LỜI NÓI ĐẦU
Khi nghe nói đến tâm nguyện có người
sẽ hỏi : “Cầu nguyện chưa đủ sao mà c̣n phải Tâm nguyện” ? Thánh tiến sĩ
Bênađô
trả lời cho chúng ta “Con
hỏi ta phải làm ǵ để nên trọn lành, ta sẽ bảo con, phải chuyên cần tâm nguyện.”
Thánh tiến sĩ
Bonaventure
cũng viết : “Nếu ta không
Tâm nguyện, th́ các nhân đức ta đă cố công rèn luyện được sẽ hóa ra khô cằn, rồi
dần dà những ư trái sẽ xâm nhập nó, sau cùng nó sẽ bị tận diệt”.
Thánh tiến sĩ SALESIO cũng một lập trường như hai vị trước, ngài đă ghi nhận :
“Tâm nguyện đem ánh sáng Thiên Chúa chiếu soi trí khôn ta, đem ư muốn ta hâm nóng trong ngọn lửa mến trên trời, v́ thế không có ǵ tẩy trí khôn ta khỏi các t́nh luyến ái hư hỏng cho bằng. Đó chính là nước phúc lành đem tưới nhuần nhă cho cây “ước nguyện” tốt đẹp, xanh tươi, nảy hoa kết quả, rửa sạch các khiếm khuyết, giải khát hồn ta khỏi thèm khát dục vọng.”
Vậy chúng ta sẽ t́m hiểu khái niệm về
tâm nguyện, về Hai Bậc Tâm nguyện. Tâm
nguyện bậc thường gồm có ba cấp:
Suy Nguyện - Cầu Nguyện -
Và Đơn Nguyện. Tâm Nguyện
bậc thần hiệp gồm bốn cấp :
Chiêm Niệm An Tĩnh, Toàn Hiệp, Xuất
Thần Và Siêu Biến.
Trong tập sách nhỏ này, chúng tôi sẽ tuần tự tŕnh bày trong năm chương :
1. Khái niệm tổng quát của Tâm Nguyện
2. Phương pháp và bảo chứng Tâm Nguyện hoàn hảo.
3. Tâm nguyện suy lư hay viết tắt là Cảm Nguyện.
4. Tâm nguyện cảm ái hay viết tắt là Cảm Nguyện
5. Tâm nguyện đơn giản hay viết tắt Đơn Nguyện
Và một Phụ Bản:
Khởi Thủy của Tâm Nguyện theo phương pháp
SOẠN GIẢ
XUÂN 91
Chương 9:
KHÁI NIỆM TỔNG QUÁT VỀ TÂM NGUYỆN
Trong bài này chúng tôi sẽ đề cập một
số vấn đề định nghĩa và phân loại tâm nguyện, tầm quan trọng và lợi ích, thời
gian,
không gian và phong độ khi tâm nguyện.
I. ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI
1. Định nghĩa :
Xét theo nghĩa chuyện khoa, tâm nguyện là một tiến tŕnh dài khởi công từ sinh hoạt đầu tiên là suy niệm luận lư hay gọi tắt là suy nguyện và chạy dài cho đến sinh hoạt cuối đường là chiêm niệm thủ đắc và nếu Chúa muốn là chiêm niệm thiên phú. Tuy nhiên trong thực tế người ta dùng lẫn lộn hai danh từ “suy niệm” và “tâm nguyện” như nhau. [1]
C̣n về nghĩa thông thường, để giúp am hiểu, trước hết chúng ta nên nhận diện một lần cho xong hầu tránh được sự hiểu lầm sau này về mặt danh từ tất cả các từ đồng nghĩa với tâm nguyện. Các từ đó là tâm niệm, suy niệm, suy gẫm, suy ngắm, nguyện gẫm, nguyện ngắm, chiêm ngắm, chiêm ngưỡng, chiêm niệm.
Vậy tâm nguyện là ǵ ?
Linh mục Romano Guardini ghi nhận tâm nguyện là “cách cầu nguyện không sử dụng lời nói, hướng về thinh lặng, nhằm t́m kiếm chân lư thần thiêng” [2]
Cha Thomas Merton viết rằng suy niệm
là suy nghĩ
nghiêm chỉnh bất cứ chủ đề nào không phân biệt đạo đời. Đó là một sinh hoạt trí
tuệ nghiêm chỉnh với một sức tập trung tư tưởng nào đó khả dĩ giúp con người
trên bước đường t́m kiếm chân lư. Tuy nhiên suy niệm tôn giáo không phải là một
sinh hoạt thuần túy trí thức, nhưng bao hàm không những trí tuệ mà cả con tim và
toàn thể con người chúng ta nữa. V́ thế nói tóm lại đặc điểm của suy niệm tôn
giáo ở chỗ nó là một sự t́m kiếm chân lư, phát sinh từ t́nh yêu và có chiếm hữu
chân lư không phải bằng hiểu biết mà thôi,
nhưng c̣n bằng t́nh yêu nữa.[3]
Hay nói cách khác tâm nguyện là “Lối cầu nguyện âm thầm bên trong bằng cách qui hướng tâm trí về Thiên Chúa mà không dùng đến ngôn ngữ tự phát hay do công thức qui định nhằm mục đích chu toàn nhiệm vụ đối với Thiên Chúa là t́m hiểu cùng yêu mến Ngài và đồng thời thánh hóa bản thân ta.”[4]
Định nghĩa cuối cùng này v́ nó tuy đơn giản nhưng rất bao quát, nên có thể áp dụng cách thỏa đáng cho mọi cấp bậc của công tŕnh tâm nguyện.
Vả lại định nghĩa này cũng nhấn mạnh cho chúng ta thấy con người sử dụng tất cả tâm trí vào tâm nguyện. Trí khôn suy nghĩ t́m ṭi đến độ xác tín chân lư hầu thúc đẩy ư chí yêu mến chân lư và ḷng mến nầy được thể hiện bằng quyết tâm chân thành và thực tiễn để nối gót Chúa Kitô.
2. Phân Loại
Tâm nguyện được chia làm hai bậc :
1/ Bậc thường cũng gọi là tâm nguyện
chủ động đi từ
tâm nguyện suy lư đến hết tâm nguyện đơn giản.
2/ Bậc thần hiệp cũng gọi là tâm
nguyện thụ động đi từ
sau chiêm niệm thủ đắc cho đến hết
chiêm niệm thiên phú cấp bốn.
Trong tâm nguyện bậc thường hay chủ động, nếu xét về phía Thiên Chúa, th́ Ngài vẫn phải ban ơn trợ lực “v́ không ơn Ngài chúng ta chẳng làm ǵ được” (Ga 15, 5). C̣n xét về phần con người, nữ thánh tiến sĩ Têrêsa Avila (trong Tự Thuật chương XI) thay v́ dùng lư thuyết trừu tượng Ngài đă diễn tả bằng một h́nh ảnh cụ thể: “chúng ta có thể so sánh người thi hành tâm nguyện bậc thường giống như những người làm vườn với đôi tay rắn chắc cố gắng kéo nước từ giếng sâu để tưới ướt cả khu vườn mọc đầy hoa thơm cỏ lạ.”[5] Quả thật trong bậc tâm nguyện này sức cố gắng của con người rất nhiều và được thu gọn vào hai tác động của “trí” gồm suy luận hay nh́n ngắm và tác động của : “tim” gồm tâm sự và quyết tâm.[6]
Vậy khi con người đặt nặng suy tư, t́m kiếm bằng suy luận th́ gọi là tâm nguyện suy lư hay gọi tắt là suy nguyện. C̣n khi chúng ta chú trọng than thở, tâm sự hoặc trao trút tâm t́nh cảm ái th́ gọi là Tâm nguyện cảm ái hay gọi tắt là Cảm Nguyện.
Nếu người ta chỉ giữ đức ái th́ gọi
là Tâm nguyện
đơn giản hay gọi tắt là Đơn Nguyện, v́ xét theo b́nh diện
Tâm nguyện bậc thường nó là một giai đoạn khác thường của tâm nguyện bậc thường.
C̣n nếu đứng về phía Tâm nguyện Thần hiệp th́ nó chỉ là ngưỡng cửa của bậc này
tức là thuộc Hiệp đạo đơn giản, v́ thế được gọi là Tâm nguyện chiêm ngưỡng thủ
đắc hay gọi tắt là Chiêm Niệm Thủ Đắc.
Tâm nguyện thần hiệp hay thụ động là
loại
Tâm Nguyện mà “Thiên Chúa muốn ban cho ai tùy ư Ngài”. Khi Ngài dẫn dắt họ đến
Hiệp đạo Thần bí. Trong trường hợp này Tâm nguyện Thần bí được gọi là Tâm nguyện
Chiêm ngưỡng Thiên phú hay gọi tắt
chiêm niệm thiên phú.

Nói tóm lại,
I. Tâm nguyện bậc thường hay
Tâm nguyện chủ động gồm ba cấp:
1/ Tâm nguyện suy lư gọi tắt là Suy Nguyện.
2/ Tâm nguyện tâm t́nh hoặc cảm ái
gọi tắt là
cảm nguyện.
3/ Tâm nguyện đơn giản gọi tắt Đơn nguyện hay là Tâm Chiêm niệm Thủ Đắc.
II. Tâm nguyện bậc thần hiệp hay thụ động
cũng gọi là tâm nguyện chiêm ngưỡng thiên phú
hay gọi tắt Chiêm niệm Thiên Phú gồm bốn cấp :
1/ Chiêm niệm An Tĩnh.
2/ Chiêm niệm toàn hiệp.
3/ Chiêm niệm xuất thần.
4/ Chiêm niệm Siêu biến.
Theo Cha Rodriguez trong quyển ”De
loraison, ch.VI, sub fine” các cấp bậc tâm nguyện rất phù hợp với tam đạo trong
Đường hoàn thiện là Thanh đạo, Minh đạo và Hiệp đạo.
Thanh đạo là con đường chiến đấu gian
lao, v́ tâm hồn bị ch́m ngập trong biển trần ai, đầy thử thách, đầy cạm bẫy và
hơn nữa tâm hồn mới bước vào đàng trọn lành với tư cách là một tập sự non yếu,
v́ thế muốn được giải thoát các cạm bẫy thử thách và củng cố trong t́nh yêu
Chúa, con người cần dùng suy nguyện hầu kiên định xác tín chân lư mạc khải, thúc
đẩy ư chí, nâng cao tâm hồn lên
Thiên Chúa bằng những quyết tâm chân thành và thực tiễn.
Trong minh đạo theo Thánh Toma
(Sum 2.2, q.24, a.9) và Suarez (De statu religioso, lib I, tract VII, cap
XIII, n.8, 9) các
dục t́nh nơi con người đă lắng dịu phần nào, ḷng mong ước nên hoàn thiện ngày
càng cao, v́ thế đối với hạng người này th́ suy luận ít cần mà trái lại tâm t́nh
cảm ái lại cần hơn. Do đó với họ tâm nguyện cảm ái là thích hợp vậy.
[vpdcv1][vpdcv2]Sau cùng trong hiệp đạo, tâm hồn chăm lo kết hiệp với Chúa là hạnh phúc vĩnh cữu, v́ thế họ cố tạo cho tâm hồn thanh thản để thưởng lăm Ngài. Do đó đối với họ chiêm niệm thủ đắc là ám hợp, đó là nói về Hiệp đạo đơn giản. C̣n khi nào Thiên Chúa muốn d́u linh hồn vào Hiệp đạo Thần bí, lúc bấy giờ chiêm niệm Thiên phú là đặc quyền của họ.
Khẩu nguyện và Tâm nguyện khác nhau như thế nào ?
Để trả lời, tôi xin dẫn chứng và phân
tích lời của
linh mục Guardini :
“Khẩu nguyện chỉ cốt để diễn tả cho Chúa quyết định của ta”.
“Khẩu nguyện dựa trên chân lư đức
tin, nhưng không có
mục đích t́m chân lư đức tin”.
“Khẩu nguyện chỉ là thờ lạy, xin ơn, cám ơn, (tạ lỗi)”
C̣n trái lại
“Tâm nguyện t́m chân lư thánh thiện”.
“Tâm nguyện muốn biết Thiên Chúa là ai, Nước Trời là ǵ, thân phận con người như thế nào, vấn đề hiện sinh của thế giới làm sao và đâu là h́nh ảnh đích thực về vũ trụ[7]
- Vậy cầu nguyện và tâm nguyện, điều nào quư hơn ?
Thánh tiến sĩ Alphonsô trả lời cho chúng ta :
“Có những linh hồn đạo đức dùng nhiều thời giờ đọc sách suy ngắm, song ít chú tâm cầu nguyện. đọc sách thiên liêng, suy gẫm các lẽ chân thật đời đời, quả là việc rất hữu ích, song thánh Augustinô cho sự cầu nguyện c̣n lợi hơn nhiều : “Nhờ đọc sách, suy gẫm ta hiểu biết bổn phận ḿnh, c̣n nhờ cầu nguyện ta xin được ơn trợ giúp để chu toàn bổn phận ấy. “Nếu không làm điều phải làm, th́ biết mà chi ? Chẳng qua chỉ làm cho ta thêm tội trước mặt Chúa” [8]
II. TẦM QUAN TRỌNG VÀ LỢI ÍCH
1. Tầm Quan Trọng
Nơi đây chúng tôi sẽ bàn về nhu cầu khẩn thiết đối với tất cả mọi Kitô hữu nói chung và đối với từng hạng người trong Dân Chúa nói riêng.
Muốn nên trọn lành thánh thiện, chúng
ta cần phải biết ḿnh mắc phải tội xấu nào hầu lo bài trừ, biết ta cần tập luyện
nhân đức nào cho xứng với chức vụ ḿnh nhận lănh. Vậy nếu ta không
tâm nguyện th́ làm sao ta biết con người ḿnh được. Do đó thánh Bênađô dạy : “Kẻ
chẳng nguyện gẫm th́ không nhận thấy tính hư tật xấu ḿnh mà đem ḷng chê ghét.”[9]
Thánh Têrêsa c̣n nói mạnh hơn: “Nhiều lần chúng ta tưởng ḿnh chẳng có tính hư
tật xấu nào, song khi Chúa mở con mắt linh hồn ta ra, như Chúa thường làm trong
giờ nguyện gẫm, lúc ấy ta mới thấy chúng nó đông số chừng nào”[10].
Nơi khác thánh nhân ghi nhận: “Một linh hồn cứ nguyện gẫm thường xuyên, th́ linh
hồn ấy thoát khỏi tay ma quỷ đời đời. Bằng ai bỏ phế việc nguyện gẫm, th́ chẳng
cần có ma quỷ kéo nó xuống hỏa ngục, tự nó sẽ chạy chuồi vào đó”
[11].
Thánh Phanxicô Salêsiô trong quyển
Introduction à la vie dévote : Sống thánh giữa đời, dịch giả Hoàng Minh Tuấn,
nhà in Đức Mẹ, Saigon 1965, trg 75 đă viết : “V́ nguyện gẫm đem ánh sáng Thiên
Chúa soi sáng tới ta, đem ư muốn ta hâm nóng trong lửa
t́nh yêu trên trời nên không ǵ tẩy trừ trí khôn ta khỏi các ngu muội và ư muốn
ta khỏi cái tính luyến ái hư hỏng cho bằng. Đó là nước phúc lành đem tưới nhuần
nhă cho cái cây nguyện ước tốt được xanh tươi lại nảy hoa, rửa hồn ta sạch các
khuyết điểm, giải thoát hồn ta khỏi thèm khát dục vọng”
Đă hẳn nguyện gẫm không phải là một nhu cầu cấp thiết đối với tất cả mọi người.
Đối với giáo dân, tuy là hữu ích, nhưng chưa phải là cần thiết mọi đàng.
Linh mục Nguyễn Tri Thức đă viết :
“Đối với một số người lam lũ, không được ưu đăi về phương diện văn hóa, năm hay mười phút trước khi ngủ hay sau khi thức dậy hoặc trong giờ viếng Thánh Thể có khi cũng tạm đủ. Điều quan trọng là phải trung kiên, đừng ngày nào bỏ thiếu” [12].
Phải chăng linh mục căn cứ vào lời
giải thích của tác giả
trứ danh Dorothy Dohen: “Nếu thành thực mà nói, tất cả thời giờ ta có thể kiếm
ra để nguyện gẫm chỉ được chừng năm phút - là v́
hoàn cảnh này phát xuất do thánh ư Chúa v́ chúng ta nhớ rằng:
giá trị của sự cầu nguyện không ở tại sự lâu giờ mà ở tại yêu mến”[13].
- Đối với chủng sinh, Công đồng Vatican II dạy :
“Phải dạy họ (chủng sinh) biết t́m gặp Chúa Kitô trong việc trung thành suy gẫm Lời Chúa, trong việc thông hiệp tích cực các Mầu nhiệm chí thánh của Giáo Hội” (ĐT số 8a)
- Đối với Tu sĩ, Sắc lệnh khuyên bảo :
“Tu sĩ của các hội ḍng phải cần tập
luyện tinh thần
cầu nguyện và cả sự cầu nguyện, múc lấy nơi nguồn mạch đích thực của nền tu đức
Kitô giáo. Trước hết, hàng ngày phải có quyển
Kinh Thánh trong tay, để nhờ đọc và suy gẫm mà học được những “kiến thức siêu
nhiên về Chúa Giêsu Kitô” (Pn 3,8) (ḍng tu số 6b).
- Đối với các linh mục, “để trung thành chu toàn thừa tác vụ của ḿnh, các ngài phải chuyên tâm đàm đạo hàng ngày với Chúa Kitô... bằng nhiều cách, nhất là bằng Tâm nguyện vẫn được thực hành trong Giáo Hội” (LM số 18c)
2. Lợi Ích
Tâm nguyện mang lại lợi ích cho chúng ta thuộc cả hai phương diện: tích cực và tiêu cực tức là tu thân và tích đức.
a. Tu Thân:
Do nguyện gẫm chúng ta có thể sửa lại
những ǵ làm ta sống xa Chúa như tội nhẹ, những ǵ chận đứng bước tiến của chúng
ta muốn vươn lên cùng Ngài như những khuyết điểm, những tánh hư
tật xấu và biết cách phục hồi sự sống linh hồn nếu chúng ta mắc tội trọng làm
mất ân nghĩa cùng Ngài.
Sở dĩ con người chúng ta dễ dàng sa
ngă phạm tội là v́ ngoài sự từ chối ơn Chúa, một phần bởi chúng ta thiếu suy
nghĩ những
hậu quả gớm ghê do tội gây ra cho ta đời này và đời sau. Phải chăng tội là
nguyên nhân giết Chúa Kitô trên thập giá? Vậy nhờ
nguyện ngắm, những chân lư này được vạch trần ra trước mắt chúng ta làm cho
chúng ta gớm ghét tội, và một khi nếu lỡ lầm hay yếu đuối ngă phạm, chúng ta
nhanh chóng sám hối và canh tân cuộc sống.
b. Tiến Đức :
Nhờ tâm nguyện chúng ta biết Chúa là Đấng nào và chúng ta là ai. Thiên Chúa quyền phép, cao cả, siêu việt nhưng lại yêu thương con người cho đến nỗi phó thác Con Một Ngài chết trên khổ giá v́ chúng ta.
Con người chúng ta là con số không trước Nhan Thánh Chúa và c̣n kém hơn số không nữa v́ chúng ta lỗi phạm mất ḷng Ngài.
Nhờ nguyện gẫm, chúng ta biết duy có Thiên Chúa mới là hạnh phúc thật, c̣n thế gian là nơi tạm gửi, của đời này là phù vân “Vanitas vanitatum et omnia vanitas” “Hư vô ảo ảnh hư không, hư vô hết thảy chẳng nông nỗi ǵ” (Gv 1,2)
Nhờ nguyện gẫm, chúng ta dễ thực hành
các nhân đức
đối thần cũng như luân lư. Chúng ta thấm nhuần các chân lư về Chúa, về t́nh yêu
cuả Ngài. Chúng ta biết khổ chế dục t́nh.
Chúng ta biết phán đoán và hành động theo ánh sáng Phúc Âm.
Các thánh nhân qua các thời đại đă am
tường hơn ai những
lợi ích của sự nguyện gẫm, do đó các ngài đă để lại cho chúng ta bao giáo huấn
vừa quí giá vừa hữu ích.
- Thánh Lôrensô Giám Mục dạy: “Sự
nguyện gẫm khai trừ cơn cám dỗ, giải thoát tính buồn bực, củng cố linh hồn, giục
ḷng
sốt sắng và nhen lửa yêu mến Chúa cháy lên ngày càng mạnh ngọn hơn.”[14]
Thánh Bênađô tóm lược các lợi ích của sự nguyện gẫm trong một câu đầy ư nghĩa : “Nguyện gẫm thanh tẩy linh hồn... Linh hồn, dẹp tan t́nh dục, chỉ vẽ cách sửa tính hư nết xấu, điều chế mọi việc, ban ơn hiểu biết sự trên trời và những điều tạm bợ nơi dương thế”.[15]
Thánh Phêrô Alcantara đă trích dẫn và
phân tích lời của thánh tiến sĩ Bonaventura theo lối văn truyền cảm và những lời
“hăy trở thành người thực thi tâm nguyện” được lặp đi lặp lại như một điệp khúc.
“Nếu con muốn chấp nhận cách nhẫn nại mọi thử thách và đau khổ ở đời này, hăy trở thành người thực thi tâm nguyện.
“Nếu con người đạt được đức can đảm chiến thắng mọi chước cám đỗ của Satan, hăy trở thành người thực thi tâm nguyện.
“Nếu con muốn sống trong hoan lạc và tiến bộ nhẹ nhàng trên con đường khổ chế, hăy trở thành người thực thi tâm nguyện.
“Nếu con muốn diệt trừ những tư tưởng không đâu và những lo âu áy náy, hăy trở thành người thực thi tâm nguyện.
“Nếu con muốn củng cố ư chí hầu bền
tâm tiến bước hoàn hảo và bằng những khát vọng thánh đức, hăy trở thành người
thực thi
tâm nguyện.
“Nếu con muốn củng cố ư chí hầu bền tâm tiến bước trong đường lối Chúa, hăy trở thành người thực thi tâm nguyện.
“Sau cùng nếu con muốn bài trừ tất cả mọi tật xấu và vun trồng mọi nhân đức, hăy trở thành người thực thi tâm nguyện.
“V́ chính trong tâm nguyện mà con nhận lănh ân điển và sự kết hợp cùng Chúa Thánh Linh. Chính Người dạy con tất cả đều đó.[16]
III. THỜI GIAN, KHÔNG GIAN VÀ PHONG ĐỘ
Nhờ cầu nguyện cũng như nhờ tâm nguyện, con người được tiếp xúc với Thiên Chúa, Đấng vô h́nh hiện diên khắp nơi, do đó con người có thể thực hành hai việc ấy mọi lúc khắp nơi. Tuy nhiên muốn cầu nguyện và cách riêng thực thi tâm nguyện cách hoàn chỉnh, con người với thân phận đơn hèn hay lo ra chia trí, mệt nhọc, khổ cực và lại thường bị cám dỗ, cần phải tạo bầu khí thuận lợi tức là tổ chức vào thời gian qui định trong môi trường yên tĩnh và con người c̣n phải giữ nề nếp khi ra trước Thiên nhan.
1. Thời gian :
Danh từ thời gian nơi đây phải hiểu là thời giờ (le temps) và thời hạn (la durée).
Tâm nguyện như đă nói trên có thể thực thi bất cứ lúc nào, nhưng theo kinh nghiệm của các nhà linh đạo học nhất là của các thánh nhân, nên tổ chức tâm nguyện vào giờ ban mai, ban chiều trước khi dùng bữa và giữa đêm khuya. Nếu chúng ta chỉ tâm nguyện được một lần trong ngày, th́ tốt nhất là chọn buổi mai, v́ thể xác khỏe khoắn sau một đêm ngon giấc nên tinh thần được minh mẫn và sự chia trí lo ra chưa có đất dung thân. Thánh Augustinô dạy “Thời gian thuận lợi dành cho việc cầu nguyện là giờ tiếp sau tiếng gà gáy sáng : Post galli cantum consuevit esse tempus orandi”[17].
Phải chăng đây là tư tưởng phát xuất từ Thánh Vịnh đă ghi :
V́ con cầu khẩn với Ngài, Lạy Chúa.
Từ sáng sớm Chúa nghe tiếng con
Từ sáng sớm con tŕnh diện Chúa
và chăm chú đợi trông” (TV 5,4)
“Từ rạng đông, xin được nghe nói về t́nh thương Chúa, v́ con trông cậy Ngài.” (Tv 132,8)
“Phải đón trước mặt trời mà tạ ơn Chúa, và đi gặp Chúa trước khi ánh sáng mọc lên” (Kng, 16,28)
C̣n về thời hạn, theo nguyên tắc chung do cha Ribet đề ra là phải “tương xứng với sức lực, tùy ḷng sốt sắng và nghĩa vụ của mỗi người” [18]
Phải chăng nguyên tắc này là con đẻ của giáo thuyết do thánh Tôma Tiến sĩ chủ xướng.
“Mỗi người hăy qui định cho ḿnh một thời gian xứng hợp, không quá vắn cũng không quá dài. Số lượng thời giờ dành cho tâm nguyện phải tương xứng với nghĩa vụ nghĩa là nó không làm phương hại cho việc chu toàn bổn phận cũng như cho sức khỏe v́ do tâm nguyện cũng làm cho con người ra suy nhược. Vả lại tâm nguyện cũng cần phải cân xứng với tŕnh độ tinh thần tức là ta phải kéo dài thời gian bao lâu nhiệt độ đạo đức thật c̣n tác động và chấm dứt ngay khi ta cảm thấy hết hứng thú” [19]
Vậy công việc đầu tiên là ấn định thời giờ tâm nguyện cho rơ ràng hầu có thể giải tỏa những chướng ngại vật hoặc cản ngăn hoặc làm bê trễ nhiệm vụ của ta. v́ sự điều ḥa và liên tục là hai đặc tính của tâm nguyện tốt. Rồi ta cũng đừng quên ngoài giờ ấn định, ta cũng cố gắng tạo ra những cơ hội thuận lợi để nâng tâm hồn lên với Thiên Chúa bằng nhớ lại những quyết tâm, những suy tư cô đọng tức là cây bông thiêng liêng, công việc này được thực hiện càng nhiều càng tốt.
Chúng ta phải tâm nguyện bao lâu ?
Là con người sống trong xă hội ngày
ngay, chúng ta rất ít được sử dụng thời giờ theo ư định, dầu vậy chúng ta cũng
cố gắng
hết sức hầu đề ra mỗi ngày “ít là nửa giờ" theo lời dạy của một số nhà linh đạo
học và nhiều thánh nhân.
Đă nói “ít là nửa giờ” tức là thời hạn tối thiểu rồi, ta không nên rút ngắn nữa, v́ nhiều tu viện c̣n thực hành tâm nguyện có khi một giờ, một giờ rưỡi hay hai giờ chia làm ba đợt : sáng, trưa và tối.
Thánh Phanxicô Salesio chuyên linh hướng giáo dân, linh mục, tu sĩ suốt đời họat động tông đồ, yêu cầu phải dành ra mỗi ngày một giờ tâm nguyện. Tuy nhiên, thời nay cuộc sống dồn dập, một giờ suy ngắm hẳn quá dài nhất là cho ai phải đi làm. Cũng có thể chia đôi, nửa sáng nửa chiều” [20] c̣n thánh Anphongso rất sành tâm lư dạy rằng : ta nên gia tăng dần tùy theo nhiệt độ đạo đức của mỗi người, tuy nhiên khi mới bắt đầu tâm nguyện ta không nên yêu cầu quá 30 phút [21].
Hăy noi gương sáng Chúa Cứu Thế đă cầu nguyện và các thánh đă yêu nguyện gẫm lâu dài thế nào.
Chúa Giêsu cầu nguyện thâu đêm.
Thánh Carôlô Barrômêô, Giám mục thành Milan, dù trắc trở nhiều việc, ngài cũng đă kiếm được mỗi ngày ba bốn giờ để nguyện gẫm.
Thánh Luy Gônzaga rất yêu chuộng song thân mật chuyện văn với Chúa, nên khi đă chu tất các bổn phận, th́ ngài dùng tất cả thời giờ rảnh rỗi để nguyện gẫm.
Chúng tôi xin nhắc lại một lần nữa, nếu bạn chưa có thể thực thi nguyện gẫm lâu giờ như các thánh th́ ít ra bạn hăy dốc ḷng nguyện gẫm mỗi ngày ít là nửa giờ và không bỏ ngày nào. Giả như đến giờ qui định mà ta mắc trở việc khác các bạn đừng ngần ngại, song hăy t́m giờ khác bù lại.
Thiết tưởng khi khảo sát về thời gian
tâm nguyện chúng ta cũng nên nói đến sự uyển chuyển (souploesse) trong khi sử
dụng thời biểu. Ngày nay con người sống giữa những hoạt động bề bộn dồn dập,
linh mục và tu sĩ cũng thế. Họ cảm thấy đến nỗi không sao đáp ứng được tất cả.
Tác vụ đă khẩn cấp và tới tấp, lại thêm lắm khi đột xuất làm đảo lộn thời dụng
biểu ấn định. Thí dụ một linh mục lúc c̣n thụ huấn ở chủng viện hay một chủng
sinh trong khóa học rất trung thành thực thi tâm nguyện v́ có thời biểu ấn định
hẳn hoi, nhưng đến khi hoạt động ở xứ đạo, chẳng hạn vừa chuẩn bị nguyện gẫm,
có người xin Cha ban phép giải tội, hay có kẻ cần hơn xin Cha ban phép xức dầu
Thánh cho kẻ hấp hối sắp chết. Bao dự định đều đổ vỡ. Linh mục phải chủ tŕ
những buổi hội họp kéo dài trong đêm khuya, chủng sinh về gia đ́nh quen thức
khuya, rồi sáng hôm sau phải dậy sớm để cử hành hay tham dự thánh lễ, dĩ nhiên
giờ tâm nguyện sẽ bị thu ngắn. Mà nếu sự việc xảy ra thường, th́ giờ tâm nguyện
chỉ c̣n là một bóng ma...
Chúng ta phải t́m cách nào để giải
quyết t́nh trạng này ?
Đó là vấn đề “uyển chuyển”
Chính Chúa Kitô đă nêu gương cho
chúng ta về vấn đề này. Chúng ta có thể t́m thấy một thí dụ điển h́nh trong đoạn
14,
Tin mừng Thánh Matthêu.
Trong câu 13, xúc động trước cái chết của Gioan Tẩy Giả, Đức KItô cảm thấy cần rút lui vào cô tịch để cầu nguyện và Người đă thực thi, nhưng
Trong câu 14, dân chúng tuôn đến t́m
Người, khiến Người không thể thực hiện được dự định. Đức Kitô đổi ư : Người bỏ
giờ
cầu nguyện này để chăm lo chữa trị các bệnh nhân.
Trong câu 15 và 16, chính Ngài cầm giữ dân chúng lại, v́ sau khi chữa lành các bệnh nhân, Người c̣n lo cho họ có bữa ăn no nê đầy đủ, đó là phép lạ hóa bánh ra nhiều lần thứ nhất.
Kỳ thực, Đức Kitô có từ bỏ giờ cầu nguyện này luôn không ? Không, v́ Người chỉ xê dịch nó thôi chính trong câu 23 chúng ta thấy Người thể hiện dự định đă nói ở câu 13, cho dân chúng giải tán rồi, Người lên núi riêng một ḿnh cầu nguyện. Chiều đến chỉ có một ḿnh Ngài ở đó” [22].
2. KHÔNG GIAN :
Xét về nơi chốn th́ tùy theo tâm trạng của mỗi người. Đối với người này, có thể là một căn pḥng yên tĩnh, c̣n với người kia là cánh đồng hoa thơm cỏ lạ. Nhưng thiết tưởng không một nơi nào dễ cầm trí, dễ kết hợp với Chúa hơn là Nhà Nguyện.
Quả thực nhà nguyện là nơi thuận lợi nhất v́ không một ai quấy rầy và quí trọng nhất, vả lại nơi đây có sự hiện diện của Chúa Giêsu Thánh Thể.
Về điểm thứ nhất của câu trên, thánh Phanxico Salêsiô đă viết: Con nên suy gẫm trong nhà thờ, và nếu con t́m thấy ở đó đủ yên tĩnh, th́ thật là một điều rất tiện và thích hợp v́ chắc không ai dù cha mẹ vợ chồng hay ai khác lại có thể ngăn cấm con ở lại một giờ trong nhà thờ” [23].
C̣n về phần thứ hai, Đấng chân phúc Gioan Avila quả quyết: “Không có chỗ nào ẩn ḿnh khéo, cũng không có nhà nguyện nào sốt sắng và đáng ao ước bằng một nhà thờ có Chúa Giêsu đang ngự trong Phép Thánh Thể”.
Thánh Anphongsô cũng dạy : “Pḥng riêng con đă hẳn là nơi thích hợp để nguyện gẫm. Nhưng đối với các tu sĩ, c̣n một nơi khác khéo hơn : Là chỗ trên bao lơn trước mặt Chúa Thánh Thể” [24].
C̣n về pḥng riêng của ta chính Chúa Kitô đă chẳng dạy : “C̣n ngươi khi cầu nguyện th́ hăy vào buồng khóa cửa lại mà cầu nguyện với Cha ngươi, Đấng thấu suốt cả nơi kín ẩn sẽ hoàn trả lại cho người” (Mt 6,6)
Sau cùng chúng ta nên tâm niệm điều linh mục R.Guardini nhắn nhủ chúng ta về đền thờ đẹp ḷng Thiên Chúa nhất là tâm hồn chúng ta.
“Chúng ta chớ lầm tưởng rằng chỉ đến thánh đường mới là cầu nguyện. Rất nhiều người hiện diện trong thánh đường nhưng vẫn không cầu nguyện, miệng họ kêu “Lạy Chúa” nhưng ḷng họ xa Chúa không biết bao nhiêu. Do đó, ta có thể kết luận rằng đền thờ là trung tâm lư tưởng để cầu nguyện, có bầu khí thích hợp nhất so với mọi nơi khác để t́m thấy Chúa. Kết hợp anh em trong t́nh bác ái mà tôn vinh Chúa. Nhờ sự hiện diện của Chúa trong bí tích Thánh Thể, chúng ta dâng hiến hy sinh cực thánh lên Chúa Cha. Mỗi lần tụ họp trong thánh đường, chúng ta chuẩn bị tuyên xưng Chúa chịu tử nạn và phục sinh cho tới khi Chúa đến. Nhưng c̣n một đền thờ khác gắn liền với ta, ở trong ta, một đền thờ sống động là chính tâm hồn ta” [25].
3. PHONG ĐỘ :
Phong độ tức là cử chỉ, bộ điệu phải giữ trong khi cầu nguyện cũng là điều không kém quan trọng. Đă hẳn linh hồn cầu nguyện chớ không phải thân xác, nhưng giữa linh hồn và thể xác có ảnh hưởng qua lại, do đó chúng ta phải giữ ǵn thế nào cho thân xác tạo điều kiện thuận lợi cho linh hồn để hồi tâm tỉnh trí, hầu khi thi hành nghĩa vụ đối với Thiên Chúa. Lần giở lại Thánh Kinh, chúng ta thấy đủ bộ điệu trong khi cầu nguyện : Vua thánh David và tiên tri Elia ngồi cầu nguyện (2 Sm 7,18) (1 Vua 18,24) thánh Stêphanô (CVTĐ 7,59) thánh Phaolô (CVTĐ 20,36) và rất nhiều vị khác th́ qú gối; người Biệt phái và thu thuế đứng cầu nguyện (Lc 18,11 - 13). C̣n Đức Kitô Chúa chúng ta trước mộ Lazarô đứng cầu nguyện cùng Cha Người (Ga. 11-41), trong nhà tiệc ly Người ngồi giữa các Tông Đồ đọc lời nguyện hiến tế (Ga 17) nhưng trong vườn Cây Dầu Người quỳ gối (Lc 22,41) có lúc lại sấp ḿnh xuống đất phủ phục (Mc.14,35).
Vậy tóm lại chúng ta nên chọn bộ điệu cử chỉ nào biểu lộ sự nghiêm trang kính cẩn và ḷng khiêm tốn van nài Thiên Chúa thật sự khi cầu nguyện. Nếu buổi tâm nguyện lâu giờ ta có thể thay đổi cử chỉ điệu bộ như qùy, đứng ngồi hay đi tản bộ miễn là làm sao cho tâm trí dễ dàng nâng lên cùng Thiên Chúa trong khi gặp gỡ Ngài.
Sau đây để kết thúc và nhằm mục đích cổ vơ sự siêng năng chăm chỉ cầu nguyện, chúng tôi xin ghi lại đôi tiểu tiết về nữ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, từ hồi nhỏ tuổi, đă biết tạo bầu không khí thuận lợi để nâng tâm hồn lên Chúa bằng tâm nguyện. Lúc thân phụ đi câu cá, Têrêsa thuật lại :
“Thường thường con thích ngồi xa xa trên đám cỏ lăn tăn, những khi ấy trí khôn con ngẫm nghĩ rất xa xăm, và tuy chưa biết nguyện ngẫm, linh hồn con cũng như mê mệt trong việc trao đổi t́nh ư thân thiết cùng Chúa...Trong những lúc buồn vui lơ lững ấy, con cảm thấy rơ ràng thế gian là chốn lưu đầy, bơ vơ,...Ḷng lại mong mỏi về nơi phúc lạc ! ” [26].
Qua những lời tường thuật trên, Têrêsa không nói rơ về đối tượng suy tư thầm sâu của ḿnh, nhưng nơi khác chị cho chúng ta biết rơ ràng hơn :
“Một lần kia ở trường học, có bà giáo hỏi con về trại Buissonnets chăm làm những việc ǵ, con nhút nhát thưa rằng: Con thường lẻn vào góc pḥng bên trong màn che giường con, và ở đấy con suy nghĩ... Con suy nghĩ cái ǵ ? Bà giáo cười hỏi tiếp - con suy nghĩ Đức Chúa Trời, con suy nghĩ cuộc đời mau chóng, con suy nghĩ sự đời đời hằng có măi, tắt rằng con suy nghĩ! Bà giáo nhớ măi câu chuyện này, sau thỉnh thoảng lại hỏi con, xem có c̣n suy nghĩ nữa không...Nay con hiểu rằng, những giờ phút suy nghĩ ấy là những giờ phút suy gẫm thật và Chúa đă dạy dỗ linh hồn con cách dịu dàng thấm thiết lắm ” [27].
[1] Thomas Merton, Direction spirituelle et méditation,
Albin Michel, Paris 1962: Vấn đề suy niệm, trg 4 - 5.
[2] Rom. Guardini, Initiation à la Prièr: Vào đời cầu Nguyện
Xuân Dịu dịch, Fatima xuất bản, Saigon 1971, trg 148.
[3] Thomas Merton, Sđd trg. 4 và 5.
[4] Méthode d’oraison de Saint Sulpice.
Xem A. Saudreau, Les degrés de la vie spirituelle, Téqui, Paris 1935, p. 113.
[5] René de Maumighy - Practique de l’Oraison mentale, 1er traité, oraison ordinair - Thực hành tâm nguyện, Hương quê, trg 181.
[6] Jos. Schryvers CSSR, Les principes de la vie spirituelle, Desclée de Brouwer, Paris 1937, pp. 322 - 326.
[7] Rom. Guardini, Sđd, trg 148 - 149.
[8] Thánh
Anphongso - Le grand moyen de la prière:
Cầu Nguyện phương thế tuyệt hảo, nhà in Đức Mẹ, Saigon 1971, trg 75.
[9]-10 Trích dẫn do Thánh Anphongso, Practique de la Perfection, tome 2, pp 99-100
11 Thánh Têrêsa, Tự thuật, bản dịch của Nữ Đan Viện Cát Minh,
Saigon, trg 146 - 147
[12] Linh Mục Nguyễn Tri Thức, Thánh hóa đại cương, Phước Sơn ấn quán,
Saigon, 1958, trg 164, ghi chú 404.
[13] La Sainteté des laics, bản Pháp ngữ do A.M Roguet, Cerf, Paris, 1957, p. 138.
[14] - 15 Trích do cha Phaolô Quy, Tu sĩ tùy thân, nhà in Tân Định,
Saigon 1953, trg 82,83
[16] Traité de l’Oraison, 1ère partie, ch. 1.
[17] Enarr. In Tv 118, serm. 29, N.4.
[18] L’ascétique chrétienne, Poussielgue, Paris, 1888, p 326.
[19] Sum. 2,2 q. 83 a.14.
[20] X, Intrd. A la vie dévote: Sống thánh giữa đời, Hoàng Minh Tuấn dịch, nhà sách Đức Mẹ, Saigon, 1965, tr. 76-77, ghi chú 1.
[21] X. Praxis, số 123.
[22] X. Marcel Doumergue, L’oraison au-delà des méthodes, Ed. Dénevé, Paris, 1970, pp. 55-56.
[23] S. FranÇois de Sale, sđd, tr. 77.
[24] Trích dẫn do linh mục Thất Sự, Thánh hoá giáo khoa, Thánh Gia, Saigon, 1956, tr 48
[25] Rom. Guardini, Sđd, tr. 34-35.
26-[27] Kim thiếu, Một Tâm Hồn, Đà Lạt, 1960 tr. 37, 80.