, v́ vậy, cứu rỗi là xóa bỏ, là tha nợ (x. Mt 6:12 [Kinh ‘Lạy Cha’]; Mt 18:23tt; 26:28; Cv 13:43; Rm 3:25; Ep 1:7; Cl 1:14, v.v.); rồi, coi phạm tội như là [theo kiểu nói loài người] làm mếch ḷng Chúa, là trở thành kẻ thù, do vậy, cứu độ là giải ḥa (x. 2Cr 8:18tt; Rm 5:10; Cl 1:20tt); và so sánh tội nhân với nô lệ, thế nên, cứu rỗi là giải thoát, làm cho được sống tự do (x. Gl 5: 1; Rm 6:18tt; Ga 8:34tt, v.v.). Khai triển các ẩn dụ Kinh Thánh dùng khi luận giải về ơn cứu độ, là tác vụ của thần học.
Cứu rỗi là hành động Thiên Chúa mang lại ơn “công chính hóa” (thuật ngữ Phaolô dùng nhiều nhất); nói cách khác Thiên Chúa tuyên báo tội nhân đă trở nên “công chính” (x. Rm 3:24tt; 4:25; 8:30, v.v.). Dùng lối biểu đạt tượng h́nh, Phaolô làm như Thiên Chúa lấy “tính công chính” của ḿnh mà mặc cho hoặc bao trùm lấy tội nhân, khiến tội nhân được thực sự trở nên công chính, tức được thông phần chính sự sống của Người. Đó là lư do tại sao ơn cứu độ được gọi là “sự sống mới,” “hữu thể mới,” “con người mới,” “tạo vật mới,” v.v. (x. Rm 6:4; 7:6; Cl 3:10; 2Cr 5:17; Kh 21:5), là một cuộc biến đổi đến tận gốc rễ, có tác dụng trên cá nhân, xă hội và toàn bộ vũ trụ. Nếu “con người cũ” sống trong “thế tục,” th́ “con người mới” sống “trong Đức Kitô.” Đức Kitô hoạt động như “sinh quyển” mới cho những ai đă được đổi mới (x. Rm 6:11; 1Cr 1:2.30; 5:17; Ep 2:5tt, v.v.). Hoặc có thể biểu đạt theo một h́nh ảnh khác: Thần Khí cư ngụ trong người được cứu độ như là trong một Đền thờ (x. 1Cr 3:16tt; Rm 8:23; Dt 6:4; Ep 2:18; 5:18,v.v.). Để diễn tả thực tại mới này, thư 2Pr đă dùng đến một công thức có thể nói là táo bạo nhất, đó là: “được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2Pr 1:4; x. Dt 6:4).
Ơn cứu độ ấy quả đang hiện diện ở nơi các kitô hữu, v́ các ơn kể trên đây là kết quả của ḷng tin vào Đức Giêsu Kitô (x. Rm 1:16), [131] và của Phép Thánh Tẩy (x. Rm 6:3-4). [132] Tuy nhiên, cũng vẫn chưa thành hiện thực trọn vẹn, v́ dù “chúng ta đă được cứu độ, nhưng vẫn c̣n phải trông mong” (Rm 8:24), nghĩa là quá tŕnh cứu độ (thánh hóa) chỉ hoàn tất trong tương lai. Hoặc nói như Gioan, dù “hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa,” nhưng vẫn c̣n phải chờ đến ngày Đức Kitô xuất hiện (quang lâm) th́ mới thấy được là thân phận chúng ta giống thân phận Ngài (x. 1Ga 3:2; x. Rm 8:19tt; 2Pr 3:13; Tt 2:13; Dt 9:28, v.v.). Sách Công vụ Tông đồ gọi các tín hữu là: “những ai đang được cứu độ” (Cv 2:47). Tóm lại, ơn cứu độ có một chiếu kích trần thế trong hiện tại, và một chiều kích tương lai trong đời sau: là sự việc xảy ra trong thời gian và hoàn tất trong vĩnh cửu, mang một khía cạnh tạm thời và một khía cạnh chung quyết.
Dù được Thiên Chúa ban cho từng cá nhân, v́ t́nh yêu th́ cụ thể (x. Mt 10:30; 1Cr 3:13; Gl 6:7-8, v.v.), ơn cứu độ cũng mang tính chất xă hội, bởi đó là hoa quả phát sinh từ mối kết liên với Đức Giêsu và liên đới với nhau. Công đồng Vaticanô II nhận định rằng: “Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu rỗi loài người cách riêng rẽ, thiếu liên kết, nhưng Người muốn quy tụ họ thành một dân tộc, để họ nhận biết chính Người trong chân lư và phụng sự Người trong thánh thiện” (ASMD 9a). Sở dĩ ơn cứu độ mang tính xă hội như thế, th́ chủ yếu là v́ Đấng Cứu độ là “con người phổ quát”; quả thế, “khi nhận lấy bản tính nhân loại, chính Ngài đă nối kết toàn thể loài người lại với Ngài vào trong một gia đ́nh, bằng một t́nh liên đới siêu nhiên” (TĐGD 8b). Nghĩa là chẳng ai được cứu độ cách riêng lẻ mà không cần đến t́nh liên đới với người khác. Đức Giêsu dạy: “Nếu anh em không tha thứ cho người ta, th́ Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi anh em” (x. Mt 6:14-15); nói cách khác: “Anh em đong bằng đấu nào, th́ Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6:36-38). Như thế là v́ đường đến với Đấng Trung gian cứu độ đi qua lối ngả của t́nh liên đới với người khác (x. Mt 25:31tt). Để minh họa về mối liên kết và t́nh liên đới ấy, Đức Giêsu đă dùng đến ẩn dụ: muốn được cứu độ, con người phải được tháp ghép vào Ngài, như nhành dính liền với thân cây để chia sẻ nhựa sống của thân (x. Ga 15:1tt), hoặc như chi thể dính liền với thân ḿnh (x. 1Cr 10:17; 12:27v.v.).
Xă hội tính của ơn cứu độ xuất hiện rơ ở trong Giáo hội. Là Thân thể của Đấng Cứu độ ở giữa ḷng lịch sử (x. Cl 1:18; Ep 1:22-23, v.v.), Giáo hội mang trong ḿnh và biểu hiện (như là bí tích, x. ASMD 1) ơn cứu độ một cách hữu h́nh, bởi lẽ các thành viên của cộng đồng Giáo hội được Thần Khí hướng dẫn (x. Rm 8:14) và (phải) sống nhờ các hoa quả của Thần Khí ấy (x. Gl 5:22-4). Khi c̣n sống xa cách Đức Kitô, chúng ta sống không có hy vọng, không có Thiên Chúa; c̣n bây giờ, nhờ máu Đức Kitô, chúng ta đă xích gần lại với Thiên Chúa trong Đức Kitô là “b́nh an” (Shalom), tức là tổng hợp của mọi ân huệ Thiên Chúa đă hứa ban trong thời đại cứu độ (x. Ep 2:1tt). Trong xă hội được cứu độ này (x. Ep 2:5), không c̣n chia rẽ, không c̣n kỳ thị (x. Gl 3:28), nhưng mọi người sống như đă thành một trong nhà của Thiên Chúa (x. Ep 2:18; 1Tm 3:15; Dt 3:6). Theo ư Chúa, Giáo hội phải là như vậy, phải cho thấy thực sự là như vậy. Nếu Giáo hội đă không được nhận ra như là cộng đồng chứa chan tràn đầy ơn cứu độ, th́ chắc hẳn là v́ những thiếu sót của nhiều thành viên.
Như thế, ơn cứu độ kitô giáo mang những chiều kích vừa thiêng liêng mà cũng vừa xác thể; xác thể cả ở đời này lẫn ở đời sau. Ở đời này, người kitô có bổn phận phải sống theo một cung cách mới (x. Rm 6:4; 7:6; 12:2,v.v.) hầu xây dựng một xă hội mới theo nguyên tắc hiệp thông (x. Cv 4:32-35). Ở đời sau, th́ thể xác c̣n phải được cứu độ qua sự sống lại (x. Pl 3:21; 1Cr 15). Trong Kitô giáo, nếu chỉ nói “cứu rỗi linh hồn” th́ chưa đủ; bởi việc cứu độ chỉ hoàn tất khi hồn xác kết hợp, sống chung lại trong ngày của Chúa (x. Pl 3:20-1; Rm 29; 1Cr 5:5,v.v.). “Trước” ngày ấy – nếu được phép nói theo cách phàm tục – lẽ tất ơn cứu độ đă thực sự bắt đầu (x. Pl 1:23; 2Cr 5:8), nhưng vẫn c̣n bất toàn.
Cuối cùng, Tân Ước mạc khải một điểm căn bản liên quan đến việc cứu độ: con người không thể tự cứu rỗi chính ḿnh (x. ASMD 8a). Không một tôn giáo nào có được khả năng cứu độ các tín đồ của ḿnh, cả đến Lề Luật của Cựu Ước cũng không (x. Gl 2: 15-16). Ơn cứu độ là ơn nhưng không của Thiên Chúa, tuyệt đối nhưng không (x. Rm 3:7.24, v.v.). Nguồn cội duy nhất là t́nh thương của Chúa Cha trong Đức Kitô (x. Ga 3:16); Người đă yêu thương ta ngay cả khi ta c̣n là người tội lỗi (x. Rm 5:8). V́ là t́nh yêu (x. 1Ga 4:8.16), nên bao giờ Thiên Chúa cũng hành động v́ yêu mến. Tự bản chất, t́nh yêu có những khía cạnh có vẻ nghịch lư; v́ thế, công cuộc cứu độ cũng cho thấy nhiều khía cạnh xem ra không mấy ‘hợp lư’: t́nh yêu có những sáng kiến trí khôn không hiểu nổi! [133]
Người kitô tin vững là trong lănh vực cứu độ, tự ḿnh con người chẳng có thể làm được ǵ (x. Ga 15:4-5). Tuy nhiên, Tân Ước không ngừng kêu gọi các tín hữu hăy cộng tác với ơn Chúa trong việc cứu độ chính ḿnh. Tiến tŕnh cứu độ bắt đầu bằng việc “trở lại,” từ bỏ đường lối trần tục mà bước vào đường lối của Phúc âm. Đức Giêsu đă khuyến khích đồng bào ḿnh làm như thế (x. Mc 1:15), đúng với nhiệm vụ của sứ mệnh Ngài (x. Lc 5:32); rồi Ngài sai các tông đồ đi rao giảng cho muôn dân, kêu gọi họ thống hối để được cứu độ (x. Lc 24:47). V́ tội ác hằng không ngừng đe dọa mọi người, nên cần phải thường xuyên hối cải để có thể đón nhận ơn cứu độ, và đón nhận ngày càng dồi dào hơn. Nói một cách tích cực, muốn hợp tác với ơn Chúa, th́ cần phải sống tốt lành như thánh Phêrô khuyên nhủ (x. 1Pr 4: 7tt), và như thánh Phaolô mạnh mẽ thôi thúc: “Anh em hăy biết run sợ mà gắng sức lo sao cho ḿnh được cứu độ” (Pl 2:12), tức hăy cẩn trọng thực hiện việc cứu độ qua phần hợp tác của ḿnh. Thiên Chúa muốn cứu rỗi mọi người (x. 1Tm 2:4), nhưng Người không cưỡng bức ai vào thiên đàng trái với ư của người ấy. Mỗi người phải tự do đáp trả sáng kiến Thiên Chúa đề xuất và thi hành công tác cứu độ (x. Gc 1:22; Rm 2:13; Gl 6:7-10; 1Ga 3: 7,v.v.). Về phương diện chủ quan, tiến tŕnh bắt đầu với việc đón nhận lời cứu độ, rồi lời ấy sẽ trở thành tiêu chuẩn để đoán xét (x. Ga 12:48): ai tuân theo sẽ được cứu độ, ai từ chối sẽ bị kết án (x. Mc 1:16; x. 1Cr 1:18; 2Cr 2:15). Như vậy, Thiên Chúa ban cho con người cơ hội góp phần vào việc cứu độ chính ḿnh, và đặt phận mệnh của mỗi người vào chính trong tay của người ấy.
Thần Học Ngày Nay
Suy tư thần học khởi sự từ những t́nh huống đang thấy trước mắt: thực trạng thế giới ngày làm cho nhiều người có cảm tưởng công cuộc cứu độ của Đức Kitô đă thất bại. Đă hai mươi thế kỷ qua kể từ khi “Đấng Cứu thế” hoàn tất sứ mệnh cứu độ, thế mà vẫn chưa thấy thế giới “được cứu độ” là bao nhiêu. Hơn nữa, xă hội vẫn thờ ơ không lưu ư đến sứ điệp của Ngài, hoặc cứ cố t́nh khước từ nó. Nếu nh́n lại những dân tộc “đă được Rửa tội” (các nước Tây phương nói chung), th́ chưa thấy họ sống lương thiện ǵ hơn các dân tộc không kitô khác: họ đă gây ra hai thế chiến, chế tạo vô số vũ khí nhất, đứng hàng đầu trong chính sách bóc lột các dân tộc, trắng trợn phơi bày những lối sống đồi phong bại tục tệ hại nhất, v. v.
Mặt khác, ngôn ngữ Kitô giáo dùng để tŕnh bày về ơn cứu độ lại rất nước đôi, làm như bóp méo hẳn đi chân dung chính thật của Thiên Chúa đến một độ khó có thể chấp nhận được. Thí dụ, khi nói về vấn đề “đền tội” th́ có vẻ coi Thiên Chúa như là một “thương gia”: coi tội như là món nợ vô giá, cần Đức Kitô phải trả cân xứng, tức là thí mạng ḿnh để bù lại. C̣n Chúa Cha th́ được giới thiệu qua một dạng dung mạo có vẻ tàn bạo: giết Con ḿnh một cách ác độc. Đối với tội ác, Thiên Chúa làm như bất lực, không đủ sức để sửa chữa ‘thiệt hại’ do Ađam gây ra. Tệ hơn nữa, Thiên Chúa được tŕnh họa như là Đấng Tạo hóa khôn khéo, biết cách cầm giữ loài người để bao giờ cũng phải ngoan ngoăn phụ thuộc vào ơn Trên, chẳng khác chi một bộ máy loại xoàng, luôn luôn phải cần đến đồ phụ tùng; hoặc như là “ông ba bị” đem hỏa ngục ra mà dọa cho các tín đồ khiếp sợ không dám sai lệnh, phạm tôi. Từ đó, H́nh ảnh về con người cũng bị bóp méo theo luôn: nhấn mạnh đến bổn phận “cứu rỗi linh hồn” nhiều đến độ làm như quên mất giá trị của thân thể, của thế giới và lịch sử. Có những tín hữu lại quá ích kỷ chỉ biết lo “cứu linh hồn” của ḿnh, không cần thiết tha ǵ đến số phận của người khác, của xă hội, v.v. hoặc chỉ coi như là chuyện thứ yếu. Rồi quan niệm cũng sai đối với lịch sử: được coi như là sân khấu trên đó, mỗi cá nhân chăm chăm chú chú lo đóng cho ngon vai “cứu lấy ḿnh.” Cho việc “trốn trần tục” hoặc “bỏ thế gian” là lư tưởng phải nhắm tới, v́ lẽ gian là kẻ thù của linh hồn... Quan niệm ơn cứu độ như thế là tự tách ḿnh ra khỏi thế giới ḿnh đang sống, là quên đi rằng loài người và muôn vật hằng liên đới chặt chẽ với nhau (x. Rm 8:19-23), [134] là không biết quan tâm đến giá trị của lịch sử. Cuối cùng, thiên đàng và hỏa ngục được tŕnh ta với những h́nh bóng thần thoại, làm như là chỉ để nói chuyện với trẻ con, chẳng có được một chút sức năng thu hút nào để đối thoại với tư duy của thời đại này.
Vậy, giữa t́nh huống khó khăn ấy, tín hữu kitô cần phải biết kiên vững nêu cao niềm hy vọng của ḿnh (x. 1Pr 3:15-16).
1.– Như người mọi thời, con người thời nay cũng cần được cứu độ. Hẳn là ngày nay, có nhiều người không cảm thấy cần được cứu độ, không cần ai khác cứu độ cho. Say đắm với tự do, họ không c̣n phân biệt được giữa mục đích của tự do và tự do. Họ cũng chẳng cần hy vọng ǵ ở “bên kia” cuộc đời, chẳng cần phải nhờ đến Thượng đế ở trên trời mây. Vô thần thực tiễn đang thời cực thịnh. Tuy nhiên, hiện nay, kẻ thù số một của việc cứu độ kitô không phải là chủ nghĩa vô thần, mà là những “lối cứu độ cạnh tranh” đang được trưng bày trên “thị trường tôn giáo.” Một thị trường tấp nập: các tôn giáo cổ truyền đang trên đà phục hưng, nhất là Hồi giáo; ngoài ra c̣n có những giáo phái mới lạ (ở Châu Phi, Châu Mỹ Latinh), hoặc là những phong trào ngụy trang dưới bộ mặt tôn giáo.
V́ nơi trần thế này, tâm hồn con người không bao giờ được hoàn toàn thỏa măn, không ngừng hướng tới một viễn cảnh cao xa hơn, một cái ǵ khác... Khắp nơi đều có những người đi t́m những cảm nghiệm tôn giáo hay thiêng liêng. Ngay trong Giáo hội, cũng thấy xuất hiện nhiều phong trào cầu nguyện, chiêm niệm, chia sẻ Lời Chúa, dấn thân vào các việc tông đồ hoặc từ thiện. Trong thế giới ngày nay, hiện có hàng triệu triệu người trẻ không ưa lối sống duy vật, đang đi t́m một “lẽ sống” trong các tôn giáo hay trong các tổ chức nhân đạo, thiện nguyện. Họ đă thấy ra lối giải phóng giả của các chủ nghĩa, và đang hăm hở đi t́m hạnh phúc nơi một xă hội thật sự tự do trong một thế giới mới...
2.– Cần phải làm sao để ngôn ngữ tôn giáo trở thành trong sáng, dễ hiểu. Thần học đang cố thay thế ngôn ngữ cổ truyền dùng để tŕnh bày về công cuộc cứu độ bằng một thứ ngôn ngữ mới. Quả thế, trong làng thần học đă có một vài dạng ngôn ngữ cấu lập theo chiều hướng đó: có dạng th́ nhấn mạnh đến những khía cạnh thiêng liêng – được gọi là “cánh chung” – của ơn cứu độ; có dạng khác lại nêu bật những khía cạnh trần thế, như: kinh tế, xă hội, hoặc lịch sử, chính trị, hay là cả hai. [135] Nhưng thế nào rồi tất cả cũng đều phải ư thức rằng tất yếu, ngôn ngữ thần học là ngôn ngữ mang ẩn dụ tính, và, v́ vậy, không làm sao ứng đáp cho hoàn toàn thỏa đáng được nhu cầu hiểu biết về những thực tại siêu việt; hoặc nói cách khác: cần phải biết khiêm nhường nh́n nhận mầu nhiệm là mầu nhiệm; v́ có nhiều điều thần học cũng không thể biết.
Thần học kinh viện, đặc biệt là thánh Tôma Aquinô, đă chọn bốn khía cạnh trong thực tại của ơn cứu độ duy nhất: công trạng, đền tội, hy tế, giá chuộc. Cả bốn thành ngữ đều mang đậm tính chất văn hóa của thời ấy: sống trong một xă hội có chế độ nô lệ tất sẽ hiểu ra dễ dàng giá chuộc là ǵ; [136] thấy có những tôn giáo giết sinh vật làm lễ tế th́ sẽ nhận ra ngay ư nghĩa của “tế vật,” “máu,” “lễ toàn thiêu,” v.v. Ư niệm “công trạng” (merit) phát nguyên từ những nền văn hóa nặng về pháp lư hoặc từ những xă hội cạnh tranh, thi đua; c̣n ư niệm “đền bù thỏa đáng” (satisfaction) th́ bắt nguồn từ những nền văn hóa coi trọng danh dự. Các thuật ngữ này đều được cấu trúc theo phép “nhân hóa”: nhân hóa Thiên Chúa, tức là quan niệm Thiên Chúa xử thế như con người.
Thần học hiện đang chọn những từ người thời nay dùng vào việc biểu đạt niềm hy vọng hoặc lư tưởng cao đẹp nhất mà họ ước mơ, để đưa vào trong ngôn ngữ tŕnh tả về ơn cứu độ. Điển h́nh là từø “giải phóng,” được dùng làm tên gọi của ơn cứu độ, [137] đặc biệt là ở Châu Mỹ Latinh. Quả vậy, ư niệm “giải phóng” có sức nêu bật những giá trị như tự do, tự quyết, phẩm giá, cá biệt tính, chủ quyền... trái với t́nh trạng tha hóa, lệ thuộc, bị bóc lột, bị áp bức, v.v., và như thế trên cả hai b́nh diện, cá nhân và xă hội. Thời đại này cũng rất chuộng từ “huynh đệ,” dùng để diễn tả t́nh tương thân, mối quan hệ ngang hàng, tinh thần cộng đoàn, v.v., ngược với lối sống cô độc, ích kỷ, đố kỵ, v.v. Để nêu lên chiều kích phổ quát, có người dùng từ ngữ “trâït tự mới” trong các nhóm, trong các xă hội, các quốc gia và cả quốc tế nữa, nhờ ảnh hưởng của ơn cứu độ. Những từ ngữ này đều muốn nói lên một thái trạng lư tưởng, ngập tràn hạnh phúc cho mỗi cá nhân cũng như cho toàn bộ xă hội loài người. Đối với chiều kích cánh chung của ơn cứu độ, là chiều kích vượt quá khả năng của ngôn ngữ loài người, thần học đành phải sử dụng những cách nói của Kinh Thánh về “Đất mới,” “vương quốc Thiên Chúa,” “lănh vực công chính,” “hoà b́nh,”... và cuối cùng là “sống trong Chúa.”
3. Ơn cứu độ đổi mới và nâng cao tất cả những ǵ là tốt đẹp trong nhân loại để làm cho trở thành tốt hơn. Truyền thống kitô giáo có câu: gratia perficit naturam, “ân sủng hoàn chỉnh bản chất tự nhiên.” Thiên Chúa đâu có thích hạ nhục con người; con người mà được hạnh phúc th́ danh Thiên Chúa càng được cả sáng. Chính Đấng Tạo hóa đă gieo vào ḷng con người một niềm khát vọng vô biên, khát vọng hạnh phúc, để được sung măn ứng đáp qua ơn cứu độ. Con người là một tạo vật “đang trên đường phát triển,” hướng tới mức trọn vẹn thành tựu. Con người hoàn chỉnh là con người được cứu độ: đó là ân huệ Thiên Chúa ban, nhưng đồng thời cũng là kết qua củả nỗ lực hợp tác từ phía con người. Và dù có được cứu độ, con người vẫn là con người, chứ không hóa thành thần linh; thế nên, vẫn phải chấp nhận giới hạn của tự do và khát vọng thọ tạo. Ơn cứu độ cứu chữa con người trong giới hạn của con người: hết mọi khả năng của con người sẽ được hoàn chỉnh, nhưng con người vẫn phải đi qua sự chết. Quả thế, Đức Kitô đă chẳng cứu con người cho khỏi phải chết, Ngài cứu con người qua chính sự chết. Cứu rỗi đi đôi với tạo dựng, v́ chỉ có một Thiên Chúa, một kế hoạch, một thế giới tạo vật, một nguyên thủy và một cánh chung. Ngôi Lời tạo hóa cũng là Đấng Cứu thế nhập thể. Ư định của Thiên Chúa đă có từ đời đời, nhưng hiện đang diễn ra, đang tiến hành ở trong lịch sử, và sẽ thành tựu trong ngày quang lâm. Như men trong bột, ơn cứu độ đang âm thầm mà hữu hiệu, biến đổi chúng ta trong Đức Kitô, và từng bước, dẫn đưa đến mức hoàn chỉnh lúc Ngài ngự đến (x. 1Ga 3:2; 2Pr 3:13; Rm 8:19-24.29).
Bàn về ơn cứu độ, tất phải sẵn sàng để đối diện với cách biểu đạt nghịch lư: ơn cứu độ vừa là ơn Chúa ban mà cũng vừa là việc con người thực hiện, đă hoàn tất nhưng vẫn c̣n tiếp diễn, đang diễn ra trong lịch sử nhưng chỉ được hoàn chỉnh sau hồi lịch sử chấm dứt, đ̣i phải sẵn sàng “bỏ ḿnh” nhưng là để nắm giữ cho chắc hơn vận mệnh của chính con người ḿnh, v.v. Tóm lại, con người được cứu độ là con người đă trở thành người ở một mức độ cao hơn (x. VMHV 41). Để hiểu về ơn cứu độ – theo phương diện chủ quan – th́ nên lưu ư đến hai điểm: một là phải dựa theo phạm trù “dự phần” (participation) mà suy luận: con người chỉ dự phần vào bản tính Thiên Chúa trong một mức độ “cao” hay “thấp”: thấp nhất là thoát được hỏa ngục, cao nhất là sống trong thái trạng ngôi hiệp; kẻ hơn người kém, những ai được cứu độ đều ở giữa hai mức độ ấy; hai là cần ư thức rằng việc “dự phần” ấy xảy ra “trong Đức Kitô,” cho những chi thể của Ngài, tức là những người kết hiệp với Ngài; v́ dự phần vào bản tính Thiên Chúa là dự phần vào ơn ngôi hiệp của Đức Kitô.
Cuối cùng, ư niệm cứu độ kitô giáo là tiêu chí để nhận định mọi dạng cứu độ khác. Bất cứ dạng cứu độ nào – nếu thực sự có sức mang lại được một hiệu quả nào – th́ cũng chỉ ở b́nh diện thuần túy tự nhiên – của mỗi cá nhân hay của toàn bộ xă hội loài người – và chỉ ở đời này, không đáp ứng đủ được khát vọng sâu thẳm của con người, khát vọng vô biên, vượt quá khả năng hạn hẹp của nó; đúng thế, hy vọng của con người vượt quá sự chết, xuyên qua tận thế giới bên kia. Duy chỉ ơn cứu độ kitô giáo mới bao gồm cả chiều kích siêu việt, thần thiêng, tức là được sống thông hiệp với chính Thiên Chúa Ba Ngôi, ngay ở đời này và trong đời sống vĩnh cửu.
VAI TR̉ CỦA ĐỨC KITÔ
Đức Giêsu Kitô là tâm điểm của công tŕnh cứu độ, cả như là biến cố cứu độ lẫn như là thực tại được cứu độ; Ngài vừa là tác nhân vừa là thụ nhâân của ơn cứu độ.
1. Đức Giêsu , Người Được Cứu Độ
Chúa Phục sinh là nguyên mẫu của con người đă được cứu độ. Thần học nhất trí xác quyết rằng Ngài là nguyên nhân mô phạm của công tŕnh cứu độ loài người. Trong thực tế, Đức Giêsu đă sống qua kinh nghiệm của một người cần được cứu độ: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này...” (Ga 12:27), “Xin tha cho con khỏi uống chén này” (Mc 14:36). Thư Do thái cho biết rằng “Đức Giêsu đă phải lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Thiên Chúa” th́ mới được cứu (x. Dt 5:7). Bước vào con đường cứu độ, “Ngài đă phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:8); Ngài bị xếp vào hàng tội nhân, bị kết án, bị Thiên Chúa làm như bỏ rơi... phải chịu chết để mang lại và đón lấy ơn cứu độ (x. Pl 2:8-9). Trong thân phận người phàm, Ngài là mẫu mực của người được ḥa giải; duy chỉ Ngài mới làm cho Chúa Cha hài ḷng (x. Mc 1:11), v́ biết đă bỏ ḿnh để làm đẹp ḷng Người trong mọi sự (x. Ga 8:28-29). Ngài sống một đời người vô tội và v́ thế hoàn toàn tự do trong chính ḿnh và tron vẹn dấn thân cho tha nhân. Ơn cứu độ cốt ở việc Thiên Chúa tự trao ban chính ḿnh cho con người; nơi Đức Giêsu, chúng ta thấy Thiên Chúa tự trao ban trọn vẹn chính ḿnh cho Ngài, đến nỗi nơi Đức Kitô, Thiên Chúa và con người chỉ là một. Đức Kitô phục sinh là con người hoàn hảo và là Thiên Chúa toàn diện, toàn vẹn. Toàn bộ ơn cứu độ tích tụ trọn vẹn ở nơi Ngài.
2. Đức Kitô, Đấng Trung Gian Cứu độ
Danh từ “trung gian” dịch từ mesítes trong tiếng Hylạp và mediator trong tiếng Latinh, là những từ thoạt đầu chỉ mang ư nghĩa thuần túy thế tục (trong tiếng Việt, “làm mối” có thể được coi như là từ tương đương). Trong Cựu Ước, có nhiều trung gian với những chức năng khác nhau: Môsê là vị trung gian đặc thù của giao ước, các tiên tri là trung gian của lời Chúa, c̣n các lănh tụ là trung gian của việc cứu thoát. Trong Dt 8:6; 9:15 và 1Tim 2: 5-6, Tân Ước gọi Đức Kitô là “trung gian.” [138]
Lúc đầu, v́ chịu ảnh hưởng của thuyết ngộ đạo, các kitô hữu suy nghĩ theo cách kiểu văn hóa Hylạp và các tôn giáo lương dân; các giới này tin là giữa Tạo hóa tối cao và các tạo vật bậc cuối, có nhiều phẩm trật trung gian, như tiểu thần, thiên thần, hóa công...). V́ thế, nhiều người đă quan niệm Đức Kitô như một vị “ở giữa,” đặc biệt là như các thiên thần. Do vậy, các tác giả Tân Ước đă mạnh mẽ phản ứng và đánh đổ quan niệm sai lầm này (x. chẳng hạn Cl 2:18tt; Dt 1:4-14; Kh 19:10). Đức Kitô, Trung gian, Đầu của “của mọi quyền lực thần thiêng” (Cl 2:10), và của các kitô hữu, chi thể của Đức Kitô, sẽ xét xử các thiên thần (x. 1Cr 6:3). Các thiên thần là tôi tớ của Thiên Chúa, “được sai đi phục vụ để mưu ích cho những ai sẽ được thừa hưởng ơn cứu độ” (Dt 1:14), và các vị đều thuộc về Đức Kitô, Con Người (x. Mt 24:30tt). Đức Kitô là Trung gian trên một b́nh diện độc đáo và theo một nghĩa độc nhất.
Mạc khải cho biết: “Chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng Trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Kitô Giêsu” (1Tm 2:5). [139] Phúc âm Gioan viết: “Từ nguồn sung măn của Ngài, tất cả chúng ta đă lănh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1:16; x. Dt 5:9). Thần học minh giải như sau: Ân huệ ban cho Ngài (gratia unionis, “ơn ngôi hiệp”) đă trở nên nguồn ơn cho chúng ta (gratia capitis, “ơn của Đầu”). Bởi bản tính, Ngài là “thần-nhân,” và v́ thế là “Đấng liên kết” hai bên, Thiên Chúa và loài người. Sức sống từ Đầu tuôn chảy xuống các chi thể; không một ai được cứu rỗi nếu không sống nhờ sự sống này. Đó là tầm trọng yếu đối với cứu độ học của tín điều công đồng Canxêđôn minh định. [140]
Tân Ước tŕnh bày chân lư ấy dưới nhiều dạng; thí dụ qua việc: tŕnh tả Đức Kitô phục sinh được nâng lên bên hữu Thiên Chúa, và được hưởng toàn quyền trên trời dưới đất (x. Mt 28:18; Ph 2:9, v.v.); hướng mắt nh́n lên Đức Kitô hằng sống trên trời để chuyển cầu cho chúng ta (x. Dt 7:25; 1Ga 2:1); giới thiệu Đức Giêsu trong tư thế là quan ṭa phán xét trong ngày cánh chung, là Đấng quyết định số phận vĩnh cửu của mọi người (x. Mt 25: 31tt; Cv 10:42); áp dụng cho Ngài những tước hiệu như “cửa,” “đường” duy nhất dẫn tới Chúa Cha (x. Ga 10:7tt; 14:6), và những ẩn dụ tương tự.
Phạm vi của vai tṛ trung gian cũng rộng lớn như kế hoạch của Thiên Chúa. Vũ trụ được dựng nên nhờ, qua và cho Đức Kitô (x. 1Cr 8:6; Cl 1:15-17; Dt 1:1-3; Ga 1:3). Đặc biệt Ngài là trung gian của giao ước mới Thiên Chúa thiết lập với loài người (Mt 26:28tt; Dt 7:22; 8:6; 9:15). Phaolô nêu bật sự việc Đức Kitô là trung gian của việc công chính hóa, qua Ngài, Thiên Chúa ḥa giải các tội nhân (x. 2Cr 5:21; Rm 5:18; 8:10, v.v.). Gioan khai triển chủ đề ‘Đức Kitô trung gian mạc khải’: “Lề Luật đă được Thiên Chúa ban qua Môsê, c̣n ân sủng và sự thật, th́ nhờ Đức Giêsu Kitô mà có. Chưa có ai bao giờ thấy Thiên Chúa, nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa, chính Ngài đă tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1:17-18).
Các tiên tri trong Cựu Ước đă loan báo ơn cứu độ, đặc biệt là qua sự việc Thần Khí được tuôn đổ xuống trên mọi người phàm (x. Ge 3:1-2=Cv 2:17-8). Thần Khí sẽ ban sự sống mới (x. Ed 37) và sẽ làm cho toàn dân sống trong một thể cách mới (x. Ed 36:25-27; 39:29; Gr 31:31-34; 32:38-40; Is 59:21, v.v.). Mà, Thần Khí là sức sống của các trung gian. Đấng Mêsia được Thần Khí “xức dầu” (x. Is 11:12; Lc 4:18tt), là người mang Thần Khí (x. Cv 10:37-38) và trao ban Thần Khí cho loài người (x. Ga 7:39; 14:26, v.v.). [141] V́ thế, Đức Kitô là trung gian ban Thần Khí, ban sức sống mới, là nguồn sống đem ơn cứu độ đến cho mọi người, và sức đổi mới đến cho mọi thể chế. Thần Khí là hiện thân của ơn cứu độ nơi mọi người nhận được ơn ấy. [142]
–———————
Phụ Lục
Một Trung Gian Và Nhiều Trung Gian
1Tm 2:5 khẳng định rơ: chỉ có một Đấng Trung gian duy nhất là Đức Kitô. Mặt khác, Giáo hội cũng thường nói đến vai tṛ trung gian của Đức Maria, các Thánh, các Thiên thần, v.v. Công đồng Vaticanô II đă giải thích về điểm này ở trong ASMD 62, như sau:
“Không bao giờ có thể đặt một thụ tạo nào ngang hàng với Ngôi Lời nhập thể và Cứu chuộc. Nhưng cũng như chức tư tế của Chúa Kitô được thông ban dưới nhiều h́nh thức khác nhau cho các thừa tác viên và giáo dân, và cũng như sự tốt lành duy nhất của Thiên Chúa được ban phát nhiều cách cho các thụ tạo, th́ sự trung gian duy nhất của Đấng Cứu thế không những không loại bỏ mà c̣n khuyến khích các thụ tạo cộng tác dưới nhiều h́nh thức khác nhau, trong sự tùy thuộc vào nguồn mạch duy nhất.” [143]
H́nh ảnh “trung gian” hiện rơ ở trong Kinh Thánh: Môsê là trung gian của Giao ước, thượng tế là trung gian giữa Giavê và dân Ítraen, các tiên tri là trung gian của Lời Chúa, v.v. Trong sách Gióp, Thiên Chúa bảo: “Gióp, tôi tớ của Ta, sẽ chuyển cầu cho các ngươi. Ta sẽ đoái nh́n nó và sẽ không xử với các ngươi xứng với sự ngu xuẩn của các ngươi...” (G 42:8). Trong sách Tôbia, Raphaen nói với ông: “Khi ông và Sara cầu nguyện, chính tôi đă dâng những lời cầu nguyện đó lên trước tôn nhan vinh hiển Thiên Chúa...” (Tb 12:12). Đó chính là vai tṛ của các thiên thần theo Kh 8:3-4. Kinh Thánh c̣n cho thấy nhiều trường hợp khác của vai tṛ “trung gian,” đặc biệt là khi nói đến việc cầu nguyện cho một người khác (x. 2Cr 13:7; Cv 8:15; Gc 5:14.16, v.v.).
Sau công đồng Êphêsô (n. 431), thánh Xyrillô Alêxănđria đă dùng tước hiệu “trung gian” cho Đức Maria. Thật vậy, kinh Sub tuum praesidium... đă có trong Giáo hội từ thế kỷ 3 hoặc 4, bắt đầu bên Đông phương, và từ đó được đưa sang Tây phương, tức là từ thời bấy giờ các tín hữu đă biết dâng lên Đức Mẹ những lời nguyện cầu. Sau này, các ngày lễ tôn kính Đức Maria, các đền kính Thánh Mẫu và rất nhiều nơi hành hương ở khắp nơi trong các Giáo hội Đông Tây, đă cho thấy rơ vai tṛ can thiệp, phù hộ, tức vai tṛ làm trung gian của Mẹ Đức Giêsu. “Cảm thức đức tin” của dân Thiên Chúa, đă không mảy may sai lầm trong việc làm này. [144]
Những ai liên kết đặc biệt mật thiết với Đức Kitô, Trung gian duy nhất, th́ cũng được dự phần vào vai tṛ trung gian của Ngài qua việc chuyển cầu; đó là trường hợp của các Thánh. [145] Hơn thế nữa, bởi hiệp thông với Đầu là Đức Kitô, toàn thể Dân Chúa cũng được thông dự vào vai tṛ chuyển cầu của Ngài. [146] V́ vậy, mỗi khi Giáo hội chuyển cầu hoặc chúng ta “cầu nguyện cho nhau,” đều là những khi thi hành – trong Đấng Trung gian độc nhất – sứ mạng làm trung gian trước nhan Thiên Chúa. Đó là lư do tại sao các kinh nguyện phụng vụ đều kết thúc với công thức: “Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con...” Per Dominum nostrum Jesum Christum…
—————————————
Đức Giêsu , Đấng Cứu Tinh
Tước hiệu “Cứu tinh” (Sôtêr) không xuất hiện trong các văn bản cổ xưa thời đầu; và nói chung, so với các tước hiệu khác, Tân Ước ít khi dùng đến tước hiệu này: tất cả vỏn vẹn chỉ có 4 lần trong các thư mục vụ, 5 lần trong 2Pr và 2 lần trong Ga (x. Ga 4:42; 1Ga 4:14). Lư do là v́ trong văn hóa Hylạp, “cứu tinh” là tước hiệu của các thần linh, của các vị anh hùng và các vua chúa. Kitô giáo muốn tránh sự hiểu lầm và không chịu đặt Đức Kitô trong cùng một b́nh diện với thần Apôllô hay hoàng đế Caligula! Đức Kitô đâu phải là vị “cứu tinh” theo kiểu ấy. [147]
Tuy nhiên, khi đă có được những hiểu biết rơ ràng và vững chắc đủ về Đức Kitô, Giáo hội mới vững tâm áp dụng tước hiệu ấy cho Đức Kitô. Có lẽ v́ đang trong thời bút chiến chống quan niệm của lương dân lúc bấy giờ, Tt 2:13 đă gọi “Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng Cứu độ chúng ta.” Ba thư mục vụ dùng danh tước “ Đấng cứu tinh” khi nói về Thiên Chúa (x. 1Tim 1:1; 2:3; 4:10; Tt 1:3; 2:10) cũng như về Đức Kitô (x. 2Tm 1:10; Tt 1:4; 2:13; 3:6; x. 2Pr 1:11; 2:20; 3:2.18).
Thời Cựu Ước, không có nguy hiểm ngộ nhận nói trên; v́ thế “cứu tinh” là tước hiệu của Giavê (x. 1Sm 10:19; Is 45:1,v.v.), và đôi khi, cũng của cả các đại diện Người chọn, như các Quan án (x. Lt 3:9.15). Nhưng tước hiệu này không bao giờ được quy áp cho Đấng Thiên sai. [148]
Luca giới thiệu hài nhi Giêsu trong cương vị “Đấng Cứu độ” và giải thích qua hai tước hiệu khác là “Đấng Kitô và Đức Chúa” (Lc 2:11). Theo thần học của sách Công vụ, “cứu độ” là tước hiệu của Đấng Phục sinh (x. Cv 5:31), như Kinh Thánh đă tiên báo: “Từ ḍng dơi Đavít, theo lời hứa, Thiên Chúa đă đưa đến cho Ítraen một Đấng Cứu độ là Đức Giêsu” (Cv 13:23). Đức Kitô đă được nâng lên, nhưng Giáo hội c̣n trông chờ Ngài trở lại với tư cách là Đấng Cứu độ trong ngày quang lâm (x. Pl 3:20). V́ là Đầu của Hội thánh và là Đấng Cứu độ của hết thảy các chi thể, nên Đức Kitô là Vị Cứu tinh của toàn bộ thân thể (x. Ep 5:23). Theo thần học chung của Tân Ước, Ngài đă chịu khổ h́nh v́ chúng ta, và như thế, đă “trở nên nguồn ơn cứu độ cho tất cả những ai tùng phục Ngài” (Dt 5:9).
Sau thời các tông đồ, bởi văn hóa Hy lạp vẫn c̣n mơ hồ về tước hiệu “cứu tinh,” nên các Giáo phụ ít khi gọi Đức Kitô là “Đấng Cứu độ.” Inhaxiô Antiôkia chỉ dùng đến tước hiệu này có 4 lần; chẳng hạn như khi tố giác các “thầy giáo giả” v́ họ “không tuyên xưng Thánh thể là thịt, máu của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ chúng ta” (Smirna 7. 1). Dù sao, tước hiệu Sôtêr, “Cứu độ” đă không được phổ biến rộng răi cho bằng các tước hiệu “Chúa” hoặc “Lời” v.v., lư do là v́ c̣n mang ư nghĩa nước đôi, tựa như từ ngữ “Giải phóng” hiện nay.
Tuy nhiên, Giáo hội hằng tin vững rằng Ngài là Đấng Cứu độ. Các Giáo phụ nêu rơ giáo lư này khi bàn về “ơn cứu độ,” coi đó là ân huệ của Đức Kitô, cũng như khi lưu ư về nghĩa của Tên gọi “Giêsu” là “Giavê giải cứu”: “bởi Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1:21). Gioan mở rộng chân trời: Ngài không những xóa tội của Ítraen mà c̣n của cả trần gian nữa (x. Ga 1:29); Ngài quả là “Đấng Cứu độ trần gian” (Ga 4:42). V́ niềm tin này, thánh Luca đă dứt khoát khẳng quyết rằng ngoài thánh Danh Ngài ra, chẳng có ơn cứu độ ở một ai, một nơi nào khác (x. Cv 4:12).
Là sự sống (x. Ga 14:6), là ánh sáng (x. Ga 1:9; 8:12, v.v.), và là sự sống lại (x. Ga 11:25), Đức Kitô là ơn cứu độ, là nguồn cứu độ cho muôn dân. Cùng với Chúa Cha, Ngài “nhiệm xuy” Thần Khí, [149] là Đấng thánh hóa, là tác động cứu độ nơi các tâm hồn; nếu Đức Kitô không phải là “nguồn xuất phát” của Thần Khí, th́ cũng chẳng phải là Đấng Cứu độ. Đă hẳn là nguồn cội tuyệt đối của mọi ơn cứu độ là Chúa Cha, v́ thế 1Tm 4:10 gọi Người là “Đấng Cứu độ mọi người,” nhưng Người cứu độ qua Đức Kitô và trong Thần Khí. Tuy nhiên, trong kế hoạch cứu độ, Đức Kitô là “anpha và ômêga,” là nguyên thủy và chung cục, v́ thế, không thể ‘qua mặt’ Đức Kitô để trực tiếp đi đến với Chúa Cha (x. Ga 14:6) hoặc nhận lănh Thần Khí: không qua Đức Kitô th́ không thể đến được với ơn cứu độ.
CÔNG TR̀NH CỦA ĐẤNG TRUNG GIAN
Như đă thấy, đời sống và công cuộc rao giảng của Đức Kitô được tŕnh thuật trong nhiều cách, với nhiều từ ngữ, ẩn dụ khác nhau. Muốn hiểu về công tŕnh này, th́ cần phải xếp các ẩn dụ theo hệ thống và nghiên cứu ư nghĩa của từng từ ngữ. Mọi sự đều phát sinh từ ḷng nhân hậu của Chúa Cha; v́ thế, suy tư thần học nên bắt đầu tiến hành từ trên xuống, rồi sau đó mới dồn chú tâm vào Đức Giêsu để, làm như đi từ dưới lên, mà t́m hiểu về cách thức đại diện loài người đáp ứng ḷng thương của Thiên Chúa. [150]
1. Đức Kitô, Đấng Trung Gian Mạc Khải
So sánh Môsê, trung gian của Cựu Ước, với Đức Kitô, trung gian của Tân Ước, Gioan viết rằng Thiên Chúa đă ban Lề Luật qua Môsê, c̣n ân sủng và sự thật th́ ban qua Đức Giêsu Kitô (x. Ga 1:17). Ơn cứu độ và sự thật mật thiết liên quan với nhau (x. 1Tm 2:4). Ngài vốn là Lời, là ánh sáng, xuống thế gian để mạc khải Thiên Chúa cho chúng ta (x. Ga 1:18); mà biết Thiên Chúa (và biết Đức Giêsu Kitô) chính là sự sống đời đời (x. Ga 17:3). Sở dĩ Đức Kitô đă đến là để “soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tối tử thần” (Lc 1:79). [151]
Cần phải biết như thế nào về Thiên Chúa để được cứu độ? Nếu biết như thầy giáo biết về môn học ḿnh dạy, th́ không đủ; nếu biết như người đi du lịch biết các nơi, các miền ḿnh đă tới, hoặc biết các người trong h́nh chụp, th́ cũng vẫn chưa đủ; nếu biết như sĩ quan biết lính, như chủ nhân và cộng nhân biết nhau, như thầy tṛ biết nhau, cũng vẫn chưa đủ. Hành động “biết” có sức cứu độ th́ tựa như vợ chồng biết nhau, cha mẹ con cái biết nhau; đó là cách Đức Giêsu mạc khải về Chúa Cha (x. Mt 11: 27). Đức Giêsu làm cho chúng ta biết Cha để dẫn chúng ta tới với Người như con cái.
Đức Kitô mạc khải Thiên Chúa không chỉ qua lời nói và việc làm, mà nhất là qua chính bản thân Ngài: Ngài là Lời, là h́nh ảnh của Thiên Chúa, nên thấy Ngài là thấy Cha, gặp Ngài là gặp Thiên Chúa, là gặp chính ơn cứu độ. V́ thế đường cứu độ là đường của môn đồ: không những học bài Thầy dạy, mà nhất là rập khuôn lối sống của Ngài, đúng như những ǵ Phaolô (x. Pl 2:5) và Phêrô (x. 1Pr 2:21) khuyên nhủ. Ư của Chúa Cha là môn đồ chuyên chú vâng nghe lời Thầy (x. Lc 9:35), và tất cả những ai giữ lời ấy đều sẽ được thánh hiến trong sự thật (x. Ga 17:14-18), sẽ biết Chúa Cha như con biết cha, và sẽ được yêu thương như Cha yêu Con (x. Ga 17:26): đó là được cứu độ đến một mức tuyệt diệu.
Kế hoạch cứu độ được tŕnh bày như là cuộc giao chiến giữa ánh sáng và bóng tối. Lời tựa của Ga đă nói rơ: Ngôi Lời là ánh sáng chiếu soi mọi người; nhưng tối tăm không chịu đón nhận ánh sáng, tức “người ta đă chuộng bóng tối hơn ánh sáng” (Ga 3:19): đó là biểu tượng của tội lỗi trần gian; c̣n theo gót Đức Giêsu là bước đi trong ánh sáng (x. Ga 8:12); chính nhờ ánh sáng ấy mà con người được ơn trở nên con Thiên Chúa (x. Ga 1:12).
Nếu Đức Kitô là ánh sáng, th́ kẻ thù là “quyền lực tối tăm” (x. Lc 22:53). V́ thế, Phaolô miêu tả việc cứu độ như sau: “Anh em, hăy vui mừng... v́ Chúa Cha đă giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái... trong cơi đầy ánh sáng” (x. Cl 1:12-3; 1Pr 2:9). Cuộc đời cứu độ ở dưới đất này chính là “ăn ở như con cái ánh sáng” (Ep 5:8-9), sống như Chúa đă sống, trong một cộng đoàn khuynh đệ tương ái (x. 1Ga 1:7).
Ơn cứu độ là được biết Chúa như Chúa biết ta (x. 1Cr 13:12). Việc nhận biết này khởi sự với đức tin. Thánh Phaolô ghi ra một số danh sách những nhân đức tiêu biểu của lối sống kitô giáo; nhân đức đầu tiên là đức tin, và cuối cùng là bác ái (x. 1Cr 13: 13; 2Cr 8:7) hoặc sự hiểu biết (x. Rm 15:13-4). Sự hiểu biết này không phải là trí thức, nhưng là kinh nghiệm cùng sống trong t́nh yêu: “mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi” (Pl 3:8); đó là lư tưởng của vị tông đồ. “Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Kitô” (Rm 10:17), v́ thế Phaolô coi việc giảng Tin mừng là như ánh sáng bừng lên (x. 2Cr 4:4-6). Cuối cùng, trong bí tích Thánh tẩy, đức tin được cụ thể hiện thực hóa: thư Do thái gọi là “được chiếu sáng” (Dt 6:4; 10:32).
Truyền thống của Giáo hội đă từng nêu bật cho thấy sự hiểu biết kia là một yếu tố cấu thành của ơn cứu độ. Trung gian của sự hiểu biết này là Đức Kitô. Khoảng năm 98, Clêmentê Rômanô đă viết: “Qua Ngài chúng ta nh́n lên trời cao; qua Ngài chúng ta ngắm nh́n như trong một tấm gương sáng, tôn nhan tinh tuyền vô song của Thiên Chúa; qua Ngài con mắt của tâm địa chúng ta mở ra; qua Ngài trí tuệ ngu dại và mờ đục của chúng ta bừng sáng lên; qua Ngài Thiên Chúa muốn chúng ta nếm thử sự hiểu biết bất diệt...” [152] Hồi thế kỷ thứ hai, Giuxtinô tử đạo so sánh việc ḿnh trở lại theo Đức Kitô như là việc đón nhận ánh sáng, và coi Kitô giáo như một “nền triết lư” hoặc một lối sống khôn ngoan (philosophia) độc đáo; ngài gọi phép Rửa là phôtismós tức thiên khải sáng soi, một tên gọi đă được các Giáo phụ xử dụng: “Chúng tôi gọi Phép Rửa là sự soi sáng, v́ những ai đón nhận giáo lư này th́ được (Thần Khí) chiếu soi tâm hồn.” [153] C̣n Irênêô, tác giả cuốn sách Chống các lạc giáo, coi các lạc giáo là những tri thức giả, c̣n Kitô giáo là “tri thức thật.” Ngài xác tín ơn cứu độ phát sinh từ Đức Kitô, Đấng mạc khải: “Cuộc thương khó của Chúa làm cho chúng ta hiểu biết Chúa Cha, và v́ thế là nguồn ơn cứu độ.” [154] Yếu tố tri thức của ơn cứu độ được nêu bật nhiều nhất trong trường phái Alêxănđria, từ Clêmentê, Ôrigênê cho đến Xyrillô; bên phía Tây phương, yếu tố này cũng hiện diện, nhưng không nổi bật bằng.
Xưa nay, các tôn giáo vẫn không quên lưu ư đến yếu tố này. Ngộ đạo và Phật giáo nêu bật giá trị tối cao của việc giác ngộ. Thần học cũng đă từng có khuynh hướng nhấn mạnh quá đáng đến giá trị và sức mạnh cứu độ của mạc khải, như thấy qua lập trường của A