Con  Người

 

 

I – Con Người

 

   

  

    "Lậy Chúa, Chúa đă tạo dựng chúng con cho Ngài, nên ḷng chúng con sẽ không yên nghỉ được, bao lâu chưa được ở nơi Ngài" (thánh Augustinô, "confessions" 1,1).

I. Con người, được sinh ra để giao ước với Chúa.

            Sáng tạo là tiếng nói đầu tiên của Thiên Chúa trong kế hoạch giao ước của Người. Cứ theo ư nghĩa mà xét th́ sáng tạo có trước, nhưng cần phải nói là giao ước có trước. Khi nói tới Chúa ta phải bỏ cái nh́n đầy h́nh ảnh, ưa tŕnh bầy công tŕnh sáng tạo của Người như một chuỗi thụ tạo nối tiếp nhau, không ăn khớp với nhau bên trong bao nhiêu. Ta chỉ có thể nói tới hành vi sáng tạo của một Thiên Chúa theo quan điểm thần học khi đưa hành vi ấy hội nhập vào một kế hoạch giao ước có từ đời đời. Thiên Chúa không sáng tạo v́ thích sáng tạo. Nhưng người sáng tạo để có một người đối xứng hầu đi vào cuộc mạo hiểm t́nh yêu và hiệp thông.

            Thuật sống đạo của Kitô giáo dựa trên niềm xác tín đó. Sở dĩ ta có kinh nghiệm sống đạo được là v́ Thiên Chúa đă cho con người có khả năng sống cái kinh nghiệm sống đạo ấy v́ Thiên Chúa đă muốn tạo dựng con người như một thụ tạo có thể sống giao ước. Công Đồng cũng muốn diễn tả điều này khi tuyên bố rằng : "Cứu cánh của bất cứ ai cũng chỉ có một, tức là Thiên Chúa" (MV 22,5). Con người, "ước vọng tự nhiên muốn xem thấy Chúa".

II. Con người, tạo vật được Chúa yêu thương.

            Động lực để Thiên Chúa sáng tạo, để kư kết một giao ước chính là t́nh yêu. T́nh yêu này chính là nền tảng cho mọi kinh nghiệm sống đạo v́ sống đạo là bắt đầu và là bền tâm đáp lại t́nh yêu ấy. Một điều rất quan trọng cần nhớ là : không phải con người đă tạo ra lối đi cho ḿnh, nhưng chẳng qua con người chỉ đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa. Ta c̣n phải đi xa hơn nữa để xác nhận rằng Thiên Chúa không ban cho ta t́nh yêu của Người như cho một cái ǵ ở bên ngoài bản thân Người, nhưng ban cho ta chính bản thân Người khi yêu ta và cho ta có khả năng để yêu thương.

            Khi nh́n vào đời sống hằng ngày, chúng ta thấy rơ có một sự khác biệt hẳn giữa những món quà mà ta có thể cho và họa huằn lắm ta mới dám cho đi. Thậm chí chúng ta thường cho một cái ǵ đó, có thể cho nhiều thứ nữa là khác, nhưng có cho như thế là để tránh cho chính bản thân ḿnh. Lúc đó những món quà như tiền bạc, đồ vật hay một chút thời giờ sẽ trở thành bức b́nh phong che giấu sự ích kỷ của ta, trở thành một cách bảo vệ ḿnh để khỏi hiến thân khi gánh lấy trách nhiệm săn sóc người khác. Cũng vậy, trung thành chặt chẽ với kinh nguyện, với những "việc đạo đức" có thể là một cách để bảo vệ ḿnh : "Lậy Chúa, Chúa đă nhận cái phần của Chúa, xin đừng đ̣i hỏi con hơn nữa". Kinh nghiệm sống đạo là luôn xét lại sự chân thực của ḷng ḿnh. Thiên Chúa đă hiến ḿnh cho ta một cách chân thật, Người không gỉa bộ yêu. V́ thế, chúng ta cũng chỉ có thể sống đạo với sự trung thực tương tự.

III. Con người, h́nh ảnh của Thiên Chúa.

            T́nh yêu nền tảng ấy đă được mặc khải ngay từ đầu Thánh Kinh : "Thiên Chúa đă dựng nên con người giống Ngài, Ngài dựng nên họ giống h́nh ảnh Ngài" (Kng 1,2).

            Biết được rằng ḿnh không hiện hữu một cách mơ hồ, cũng không tự lập một ḿnh một cách đáng sợ, nhưng hiện hữu một cách chính xác "theo h́nh ảnh Chúa", đó quả là một điều hết sức lạ thường.

            * H́nh ảnh Thiên Chúa nơi ta là h́nh ảnh sống động, v́ chính Thiên Chúa là Đấng hằng sống. Sở dĩ ta có sinh lực là do ta hiện hữu theo h́nh ảnh Người. Chúng ta không được quyền nói rằng ḿnh trở thành Chúa, nhưng có thể nói rằng ḿnh tham dự vào sự sống của Thiên Chúa. V́ là h́nh ảnh của Chúa nên ta có sự sống của Người. Nơi đáy ḷng ta c̣n có một cái ǵ đó vượt xa những ǵ chúng ta biết được. Đối với người Kitô hữu, có kinh nghiệm sống đạo là có ư thức về đời sống của ḿnh một cách sâu xa, có ư thức về mầu nhiệm đang ở trong ta và làm cho ta hiện hữu. Nhưng không được v́ thế mà sinh ra kiêu ngạo, v́ mọi sự đó đều do Chúa, ta chỉ c̣n cách là cảm tạ Người. Có một lời nguyện trong phụng vụ diễn tả rất đúng thái độ căn bản của người Kitô hữu trên đường sống đạo : "Chúa đă ban ơn cho chúng con ; ước ǵ lúc nào chúng con cũng biết thán phục những ân huệ ấy". Bao lâu không biết thán phục trước những ǵ đang hiện diện nơi ta dù ta không đáng, th́ không thể nào thực sự bước vào đường sống đạo của Kitô giáo.

            * H́nh ảnh Thiên Chúa nơi ta là h́nh ảnh không thể đánh đổi được. H́nh ảnh ấy đă trở thành một phần con người chúng ta đến nỗi chúng ta sẽ không thể nào mất h́nh ảnh đó, nếu là những con người thật. Ngay từ thế kỷ thứ 2, Irénée đă bắt đầu phân biệt giữa h́nh ảnh và sự giống nhau, một sự phân biệt rất quen thuộc với người Đông phương. Đang khi tây phương có vẻ coi nhẹ sự phân biệt đó. H́nh ảnh th́ không thể nào mất hoàn toàn : nó đă được khơi phục lại nơi người Kitô hữu nhờ ơn thánh tẩy ; lại liên tục được ghi khắc sâu hơn nhờ các nhân đức và nhờ tham dự các bí tích.

            Chắc chắn ta phải gạt bỏ quan niệm cho rằng "bản tính con người đă hư hỏng hoàn toàn". Ơn Chúa đă giới hạn tầm hoạt động của tội lỗi và ngăn không cho tội lỗi tiêu diệt ta. Cần phải ghi nhớ điều đó, mỗi khi nói tới tội và ảnh hưởng của nó trên đời sống chúng ta. H́nh ảnh Thiên Chúa nơi ta sâu xa hơn mọi tội lỗi và v́ thế h́nh ảnh ấy vẫn tiếp tục tồn tại, ít ra dưới dạng là những hạt giống chuẩn bị cho sự hoán cải. Đối với Chúa Cha, con người luôn luôn là một đứa con có thể quay về với Cha và ngă vào ṿng tay Cha với tâm t́nh phó thác.

IV. Con người, được tạo dựng trong Đức Kitô.

            Có hai bản văn của Thánh Phalô có thể giúp chúng ta khám phá ra rằng chân lư ta được dựng nên giống Thiên Chúa và giống h́nh ảnh Thiên Chúa là một chân lư hết sức hiện thực.

            1/ Khi nói về Đức Kitô, thánh Phaolô đă qủa quyết : "Người là h́nh ảnh Thiên Chúa vô h́nh, là Trưởng Tử trong mọi loài thọ sinh. V́ trong Người, muôn vật được tạo thành. Tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người" (Cl 1,16)

            Lời qủa quyết ấy càng làm cho ta kinh hoàng khi không nhằm nói tới Ngôi Lời đời đời, mà nói đến Đức Kitô, Con Thiên Chúa làm người. Như thế, con người đúng là h́nh ảnh của Thiên Chúa ḿnh. Những ǵ sách Sáng Thế qủa quyết không phải là rỗng tuếch, cũng không phải là vô giá trị. Tuy nhiên, những lời qủa quyết ấy chỉ được đầy đủ ư nghĩa khi giao ước mới được mạc khải lần cuối cùng. Ngay trong khi chúng ta là h́nh ảnh Thiên Chúa do Người tạo nên, đă có h́nh ảnh vĩnh cửu và hoàn hảo là Con yêu dấu của Người : Người Con ấy đă xuất hiện trước mắt chúng ta dưới diện mạo nhân loại của Đức Giêsu. Nhờ vậy, ta mới thấy được kinh nghiệm sống đạo ở mức sâu xa nhất của nó : chúng ta không ra công gắng sức cho một cái ǵ may rủi, nhưng đưa vào một khuôn mẫu là Chúa Con và kinh nghiệm sống đạo của Đức Giêsu Nadarét. V́ được tạo dựng trong Người, nên chúng ta phải trở thành con trong Người, phải đi vào con đường của Người để cùng với Người bắt gặp Chúa Cha.

            Nhưng hành tŕnh đó không phải v́ thế mà dễ dàng, nó vẫn nằm ngoài khả năng nhân loại. Tuy nhiên, trong Đức Kitô, hành tŕnh ấy sẽ yên hàn và chắc chắn. Nhà sáng tác muốn thực hiện một tác phẩm độc đáo sẽ thấy mở ra trước mặt ḿnh cả một công tŕnh bao la với những giờ giấc thức khuya dậy sớm và lao động cật lực vất vả. Khi quyết định theo sự hướng dẫn của một bậc thầy, người ấy vẫn luôn luôn có bổn phận phải làm ra một tác phẩm độc đáo, chứ không sao chép lại những phần qui hoạch sẵn. Dĩ nhiên, người ấy sẽ học được kinh nghiệm và những lời khuyên quí báu. Muốn có kinh nghiệm sống đạo th́ không được t́m cách sao y chép lại Đức Giêsu, mà là b́nh tâm bước đi, mắt dán chặt vào Đức Kitô. Khi nh́n vào Đức Kitô, họ không sợ bị lạc xa ơn gọi sâu xa của ḿnh mà sẽ hoàn thành bản thân ḿnh theo đúng hướng Thiên Chúa muốn, bởi v́ họ đă được tạo dựng là tạo dựng "trong Đức Kitô".

            2. Thánh Phaolô c̣n xác định rơ mạc khải này trong một đoạn khác mà sau này Elizabeth de la Trinité đă để rất nhiều giờ suy niệm :

            "Chúc tụng là Thiên Chúa là thân phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô, từ cơi trời, Người đă thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ân phúc của Thánh Linh. Trong Đức Kitô, Người đă chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ" (Ep 1,3-4)

            Ở đây tác giả khẳng định niềm tin bằng cách chúc tụng Thiên Chúa, Thân Phụ Đức Giêsu. Và ở đây ta cũng gặp một Chúa Con đă làm người, gặp Đức Giêsu Kitô. Nhưng kế hoạch cứu độ đă bắt đầu ngay khi cuộc nhập thể chưa diễn ra nữa : chúng ta đă được chọn "trước cả khi vũ trụ được tạo thành", và sự hiệp thông Chúa gửi đến cho ta đă có trước cả khi bi kịch tội lỗi xẩy ra. Như vậy, nhập thể là cách cho thấy ư định của Thiên Chúa đă có từ đời đời, nhập thể không phải chỉ là để tẩy xóa tội đang ngự trị trong ta.

            Thế là ta đă thấy hết giá trị của tư cách "h́nh ảnh Thiên Chúa" nơi ḿnh. Chúng ta có nhiệm vụ là làm sao cho h́nh ảnh ấy càng ngày càng giống bản mẫu. Tuy nhiên, điều này đă được thực hiện nơi Đức Kitô. V́ thế, hiệp thông sâu xa với Đức Kitô, ta sẽ trở thành h́nh ảnh của Chúa Cha. Đến đây, "mầu nhiệm" đă được mạc khải xong : chính khi kết hợp với kinh nghiệm sống đạo của Đức Kitô, chúng ta thực hiện được ơn gọi sâu xa của những tạo vật được Chúa yêu thương. Mầu nhiệm ấy được thực hiện qua các thời đại, nhờ sự nâng đỡ của một Thiên Chúa giao ước hết sức trung thành. Thánh Linh chính là nhà kiến trúc kiên nhẫn của Mầu Nhiệm ấy .

    V. Con người niềm nở đón rước Thánh Linh.

            Ta không được để những ǵ vừa nói trên đây đưa ta tới một ngộ nhận : không phải cứ nh́n vào Đức Giêsu và bước theo dấu chân Người là đủ. Đức Giêsu không phải chỉ là cái mẫu cho ta được thần hóa. Sở dĩ thế là v́ hai lư do :

            1/ Đức Giêsu không phải chỉ là kiểu mẫu, Người c̣n là Đấng thổi kinh nghiệm sống đạo ấy cho ta từ trong sâu xa. V́ thế, "theo dấu chân Người" chưa đủ (1Pr 2,21). C̣n phải kết hợp với kinh nghiệm của Người từ bên trong, đến mức ta có thể nói như thánh Phaolô : "Tôi có sống, nhưng không c̣n phải là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20).

            Và bởi v́ Đức Kitô là Con Thiên Chúa, nên đó cũng chính là cuộc hành tŕnh triệt để nhất Thiên Chúa mời gọi con người bước vào. Không có nhà sáng lập tôn giáo nào có thể đưa ra một giáo lư như vậy. Chỉ có Đức Kitô, Đấng mang sứ mạng thu họp tất cả nhân loại nơi ḿnh, mới làm thế.

            2/ Ta chỉ có thể thực hiện được cuộc kết hợp với Đức Kitô nhờ nhận được chính Chúa Thánh Linh. Chúng ta sẽ có trước mắt cái h́nh ảnh vẫn luôn tồn tại, khuôn mặt nhân loại hấp dẫn của Đức Giêsu và bằng chứng đời sống của Người. Nhưng phải được ban cho Thánh Linh, được ban cho Thiên Chúa ở tận đáy ḷng ta, th́ kinh nghiệm của Đức Kitô mới trở thành kinh nghiệm của ta được.

            Như vậy, ngay tự căn bản, đời sống đạo của người Kitô hữu chính là đón tiếp Thánh Linh và ngoan ngoăn nghe theo tiếng gọi của Người. Đây đúng là một sự cộng tác, trong đó ta hiến dâng tâm hồn và dấn thân. Thế nên, thái độ sống đạo căn bản là tỉnh táo, là chú ư hết sức để nhận ra hoạt động của Thánh Linh. Elizabeth de la Trinité đă mở đầu giờ cầu nguyện của ḿnh như sau : "Xin cho con có mặt ở đây, tỉnh táo trong đức tin, thờ lậy và hiến thân cho Chúa sáng tạo". Những ai đă có kinh nghiệm đón nhận Thánh Linh đều biết rằng đây không phải là thái độ dễ dăi hay cầu an.

            Thánh Linh là công tŕnh sư của kinh nghiệm sống đạo, Người tha thứ, xoa dịu và ban sức mạnh. Người điều chỉnh những sai lệch và uốn mềm những ǵ là cứng cỏi. Người mang lại cho ta niềm vui trong Chúa, bằng cách hướng ta về với Chúa Cha.

VI. Con người, nghĩa tử của Chúa Cha.

            Bây giờ ta trở lại với nguồn phát sinh ra kế hoạch yêu thương ấy. Nếu cuộc hành tŕnh sống đạo của con người là hiệp thông với mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, th́ cũng đừng bao giờ quên chuyển động đi lên làm cho mầu nhiệm Ba Ngôi sống động. Chúa Con lẫn Chúa Thánh Linh đều không hoạt động cho ḿnh, cho tư lợi của ḿnh. Hai Ngôi đă nhận lấy bản thân từ ḷng quảng đại bao la của Chúa Cha, nên không thể đi ra ngoài ḷng quảng đại ấy, càng không thể đi ngược lại sự quảng đại ấy. Hai Ngôi từ đời đời luôn xả thân phục vụ Vinh quang mà từ đó Hai Ngôi đă  xuất phát ; ngược lại, Vinh quang của Chúa Cha là sức mạnh ban phát vô hạn. Tin Mừng của Kitô giáo chính là mọi sự hiện hữu, mà trên hết là Thiên Chúa trong mầu nhiệm Ba Ngôi, đều chỉ vững bền được trong t́nh yêu và trong sự hiến dâng.

            Giáo lư của Đức Giêsu và lời chứng nội tâm của Chúa Thánh Linh sẽ hướng dẫn con người trên con đường hiến dâng ấy. Phải chấp nhận để ḿnh được yêu thương tới mức đó, chấp nhận lănh lấy bản thân ḿnh từ một t́nh yêu vô hạn, chấp nhận chỉ hiện hữu trong sự ban phát dồi dào ấy. Không dễ dàng lắm đâu nếu muốn chấp nhận sự thật này : "Con là Con Yêu của Ta, Con đẹp ḷng Ta mọi đàng". Có những lúc chúng ta muốn ban cho ḿnh cái mà ḿnh đang là, chúng ta muốn được yêu thương bằng một t́nh yêu nhỏ hơn, tức là để sống theo ư ḿnh. Bất cứ ai bước trên  con đường đức tin đều sẽ có lúc gặp nguy cơ không tin hay từ chối Thiên Chúa hoàn toàn. Sẽ có lúc ta cảm thấy run sợ khi nghe tới sức mạnh nóng bỏng của t́nh yêu Thiên Chúa. Muốn vượt qua nỗi sợ hăi đó chỉ có cách là làm lại một hành vi đức tin, một đức tin đ̣i hỏi và tăm tối. Chỉ có các thánh nhân mới thấm thía hết cơn cám dỗ chối từ Thiên Chúa, cám dỗ tránh né "t́nh yêu quá lớn" của Người.

            Công tŕnh thứ hai của Chúa Thánh Linh là giúp ta sống như một người con. Đó là giai đoạn trưởng thành của đức tin : "Khi tôi đă thành người lớn, tôi bỏ tất cả những ǵ là trẻ con" (1Cr 13,11).

            Chấp nhận sống như một người con là bước vào con đường của Đức Giêsu, trong Chúa Thánh Linh, là biết rằng, con đường này sớm hay muộn sẽ đưa ta tới những thử thách của sa mạc, của những ngày giảng dậy mệt nhoài, của giấc ngủ vội trên boong tầu, của một vài giờ ban đêm giật vội lấy để cầu nguyện bằng mọi giá. Là biết rằng con đường này sẽ là con đường vượt qua, đi từ thử thách Ghétsêmani đến cái chết bất động đứng giữa trời và đất, "bị đóng đinh như một con chim đêm nằm chết trên cánh cửa vựa cỏ khô" (Charles Péguy). Cần phải can đảm lắm mới t́m ra được niềm vui nơi đêm sâu thăm thẳm ấy, chỉ v́ một lư do duy nhất là Chúa Cha vẫn là Cha, Người vẫn im lặng chờ ta thốt lên lời tuyên xưng đức tin : "Lạy Chúa, chính Người là Chúa của con".

             "Con xin phó dâng linh hồn con trong tay Cha" (Lc 23,46).