LỊCH SỬ TÍN ĐIỀU
CHÚA KITÔ
ĐGM Phaolô Bùi Văn Đọc
I. CÁC LẠC GIÁO KITÔ-HỌC NHỮNG THẾ KỶ ĐẦU.
A. PHÁI EBIONITES.
Phái Ebionites (những người nghèo) là một nhóm kitô-hữu gốc Dothái, sống theo Lề Luật Dothái-giáo. Họ biết Tin Mừng Matthêu, không biết các Tin Mừng khác và cũng không nh́n nhận các thư Phaolô. Họ coi Đức Giêsu chỉ là một con người có những quyền năng đặc biệt của ngôn sứ. Họ không chấp nhận Đức Kitô tiền hữu là Con Thiên Chúa theo nghĩa đen. Họ chia làm hai nhóm : một nhóm coi Đức Giêsu là con ông Giuse đă được Thiên Chúa tuyển chọn làm Kitô. Đức Giêsu đă sống một cuộc đời công chính, thánh thiện trong thời gian 30 năm cho tới khi được Gioan Tẩy Giả ban phép rửa. Bấy giờ Đức Giêsu lănh nhận tràn đầy Thánh Thần và trở thành Đức Kitô. Ngài rao giảng sự công chính đích thực của Lề Luật. Nhóm thứ hai coi Đức Giêsu là con của Trinh Nữ Maria, công nhận Ngài sinh ra bởi quyền năng Thánh Thần, nhưng không chấp nhận sự tiền hữu của Ngài như là Ngôi Lời và Khôn Ngoan của Chúa Cha. Đức Giêsu chỉ là một con người trở nên Đấng Kitô khi chịu phép rửa, giống như những nhân vật được xức dầu trong Cựu Ước.
B. DƯỠNG TỬ THUYẾT.
Dưỡng-tử-thuyết (Adoptianisme) cũng chối thần tính của Đức Giêsu. Nhiều người theo thuyết này cho rằng Thiên Chúa Duy Nhất không có con. Thiên Chúa có thể chọn làm con bất cứ thụ tạo nào. H́nh thái cổ xưa nhất của thuyết này cho rằng Thiên Chúa đă chọn một thiên thần làm dưỡng tử. Theo họ, Đức Giêsu là một thiên thần làm người chứ không phải là Con thực của Thiên Chúa. Nhóm khác cho rằng Thiên Chúa đă chọn một con người và đă biến đổi con người ấy trở nên thần linh trong phép rửa ở sông Giođan.
C. NHÓM NGỘ ĐẠO.
Trào lưu “Ngộ-đạo-thuyết” (Gnosticisme) chia làm nhiều nhóm khác nhau, rất phức tạp và khác biệt nhau. Nhóm chủ trương Kitô-học-Thánh-Linh (Geistchristologie) lại chia làm nhiều nhóm khác nhau, tùy quan niệm khác nhau về Thánh Thần. Nhóm Ofites, dù công nhận Đức Mẹ thụ thai Đức Giêsu bởi quyền năng Thánh Thần, vẫn coi Đức Giêsu chỉ như một con người. Dù có nhiều điều khác biệt, các nhóm này chủ trương ba điều chủ yếu giống nhau : Đức Giêsu chỉ là một con người ; Sự kết hợp giữa ông Giêsu và Đức Kitô trong phép rửa ở sông Giođan chỉ là tạm thời ; Đức Kitô rời bỏ ông Giêsu trước cuộc khổ nạn.
Phái “Ảo-thân-thuyết” (Docétisme) th́ không chấp nhận nhân tính đích thực của Đức Giêsu. Họ cho rằng thân xác của Ngài không là thân xác đích thực, mà là một loại thân xác thiêng liêng, có vẻ bên ngoài là thân xác, giống như thiên thần. Họ chối bỏ những hành vi nhân sinh được coi là bất xứng với thần tính, ví dụ : sự đau khổ.
D. NHẤT CHỦ THUYẾT - H̀NH THÁI THUYẾT.
Nhất-chủ-thuyết (Monarchianisme) không tin Ba Ngôi Thiên Chúa và triệt để bênh vực độc thần giáo, không chấp nhận một Ngôi Vị Thiên Chúa riêng biệt nơi Đức Giêsu. Mọi hành vi của Đức Giêsu-Kitô, kể cả khổ nạn và sự chết, đều được gán cho Chúa Cha.
Đối với nhóm người này, Chúa Cha và Chúa Con chỉ là những danh xưng tương ứng với nhau. Trong cơi vĩnh hằng, Thiên Chúa là Cha ; trong công cuộc tạo dựng, Ngài là Con. Trước mầu nhiệm Nhập Thể, Ngài là Cha ; sau Nhập Thể, Ngài là Con. Tuyên xưng Đức Kitô là Thiên Chúa, đó là tuyên xưng Chúa Cha là Thiên Chúa độc nhất. Những người theo thuyết Nhất-chủ công nhận thần tính của Đức Giêsu, nhưng họ coi đó là bản tính cũng là Ngôi Vị duy nhất của Thiên Chúa. Sai lạc chủ yếu của nhóm này về phương diện Kitô-học c̣n được gọi là Khổ-phụ-thuyết (Patripassionisme) nghĩa là Chúa Cha chịu khổ h́nh. Các nhân vật như Noëto và Praxea đều cho rằng Chúa Cha chịu khổ nạn, chịu chết và tự ḿnh sống lại.
H́nh-thái-thuyết (Modalisme) là một biến thiên tinh vi hơn của Nhất-chủ-thuyết. Thuyết này cho rằng Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần chỉ là ba h́nh thái, ba cách biểu lộ khác nhau của một Thiên Chúa Duy Nhất, tùy theo từng giai đoạn. Đây là một sai lạc về Ba-Ngôi-học, có liên hệ mật thiết tới Kitô-học. Niềm tin Kitô-giáo của một số người ngày hôm nay, dù là những người thông thái, thường có màu sắc h́nh-thái-thuyết, v́ không phân biệt các Ngôi Vị Thiên Chúa.
II. CÔNG ĐỒNG NIXÊ I (325)
KHẲNG ĐỊNH THẦN TÍNH ĐÍCH THỰC CỦA ĐỨC KITÔ.
A. CUỘC TRANH LUẬN ARIÔ.
Vào năm 320, tại Alexandria, linh mục Ariô, người gốc xứ Lybia, bắt đầu phổ biến lư thuyết của ông. Đối thủ của ông là Alexandrô, giám mục Alexandria.
Chứng từ rơ nhất về nội dung cuộc tranh luận là lá thư Ariô gửi cho Eusebiô Nicomedia : “Chúng tôi đă bị bắt bớ v́ đă nói rằng Ngôi Lời được rút ra từ hư vô. Chúng tôi đă nói như vậy về Chúa Con v́ Ngài không phải là một thành phần của Thiên Chúa và Ngài không phát sinh từ thực tại đă có” (S. Epiphane, Panarion Maer. LXIX,6).
Đối với Ariô, chỉ một ḿnh Chúa Cha là Đấng không được sinh ra. C̣n Chúa Con là Đấng được tạo thành, có khởi đầu, bởi hư vô. Ariô đă đưa khuynh hướng hạ-phục-thuyết (subordinatianisme) thời bấy giờ đến hệ luận cuối cùng. Ông không chấp nhận ư niệm “Nhiệm Sinh Vĩnh Hằng” của Origène, không phân biệt nhiệm sinh vĩnh hằng với sự sinh ra trong thời gian. Chính v́ thế, ông đă đặt Chúa Con trong hàng tạo vật.
Theo Ariô, Chúa Cha là Đấng tuyệt đối siêu việt so với Chúa Con. Chúa Con thấp hơn Chúa Cha về bản tính, uy quyền và vinh quang. Chúa Con được gọi là Thiên Chúa, thực ra là một vị “thần linh thấp hơn”. Thiên Chúa thật là Đấng Duy Nhất Tuyệt Đối, đó là Chúa Cha. Ngoài Ngài ra, bất cứ thực tại nào cũng chỉ là tạo vật được dựng nên từ hư vô. Ngôi Lời cũng thế, là tạo vật của Chúa Cha và tùy thuộc vào Ngài. Ngôi Lời là tạo vật hoàn hảo của Thiên Chúa, không đồng vĩnh cửu với Thiên Chúa.
Chúng tôi đưa ra bản đối chiếu các mệnh đề của Ariô và của Alexandrô” :
ARIÔ ALEXANDRÔ
Ngôi Lời không đồng hiện hữu với Chúa Cha từ đời đời.Ngôi Lời được dựng nên từ hư vô.Ngôi Lời không thực sự là Con tự bản tính của Thiên Chúa.Bản thể của Con không do bản thể của Cha.Ngôi Lời đă khởi sự hiện hữu do ư muốn của Chúa Cha.Tự bản tính, Ngôi Lời thay đổi về thể lư cũng như luân lư. Ngôi Lời đồng hiện hữu với Chúa Cha từ đời đời.Ngôi Lời không được tạo thành ; chính Ngài tạo dựng muôn loài.Ngôi Lời là Con tự bản tính, không do được tuyển chọn.Con có bản tính ngang hàng bản tính của Cha.Ngôi Lời hiện hữu do sự thông ban yếu tính của Cha.Ngôi Lời tự bản tính thần linh, không thay đổi cũng không đau khổ.
B. ĐỨC TIN CỦA CÔNG ĐỒNG NIXÊ.
Để giải quyết sự xáo trộn do cuộc tranh luận của Ariô gây ra và đem lại b́nh an cho Giáo Hội, hoàng đế Constantinô I đă cho triệu tập Công Đồng chung đầu tiên tại Nixê gần Nicômêđia là Đông đô của đế quốc. Chúng tôi ghi lại nội dung tín điều Nixê :
“Chúng tôi tin một Thiên Chúa là Cha toàn năng tạo dựng muôn vật hữu h́nh và vô h́nh. Một Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, Đấng duy nhất sinh bởi Chúa Cha, nghĩa là từ bản thể Chúa Cha, là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởûi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật. Người được sinh ra mà không phải tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha. Nhờ Người muôn vật được tạo thành trên trời dưới đất. V́ chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đă từ trời xuống thế, đă nhập thể làm người, đă chịu khổ h́nh, đă sống lại ngày thứ ba, đă lên trời và sẽ trở lại phán xét kẻ sống và kẻ chết. Chúng tôi tin Thánh Thần”.
“Giáo Hội công giáo và tông truyền kết án những ai nói rằng : ‘đă có lúc Ngôi Lời không hiện hữu’ hay là ‘Người không hiện hữu trước khi được sinh ra’ - ‘Người được dựng nên từ hư vô’ - ‘Người bởi một bản thể khác mà ra’ - ‘Người hay thay đổi, biến dịch’”.
Tín điều Nixê rơ ràng chia làm hai phần : phần I là lời tuyên tín đúng nghĩa ; phần II lên án những sai lạc của Ariô.
Trên b́nh diện Kitô-học, có một số điều cốt yếu cần ghi nhận trong nội dung lời tuyên tín của Nixê :
Đức Giêsu được tuyên xưng là Con Thiên Chúa,
là Con Một sinh bởi Chúa Cha ;
sinh từ bản thể Chúa Cha chứ không từ bản tính khác hay từ hư vô ;
là Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật ;
được sinh ra chứ không được tạo thành ;
“đồng bản thể” với Chúa Cha ;
v́ loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta,
Người đă từ trời xuống thế, đă nhập thể làm người.
Từ những điểm cốt yếu này, chúng ta có thể kết luận rằng lời tuyên tín Nixê xoay quanh một cái trục duy nhất là tín điều về thần tính của Đức Kitô : Đức Kitô là Con Thiên Chúa duy nhất theo nghĩa chặt chẽ nhất, đồng bản thể với Thiên Chúa.
Chính niềm tin của Giáo Hội vào thần tính của Đức Kitô là điều cơ bản nhất của Kitô-giáo. Niềm tin Kitô-giáo không c̣n là niềm tin độc thần theo nghĩa Do-thái-giáo, mà là niềm tin Ba Ngôi. Chúng ta tin chỉ có một Thiên Chúa, đồng thời chúng ta tin Đức Kitô là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa. Chúng ta tin Đức Kitô vẫn là một với Thiên Chúa lại vừa khác với Thiên Chúa. Ngài là Con Thiên Chúa theo nghĩa chặt chẽ nhất.
III. CÔNG ĐỒNG CONSTANTINOPLE I (381) :
KHẲNG ĐỊNH NHÂN TÍNH ĐÍCH THỰC CỦA ĐỨC KITÔ.
A.TRANH LUẬN CỦA APOLLINAIRE.
Kitô-học “Logos-sarx” :
Có lẽ dựa vào câu “Lời đă thành xác phàm” (Logos-sarx egeneto) trong Ga 1,14 mà nhiều người trong trường phái Alexandria đă xây dựng Kitô-học ‘Logos-sarx’ giống như một lược đồ làm nền tảng cho suy tư thần học của trường phái Alexandria về mầu nhiệm Chúa Kitô.
Trong tiến tŕnh suy tư này, có nhiều người đi xa dần cách Tin Mừng Gioan hiểu chữ sarx, v́ bị chi phối nhiều bởi triết học Hy-lạp, đặc biệt là triết học Platon và Tân-Platon. Những lệch lạc nảy sinh từ việc rời xa ư nghĩa nguyên thủy.
Dùng chữ sarx, Gioan chỉ một thực tại mỏng ḍn, như bông hoa sớm nở tối tàn. Sarx chỉ sự mỏng manh của tạo vật so với Đấng Tạo Hóa là Sự Sống, là Sức Mạnh, là Sự Vĩnh Hằng, là “Khí Thần” không bao giờ tàn lụi.
Dù là một từ ngữ Hylạp, chữ sarx của Gioan có cả một “hậu trường” nhân học Dothái. Chữ sarx của Gioan không hề có nghĩa xấu, không là một quan niệm triết học coi thường vật chất, nhưng chỉ là một ư niệm thực tế về thân phận làm người, thân phận tạo vật so với sự siêu việt và vĩnh hằng của Thiên Chúa. Sarx là tác phẩm của Thiên Chúa, nên khi Ngôi Lời trở thành xác phàm, th́ Ngài đến “nhà Ngài”.
Nếu chuyển sang quan niệm Hylạp coi thường vật chất, lược đồ “Logos-sarx” có nguy cơ bị giải thích sai lạc.
Đối với một số người, lược đồ này có vẻ như bảo vệ được sự duy nhất của Đức Kitô là “Ngôi Lời Nhập Thể”. Nơi Đức Kitô chỉ có một bản thể, một Đấng, một Vị, chứ không có hai thực tại.
Vào giữa thế kỷ IV, Apollinaire, giám mục Laodicea, đă đưa khuynh hướng Kitô-học “Logos-sarx” đến những hệ luận cực đoan nhất khiến nhiều người thuộc trường phái Antiokia phản ứng. Nhiều Thượng Hội Đồng địa phương, nhiều giáo phụ như Epiphane, Grégoire de Nysse, Grégoire de Nazianze chống lại ông. Ông bị kết án cách chính thức năm 381-382 ; và các tác phẩm của ông bị đốt, c̣n sót lại vài tác phẩm v́ đă mạo danh Đức Thánh Cha Giulio I và Athanasio. Việc mạo danh này bị khám phá vào thế kỷ VI và đă bị Công Đồng Constantinople II năm 583 kết án.
Apollinaire muốn triệt để bênh vực sự “duy nhất” của Đức Kitô và bảo vệ sự thánh thiện tuyệt đối của Ngài về phương diện hữu thể cũng như về phương diện luân lư. Ông cho rằng Ngôi Lời đảm nhận một bản tính nhân loại không có linh hồn. Đức Kitô là Ngôi Lời thần linh nhập thể, nghĩa là ở trong thân xác con người (Logos ensarkos : Verbe Incarné). Là một con người thiên thai, Đức Kitô sử dụng thân xác như một dụng cụ. Như thế, chỉ có một chủ vị tri thức, ước muốn và hành động qua thân xác. Ư muốn thần linh luôn hướng về sự thiện, trái lại, ư muốn con người có thể dẫn đến đam mê, tội lỗi và sự chết. Nếu chấp nhận nơi Đức Kitô có linh hồn nhân loại, th́ có nguy cơ linh hồn ấy đối lập với Ngôi Lời.
Ngôi Lời đóng vai tṛ linh hồn trong thân xác được sinh ra bởi Trinh Nữ Maria.
Về sau, Apollinaire có thay đổi một chút : Đức Kitô gồm ba yếu tố là trí hồn, sinh hồn và thân xác. Ngôi Lời đóng vai tṛ trí hồn (noũs). Sự thay đổi này không quan trọng, v́ vẫn chối yếu tố cao cả nhất nơi con người, làm cho con người khác với con vật, đó là yếu tố tinh thần. Ngôi Lời thay chỗ cho yếu tố ấy.
Ngôi Lời và thân xác con người không là hai yếu tố ngang nhau nơi Đức Kitô. Ngôi Lời là yếu tố chủ động, là chủ thể mọi hành vi và ước muốn. Ngôi Lời giống như Thần Khí ban sự sống cho thân xác, là chủ thể linh hoạt, khiến Đức Kitô là Đấng thánh thiện tuyệt đối, không thể phạm tội : “Thiên Chúa dù nhập thể trong một thân xác nhân loại, bảo toàn trọn vẹn năng lực thần linh. Ngài là Tuệ Trí không thể nhường bước cho các đam mê của linh hồn và xác thịt. Ngài hướng dẫn thân xác và các hoạt động của thân xác một cách thần linh và trong sạch. Ngài không những không chịu khuất phục trước tử thần, mà c̣n đập tan tử thần”.
B. CÔNG ĐỒNG CONSTANTINOPLE I.
Công Đồng Constantinople I họp năm 381-382, lên án lạc giáo của Apollinaire : “Chúng tôi không đồng ư với chủ trương Ngôi Lời đảm nhận một thân xác không có linh hồn, không có trí tuệ, v́ biết chắc rằng Ngôi Lời Thiên Chúa trọn hảo từ muôn thuở, đă trở thành con người cách trọn vẹn vào thời sau cùng để cứu độ chúng ta” (Lá thư các Giám mục họp tại Constantinople gởi Đức Thánh Cha Đamasô năm 382).
So với nội dung tín biểu Công Đồng Nixê, Công Đồng Constantinople có những thay đổi chi tiết về mầu nhiệm Chúa Kitô.
Tín biểu Constantinople bỏ đi một số điểm :
Từ bản thể Chúa Cha ;
Thiên Chúa bởi Thiên Chúa ;
Dưới đất cũng như trên trời.
Và thêm vào một số điểm :
Từ trước muôn đời ;
từ trời (xuống thế) ;
bởi Chúa Thánh Thần và bởi Trinh Nữ Maria ;
chịu đóng đinh vào thập giá v́ chúng ta dưới thời Pontio Pilato ;
được mai táng ;
(sống lại ngày thứ ba) theo lời thánh kinh ;
ngự bên hữu Chúa Cha ;
(sẽ trở lại) trong vinh quang ;
Nước Người sẽ không bao giờ cùng.
IV. CÔNG ĐỒNG ÊPHÊSÔ (431)
KHẲNG ĐỊNH SỰ DUY NHẤT NƠI ĐỨC KITÔ.
A. CUỘC TRANH LUẬN VỚI NESTORIÔ.
1. Kitô-học “Logos-Anthropos”.
Lược đồ “Logos-anthropos” (Ngôi Lời làm người) là lược đồ nền tảng trong Kitô-học của trường phái Antiokia. Các nhân vật tiêu biểu cho trường phái này là Diodore de Tarse, Theodore de Mopsueste, Jean Chrysostome, Teodoret de Cyr, Nestorius.
Xét về từ ngữ, lược đồ này không dùng chữ “sarx” của bài Tựa Tin Mừng Gioan, nhưng không có ư xa rời Kinh Thánh ; trái lại, vừa gần với con người cụ thể của Đức Giêsu trong các Tin Mừng nhất lăm, vừa theo chủ đề “anthropos” của Tin Mừng Gioan. Tin Mừng Gioan dùng chữ này rất nhiều lần (19 lần) so với các Tin Mừng nhất lăm. Chữ “anthropos” trong Tin Mừng Gioan có khi nhấn mạnh khía cạnh cụ thể, thực tế của đời sống con người Giêsu, khi khác lại nhấn mạnh nguồn gốc siêu việt của Đức Giêsu ; có khi vừa nhấn mạnh mầu nhiệm Nhập Thể, vừa làm nổi bật vai tṛ mạc khải của Đức Giêsu. Để làm nổi lên ư nghĩa mầu nhiệm Nhập Thể, đôi khi Gioan nhấn mạnh nhiều đến sự tương phản giữa con người Giêsu (anthropos) và Thiên Chúa (Theos), ví dụ trong Ga 8,40 ; 10,33.
Chuyển sang b́nh diện hữu thể học, tư duy theo lược đồ “Logos-anthropos” làm nảy sinh một vấn đề lớn là con người Giêsu có chủ vị riêng hay không ?
Nguy cơ của Kitô-học theo lược đồ này là “phân ly”, không giữ được sự duy nhất của Đức Kitô, đối lập với nguy cơ của lược đồ Logos-sarx là “đồng hóa”.
Kitô-học c̣n được gọi là giáo thuyết “Logos-assumens” (Ngôi Lời đảm nhận) hay “homo assumptus” (con người được đảm nhận). Nói chung Kitô-học nhằm khẳng định những điều chính yếu sau đây :
Sự nguyên vẹn của hai bản tính nơi Đức Kitô, nhất là sự nguyên vẹn và độc lập của bản tính nhân loại ;
Sự phân biệt bản tính thần linh với bản tính nhân loại ;
Sự duy nhất giữa hai bản tính được diễn tả bằng phạm trù “nối kết” (conjunctio).
Nhiều người theo trường phái Alexandria coi Kitô-học Antiokia như là một Kitô-học phân ly, không có khả năng giải thích sự hiệp nhất giữa hai bản tính nơi Đức Kitô.
2. Nestorio từ chối tước hiệu : “Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa”
Nestorio thuộc trường phái Antiokia, làm Giám mục Constantinople năm 428. Khó biết chính xác nội dung tư tưởng của ông. Dường như ông không chấp nhận cách giảng dạy và tuyên xưng của phần đông trong Giáo Hội về Đức Trinh Nữ Maria. Đức Maria thường được tuyên dương là “Mẹ Thiên Chúa” (Theotokos), ngay cả tại Constantinople là giáo phận của ông.
Theo ông và nhiều người cùng nhóm với ông, “tước hiệu ấy” (Mẹ Thiên Chúa) chỉ nên dùng cho đạo đức b́nh dân, không được đưa vào Phụng vụ và ngôn ngữ thần học. Tước hiệu ấy có màu sắc sai lạc theo kiểu Apollinaire. Trong Kinh Thánh, cũng như trong giáo phụ, không có chỗ nào dùng tước hiệu ấy, mà chỉ sử dụng cho Đức Maria tước hiệu “Mẹ Đức Kitô” (Cristotokos).
Dường như không có lúc nào Nestorio chối một cách tuyệt đối tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa”. Sự phủ nhận thường là trong văn mạch chống Apollinaire và “nhất-tính-thuyết” :
“Đức Maria là Theotokos, nghĩa là sinh ra Thiên Chúa hay là Anthropotokos, nghĩa là sinh ra con người ? Thiên Chúa có một người mẹ sao ? Các người Hy-lạp vẫn gán cho thần linh những người mẹ, vậy họ không có ǵ đáng trách sao ? … Đức Maria không sinh ra “thần tính” đâu ! Tạo vật không sinh ra Đấng không được tạo thành đâu ! Chúa Cha không sinh ra Ngôi Lời Thiên Chúa bởi Đức Maria (khiến Ngôi Lời chỉ hiện hữu từ lúc bấy giờ). Tạo vật không sinh ra Tạo Hóa, nhưng sinh ra con người là dụng cụ của thần tính”.
Khoa Giáo-phụ-học hôm nay có khuynh hướng xét lại những ǵ thánh Cyrillo thành Alexandria khẳng định về Nestorio. Theo thánh Cyrillo th́ Kitô-học của Nestorio chứa đựng những điểm chủ yếu sau đây :
Khẳng định Đức Kitô không phải là một mà là hai: Ngôi Lời thần linh và con người Giêsu ;
Lấy lại dưỡng-tử-thuyết của Paul de Samosate coi Đức Giêsu chỉ là một con người, là đền thờ của Thiên Chúa ;
Tŕnh bày sự hiệp nhất giữa Ngôi Lời với con người Giêsu như thuần túy ngoại tại, là một sự kết hiệp nhờ ân sủng, một sự kết hiệp thiêng liêng, đạo đức, chứ không phải là kết hợp trên b́nh diện hữu thể.
Nestorio luôn phủ nhận những lời cáo buộc này. Ông chỉ bận tâm bênh vực sự nguyên vẹn nhân tính của Đức Giêsu, chống lại trường phái Alexandria coi nhân tính ấy chỉ như một dụng cụ thuần túy thụ động của Ngôi Lời.
Nestorio làm nổi bật sự khác biệt giữa các đặc điểm của nhân tính và thần tính, đồng thời sự duy nhất giữa hai bản tính. Ông chống lại lời cáo buộc rằng ông rao giảng hai Đức Kitô. Ông dùng từ “nối kết” (synapheia, conjunctio) để tŕnh bày sự duy nhất, thay v́ dùng từ henosis (unio) để tránh sự lẫn lộn hai bản tính.
Nestorio không chấp nhận thành ngữ của thánh Cyrillo là “mia physis”, dịch từng chữ có nghĩa là một bản tính ; ông cho rằng thành ngữ này nghiêng về lạc giáo Apollinaire. Nhưng ông vẫn công nhận sự duy nhất hữu thể của chủ vi Đức Kitô, bên ngoài được biểu lộ bằng một “chủ vị” (prosopon) duy nhất, nơi hai bản tính gặp nhau.
3. Kitô-học của thánh Cyrillo.
Đối thủ và người buộc tội Nestorio là thánh Cyrillo, Giám mục Alexandria (370-444). Là một nhân vật cốt yếu của trường phái Alexandria ; lối suy tư thần học của ông khác hẳn lối suy tư của Nestorio. Ông không thể chấp nhận “Kitô-học phân ly” của trường phái Antiokia.
Tư tưởng thần học của thánh Cyrillo có thể tóm lược trong ba nét nổi bật sau đây :
a. Tuyệt đối trung thành với lược đồ “Logos-sarx” của trường phái Alexandria. Sau khi Apollinaire bị kết án, dù phải công nhận sự nguyên vẹn nhân tính nơi Đức Kitô, Cyrillo vẫn nhấn mạnh sự ưu việt tuyệt đối của Ngôi Lời thần linh, là chủ vị hoạt động trong Đức Kitô. Dù nguyên vẹn, bản tính nhân loại nơi Đức Kitô là một dụng cụ thụ động. Cyrillo tránh dùng thành ngữ “homo assumptus” của trường phái Antiokia.
b. Hệ luận của quan điểm nhấn mạnh sự duy nhất trọn vẹn nơi Đức Kitô là ư tưởng “chuyển thông đặc tính” (communication des idiomes). Có thể gán các đặc điểm của nhân tính cho thần tính, và ngược lại. V́ hai bản tính phân biệt, và v́ sự hiệp nhất mật thiết giữa hai bản tính ấy, có thể nói về thần tính như về nhân tính, và ngược lại. Để chống lại Nestorio, thánh Cyrillo cho rằng có thể gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, dựa trên nguyên tắc “chuyển thông đặc tính”. Các thánh giáo phụ đă có can đảm định tín Đức Trinh Nữ là Mẹ Thiên Chúa, không phải v́ Ngôi Lời nghĩa là thần tính bắt đầu hiện hữu nhờ Đức Trinh Nữ, nhưng v́ “thân xác thánh thiện được hồn thiêng linh hoạt, được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ, và Ngôi Lời kết hợp thân xác ấy với chính ḿnh, nên ta nói là Ngôi Lời sinh ra theo xác phàm”.
c. Kitô-học của thánh Cyrillo cô đọng trong thành ngữ “bản tính duy nhất của Ngôi Lời thần linh nhập thể” (mia physis) và nghĩ là của thánh Athanasio. Cyrillo dùng thành ngữ này, nhưng không phải theo ư của Apollinaire. Theo ông, thành ngữ này có nghĩa : các đặc điểm của nhân tính và thần tính đều hiện hữu cách trọn vẹn và không lẫn lộn nơi chủ vị duy nhất của Ngôi Lời nhập thể.
B. CÔNG ĐỒNG ÊPHÊSÔ (431).
Công Đồng được hoàng đế Teodosio II phương Đông và hoàng đế Valentiniano III phương Tây triệu tập tại Êphêsô vào dịp lễ Ngũ Tuần năm 431, để đưa lại sự b́nh an cho Giáo Hội đă trải qua sóng gió v́ cuộc tranh luận giữa Cyrillo và Nestorio.
V́ những lư do cụ thể, Thượng phụ Jean d’Antioche, các giám mục vùng Syria và các đại diện Ṭa Thánh không đến kịp, nhưng thánh Cyrillo vẫn cho khai mạc Công Đồng ngày 22.6.431. Chính trong ngày ấy, Nestorio và giáo thuyết của ông đă bị kết án bởi các nghị phụ Công Đồng, phần lớn thuộc phe Cyrillo. Sự kết án này được các đại diện Ṭa Thánh công nhận khi họ đến nơi và được tường tŕnh.
Công Đồng Êphêsô không có một văn bản tín lư nào riêng. Nội dung tín lư chủ yếu của Công Đồng là lá thư thứ hai của thánh Cyrillo gửi Nestorio đă được công khai đọc lên và tuyên bố là phù hợp với đức tin Công Đồng Nixê. Lá thư của Nestorio gửi cho thánh Cyrillo cũng được đọc lên và tuyên bố là nghịch với đức tin Công Đồng Nixê.
Chúng tôi trích một phần nội dung lá thư tín lư của thánh Cyrillo :
“Công Đồng thánh và vĩ đại đă định tín rằng : Đấng đă được Chúa Cha sinh ra là Con Duy Nhất do bản tính, Đấng là Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, là ánh sáng bởi ánh sáng, Đấng nhờ đó mà Chúa Cha tạo dựng muôn loài, chính Ngài đă xuống thế, đă nhập thể, đă làm người, đă chịu khổ h́nh, đă sống lại ngày thứ ba và đă lên trời.
“Chúng ta bị ràng buộc với định tín ấy trong lời nói cũng như quan niệm, khi chúng ta t́m hiểu ư nghĩa việc Ngôi Lời sinh bởi Thiên Chúa, đă nhập thể và đă làm người. Ngôi Lời đă kết hợp với chính ḿnh theo Ngôi Vị (secundum hypostasim), cách khôn tả và không quan niệm được, một xác thể được linh hoạt bởi ‘trí hồn’, đă trở thành người và đă được gọi là con người… Chúng tôi khẳng định nhiều bản tính khác nhau kết hợp với nhau thực sự thành một, bởi hai bản tính có một Đức Kitô và một Con. Không v́ sự duy nhất mà sự khác biệt bản tính bị loại trừ, nhưng chính v́ thần tính và nhân tính kết hợp với nhau, kỳ diệu và khôn tả, tạo nên cho chúng ta chỉ một Chúa, một Đức Kitô và một Con Duy Nhất.
“Ngôi Lời trở thành xác phàm chỉ có nghĩa : Ngài đă thông phần xác thịt và máu huyết như chúng ta, đă đảm nhận thân xác của chúng ta, đă sinh ra làm người bởi người phụ nữ, mà không đánh mất thần tính, không mất đi tư cách làm Con được Chúa Cha sinh ra. Khi đảm nhận xác phàm, vẫn tiếp tục là Đấng ḿnh đă là… Các thánh giáo phụ đă can đảm định tín ‘Đức Trinh Nữ là Mẹ Thiên Chúa’”.
Công Đồng Êphêsô đă xác nhận giá trị chính thống của lá thư này :
công nhận Kitô-học hiệp nhất của Cyrillo ;
xác nhận nơi Đức Kitô chỉ có một chủ thể duy nhất, đó là Ngôi Vị thần Linh ;
công nhận sự nguyên vẹn và trọn hảo của hai bản tính ;
chấp nhận ư tưởng “chuyển thông đặc tính” (communicatio idiomatum) ;
công bố tước hiệu “Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa”.
V́ trong Công Đồng Êphêsô năm 431 không có sự hiện diện của các nghị phụ trường phái Antiokia, nên năm 433, Công Đồng được bổ sung bằng một văn kiện hiệp nhất, cố gắng dung ḥa Kitô-học Alexandria với Kitô-học Antiokia : “Chúng tôi tuyên xưng Đức Giêsu-Kitô, Chúa chúng ta, là Con Thiên Chúa, là Con Duy Nhất, là Thiên Chúa trọn vẹn và là người trọn vẹn có ‘trí hồn’ và thân xác. Người được sinh ra bởi Chúa Cha từ trước muôn đời theo thần tính. Vào những ngày sau cùng, v́ chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Người đă sinh ra bởi Trinh Nữ Maria theo nhân tính, đồng bản thể với Chúa Cha theo thần tính, đồng bản thể với chúng ta theo nhân tính.
“Thực sự đă có hiệp nhất giữa hai bản tính. Chính v́ thế chúng ta tuyên xưng một Đức Kitô Duy Nhất, một Con Duy Nhất, một Chúa Duy Nhất.
“Dựa vào ư tưởng “hiệp nhất” mà không lẫn lộn ấy, chúng ta tuyên xưng Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Thiên Chúa, v́ Ngôi Lời thần linh đă nhập thể và đă làm người. Do sự thụ thai này, Ngôi Lời đă kết hợp với ḿnh Ngôi Đền thờ mà Ngài đă tiếp nhận từ Mẹ.
“Về những thành ngữ mà các Thánh Sử và các Tông Đồ gán cho Chúa, chúng ta biết rằng họ dùng một số thành ngữ để chỉ chung, nhằm Ngôi Vị Duy Nhất ; một số khác để chỉ riêng từng bản tính ; họ đă truyền lại cho chúng ta những thành ngữ xứng hợp với Thiên Chúa theo thần tính và những thành ngữ khiêm tốn theo nhân tính”.
Văn kiện hiệp nhất này lưu tâm đến các yếu tố ṇng cốt của cả hai trường phái. Các yếu tố của Alexandria là : sự duy nhất chủ thể ; sử dụng từ ‘hiệp nhất’ thay v́ từ ‘nối kết’ để chỉ sự duy nhất giữa hai bản tính ; gán việc nhập thể cho Ngôi Lời ; khẳng định tước hiệu “Maria là Mẹ Thiên Chúa”. Các yếu tố của Antiokia là : khẳng định hai bản tính ; sự kết hợp hai bản tính trong một ‘prosopon’.
Văn kiện c̣n dùng chữ “homoousios” không những để chỉ sự đồng bản thể với Chúa Cha, mà cả với chúng ta.
Tầm quan trọng của văn kiện này là sự gặp gỡ giữa hai lối tư duy, là diễn tả đức tin duy nhất của Hội Thánh bằng một ngôn ngữ không thuần túy trường ốc.
Chúng ta có thể gút lại nội dung Công Đồng Êphêsô như sau : vấn đề của Êphêsô không là tuyên xưng thần tính của Đức Kitô như Nixê, cũng không là khẳng định sự toàn vẹn nhân tính như Constantinople, nhưng là sự duy nhất của Đức Giêsu-Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật. Phải chọn cách giải thích và diễn tả của trường phái nào : Alexandria hay Antiokia ?
Trong quan điểm thần học Alexandria, người ta tự hỏi : Ngôi Lời đảm nhận một nhân tính đích thực như thế nào ? và câu trả lời là “Ngôi Hiệp” (sec-hypostasim). Trong quan điểm thần học Antiokia, người ta tự hỏi : con người đă được Ngôi Lời đảm nhận như thế nào ? và trả lời : Ngôi Lời cư ngụ trong con người và đảm nhận con người ; hai bản tính nguyên vẹn được nối kết trong một Prosopon.
Ngoài sự khác biệt quan điểm, c̣n có sự lộn xộn do ư nghĩa từ ngữ chưa rơ ràng. Chữ hypostasis và chữ physis nhiều lúc có ư nghĩa tương đương. Để chỉ “một hypostasis”, đôi khi Cyrillo dùng chữ “một physis” (una natura), điều mà Nestorio không thể chấp nhận được. Ư nghĩa từ ngữ sẽ được xác định rơ ràng trong Công Đồng Chalcédoine năm 451.
Cuộc tranh luận có vẻ như thuần túy hữu-thể-học ; nhưng nếu phân tích cho kỹ, chúng ta cũng thấy được b́nh diện cứu-chuộc-học. Khi đào sâu ư nghĩa sự “chuyển thông đặc tính”, phải gán cho Ngôi Lời những hành vi như : “Ngài đă làm người”, “đă chịu khổ h́nh, đă chịu chết, đă sống lại”.
Nestorio cố gắng minh chứng không khi nào được gán cho Ngôi Lời những hành vi thuộc về cuộc sống trần gian, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. Ông như ”phủ quyết” sự nhập thể thực sự của Thiên Chúa : Ngôi Lời không thể đau khổ. Thánh Cyrillo cũng đứng trước vấn đề nan giải là quan niệm triết học về “Thiên Chúa không thể đau khổ” và dữ kiện mạc khải là “Ngôi Lời đă trở thành xác phàm”, “đă chịu đau khổ, đă chết và đă sống lại”. Ông đă lựa chọn quan điểm của Kinh Thánh. V́ lư do đó, ông gán cho Ngôi Lời không những các đặc điểm của thần tính, mà cả những đặc điểm của nhân tính. Lập trường của ông nhằm bảo vệ ơn cứu độ đích thực được ban cho loài người nơi Đức Giêsu-Kitô.
V. CÔNG ĐỒNG CHALCÉDOINE (451)
KHẲNG ĐỊNH SỰ DUY NHẤT
TRONG SỰ PHÂN BIỆT HAI BẢN TÍNH NƠI ĐỨC KITÔ.
A. CUỘC KHỦNG HOẢNG “NHẤT-TÍNH-THUYẾT”.
Dù có văn kiện hiệp nhất năm 433 dung ḥa hai quan điểm thần học của Alexandria và Antiokia, tín lư của Công Đồng Êphêsô đ̣i phải được làm sáng tỏ thêm. Những người theo trường phái Antiokia vẫn chưa chấp nhận được sự hàm hồ của những thành ngữ mà thánh Cyrillo dùng : “mia physis”, “henosis kath’ hypostasin”. Cả hai thành ngữ này đều mang màu sắc “Nhất-tính-thuyết”. V́ ư nghĩa quá rộng của các từ “physis” và “hypostasis”, thành ngữ thứ nhất có thể được giải thích theo nghĩa một yếu tính hay một bản tính nơi Đức Kitô, và thành ngữ thứ hai như là sự kết hợp trong bản tính, trong bản thể, chứ không là sự kết hợp trong hiện hữu và trong ngôi vị.
Cũng không thiếu những người hiểu các thành ngữ của thánh Cyrillo theo nghĩa mặt chữ một cách cực đoan, và v́ thế, có thể bị buộc tội chủ trương “nhất-tính-thuyết”.
Khoảng cách 20 năm giữa Êphêsô và Chalcédoine (431-451) là thời gian giúp cho việc xác định từ ngữ và làm sáng tỏ nội dung ư tưởng “hiệp nhất hai bản tính” nơi Đức Kitô. Ngoài hai trường phái Đông phương, c̣n có sự góp phần của truyền thống Tây phương, chủ yếu do công tŕnh của Đức Thánh Cha Lêô Cả.
Chúng ta có thể tóm kết thành ba điểm :
1. Proclo, Thượng phụ Constantinople từ 434 đến 446, trong văn kiện gửi những người Arméniens năm 435 (Tomus ad Armenios) đă bênh vực Công Đồng Êphêsô và phủ quyết Kitô-học phân ly của Teodore de Mopsueste được coi là thầy của Nestorio. Nhưng khi khẳng định lại sự duy nhất nơi Đức Kitô, ông không dùng chữ physis mà dùng chữ hypostasis theo nghĩa chủ vị cụ thể : “Tôi tuyên xưng một chủ thể duy nhất là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể”. Trong công thức này của Proclo, chúng ta có thể nhận ra một nỗ lực xác định ư nghĩa theo chiều hướng ngôi vị.
2.Teodoreto, Giám mục Cyro gần Antiokia, người khởi xướng văn kiện hiệp nhất năm 433, đă viết tác phẩm “Người hành khất”, trong đó ông chống lại tư tưởng nhất-tính-thuyết bằng những lập luận vững chắc bảo vệ sự nguyên vẹn của cả hai bản tính, sự phân biệt hai bản tính và sự chuyển thông các đặc tính. Có lẽ trong tác phẩm này, Teodoreto nhắm đến Eutyke là người bảo vệ cách cực đoan thành ngữ “mia physis” của Cyrillo, đến mức chối bỏ sự đồng bản tính của Đức Kitô với chúng ta : “Tôi tuyên xưng Chúa chúng ta có hai bản tính trước khi hiệp nhất ; sau khi hiệp nhất, chỉ c̣n một bản tính”. Lạc thuyết của Eutyke bị kết án năm 448.
Năm 449, tại Êphêsô có một công đồng, sau này được gọi là “mẻ cướp Êphêsô” (cho lính của hoàng đế Teodosio II khủng bố các giám mục ; đại diện của Rôma trốn được), bênh vực Eutyke, lên án những người chủ trương hai bản tính, ngăn cản, không cho đọc văn kiện Tomus ad Flavianum của Đức giáo hoàng Lêô I. Những bạo động và lộn xộn trong công đồng này đă đưa đến cái chết của Flaviano, Thượng phụ Constantinople, địch thủ của Eutyke. V́ sự sai lạc về giáo lư cũng như v́ cách hành động không tốt của phe “nhất-tính-thuyết”, đă đến lúc phải có một phản ứng quyết liệt trong Giáo Hội chống lại lạc giáo và sự lộng hành của nó.
3. Lá thư tín lư của Đức Thánh Cha Lêô I gửi Flaviano là một văn kiện Kitô-học rất quan trọng của Giáo Hội Latinh, có lẽ là văn kiện duy nhất ảnh hưởng thực sự trên thần học Đông phương. Lá thư đề ngày 13.6.449, bênh vực Flaviano chống lại Eutyke. Lá thư là một tổng hợp truyền thống Kitô-học của phương Tây, đă từ lâu (từ Tertullianô đến Augustinô) phân biệt rơ ràng hai bản tính nơi Ngôi Vị Duy Nhất của Đức Kitô. Lá thư cho thấy thành ngữ hàm hồ “mia physis”, dù đă được thánh Cyrillo sử dụng, không phù hợp nữa. Đức Thánh Cha Lêô khẳng định Đức Kitô đồng bản thể với Thiên Chúa và đồng bản thể với loài người. Dựa trên lời tuyên tín phép Rửa, người nói đến việc Đức Kitô được sinh ra bởi Chúa Cha, và được sinh ra bởi Thánh Thần và Đức Maria. V́ lư do ấy mà Ngôi Lời có hai bản tính.
Lá thư nhấn mạnh sự nguyên vẹn của mỗi bản tính và sự gặp gỡ của hai bản tính trong sự duy nhất ngôi vị. Đối với Đức Lêô I, sự duy nhất ngôi vị là nền tảng cho những khẳng định về hai bản tính. Ngôi Vị không là kết quả của sự phối hợp hai bản tính, nhưng là Lời Tiền Hữu của Chúa Cha từ muôn thuở đă là Ngôi Vị. Khi đảm nhận bản tính nhân loại, không phải là một chủ vị mới xuất hiện, mà chính là chủ vị Ngôi Lời.
Lá thư cũng lập lại giáo huấn về sự “chuyển thông đặc tính” là nền tảng để gán cho thần tính những điều thuộc về nhân tính và ngược lại. Chống lại nhất-tính-thuyết, Đức Lêô I khẳng định là sau “Ngôi Hiệp” vẫn c̣n hai bản tính.
B. CÔNG ĐỒNG CHALCÉDOINE (451).
Công Đồng được triệu tập tại Nixê, sau dời về Chalcédoine, để cho hoàng đế Marciano (450-457) có thể hiện diện. Rất nhiều nghị phụ Đông phương tham dự. Về phía Giáo Hội Tây phương, chỉ có ba đại diện Đức Thánh Cha : Pascasino, Lucenzio và Bonifacio.
Công Đồng, trong cơ bản, hoàn tất công việc Eutyke c̣n bỏ dở : làm sáng tỏ sự duy nhất và sự phân biệt trong mầu nhiệm Đức Kitô.
Công Đồng đă soạn một văn kiện chính thức, được coi như lời tuyên xưng đức tin chính thống. Có thể phân chia văn kiện làm ba phần :
Phần I (từ câu 1 đến câu 15) tổng hợp giáo lư các Công Đồng trước ;
Phần II (từ câu 16 đến câu 24) là phần đóng góp chính của Công Đồng ;
Phần III (từ câu 25 đến câu 27) là phần kết thúc, cho thấy giáo huấn Công Đồng dựa vào Kinh Thánh và Truyền Thống.
Chúng tôi xin ghi lại đủ ba phần nội dung văn kiện Chalcédoine :
Phần I : “Theo các thánh phụ, chúng tôi đồng thanh dạy phải tuyên xưng cùng một Con Duy Nhất, Đức Giêsu-Kitô Chúa chúng ta. Chính Ngài hoàn toàn là Thiên Chúa ; chính Ngài hoàn toàn là người. Là Thiên Chúa thật và là người thật, có trí hồn và thân xác. Đồng bản thể với Chúa Cha theo thần tính, đồng bản thể với chúng ta theo nhân tính. ‘Giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi’ (Dt 4,15). Sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời theo thần tính, và trong những ngày sau cùng, v́ chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Ngài đă sinh ra bởi Trinh Nữ Maria Mẹ Thiên Chúa, theo nhân tính”.
Phần II : “Chính Ngài được nhận biết là Đức Kitô, là Con, là Chúa, là Con Một độc nhất và đồng nhất trong hai bản tính, không lẫn lộn, không biến đổi, không phân chia, không tách rời. Sự hiệp nhất không xóa bỏ sự khác biệt giữa hai bản tính. Nhưng điều ǵ riêng của từng bản tính đều được bảo toàn và kết hợp trong một ngôi vị, một chủ thể duy nhất. Ngài không bị tách ra hay phân chia làm hai chủ vị, mà là Con độc nhất và đồng nhất, là Con Một, là Ngôi Lời Thiên Chúa và là Chúa Giêsu-Kitô”.
Phần III : “Chúng tôi dạy tuyên xưng điều đó. Trước hết theo những diều các tiên tri đă nói về Người, theo điều chính Đức Kitô đă dạy, và theo như lời tuyên tín cha ông truyền lại”.
VI. CÔNG ĐỒNG CONSTANTINOPLE II (553)
GIẢI THÍCH LẠI CHALCÉDOINE.