LINH ĐẠO

 

Chu Công

 

1) Định nghĩa danh từ Linh-đạo, và danh-từ Tôn-giáo:

Linh-đạo (spirituality) và tôn-giáo (religion) khác nhau:

Tôn Giáo là một cơ cấu tổ-chức, với những lễ nghi; đạo-lư và niềm tin của mỗi Tôn Giáo, như Phật Giáo, Hồi Giáo, Kitô Giáo, Do Thái Giáo, v.v..

Linh-đạo là đường lối t́m kiếm một ư nghĩa và mục đích của cuộc sống.
Linh-đạo đă có từ muôn thuở.
Linh-đạo là Hành động trong Đức Tin của một tôn giáo.
Để có linh-đạo ta phải có: Đức Tin thực-hành, và Tôn Giáo phải là một tôn giáo sống động, chứ không chỉ có danh nghĩa là một tôn giáo.

Theo David Hay th́ bẩy mươi phần trăm người lớn có linh-đạo, nhưng chỉ mười phần trăm có tôn-giáo. Theo văn-hoá nhân-chủng-học, và tôn-giáo-học th́ linh-đạo đi sâu trong tâm-tính con người hơn là tôn-giáo.

Linh đạo của Kitô hữu là đường lối rèn luyện đức tính và tập quán đưa cuộc sống của Kitô hữu đến chỗ tuyệt hảo, theo lời giảng dậy của Chúa trong Phúc-âm..

Linh-đạo của Người Công Giáo Việt Nam được đánh dấu bằng sự sùng kính (popular devotions) đặc biệt là sự tôn thờ Chúa Jêsu Kitô Chúa Chúng Ta, và sùng kính Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, và các Thánh Tử đạo.

Trước khi bàn đến Linh-đạo Công Giáo của người Việt Nam, chúng ta cần thảo luận qua về linh-đạo tổng-quát của tất cả người Việt-Nam.

 

2) Khái niệm về "Ông Trời" của người Việt Nam

Người Việt Nam tin có Thượng Đế, cai quản vũ trụ. Thượng Đế, đấng Tạo Dựng trời đất, Hiện Hữu, Tự có, không sanh bởi ai. Thượng Đế, hay là Ông Trời, cai quản vũ trụ và điều khiển mọi hoạt động một cách khôn ngoan. Không ai thấy Thượng Đế, nhưng Thượng Đế thấy hết mọi sự, mọi người, kể cả những điều kín ẩn; ta không thể dấu Thượng-Đế bất cứ điều ǵ. Cũng vậy, Thượng Đế biết cả qúa khứ, hiện tại và tương lai.

Là đấng Tạo dựng nhân loại, và thiên nhiên, Thượng Đế đầy ḷng thương xót nhân loại và tất cả sinh vật mà Thượng Đế đă dựng nên. Thượng Đế ban cho mọi loài của nuôi và hạnh phúc.

Chúng ta tin tưởng Trời là toàn năng, toàn mỹ, nhưng Trời không ngăn cản quyền tự do và trách nhiệm của con người. Con người có trách-nhiệm về hoạt-động đưa tới hạnh-phúc hay bất hạnh. Trời thưởng hay phạt con người theo công việc của họ. Do đó con người đạt được hạnh phúc và b́nh an trong cuộc sống là v́ họ nghe theo Trời dạy bảo. Sau đây là lời Khẩn Cầu Trời cho mưa:

Lậy Trời mưa xuống,

lấy nước tôi uống,

lấy ruộng tôi cầy,

lấy bát cơm đầy,

lấy ngày ấm no. . .

 

3) Người Việt Nam hướng về Thiên Nhiên

Người Việt Nam nghe theo thiên-nhiên trong cuộc sống vật chất và làm ăn của họ. Thiên Nhiên cũng ảnh hưởng chi phối tinh thần của con người. Bởi vậy có một t́nh cảm trói buộc con người Việt Nam vào môi trường Thiên-nhiên.

Thiên-nhiên có cảm giác và có hồn. Thiên-nhiên chia sẻ với con người về tư tưởng và t́nh cảm. Người b́nh dân Việt Nam coi Thiên-nhiên như phản ảnh của nỗi vui cũng như nỗi buồn. Đùng đùng một lúc, Thiên-nhiên dễ làm giao động con người. Thay đổi khí trời, chẳng hạn, ánh mặt trời giăi trên ngọn tre có thể làm nẩy nở một t́nh cảm trong con người. Thiên-nhiên ảnh hưởng tới người Việt-nam, cũng như người Á-đông, hơn người Tây Phương.

Dù mưa xuống, hay nắng chói, người Việt-Nam hay nghĩ đến ảnh hưởng của mùa màng gặt hái trong đồng ruộng của họ. Thí dụ:

Trời nắng tốt dưa,
Trời mưa tốt lúa.
(Như thế có nghĩa là nắng hay mưa đều tốt cả!)

(Italics của dịch-giả)

Nhờ kinh nghiệm thực thể, và quan sát, người b́nh dân Việt-Nam đoạt được hiểu biết về Thiên-nhiên và điềm-lạ trong Thiên-nhiên. Họ thường theo ca-dao để tiên đoán thời tiết trong công việc đồng áng. Và biết được thiên-tai hay địa-họa bởi việc ngắm mây, ngắm trời, trăng sao, gia súc, chim chóc, và côn trùng. Kiến-thức này giúp người Việt-Nam điểu chỉnh môi trường sinh hoạt trong cuộc sống. Thí dụ:

"Mống Đông Vồng Tây,
Không mưa giây cũng băo giật"

Hay câu :

Tháng bẩy heo may,
Chuồn chuồn bay th́ băo"
(Italics cuả dịch giả)

Sống giữa Thiên-nhiên, người Việt-Nam liên tục trí minh mẫn của họ và sức mạnh vũ lực Thiên-nhiên. Đôi lúc họ thành công, nhưng nhiều lúc bị thất-bại và bị tàn phá bởi vũ lực Thiên Nhiên. Có lẽ v́ cảm thấy ḿnh bất lực trước Thiên-nhiên người Việt-Nam thận trọng trước tai ương và bái phục Thiên Nhiên.

(Không riêng ǵ Việt Nam, ngay cả những nước tân tiến, như Hoa-Kỳ, cũng phải chịu thua Thiên-nhiên. Thí dụ như Động đất, núi lửa . . .

Nhưng mối liên lạc linh thiêng giữa người Việt và Thiên-nhiên không chỉ căn cứ trên sợ hăi, lo âu và dị đoan. Thiên-nhiên c̣n cho ta vẻ đẹp và thơ mộng. Mặt trăng và các v́ sao, bầu trời, áng mây, sông núi, cây cỏ và bông hoa, mọi thứ trong Thiên Nhiên (trừ sức vũ băo tàn phá) thức tỉnh niềm vui sướng và thâm sâu trong ḷng người.

Trăng có ảnh hưởng đặc biệt đến con người Việt-Nam. Trăng thường gắn bó trong công việc đồng áng của người nông dân và trong vui chơi của họ. Trăng cũng thường được dùng làm đề tài cho thơ-phú và ca hát. Trong văn-hoá Việt-Nam, Trăng được biểu-hiệu nữ-tính và sắc đẹp duyên dáng. Câu ẩn-dụ như: "Cô Hằng Nga" nói đến người tiên nữ đẹp.

Người Việt-Nam là Con Rồng Cháu Tiên

Để hiểu rơ linh-đạo của người Việt-Nam ta cần biết tổng quát tâm tính của họ với nguồn gốc tổ-Tiên. Dân-tộc nào cũng có thần-thoại về nguồn-gốc của họ, chẳng hạn:

1) Tín hữu khắp thế-giới tin nguồn gốc loài người là do Thiên Chúa dựng nên. Kinh-Thánh kể rằng Thượng Đế tạo dựng con người như h́nh ảnh của Ngài; người nam và người nữ đă được dựng nên bởi Thượng Đế (Khởi Nguyên 1: 27);

2) Theo thần thoại La Mă, th́ "Cupid" -con trai cuả Nữ-thần Venus- kết bạn với "Psyche."

3) Người Trung-Hoa tin rằng Tối-Hậu (Supreme Ultimate) sinh ra Âm và Dương ( Yin-Yang, nữ-tính và nam-tính ). Sách Đạo-đức-Kinh (Tao-Te-Ching) viết rằng:

Vũ-trụ cơng Âm sau lưng,
Và ôm Dương ở trước ngực.
Do sự phối-kết của hai Thái-cực
Mà thế giới có hoà-b́nh du dương.

 

4) Thần thoại về nguồn gốc người Việt Nam:

Thần-thọai về nguồn gốc người Việt có nhiều, như truyện Sơn-Tinh lấy Thuỷ-Tinh, truyện Tiên kết bạn với Rồng. Để có ư-niệm sâu sắc về linh-đạo người Việt tôi xin trưng truyện Tiên Rồng. Truyện rằng:

Từ Thượng Đế có Tiên Rồng.
Tiên phối- hợp Rồng;
Tiên mang thai và đẻ ra một bọc có trăm trứng.
Trứng nở ra trăm con.

Sau khi Tiên sanh hạ trăm con, Rồng nói với Tiên:

"Ta thuộc về ḍng giống Rồng,
c̣n em thuộc ḍng giống Tiên.
V́ vậy, em hăy đưa năm mươi con lên núi,
C̣n anh, anh đem năm mươi con xuống biển."

Và Rồng dặn thêm rằng:
"Khi nào cần trợ giúp,
hăy t́m anh, anh sẽ đến giúp em ngay!"

Từ đó ḍng giống người Việt-Nam sanh sản thêm lên, và họ tự- hào cho ḿnh là "Con Rồng Cháu Tiên." Ngụ ư của truyện:

Theo Carl Jung, tâm lư gia Thụy sĩ , th́ truyện thần-thoại là sản phẩm của sinh lực dồi dào từ vô-thức đại-đồng (Universal Unconsiousness) Trong văn-hóa Hy-lạp và La Mă th́ thần-thọai là những câu truyện về Thượng-đế.

Theo Kitô giáo thời xưa, th́ thần-thọai là những câu truyện giả-mạo; nhưng khoa học ngày nay về phong tục và luân lư cổ truyền, song song với những nghiên cứu của nhân- chủng-học, của các nhà sử học của tôn giáo, truyện thần-thoại đă được phục hồi trở lại ư nghĩa nguyên thủy của nó:

Theo Carl Jung th́ thần-thoại là sản-phẩm của tưởng tượng trong tiềm thức của cá-nhân; theo Mircea Eliad thần-thọai gắn liền con người với ư-thức thời nguyên-thủy, và theo Cloud Levi Straus th́ thần-thọai vọng lại cơ-cấu của tâm thức con người.

Xét những tác-dụng thần-thọai cung-hiến cho cuộc sống chung của nhân loại ta sẽ thấy nó liên-quan tới linh-đạo. Theo Joseph Campbell, tác-dụng đầu tiên của thần-thoại là mở đường cho nhân loại nhận thấy có sự hiện-diện của mầu-nhiệm (the presence of mystery). Nó cho ta cảm thấy sự kinh-sợ và kinh-ngạc mà Rudolf Otto gọi là "tư-tưởng về sự Thánh" -sự mầu-nhiệm đáng sợ hăi ( the mysterium tremendum ).

Tác-dụng thứ hai của Thần Thoại là nâng đỡ và hợp-thức hoá trật tự xă-hội. Thí dụ thần-thoại Tiên-Rồng kể cho ta biết Tiên sanh ra một trăm con. Ngụ ư là: đời sống xă hội của người Việt Nam là một cuộc sống liên hệ gần gũi chứ không lẻ loi, không giai cấp, chẳng hạn như người Ấn Độ. Do đó qua Truyện Thần Thoại Tiên Rồng, Tổ tiên để lại cho chúng ta một ư niệm đẹp đẽ về nguồn gốc con người của chúng ta.

Hơn thế nữa, Tổ Tiên chúng ta đă muốn nhấn mạnh rằng Tiên - Rồng là nguồn gốc của con người, nó bao trùm tất cả mọi người và mọi dân tộc không dị biệt. Sự hoà hợp của Tiên Rồng, sanh ra trăm con là dấu chỉ toàn thể nhân loại.

Tiên Rồng biểu-hiệu Nam-tính và Nữ-tính trong con người.

Theo sự ḥa hợp của Tiên Rồng, Tổ Tiên ta cũng muốn ám chỉ đến hai đức tính riêng biệt trong con người: nam-tính và nữ-tính; đàn ông và đàn bà. Con người là sự ḥa hợp tuyệt hảo của cá tánh Tiên và Rồng. Điều này cùng nghĩa với câu nói của Thánh-Kinh: "Thiên Chúa dựng nên người giống h́nh ảnh của Thiên Chúa; cả hai nam và nữ được Thiên Chúa dựng nên" (Gen. 1:27).

Carl Jung, bác sĩ tâm lư Thụy Sỹ nổi tiếng, đă gọi hai đặc tính này là nữ-tính và nam- tính. Do đó sự ḥa hợp của Tiên Rồng là nền tảng căn bản của nhân loại. Một tư tưởng khác lạ vẫn có là: "Trong nam có nữ, và trong nữ có nam." Tư tưởng này bắt nguồn từ truyện thần-thoại, như truyện Tiên và Rồng. Theo Carl Jung th́ sự phát triển tâm lư ở tại sự hoà-hợp của hai thái-cực nam và nữ (the conjunctio oppositorum).

 

5) Đặc Tính Linh-đạo của Người Công Giáo Việt Nam

Đặc-tính linh-đạo của Người Công Giáo Việt Nam được phát-biểu trong sự sùng kính của quần chúng (popular devotions). Tất cả mọi nghi lễ gồm lời kinh, tiếng hát, và ngay cả đến những điệu ca vũ. Sùng-kính này gồm có nhất là: (A) Tôn thờ Chúa Giêsu trong Tuần Thánh (Holy Week), và (B) Tôn-kính Nữ Vương Maria.

 

A) Tuần Thánh:

Cao điểm cuả Tuần Thánh là Tam Nhật (the Triduum), bắt đầu từ đêm Thứ Năm. Không bao giờ h́nh ảnh Chúa Jêsu được chú trọng đến nhiều như những ngày này. Sau đây tôi xin kể tắt lối giáo-xứ Kẻ-sặt -xứ của cả tác giả và dịch giả- mừng lễ Tam-nhật, hy vọng bạn đọc có một cái nh́n tổng quát về đặc-tính linh-đạo của người Việt-nam.

1)Thứ Năm Tuần Thánh ( Holy Thursday ):

Ngày Thứ Năm Tuần Thánh được cử hành từ Bữa Tiệc-Ly (Last Supper). Gian nhà sạch sẽ và lịch sự của một gia-đ́nh trong giáo-xứ được chọn làm địa-điểm cho cuộc rước kiệu. Độ năm giờ chiều, linh-mục chủ-tế cùng với các hội đoàn bắt đầu đi kiệu từ nhà đó đến nhà thờ. Sau đó lễ Rửa Chân và lễ Chúa Lập Phép Thánh Thể được cử hành hết sức trọng thể.

Tôi không thể diễn đạt hết được những cảm-nhận trong thực tế mắt thấy tai nghe trong ngày lễ này: Cung Thánh được trang hoàng rất Trọng Thể, hằng ngàn giáo dân cung kính nh́n ngắm cha chủ tế rửa chân cho mười hai vị kỳ lăo trong xứ. Phúc âm Thánh John kể việc Chúa rửa chân cho các môn-đệ được hát lên. Sau đó, cha chủ tế cắt nghĩa lễ phép rửa chân như Chúa Giêsu đă làm xưa để dân chúng hiểu và đem ra thực hành.

Sau lễ, Ḿnh Thánh Chúa được trưng bầy trên bàn thờ đă được trang-hoàng rất lộng lẫy để dân chúng thay phiên nhau thờ lậy suốt đêm. Xứ có bốn trường đồng nhi nam, và bốn trường đồng nhi nữ. Các em của bốn trường này, cùng với người lớn, thay phiên nhau thờ lậy Thánh-Thể suốt cả đêm.

2) Thứ Sáu Tuần Thánh ( Good Friday):

Chiều Thứ Sáu Tuần Thánh tượng Chúa Kitô rất lớn vác Thánh Gía được đặt ở đầu làng về phía bắc, và tượng Đức Mẹ Sầu-bi được đặt ở phía Nam. Độ sáu giờ tối cuộc rước từ hai đầu làng bắt đầu. Hàng ngàn, các ông và thanh niên đi theo kiệu Chúa Kitô. Hàng ngàn, các bà và các cô theo kiệu Đức Mẹ. Trên đường kiệu dân chúng vừa đi vừa hát, và đọc kinh mân Côi. Đồng thời kèn đồng đưa lên những điệu nhạc thê thảm.

Khi kiệu tới sân nhà thờ, tượng Chúa và Đức Mẹ được rước lại gần nhau. Lúc đó phần Thương-Khó của Phúc-âm thánh Matthew được ca xướng lên. khi tới câu: "Chúa Giêsu vác thánh giá đến ngọn đồi Golgotha" th́ kiệu tiếp tục vào trong nhà thờ. Tượng Chúa Jêsu được đưa vào cung-thánh đă được che phủ bằng bức màn thật lớn.

Trong gian cung thánh, sau bức màn, việc đóng đanh Chúa vào Thánh gía được diễn lại: Khi đọc lời phúc-âm tới câu: "Họ đóng đanh Chúa Giêsu vào thánh gía" th́ lính cầm búa, giả đóng đanh. Tiếng búa nện trên cái đanh lớn ở sau bức màn trên cung-thánh làm tai nghe phải rùng rợn!

Sự việc diễn tiến chỉ có vài phút, nhưng những âm thanh chan chát của búa và đinh vẫn c̣n vang vọng trong tai; họ nghe thấy những tiếng khóc nức nở, và nước mắt chẩy trên má của những người tham dự!

Đóng đinh xong, quân dữ dựng thánh gía lên. Những người trong đám đông tới gần Thánh Gía, u-sầu, thảm thương trước cảnh Chúa bị đóng đinh.

Những bài ngắm sự Thương Khó được các ông ca xướng. Các bà và các cô ngâm nga bẩy sự Thương Khó của Mẹ Maria. . . kèm theo những tiếng trống, tiếng chiêng cho đến 11 giờ khuya th́ tháo đanh và mai táng Chúa trong mồ.

Trong hang đá nơi táng xác Chúa, dân chúng qùi gối, cầu nguyện và hôn chân Chúa Jêsu. Nghi thức này được kéo dài cả ngày Thứ Bẩy để mọi người trong xứ thay phiên nhau cầu nguyện và viếng xác Chúa mai táng trong hang đá.

3) Thứ Bẩy Tuần Thánh -Lễ Vọng Phục Sinh:

Thứ Bẩy là ngày nghỉ ngơi, ngày suy niệm về sự im lặng và bất động của Chúa Jêsu nằm trong mộ. Hôm nay dân chúng ai cũng mệt mỏi cả tinh thần lẫn thể xác trong những biến cố đă xảy ra trong mấy ngày trước.

Nhưng đến chiều th́ sự nhộn nhịp trở lại, dân chúng đến đầy nhà thờ; các bà, các cô mặc diện thật đẹp như ngày đại hội. Lễ Vọng Phục Sinh được bắt đầu: Cha chủ-sự làm phép Lửa. Sau đó, cây nến Phục Sinh được đốt lên từ đống lửa vừa làm phép; giáo dân mỗi người cầm cây nến được đốt lên từ Cây Nến Phục Sinh. Khi vào nhà thờ, cha xứ theo cây Nến Phục Sinh đi lên cung thánh, đồng thới hát ba lần câu: "Ánh Sáng Chúa Kitô!" và mọi người đồng thanh thưa: "Cảm tạ Thiên Chúa!"

Mọi người ngồi im lặng để chú ư nghe những bài lịch sử cứu độ kể trong Cựu-Ước và Tân-Ước; sau đó cha chủ-tế đọc lớn tiếng: "Chúa đă sống lại!" Toàn thể dân chúng nhẩy mừng; màn che Cung Thánh được mở ra, các đèn bật sáng lên, đàn nhạc bắt đầu vang lên vui mừng, phá tan sầu muộn bao trùm ḷng mọi người mấy ngày qua. Bài ca Phục-sinh vang lên: "Chúa thật đă Phục-sinh ! Alleluia! Alleluia!"

Chiều Chúa-nhật Phục-sinh kiệu Chúa Jêsu Sống lại được rước quanh làng cùng với những tiếng kèn đồng và điệu ca khải hoàn, hát mừng Chúa đă thắng cái chết và sống lại hiển vinh!

 

B) Ḷng Sùng kính Mẹ Maria !

Tùy mỗi địa phương, người Việt Nam sùng kính Mẹ Maria dưới những tước hiệu: Mẹ Mân Côi, Mẹ Hằng Cứu Gíup, Mẹ La-Vang. Lần Hạt Kinh Mân Côi được giáo dân thực hành ở nhà thờ và ở tư gia, ngay cả khi lái xe, hay trên xe chuyên chở hành khách.

Năm 1999 giáo-hội Việt-Nam đă mừng kỷ niệm hai trăm năm Đức Mẹ hiện ra tại La-vang. Trong thời kỳ vua chúa Việt-nam, nhất là đảng Văn-Thân, bắt bớ Đạo. Một số giáo dân ẩn nấp trong rừng La-vang, thuộc tỉnh Quảng-trị, để tránh sự bắt bớ. Lúc đó họ được Đức Mẹ hiện ra. Đức Mẹ đă cứu giúp những người lánh nạn; Mẹ đă hướng dẫn họ lên rừng lánh nạn và chỉ cho những cây thuốc chữa bệnh để họ uống khi đau yếu. Biến cố này được xẩy ra trước biến cố Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội hiện ra ở Lộ-đức.

 

6) Đặc Tính Linh-Đạo của Người Việt Nam

Cũng như đa số dân Á-Châu, linh-đạo Việt Nam hướng về toàn-diện (holistic) và nhập-thể (incarnational), nghiă là họ cho thể xác (body), linh hồn (soul), và thần- linh (spirit) là một.

Tây Phương quan niệm về con người qúa tiêu cực (negative); họ tách biệt thể -xác ra khỏi thần-linh (spirit). Chủ-trương này đưa tới thuyết nhị-nguyên không lành mạnh (unhealthy dualism).


Chú-thích:

Dualism: Thuyết nhị-nguyên. Trong thời Thánh Phalô giảng Đạo Chúa Kitô ngài đă thấy quan niệm nhi-nguyên này ở Côrinthô: Thuyết này dựa trên quan niệm rằng:

Xác là thể chất
Hồn là Linh Thiêng
Thể chất là xấu xa, nhơ bẩn.
V́ thế đă có chủ trương diệt dục khắt khe;
Hay là buông thả phóng túng v́ cho rằng phần linh thiêng nơi con người vượt qúa thể chất không thể nào bị ố nhơ bởi việc làm của thân xác.
Nhóm khác muốn cấm Hôn Nhân
Nhóm th́ không tin kẻ chết sống lại và cho rằng: diệt dục, đắc đạo rồi th́ đă là một người phục sinh.

(Chú thích trên được dẫn nhập vào Thư thứ nhất của Phaolô gửi Corinthô của Lm Nguyễn-Thế-Thuấn trong bản dịch Kinh Thánh)

(Italics: dịch-giả).

Dân chúng ngày nay khám phá ra khả năng vô song của thể xác và giá-trị cao siêu của nhục-tính (sexuality); họ không thích nghe bàn đến vấn đề phạt xác, hay ḱm dục. Cũng thời gian này, nhiều người đă hướng về Á-Châu với ước mong có được những ǵ mà Tây Phương c̣n thiếu.

Á-Châu không những cung-ứng khôn ngoan, và kỳ diệu huyền bí (wisdom and mysticism), nhưng c̣n cống hiến đường lối thực hành cụ thể để chiêm-niệm và tu đức. Á-châu hoàn toàn loại bỏ nguyên tắc nhị nguyên của xác hồn ( body-soul dualism).

Thực hành tu-đức được tóm lược:

(a) Luyện thân Thể.
(b) Luyện thở.
(c) Luyện ư trí.

a) Luyện Thân Thể
Thái-độ người Á-Châu về thân xác ảnh hưởng từ phương dược của Người Trung Hoa, phương dược nói đến những "đường tuyến", hay "những rănh" để sức-lực chẩy qua, và đem sự sống đến toàn thân một con người. Lực này được gọi là "khí" trong tiếng Việt Nam.

Nguồn nội lực là từ bụng (người Nhật gọi là "hara"); bụng là một biển nội lực, và đặc biệt là bụng dưới (tandem), vài phân dưới rốn. Nơi đây là nguồn mạch của sáng-tạo (creativity), của thực-nghiệm thiêng liêng (religious experience) là ngai toà của sức mạnh lành thánh. Đúng v́ thế, mà thiền-sư cho việc trụ vào bụng dưới là quan trọng nhất. Khi trụ ta có thể ngồi toạ-sen (lotus position), bán toạ-sen (semi lotus), ngồi trên gót chân, hay ngồi trên ghế. Khi ngồi trụ ta thảnh thơi hai vai, lưng thẳng, đưa ngực ra đằng trước, mắt khé mở và tập trung vào bụng.

B) Luyện thở.
Thở từ bụng dưới lên là ch́a khóa căn bản. Thở từ từ và nhịp-nhàng. Cũng như ngồi có thể đưa tới thực-nghiệm thiêng liêng. Thở cũng vậy. Thở dẫn khí-lực đi khắp thân-thể.

C) Luyện trí.
Tâm Trí con người bận rộn không ngơi, nó nghĩ từ chỗ này đến chỗ khác; lo đến tương lai, hay nhớ về qúa khứ. Thánh Têrêsa Avila coi trí vẽ như mẹ rại đă bị rốt trong lồng.

Nghệ thuật luyện trí là để trí nghỉ ngơi trên một điểm nhất định. Chẳng hạn: để trí vào một lời Thánh-kinh, như chữ: "Chúa," hay câu: "Hăy ở lại trong t́nh thương của Cha" (Gioan 15). Ta thực-hành cách này qua việc thở và ngồi như nói trên. Do đó, tâm trí bao giờ cũng ở trong hiện-tại. Chia trí sẽ đến, nhưng ta không chống lại. Nó đến, rồi nó sẽ đi.

 

Kết Luận

Linh-đạo toàn-diện ( holistic spirituality) nhận rằng thân thể điềm-tĩnh có thể đưa đến sự phẳng lặng bên trong; yên lặng bên trong cần để nghe tiếng Chúa; để thực- nghiệm sự hiện-diện và t́nh-yêu say đắm của Chúa. Chúa Giêsu nói: "Nước Chúa ở trong con" (Lk 17:21). Đức Tin cho ta nhận thấy Chúa ở trong ta, và đức Mến cho ta ôm lấy Chúa. Sự ôm ấp giữa Chúa và ta đem lại cho cả Chúa lẫn ta một sự nghỉ ngơi khôn tả. Đây là linh-đạo chiều sâu!