CHƯƠNG 10

 

PHƯƠNG PHÁP

VÀ BẢO CHỨNG TÂM NGUYỆN HOÀN HẢO

 

PHƯƠNG PHÁP TÂM NGUYỆN TỔNG QUÁT

 

Chúng tôi có ư muốn thật sự là làm thế nào để thực hành
tâm nguyện cách hoàn hảo. Muốn được như thế ta phải sử dụng phương pháp. Vậy nơi đây chúng tôi tŕnh bày :

I. Khái niệm về phương pháp

II. Một lược đồ phương pháp

III. Phân tích lược đồ phương pháp

 

I. KHÁI NIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP

Phương pháp là cách thức, qui tắc để làm bất kỳ một việc ǵ nhằm đưa đến kết quả mong muốn; phương pháp càng tinh vi th́ kết quả càng dễ thu hoạch.

Tuy nhiên trong đàng thánh thiện nói chung và việc nguyện gẫm nói riêng, chính ta nên nhớ rằng phương pháp là sinh hoạt của con người, ngoài nó ra c̣n có sự hiện hữu của ơn hiện sủng, đó chính là Chúa hoạt động nơi chúng ta.

Do đó phương pháp nguyện gẫm chỉ là phương tiện tạm thời để giúp ta đạt được mục đích của cầu nguyện, và một khi mục đích đă đạt được, th́ phương tiện trở thành vô bổ.

Hay nói cách khác, khi nào những phương pháp làm cản trở bước tiến của ta, cản trở hoạt động của Chúa Thánh Linh, th́ những phương pháp nguyện cầu dầu là tinh vi, kiến hiệu mấy đi nữa cũng không c̣n lư do tồn tại.

Nơi đây chúng ta có thể chứng minh bằng lời đầy ư nghĩa của cha Dom Marmion, một diễn giả tu đức thời danh thuộc ḍng
Biển Đức: “Không nên lầm lẫn, Ngài nói, bản thể của nguyện gẫm với phương pháp, bất cứ  là phương pháp nào giúp để nguyện gẫm. Có những tâm hồn tưởng rằng nếu họ không dùng phương pháp này hay phương pháp kia, là họ không nguyện gẫm. Đó là một lầm lẫn mà không phải là không đưa đến những hậu quả nguy hiểm. Bởi v́ họ liên kết bản chất của nguyện gẫm với việc dùng phương pháp đó. Họ không dám thay đổi những phương pháp, ngay cả khi họ biết rằng những phương pháp đó đă cản trở họ, hoặc đă trở thành vô bổ, hoặc trường hợp sau đây thường xảy ra hơn; v́ gặp phải một phương pháp làm cho họ khó chịu, họ bỏ phương pháp và bỏ luôn nguyện gẫm. Thật là tai hại cho họ phương pháp là một chuyện, nguyện gẫm là chuyện khác. Phương pháp phải thay đổi theo khả năng và nhu cầu của tâm hồn. Trái lại, nguyện gẫm tự bản thể của nó luôn luôn vẫn là một đối với mọi tâm hồn. Đó là cuộc đàm thoại mà trong đó tâm hồn của đứa con tâm sự với Cha trên trời và nghe Ngài để làm vui ḷng Ngài. Phương pháp nâng đỡ tinh thần, giúp cho tâm hồn kết hợp với Chúa. Nó là một phương thế, nhưng nó không được trở thành một chướng ngại. Nếu một phương pháp soi sáng lư trí, hâm nóng ư chí, giúp tâm hồn phó thác cho Chúa hành động, tâm sự thân mật trước mặt Chúa, phương pháp đó tốt. Nhưng phương pháp cần phải loại bỏ, khi nó thật sự cản trở tâm hồn, bó buộc tâm hồn, làm cho tâm hồn không tiến được trong đàng nhân đức, trong đàng thiêng liêng hay nó trở nên vô ích v́ tâm hồn đă tiến bộ rồi”  [1].

Phương pháp nguyện gẫm có rất nhiều, mỗi trường phái linh đạo hay gọi tắt là tu phái đều có riêng phương pháp, như tu phái
Cát Minh, Ư Nhạc, Xuân Bích, Phanxicô đệ Salê, Lasan, An Phong... Nhưng tất cả các phương pháp đều giống nhau ở điểm chính, c̣n
chi tiết th́ mỗi tu phái nhấn mạnh một điểm riêng biệt, nhất là trong phần thân bài suy niệm, chẳng hạn phương pháp Ư Nhạc tận dụng ba tài năng con người “trí nhớ, trí hiểu, và ḷng muốn”, c̣n phương pháp Xuân Bích th́ nối kết tâm hồn với Ngôi Hai Nhập Thể để cùng Ngài thờ phượng thông cảm và cộng tác.

Tựu trung, Mỗi phương pháp gồm ba phần chính :

1. Khởi nguyện

2. Tâm nguyện

3. Kết nguyện

 

II. LƯỢC ĐỒ PHƯƠNG PHÁP

 

TÂM NGUYỆN TỔNG QUÁT

Như đă nói ở trên, trong mỗi bài gẫm đều gồm ba phần :
Khởi nguyện, Tâm nguyện và kết nguyện. Vậy chúng tôi xin cho
ra mắt lược đồ tổng quát đó :

 

PHẦN THỨ NHẤT

KHỞI NGUYỆN

I. Dọn ḿnh xa :

1. Giữ tâm hồn thanh sạch

2. Canh giữ ngũ quan cùng trí tưởng tượng

3. Ở khiêm nhường

4. Ban chiều dọn bài gẫm cùng nhớ lại trước khi đi ngủ.

5. Khi thức dậy, ôn lại điều đă chuẩn bị chiều hôm trước.

 

II. Dọn ḿnh gần :

1. Tin có Chúa ở trước mặt, cùng thờ lạy Ngài.

2. Giục ḷng ăn năn tội

3. Xin ơn cho được nguyện gẫm nên

4. H́nh dung khung cảnh cho điều ḿnh sắp gẫm như thấy hiện có trước mặt.

 

PHẦN THỨ HAI

TÂM NGUYỆN

I. Suy luận :

1. Đọc bài gẫm xong, suy nghĩ những lời ấy dạy ta sự ǵ ?

2. Chúa Giêsu và các thánh đă thực hiện như thế nào; đă giữ, đă làm hay đă lánh xa.

3. Về phần ta đă sống thế nào.

II. Tâm t́nh

1. Quy hướng ḷng ta về những sự lành thánh.

2. Cứ gẫm luôn điều nào làm cho ḿnh động ḷng

3. Cầu xin cùng Chúa.

III. Quyết tâm :

1. Đừng dốc ḷng cách trống không, song dốc ḷng cho ngày hôm nay, trong giờ này, dịp này.

2. Dốc ḷng ít, thiết thực, cần kíp và dễ thực thi

3. Có điều nào làm cản ngăn việc ḿnh vừa dốc quyết, phương thế nào giúp ta giữ điều dốc quyết ấy.

4. Đừng cậy sức riêng ḿnh.

5. Kiếm dịp mà giữ lời dốc ḷng.

 

PHẦN THỨ BA

KẾT NGUYỆN

1. Cám ơn và xin lỗi.

2. Dâng mọi ư lành cùng sự dốc ḷng trong tay Đức Mẹ.

3. Cầu nguyện cho mọi người.

4. Kết hoa thiêng liêng và xét ḿnh coi đă nguyện gẫm
làm sao.

 

III. PHÂN TÍCH LƯỢC ĐỒ PHƯƠNG PHÁP :

Những điểm sắp nói ở đây có thể áp dụng cho tất cả mọi thứ phương pháp tâm nguyện. Lược đồ phương pháp tâm nguyện tổng quát gồm ba giai đoạn và mỗi giai đoạn lại gồm nhiều tiết mục.

 

1. Giai đoạn chuẩn bị cũng gọi là Khởi nguyện

“Giờ tâm nguyện mang lại thành quả tương xứng với công cuộc chuẩn bị”, Lời của Cha Alphonse de la Mère des douleurs [2]. Thật là chí lư. Vậy công cuộc chuẩn bị này có hai việc, chuẩn bị xa và chuẩn bị gần.

A. Chuẩn bị xa là một mặt chúng ta cố gắng thực thi như thế nào để giúp ta siêu thoát tất cả v́ tâm hồn nào như mảnh đất son sẻ, trống rỗng, th́ Thánh Linh sẽ đáp xuống. Trống rỗng nghĩa là không c̣n vướng mắc bất cứ một tạo vật nào, tâm hồn hoàn toàn tiếp nhận Thiên Chúa và đón nghe cùng thực hiện Lời Ngài. Tuy nhiên tâm hồn vẫn ư thức ḿnh là ǵ, c̣n Thiên Chúa là Đấng nào, do đó tâm hồn luôn luôn có thái đọ thành thật khiêm cung.

Mặt khác chúng ta cũng có những công tác thực thi xoay quanh bài gẫm ; chúng ta phải thấy trước đề tài sẽ gẫm duyệt qua sơ lược, ôn lại trước khi nghỉ đêm và nhớ lại khi thức dậy sáng.

Về điểm này thiết tưởng chúng ta nên nhắc lại lời của Cha Guardini, ngài ghi nhận ngắn gọn và súc tích.

“Phải biết điều mà ta sẽ gẫm. Một chân lư đức tin được mạc khải hay một tư tưởng con ngưởi được linh ứng đều có sức giúp ta. Những ai có một tập quán chắc chắn về tâm nguyện, tất cả những kinh nghiệm hay t́nh trạng luân lư đều có thể dùng làm khởi điểm. Vậy đối tượng riêng của tâm nguyện là Thánh Linh và đặc biệt là con người và cuộc sống của Chúa Giêsu Kitô ... cũng có nhiều sách nguyện gẫm cung cấp đề tài tâm nguyện, có nhiều sách rất hữu ích nhất là đối với những ai mới bắt đầu. Thực ra sách nguyện gẫm tuyệt hảo là chính Kinh Thánh”  [3].

B. Chuẩn bị gần gồm những nhiệm vụ đối với Thiên Chúa và những bổn phận đối với bản thân.

1/ Đối với Chúa, chúng ta hăy giục ḷng tin Ngài hiện diện. Đây là điều rất quan trọng. Cha Brunet ghi nhận : “Lư do của nhiều lần nguyện gẫm không đạt thành quả, lỏng lẻo, vô hồn là v́ ta quá ít để tâm đến sự hiện diện của Thiên Chúa” [4]. Vậy sự hiện diện của Thiên Chúa có thể qui hướng về Ngài hiện diện khắp nơi, Ngài sáng tạo nâng đỡ, cai quản, bảo toàn mọi sự mọi vật” v́ chưng trong Ngài chúng ta sống, chúng ta cử động, chúng ta hiện hữu” (CVTĐ 17,28).

Ngài hiện diện nơi thiên cung, qui hướng đích thực của ta mà một ngày nào đó ta sẽ vui hưởng, theo công thức mà chính Đức Kitô đă dạy chúng ta : “Lạy Cha chúng con ở trên trời” (Mt 6,9) Cách đặc biệt Ngài hiện diện trong tâm hồn ta miễn là ta tuân giữ Lời Ngài :

“Ai mến Ta, th́ sẽ giữ lời Ta,

và Cha Ta sẽ yêu mến nó,

và chúng ta sẽ đến với nó,

và sẽ đặt chỗ ở nơi ḿnh nó” (Jo. 14,23)

Từ niềm tin vững chắc về sự hiện diện của Thiên Chúa, tất nhiên phát sinh sự tôn thờ và ḷng thống hối. Lúc này ta đừng ngần ngại dùng một kinh quen thuộc đọc và biến lời kinh thành của riêng ta, chẳng hạn kinh Tin, Cậy, Mến, Tôi thú nhận. Ta có thể đọc một phần hay toàn bản kinh.

2/ Đối với bản thân, tâm nguyện là một việc làm siêu nhiên vượt sức con người, nên con người muốn chu tất phải nhờ ơn Chúa hộ giúp và theo đường lối thông thường Ngài chỉ ban khi ta khẩn nguyện cùng Ngài. Chúng ta đừng bao giờ quên cầu nguyện cùng Chúa Thánh Linh, “Chính Ngài sẽ dạy các con mọi sự” (Jo. 14,26). Ngài sẽ dạy ta hiểu biết Chúa Kitô, hiểu biết Thiên Chúa, hiểu biết tha nhân cùng hiểu chính ḿnh ta. Nhờ Người ta nhận ra hướng đi giữa ngă ba đường đời, nhận ra ánh sáng giữa bóng đêm.

Công tŕnh chuẩn bị gồm một động tác nữa mà các nhà hướng dẫn thiêng liêng dạy rằng nên tập h́nh dung hoàn cảnh trong tưởng tượng như thời chúng đang xảy ra. Tất cả con người sẽ chú ư vào đó ta mới thấy tất cả nội tâm của ta sống động và thấu triệt được chiều hướng biến chuyển của tâm hồn ta. Tuy nhiên cũng có nhiều người không h́nh dung được hoản cảnh quá khứ, họ không thể tập trung chú ư được. H́nh ảnh rất chóng phai nhạt. Họ chớ lo lắng. Hăy chú ư nhiều hơn đến tâm tư và những rung động trong ḷng” [5].

 

2. Giai đoạn chính tức là Tâm nguyện.

Tâm nguyện nhằm mục đích chính yếu là kết hợp tâm hồn ta cùng Thiên Chúa, sự kết hợp này không phải chỉ hiện thực và hạn hẹp trong thời gian qui định mà trái lại nó kéo dài và lan tỏa trong tất cả cuộc sống của ta. Để đạt được mục đích chính này, tâm nguyện giúp tạo cho ta một xác tín về điều ta gẫm và từ đó phát sinh những tâm t́nh, thông cảm như đă có trong Đức Kitô. Một khi đă xác tín và thông cảm, ta sẽ thể hiện bằng quyết tâm hành động ngơ hầu ta được đồng hóa với Chúa Kitô, ta trở nên hiện thân của Ngài.

Do đó ta có thể khẳng định tâm nguyện gồm ba yếu tố:
suy luận, tâm t́nh và quyết tâm.

A. SUY LUẬN :

Suy luận là điều khẩn thiết v́ có suy luận mới có thấu triệt đưa tới xác tín và yêu mến như tục ngữ có câu “Vô tri bất mộ”
“nil volitum quin proecognitum” Một khi yêu mến tận t́nh th́ mới phát sinh hành động, theo ư muốn của kẻ ḿnh yêu.

Tuy nhiên suy luận phải mang hai đặc tính : Sâu sắc và thực dụng. Sâu sắc nghĩa là ta phải cố khám phá ra những lư lẽ ngời sáng khả dĩ thu phục ư chí. Trái lại, do suy nghĩ sơ sài chỉ xuất hiện những tư tưởng nông cạn, ấu trĩ, không có khả năng khắc phục ư chí và do đó không ảnh hưởng đến cuộc sống. Đồng thời suy luận phải thực tiển nghĩa là có thể áp dụng ngay vào cuộc sống.

Phương pháp thực tiễn để suy luận : Nếu là một đề tài cụ thể chúng ta dùng câu La ngữ trứ danh;

“Quis ? Quid ? Ubi ? Quibus auxiliis ? cur ? Quomodo ? Quando ?” 

Chẳng hạn tôi suy niệm về sự thương khó Chúa Kitô, tôi sẽ tự hỏi : Quis ? Ai là v́ chịu đau khổ ? Chính Con Thiên Chúa Quid ? Ngài phải cam chịu những h́nh khổ nào ? Ngài đă bị nộp cho các thượng tế và kư lục và người ta đă lên án tử h́nh cho Ngài, đă nộp? Nơi đâu th́ đây tôi có thể h́nh dung Chúa Kitô chịu đau khổ nơi vườn Cây Dầu ; “mồ hôi Ngài như máu nặng nhỏ giọt xuống đất”
(Lc 22,44) tại dinh quan Philatô dân chúng la ó : “Giết tên ấy đi” “hăy đóng đinh thập giá” “hăy tha Baraba” (X. Mt 27, 21và tt) trên đỉnh núi sọ, Người phải chết cách đau thương.v.v...

Quibus auxillis ? Bằng phương thế ǵ ? Đức Chúa Cha ruồng bỏ Người, Đức Mẹ sầu bi, các tông đồ trốn tránh, Giuda nộp Thầy, Phêrô chối Thầy, ḷng căm thù và sự bội bạc của bọn Biệt Phái,
tính nhát đảm của Philatô.

Cur ? Tại sao ? V́ Danh Cha và mưu phần rỗi nhân loại, v́ gớm ghét tội lỗi tính hư tật xấu của ta ...

Quando ? Khi nào ? dịp lễ Vượt qua của người Do Thái, khi ngoại kiều và dân cư toàn cỏi Giuđê tập họp đông đủ ở thành Giêrusalem. v.v...

Quomodo ? như thế nào ? Người trao phó toàn thân cho kẻ địch và chấp nhận cái chết nhục nhă thê lương. v.v...

C̣n như đề tài trừu tượng, chẳng hạn như một nhân đức, th́ sẽ t́m hiểu bản chất, đặc tính, cao trọng, lợi ích, khẩn thiết, phương pháp để tập luyện .

Đó phải chăng là phần suy niệm khách quan, chúng ta cần hướng về bản thân để kiểm tra chính ta đă sống thế nào.

Nếu đề tài là một chân lư mạc khải, điểm nào đă làm cho tôi thâm tín ? Nếu là một nhân đức, tôi đă thực tập thế nào trong tư tưởng, ngôn ngữ và cuộc sống ? Nếu là một nết xấu, tôi đă có biện pháp nào để bài trừ nó ? Nên nhớ đây không phải là xét ḿnh để đi xưng đội mà là một cuộc tự vấn nhằm mục đích tu thân tích đức. Từ sự kiểm tra này sẽ phát sinh tâm t́nh mà ta sẽ bàn sau.

B. TÂM T̀NH

“Kết hợp với Thiên Chúa, ném ḿnh vào ḷng Chúa, ḥa tâm hồn ḿnh vào t́nh yêu Chúa. Phải, đó chính là cốt lỏi của mọi cuộc cầu nguyện bằng tâm trí” [6].

Lời khẳng định này rất chí lư, v́ nếu tôi chỉ suy nghĩ về Chúa, tự vấn lương tâm mà tôi không thờ lạy, cám ơn, sám hối, hay xin ơn cùng Người, tôi chưa có cầu nguyện v́ t́m hiểu Chúa và những ǵ Người muốn mới là một chặng đường, tôi c̣n phải mến yêu và khắng khít với Người đó mới là hoàn tất, đó mới là cầu nguyện.

Vậy tâm t́nh là ǵ ?

Cha Crasset dạy : chúng ta mệnh danh tâm t́nh chính là những mối xúc động của tâm hồn phát sinh từ một suy nghĩ đơn giản hay một suy luận hệ thống về một đề tài nào đó - dĩ nhiên thuộc về Chúa. Những tâm t́nh đó là tác động của các nhân đức tin, cây, mến, thờ lạy, ngợi khen, cảm tạ, dâng ḿnh, sám hối và các tâm t́nh khác tương tự. [7]

Thí dụ : khi ta suy luận về ưu phẩm của Thiên Chúa, tự nhiên ta bị Ngài cho dân ngoại để họ nhạo báng đánh đ̣n và treo khổ giá (Mt 20,18-19).

Ubi kích thích trong sự phượng thờ, ngưỡng mộ, tán dương và yêu kính...Nếu ta suy tưởng về hỏa ngục, những tâm t́nh phát xuất nơi ta là sợ hải, khiêm cung, thú nhận, sám hối, cùng lo sửa chữa...C̣n nếu là một đề tài hướng nội, chẳng hạn như kiểm tra ḷng trung tín của ta đối với Thiên Chúa, nếu ta đă trung thành, th́ dĩ nhiên ta phải qui hướng về Người. Nhưng thường hơn con người của ta hay thất tín, trong trường hợp này ta hăy nhớ lại quá khứ hiện tại và tương lai để khởi xuất những tâm t́nh xứng hợp. Đối với quá khứ, ta phải thú nhận lỗi lầm, sám hối, lănh nhận đền tội cân xứng, đối với hiện tại, ta phải chấp nhận thân phận nghèo nàn, hèn yếu và hay sa ngă, lầm lỗi mất ḷng chúa, mà tự hạ, xấu hổ v́ tội lỗi ta, đối với tương lai, ta tha thiết khẩn cầu Chúa ban ơn chừa cải và canh tân cuộc sống.

Tâm t́nh phải thế nào ?

Tất cả mọi tâm t́nh không phải là những lời nỉ non ngoài môi miệng mà phải xuất phát tự đáy ḷng và do t́nh yêu nồng thắm.      Tự đáy ḷng, nghĩa là tâm t́nh phải thành thực bắt nguồn từ ư chí đă bị thu phục do suy luận sâu sắc. Do t́nh yêu nồng thắm, v́ yêu là t́nh cảm căn bản của con người. Nó lôi cuốn thúc bách tất cả các mối t́nh và chi phối tất cả mọi sinh hoạt của cuộc sống. Tóm lại t́nh yêu là động lực của sinh hoạt con người, nó càng cao độ, hấp lực càng gia tăng.

C.  QUYẾT TÂM :

Quyết tâm chiếm một vị trí quan trọng trong giờ cầu nguyện, v́ nhờ thâm tín linh hồn ta đă kết hợp ư chí với Chúa và một khi đă kết hợp th́ ta phải quyết chí nên giống Chúa, thánh Vinh Sơn Phaolô dạy : “Hoa quả chính của giờ tâm nguyện hệ tại sự quyết tâm mănh liệt và quyết tâm có cơ sở th́ ta sẽ thâm tín, dự bị sẳn sàng thi hành và dự kiến những trở lực để khắc phục” [8]

Điều quyết tâm gồm có những điều tổng quát và những điều cụ thể.

Cha Crasset nói : “Quyết tâm tổng quát như mến Chúa hết ḷng, triệt để xa lánh tội, cố thực tập nhân đức... phấn đấu thuận theo thánh Ư Chúa trong mọi sự. C̣n quyết tâm cụ thể chỉ định rơ thời giờ, nơi chốn, cảnh ngộ, chẳng hạn như khổ chế trong dịp nào, luyện đức nhẫn nhục lúc gặp gỡ ai, thuận ư Chúa khi mang bệnh tật, bị hất hủi, bị mất của” [9].

Vậy quyết tâm của ta sau giờ tâm nguyện không nên mang tính cách hoàn toàn tổng quát, v́ như thế nó sẽ biến thành viễn vông, trống rỗng, trái lại nó cũng không được phép đi sâu vào chi tiết quá v́ sợ nó rườm rà sẽ che mất đi điều hệ trọng là việc thánh hóa bản thân ta.

Cha Lehodey theo thuyết duy ḥa dạy :“Mỗi ngày nên có hai quyết tâm một tổng quát và không thay đổi, một cụ thể và và canh cải tùy nhu cầu tâm hồn ta. Quyết tâm thứ nhất của ta mỗi ngày đối diện với lư tưởng của ta, c̣n quyết tâm kia đưa dẩn ta đến lư tưởng bằng những hoạt động xác định” [10]

Quyết tâm muốn hữu hiệu phải mang những đặc tính này : hiện thực, kiến hiệu, khiêm nhu, tín thác, bền bỉ.

Hiện thực nghĩa là điều dốc ḷng có thể thi hành hôm nay, trong giờ này, dịp này.

Kiến hiệu, điều dốc quyết có khả năng sửa chữa tính hư tật xấu và thực tập nhân đức. Thí dụ tối thiểu giữ yên lặng, tôi phải khổ chế miệng lưỡi những nơi nào những giờ nào ấn định. Tôi hay chia trí lo ra, tôi phải kềm hăm trí vẽ, trí nhớ kỹ càng, tắt một lời là phải kềm hăm trí vẽ, trí nhớ kỷ càng, tắt một lời là phải chữa tận căn chớ không chữa nơi ngọn.

Khiêm nhu, v́ ta nhận biết thân phận yếu hèn của ta, nếu “không ơn Chúa th́ ta chẳng làm được ǵ” (Ga.15 15), dẫu tạo một tư tưởng lành thánh cũng không được huống hồ là thực thi cũng quyết tâm cao cả và khó khăn.

Nhưng ta không ngă ḷng, trái lại chúng ta hoàn toàn phó thác nơi Chúa v́ Ngài không bỏ những ai khiêm cung tín nhiệm kêu cầu Ngài. Chiến thắng là thành quả của sự bền đỗ, mỗi cố gắng là mỗi bước tiến.

Bền bỉ, công việc thánh hóa bản thân là một công tác trường kỳ, không phải do ngày một ngày hai mà ta có thể cải tạo nếp sống, thực tập nhân đức mà ta nhận thấy cần thiết. Do đó điều quyết tâm phải lặp đi lặp lại tuần này qua tuần nọ, tháng này qua tháng kia ...” Ai bền đỗ đến cùng mới được ơn cứu rỗi” (Mt.10,22)

 

3. giai đoạn cuối cùng là kết nguyện:

Sau cùng giờ nguyện gẫm được kết thúc bằng bốn việc mà ta phải thi hành với tất cả ḷng khiêm nhường.

Việc thứ nhất : Tạ ơn Chúa v́ Ngài đă khấng ban cho ta gặp gỡ Ngài, chuyện văn với Ngài, v́ những sáng soi cũng như những tâm t́nh, những quyết tâm Ngài ban cho ta. Đứng trước tấm ḷng quảng đại, ưu ái đó ta không khỏi hối hận v́ những lầm lỗi khi nguyện gẫm hoặc chia trí lo ra hay ngủ gà ngủ gật nếu có.

Việc thứ hai : Dâng hiến toàn thân cho Chúa, những quyết tâm của ta và nguyện xin Ngài ban phúc lành cho ta ngơ hầu ta trung tín và đem ra thực hành.

Việc thứ ba : Khẩn cầu cho mọi hạng người, cho Giáo hội, cho Tổ quốc, cho các vị chủ chiên, cha mẹ, bà con thân thuộc, những ai ta phải cầu nguyện và xin ta cầu nguyện (X. Linh đạo căn bản trg 23 - 25)

Việc thứ bốn : Kết bó hoa thiêng như thánh Phanxicô Salêsiô dạy : “Đi thăm vườn hoa đẹp không bao giờ ra về tay không mà không cầm vài bông để hương thơm tỏa ra suốt cả ngày. Tâm trí ta cũng vậy, trong suy ngắm đă rảo trên mầu nhiệm th́ cũng phải chọn lấy một hay hai điểm ta thích hơn cả hay có thể giúp ta tiến bộ hơn, để trong ngày ta nhớ đến và thưởng thức hương thơm thiêng liêng” [11].

Để kết thúc, chúng tôi xin trích dẫn lời của Đức hồng Y Jonh Carmel Heenan hầu thúc đẩy chúng ta chuyên cần tâm nguyện hằng bữa không sót ngày nào :

“Chúng ta đừng buồn khi thấy bài suy niệm không liên quan cho lắm với những ǵ chúng ta sắp thi hành. Đối với một ca sĩ, những hơi thở thể thao ban sáng có thể không trực tiếp liên hệ với buổi tŕnh diễn ban chiều. Nhưng anh có ngờ đâu rằng anh chỉ có thể bảo đảm thành công nếu anh kiên nhẫn trong phương pháp của nghề nghiệp. Đối với linh mục cũng vậy, dành cho Chúa nữa giờ ban sáng là tạo cho ḿnh có khả năng gieo Thánh Thần Chúa trong mọi việc sẽ thi hành” [12].

 

NHỮNG BẢO CHỨNG TÂM NGUYỆN HOÀN HẢO

 

Làm sao nhận thức được là tôi tâm nguyện tốt hay không tốt ?

Quả thực đây là một câu hỏi rất hữu lư, tuy nhiên không phải v́ nó hữu lư mà nó trở thành dễ dàng giải đáp đâu !

Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi xin nhắc lại giáo huấn của Chúa Kitô.

“Phàm cây lành th́ sinh quả tốt,

cây độc sinh quả độc

Cây lành không thể sinh quả độc.

và cây độc không thể sinh quả tốt...

ấy vậy do quả chúng, các ngươi nhận biết chúng” (Mt 7,17-20)

Đă hẳn giáo huấn của Chúa nêu lên là một quy luật trắc nghiệm tuyệt hảo, nhưng nơi đây quy luật nhằm phân biệt tiên tri thật và tiên tri giả. Tuy nhiên nếu chúng ta sử dụng giáo huấn này cho chính xác, chúng ta cũng có thể nhận định được một tâm nguyện tối hảo hay bất toàn.

1. Tâm nguyện hoàn hảo không phải là :

Một buổi tâm nguyện tạo cho ta những tư tưởng tốt đẹp, hay những suy tư sâu sắc về Chúa hay về các chân lư mạc khải của Người, th́ chưa chắc là buổi tâm nguyện tốt, v́ như lời thánh Phaolô dạy :

“Giả như được ơn tiên tri và biết mọi sự mầu nhiệm toàn cả trí tri... mà tôi lại không có ḷng mến Chúa tôi vẫn là không” (1 Cor 13,2)

Một giờ suy niệm mà ta cảm nhận tâm tư dào dạt tâm t́nh nóng bỏng cũng chưa phải là giờ nguyện gẫm hoàn hảo v́ có lời Chúa dạy :

“Không phải mọi kẻ nói với Ta : Lạy Chúa, Lạy Chúa là sẽ vào được Nước Trời, nhưng là kẻ thi hành Ư Cha Ta, Đấng ngự trên trời” (Mt 7,21).

2. Một tâm nguyện hoàn hảo phải là :

Một tâm nguyện nói chung tốt là khi nó mang những trái quả của Chúa Thánh Thần, những trái quả đó là :

“Mến yêu, vui mừng, b́nh an,

đại lượng, nhân hậu, tốt lành,

tín trực, hiền từ, tiết độ” (Ga 5,22)

Hay nói một các cụ thể như thánh Têrêsa thành Avila một tâm nguyện được gọi là hoàn hảo khi nào nó có ba dấu chỉ này :

1/ Ái mộ đau khổ.

2/ Tự khinh và ước vọng bị khinh chê

3/ Bác ái huynh đệ chân thành và siêu nhiên.

a) Dấu chứng thứ nhất : Ái mộ đau khổ

Thánh Têrêsa viết :

“Khi một tâm hồn dấn bước cách dạn dĩ vào con đường tâm nguyện và nó không kỳ vọng được sự an ủi cũng như không buồn tủi lúc phải khô khan, th́ đó là dấu tâm hồn đă tiến bộ khả quan. Dầu khi mắc phải những lỡ lầm, nó không sờn ḷng nản chí, nhất định không lùi bước, đó là dấu ṭa nhà thiêng liêng được xây cất trên nền tảng vững chắc. V́ ta biết ḷng mến chân thành không hệ tại sự mủi ḷng, sự ngọt ngào êm dịu, mà hệ tại cách phụng thờ Chúa trong đức công b́nh với một tâm hồn can đảm và khiêm nhu” [13]

b) Dấu chứng thứ hai : Tự khinh và ước vọng bi khinh chê :

Trong quyển Château intérieur (Lâu Đài Nội Tâm) (ch.2, dem. 3,) thánh Têrêsa ghi nhận

“Đă hẳn do tŕnh độ khiêm nhường mà người khác có thể lượng giá sự tiến bộ của ta trong đàng tâm nguyện và đàng trọn lành. Điều ǵ chận đứng tiến bộ của ta ? Phải chăng là sự thiếu kém khiêm nhường ? Vậy khiêm nhu là chúng ta hăy tin rằng chúng ta ít tiến triển, c̣n trái lại chị em khác tiến bộ rất khả quan, khiêm nhu là không những chúng ta mong ước được người khác đánh giá là chúng ta bất toàn, mà c̣n làm đủ cách hầu làm cho người khác xác tín như vậy. Nếu chúng ta có tâm t́nh như thế là dấu chúng ta tiến bộ trên con đường tâm nguyện, trái lại nếu không, là chúng ta luôn giữ t́nh trạng “trước sao như vậy” tức là chúng ta không tiến bộ chút nào cả, thật là đáng buồn, đáng tiếc lắm thay ! Bao lâu chúng ta chưa thoát ly chính ḿnh, th́ bấy lâu chúng ta không tài nào tiến bộ được, trái lại nếu chúng ta biết vượt thắng chính ḿnh, th́ chúng ta sẽ được nâng lên cùng Chúa hầu sống liên kết mật thiết với Người”

c) Dấu chứng thứ ba : Bác ái huynh đệ chân thành và siêu nhiên

Nơi khác, thánh Têrêsa cũng dạy :

“Thiên Chúa yêu sách chúng ta hai điều: thứ nhất kính mến Ngài, thứ hai yêu thương tha nhân. Đó là chương tŕnh hành động của chúng ta. Làm sao nhận thức được là chúng ta thực thi đầy đủ hai nhiệm vụ cao cả trên ? Theo thiển ư tôi, chính là bác ái huynh đệ chân thành vậy ... chúng ta đừng chú trọng những tư tưởng bác ái cao thượng tuốn đến trùng điệp trong giờ tâm nguyện; nếu chúng không thể hiện bằng hành động th́ chúng chỉ là những tư tưởng hảo huyền không hơn không kém...[14]

 

[1]  Dom Marmion, Le Christ, vie de l’âme, Desclée de Brouwer, Paris, 1928,
p. 410

[2]  Practique de l’oraison mentale et de la perfection Desclée de Brower et Cie, Paris 1909, p. 76.

[3]   Sđd, tr. 154-155. 

[4]  Initiation à l’Oraison, Beauchesne, Paris 1954, p. 115

[5] 

[6]  J. Nguyễn Tri Thức, Sđd, tr. 167.

[7]  Trích dẫn do Dom Vital Ldhodey, Les voies l’Oraison metale, Lecoffre, Paris, p.145. 1908.

[8]  Saint Vicent de Paul, Correspondance, entretiens, Documents, publiés par P. Coste, t. XI, p 87.

[9]  Trích dẫn do Dom Vital Lehodey, Sđd, tr. 166.

[10]  Dom vital Lehodey, sđd tr. 166.

[11]  Thánh Phanxicô Salêsiô, Introduction à la vie dévote: Sống thánh giữa đời do Hoàng Minh Tuấn dịch, Nhà sách Đức Mẹ, Sàig̣n, 1965, tr. 88.

[12]  Prêtre de tous : Linh Mục đại chúng, bản dịch của Hương Quê, Saigon 1970, tr. 56.

[13]  Sa vie écrite par elle-même (Tự thuật), Ch 11.

[14]  Château intérieur (Lâu Đài Nội Tâm) ch 3, dem. 5.