Con Người

              

 

V – Dâng hiến bản thân ḿnh

 

 

* Đời Sống Đạo Và Tâm Lư Học.

Bây giờ chúng ta hăy xác định xem cái ǵ đă nối kết sự hiểu biết của ta về bản thân ḿnh với những dữ kiện thực nghiệm do khoa tâm lư cung cấp.

Ai trong chúng ta cũng mang hai khuynh hướng nơi ḿnh :

- Khuynh hướng quay về với ḿnh và yêu thương bản thân ḿnh. Biểu hiện trước hết có thể thấy được là bản năng bảo tồn. Khi gặp một nguy hiểm, ai cũng biết con người thường có những hành vi phản xạ nào : nếu bị đe dọa ta sẽ tự động giơ tay lên che mặt. Khuynh hướng đó tự nó không có ǵ là ích kỷ cả. Ta c̣n nhớ một câu nói của thánh Francois de Sales, một bậc thầy về tâm lư đạo đức : “Không được thương yêu ḿnh ít hơn Chúa yêu ta”. Phải gạt bỏ những lời rủ rê ta khinh rẻ bản thân ḿnh, đôi khi có tính cách quá khích và phá vỡ sự ổn định trong tâm hồn ta. Đành rằng được Thiên Chúa Cha mời gọi sống kinh nghiệm đạo là đồng thời cũng được mời gọi “liều mất mạng sống ḿnh”, nhưng có mất đi như thế là để “cứu mạng sống ấy” (Mc 8,35) và để phát triển trong sự tự do trước nhan thánh của Thiên Chúa hằng yêu thương ta.

Khuynh hướng quay về với ḿnh chỉ trở nên xấu khi nó trở nên thái quá và chiếm hết ư thức của ta. Lúc đó ta nhượng bộ để phán đoán mọi sự theo tư lợi của ḿnh. Đó là một cách xúc phạm tới tự do của con người : v́ được tạo dựng theo h́nh ảnh và giống với Thiên Chúa, con người chỉ thực hiện được bản thân ḿnh khi tham dự vào t́nh yêu của Ba Ngôi. Đối với những ai đă chịu phép rửa, mà quy về ḿnh như thế là đă mặc nhiên khước từ ơn nghĩa của bí tích rửa tội : “Anh em đâu c̣n thuộc về ḿnh nữa” (1Cr 6,19). “Không ai trong chúng ta sống cho chính ḿnh... Vậy, dù sống dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” (Rm 17, 7-8)

- Khuynh hướng thứ hai là khuynh hướng không cho ta đóng kín lại với ḿnh, mà phải hiến thân, phải chia sẻ, ít ra với một số anh em. Đó là sự nhiệt t́nh t́m kiếm, hay dấn thân phục vụ một chính nghĩa. Nói như thế không phải là cho rằng bất cứ khuynh hướng vị tha và ḷng tận tụy nào cũng đương nhiên có tính cách Kitô giáo, mà phải phân biệt kỹ hết sức có thể trong “sự chuẩn bị cho Tin Mừng” đó, những cái nền nhân loại của ơn nghĩa Chúa. Đức Giêsu, Ngôi Con nhập thể, đă đến loan báo cho thế giới biết sự viên măn của t́nh yêu Ba Ngôi, và Thánh Linh của Người đang hoạt động không ngừng để cấy vào ḷng mọi người t́nh yêu ấy.

Khoa tâm lư đă phát hiện nơi con người có hai khuynh hướng cơ bản đó, một ích kỷ và một vị tha. Người có tính vị tha nhiều hơn có thể sẽ dễ sống quên ḿnh v́ anh em và v́ Thiên Chúa hơn, nhưng với điều kiện người ấy phải nhận thức rằng đức ái đối thần là một ơn huệ vượt xa những thiên hướng tự nhiên thích chia sẻ nơi ḿnh. Ngược lại, người có tính ích kỷ nhiều hơn chưa hẳn là phải  bị  gạt đi hay xếp vào loại không có khả năng sống thánh thiện. Những ai biết rơ ḿnh sẽ hiểu phải nỗ lực làm ǵ để quên ḿnh, họ cũng ư thức rằng Thiên Chúa biết rơ họ và lưu tâm đến những cố gắng của họ.

Như vậy, muốn giáo dục sống đạo, phải nhờ đến những nghiên cứu của tâm lư học, như nghiên cứu về tính t́nh chẳng hạn. Người ta t́m cách phát hiện những điểm mạnh và những điểm chính yếu trong tính t́nh của ḿnh, để cố gắng đáp lại tiếng gọi của Chúa dựa trên những nền tảng khách quan đó. Ở đây, ta phải tránh ảo tưởng và thất vọng. Ảo tưởng khi cho rằng ḿnh có thể bắt tay vào những nỗ lực này, chọn bậc sống kia, đang khi đó quên rằng theo sự phân tích tính t́nh, làm như thế rất nguy hiểm. Thất vọng khi nghĩ rằng v́ tính này, khí nọ mà ta không thể nào đón nhận tiếng gọi của Chúa : “ư muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh” (1Tx 4,3)

Tội ác có thể do gien di truyền, nhưng thánh thiện th́ không. Tertullien nói : “người ta không sinh ra là Kitô hữu, mà người ta trở thành Kitô hữu”. Cha yêu thương chúng ta và trong Đức Kitô, Người biết chúng ta xác thực đến nỗi Người nắm rơ từng khả năng, từng yếu đuối của mỗi người, để rồi thích nghi tiếng gọi của Người thế nào cho ai cũng đáp lại được. Mỗi người được mời gọi từ trong sự thật của người ấy, từ trong quá khứ riêng và chung mà người ấy đang chịu ảnh hưởng. Thánh Kinh và lịch sử Giáo hội đă làm chứng cho chúng ta thấy Thiên Chúa luôn luôn mời gọi và con người đáp lại bằng trăm ngàn cách. Không ai bị Chúa Cha coi thường cả, và mỗi người phải ngoan ngoăn tuân theo sự thúc đẩy của Thánh Linh để t́m ra chỗ đứng của ḿnh trong công tŕnh vĩ đại là xây dựng Thân ḿnh Đức Kitô.

* Xác, Hồn Và Thần Khí

Ngày nay, thật là hợp thời khi lên tiếng phê b́nh những từ vựng như hồn xác, khẳng định không chút dè dặt rằng tính nhị nguyên đó là di sản của tư tưởng Hy Lạp, không ăn nhập ǵ đến sự phong phú của quan điểm nhân học trong Kinh Thánh.

Những cuộc tranh luận đó thường kết thúc đột ngột hay biến thành những cuộc xung đột chỉ v́ người ta không xác định rơ ư nghĩa của các từ ấy. Không thể rút gọn xác thành một tổ chức sắp xếp hài ḥa các chức năng, cũng không thể định nghĩa hồn là một thực tại không thể sờ thấy làm cho xác hoạt động, tựa như người điều khiển con rối vậy. Dù có đề cập đến vấn đề xác và hồn thế nào đi nữa, khó khăn cơ bản vẫn là mối quan hệ giữa đôi bên. Ta không thể quan niệm sự liên hệ đó như sự liên hệ giữa con ngựa và cỗ xe, mà phải nói chúng hoạt động chung. Càng không được bảo chỉ có hồn là được Chúa lưu ư, xác chỉ là lớp y phục tồi tệ mà một ngày nào đó ta sẽ cởi bỏ nhờ đă ư thức khinh chê nó, đă chuẩn bị ḿnh kỹ lưỡng cho ngày rũ bỏ lớp áo đó. Quan niệm xác là nhà tù cũng không có cơ sở trong cái nh́n nhân học của Thánh Kinh.

Thật ra, cái mà ta gọi là xác chính là t́nh trạng nhập thể của tinh thần hay hồn. Con người “là” thân xác hơn là con người có thân xác. Cần nhấn mạnh tới vai tṛ quan trọng của thân xác trong việc cầu nguyện hay trong các nghĩa cử bác ái. Hồn là nguyên lư làm cho cái linh thiêng xuất hiện và luôn luôn được biểu lộ qua trung gian của thân xác. Thiên Chúa yêu thương con người trong toàn bộ thống nhất của nó và lời mời gọi con người qua tất cả những ǵ là của con người.

Lạc giáo do Marcel d’Ancyre đưa ra, phủ nhận Đức Kitô có linh hồn nhân loại v́ đă có thiên tính của Ngôi Lời thay thế, là điển h́nh cho thái độ không nh́n nhận tính duy nhất của con người. Để giải đáp cho sự lệch lạc này, không có câu trả lời nào hay hơn là của Thomas d’Aquin. Ngài đă xử dụng tư tưởng và ngữ vựng của Aristote để giới thiệu hồn là mô thể cơ bản của thân xác.

Trên b́nh diện sống đạo, chúng ta cũng phải khôi phục lại tính duy nhất của thụ tạo. Thiên Chúa kêu gọi là kêu gọi con người toàn diện, và con người trả lời cũng là con người toàn thể. Khi đáp lại tiếng gọi của Chúa bằng cách qú xuống cầu nguyện, tôi là thân xác ấy. Khi dấn thân vào các việc phục vụ và bác ái huynh đệ, tôi là thân xác ấy. Lúc chết Thiên Chúa sẽ không chỉ gọi một ḿnh linh hồn bước vào cuộc sống Ba Ngôi, để thân xác nằm tan rữa trong ḷng đất v́ đó chỉ là thân xác tạm bợ, không ích lợi ǵ.

Các giáo phụ ngày xưa đă đề nghị tŕnh bày mầu nhiệm con người thành ba mặt : Theo họ, con người vừa xác, hồn, vừa là thần khí. Cái nh́n đó đă giúp họ dễ uyển chuyển hơn khi nói về con người.

- Con người là thân xác, thuộc về hạ giới, được nhào nặn lên bằng bùn đất, khiến con người liên hệ sâu xa với vũ trụ chung quanh. Nhận ra gốc gác đó không phải để khinh rẻ con người, mà để xác tín thêm có một sự hài ḥa sâu xa trong vũ trụ tạo thành : con người là tiểu vũ trụ, và tất cả những ǵ sống, động đậy trong vũ trụ đều dội lại nơi con người.

- Con người là “linh hồn sống động” (St 2,7). Con người chia sẻ sức sống của công tŕnh Thiên Chúa dựng nên. Thân xác con người cử động và lớn lên do ảnh hưởng của một sức sống nơi con người. Ư nghĩa này của “linh hồn” xem ra tự nhiên và sinh động hơn ư nghĩa mà chúng ta vừa nói ở trên. Chúng ta không sợ rằng nói như thế là sẽ nhốt linh hồn trong thân xác hay đẩy linh hồn đi khỏi v́ thân xác của người tín hữu vẫn gần với quan niệm của Thánh Kinh, theo đó, con người yêu quí thế giới mà nó có nhiệm vụ phải “cày cấy và canh giữ” (St 2,15). Con người không hề bị cám dỗ : muốn chọn Thiên Chúa th́ phải quay lưng với thế giới

- Con người là “thần khí”. Có cần phải viết hoa chữ này không ? Vừa cần vừa không, v́ ta không thể khoanh vùng một cách tuyệt đối đâu là điạ hạt của tự nhiên so với địa hạt của ơn nghĩa. Nơi con người đă có Thiên Chúa hiện diện. V́ thế, ơn Chúa ban qua phép rửa tội không phải là lần đầu tiên Chúa Thánh Linh xuất hiện trong đời ta, cho bằng đó là giao ước giữa Thiên Chúa và con người được thánh hiến.

Quan niệm con người như thế có lợi điểm là tránh được những cái nh́n quá dứt khoát về bản tính tự nhiên thuần túy, c̣n siêu nhiên chỉ như cái ǵ thêm vào. Quan niệm ấy đă triển khai công tŕnh của Thiên Chúa thành một quá tŕnh liên tục hết sức tuyệt vời, được thống nhất bằng ư tưởng : Thiên Chúa giáo dục chúng ta một cách nhẫn nại v́ t́nh thương của Người. Từ đời đời Thiên Chúa đă muốn con người làm người đối xứng với ḿnh trong một giao ước, tuy được ban cho không nhưng hoàn toàn hơn với bản tính sâu xa của con người. Thần học tu đức phải nhấn mạnh tới sự ḥa hợp sâu xa giữa tự nhiên và ơn nghĩa, ḷng kính trọng vô hạn Thiên Chúa dành cho con người và ḷng tin tưởng mà con người phải dành cho Thiên Chúa : khi hiến thân cho Người, ta biết rằng không có ǵ tốt nơi ta sẽ bị phá hủy.

Ḷng tin tưởng đó đă được bộc lộ qua một trong những tín điều cổ xưa nhất : “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Tuy không biết trước sự phục sinh ấy sẽ diễn ra như thế nào, tôi cũng mạnh mẽ quả quyết rằng Thiên Chúa lưu tâm đến toàn thể con người và Người có khả năng cứu vớt trọn vẹn con người. Và chính khi nh́n vào sự cứu độ thân xác đó ta có thể thấy được và quả quyết được rằng toàn thể thụ tạo đă được thâu họp trong Đức Kitô : “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. Quả thế, muôn loài đă phải lâm vào cảnh hư ảo, không phải v́ chúng muốn, nhưng là v́ Thiên Chúa bắt chịu vậy. Tuy nhiên vẫn c̣n niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8,19-21).

* Hướng Về Con Tim Sâu Thẳm.

C̣n một cách khác để tiếp cận mầu nhiệm con người cũng rất có cơ sở trong tư tưởng Thánh Kinh và đă xuất hiện trong văn chương tu đức của Giáo hội Đông phương, có thể giúp ích cho ta : đó là tiếp cận con tim. Con tim là một từ gói ghém tất cả sự phong phú sâu xa của con người, từ khả năng xúc cảm đến trí khôn và ư chí. Sống đạo được coi là một cuộc lữ hành dai dẳng trong kiên nhẫn tiến về con tim sâu thẳm ấy.

Cách tŕnh bày rất súc tích :

1. H́nh ảnh con tim, một thực tại sống động, biểu tượng của một cơ quan sống, chuyển lượng máu cần thiết dẫn toàn thân, có thể giúp ta h́nh dung ra được kinh nghiệm sống đạo với tất cả sức năng động của nó. Cũng nhờ vậy ta tránh được cách suy tư chặt chẽ sít sao của những khái niệm và từ từ thấm nhuần ngôn ngữ biểu tượng phong phú. H́nh ảnh con tim cho thấy tiếng gọi của Chúa và cần trả lời của con người thật phong phú, súc tích : “Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc và nhỏ nhẹ rót vào quả tim nó... Và nó sẽ trả lời Ta như hồi c̣n thanh xuân” (Hs 2,16-17).

Thiên Chúa ngỏ lời với con tim ta để đ̣i hỏi t́nh yêu. Đành rằng trí khôn ta bắt được tiếng gọi của Người và v́ thế đức tin không phải là một cái ǵ phi lư. Nhưng tiếng gọi ấy vọng đến tận nơi sâu xa nhất của con người, tức là con tim. Các khả năng phân tích và hiểu biết của con người được phát triển tối đa nơi con tim đó, khi ư chí tự do của con người bám chặt tiếng gọi ấy một cách trọn vẹn, không chút dè dặt. Con người sống đă lên đường đi “cho đến tận núi Chúa” (1V 19,8)

2. Khi chấp nhận mở con tim ra để t́m kiếm Chúa. Con người chẳng những không bị vong thân mà c̣n dần dần đạt được sự thống nhất nội tâm. Tất cả những ǵ có thể mang tính cách phân tích quá đáng trong các khái niệm như xác hồn và thần khí, nay được thống nhất lại trong một h́nh ảnh một con tim sâu thẳm.

Trong Kitô giáo cũng như trong bất cứ truyền thống nào, ai muốn đào sâu đời sống đạo đều phải đi t́m sự thống nhất. Đời sống vật chất th́ phân tán, với đủ mọi mối quan tâm, đủ mọi công việc. Nên cần phải có sự thống nhất nội tâm thế nào để có thể giúp ta đương đầu với những bận tâm, công việc đó mà không sợ bị tiêu diệt trong đó, kẻo như một tấm gương bị vỡ ra hàng ngàn mảnh. Sống đạo theo con tim sâu thẳm sẽ giúp ta thỏa măn sự đ̣i hỏi phải tạo dựng sự thống nhất nơi ḿnh. Nhưng đường hướng sống đạo này phải phải dứt khoát là ư thức rằng sự thống nhất con người không phải là do một kỹ thuật tập trung chú ư hay do ḿnh đă làm chủ được ḿnh một cách đáng tự hào. Nhưng đó là đóa hoa tươi nở từ t́nh yêu của ta đối với Chúa Cha và từ chỗ chiêm ngắm Đức Kitô. Không ai đạt được sự thống nhất nội tâm nhiều bằng Chúa Giêsu, một người hết sức say mê vinh quang Cha. Sùng kính mầu nhiệm Thánh Tâm Đức Giêsu đúng đắn sẽ nâng đỡ ta trong việc cầu xin cho đời sống đạo của ḿnh được thống nhất.

3. Cũng chính lúc đó ta mới hiểu được tội một cách xác đáng. Tội là từ khước (từ chối t́nh yêu thương của Cha v́ sự hấp dẫn của đam mê lôi kéo hoặc chưa nhận ra (biết) t́nh yêu thương “tha cho chúng v́ chúng chẳng biết”) ḷng thương xót của Chúa Cha và thánh giá của Con Thiên Chúa. Nhưng tội cũng là sự lạc xa bản thân ḿnh, là bước đi thất thểu trong “miền đất khác lạ” mà thánh Grégoire Cả và thánh Ber-nard (Clairvaux) đă nói tới. Tội không ngừng kéo tội nhân ra xa Thiên Chúa là Cha của họ, như đứa con hoang đàng “trẩy đi phương xa, ăn chơi phung phí” (Lc 15,13). Nhưng tội c̣n kéo tôi ra xa bản thân tôi, làm tôi mất phương hướng theo đúng nghĩa của chữ này, không cho tôi t́m thấy ḿnh. Nếu gặp gỡ người khác trong nhục dục hay trong vinh quang hăo huyền, th́ đó không c̣n là quay về với con tim sâu thẳm nữa, như là khi yêu thương đích thực. Lúc đó, gặp gỡ người khác, nhưng kỳ thực là lạc lơng với bản thân. Tuy nhiên, sự lạc lơng do tội tạo ra tự nó cũng có giới hạn. Đó là khi đứa con hoang đàng “quay về với ḷng ḿnh” bắt đầu mơ tới mái nhà Cha.

4. Sống đạo theo con tim c̣n có thể giúp ta tránh được mọi sự tự măn về đoạn đường đă đi qua. Chúng ta phải lên đường từng giờ, từng tháng để tiến về nơi thầm kín của con tim, ở đó chúng ta mới thật là ḿnh v́ có Chúa ngự trong đó. “Tỉnh ngộ với ḿnh, tỉnh ngộ với Chúa” đó là tựa đề một tác phẩm của Dom Le Saux, một đan sĩ Biển đức đă t́nh nguyện sang Ấn Độ sống ẩn dật. Sống đạo theo con tim sẽ cho thấy thế nào là khát khao nồng cháy mà vẫn b́nh an sâu xa.

Khát khao nồng cháy v́ không bao giờ ta thôi t́m ḿnh và thôi t́m Chúa. Như Grégoire (Nysse) đă nói : “bắt đầu đi rồi bắt đầu lại, và bằng những sự bắt đầu không bao giờ chấm dứt”.

B́nh an sâu xa v́ không c̣n cảnh phân tán lạc loài nữa. Con đường dẫn ta tới con tim sâu thẳm cũng là con đường đưa ta đến gặp Chúa. Ai hiểu được mầu nhiệm này là đă mon men tới bờ của niềm vui đích thực.

* T́nh Yêu Nhục Dục Và T́nh Yêu Bác Ai.

Nơi con người có hai khuynh hướng : trước hết là yêu ḿnh và muốn bảo toàn ḿnh. Khuynh hướng này tự nó không xấu, nó chỉ phá vỡ thế quân b́nh khi quá đáng và loại trừ tất cả. Đó là khi con người t́m kiếm ḿnh một cách vô độ, thích khoe ḿnh hay thích thống trị, các tác giả tu đức gọi đây là ḷng yêu chuộng hư danh. Đường về nhà Chúa lúc đó bị mất hút trong những bụi cây ích kỷ. Nếu c̣n nghĩ tới Chúa th́ đó cũng là để kéo Người về cho ḿnh và lợi dụng.

Khuynh hướng thứ hai cũng tiềm tàng trong ḷng mọi người. Đó là sự hướng ngoại, quan tâm đến những cái chung quanh và đến những người khác, muốn làm việc ǵ hữu ích. Khi khuynh hướng này được phát triển trong đời sống đạo, ta sẽ thấy đương sự yêu Chúa v́ chính bản thân Người càng ngày càng nhiều hơn, yêu một cách vô cầu (nhưng-không), cũng như ḷng quảng đại có sẵn nơi chính bản tính con người – h́nh ảnh của Thiên Chúa sẽ triển nở thành một t́nh yêu giống t́nh yêu của Ba Ngôi, trong đó mỗi Ngôi hiến thân cho Ngôi kia một cách trọn vẹn.

V́ nơi con người có hai khuynh hướng đó, nên chữ t́nh yêu trở nên rất hàm hồ. Các nhà tư tưởng Hy lạp dùng một từ vựng chính xác hơn. Họ phân biệt “éros” (t́nh yêu nhục dục) và “agapè” (t́nh yêu bác ái). Chúng ta cũng sẽ dùng hai từ này cho tiện lợi.

Eros là khuynh hướng chiếm hữu người khác bằng cách yêu thương họ v́ họ làm ḿnh say mê, v́ nhiều niềm vui và lợi lộc rút được từ t́nh yêu ấy. Khi nh́n lại quá khứ, Augustin đă thú nhận : “Hồi đó tôi thích ḿnh được yêu”. Ở đây không c̣n vấn đề ǵ nữa, phải thẳng thắn lên án thứ t́nh yêu đó. Trong bất cứ t́nh cảm tha thiết nào của con tim cũng có một phần t́nh yêu nhục dục, nhất là vào lúc đầu.

Tôi cảm thấy bị thu hút đến với người kia, đôi khi bị quyến rũ và mê mẩn ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. Tôi không thể giải thích tại sao lại có sự thu hút đó, nó như áp đặt lên tôi. Tại sao bạn yêu người ấy ? Tôi không thể trả lời được, chỉ biết là tim tôi đă bị chinh phục. Khi kể lại t́nh bạn của ḿnh với La Boétie, Montaigne đă nói : “bởi v́ đó là chàng, bởi v́ đó là tôi”. Rồi sau đó nếu t́nh yêu không c̣n là sự hiến dâng cho người khác, mà chỉ là yêu để yêu thôi, ta sẽ rơi vào t́nh trạng mất quân b́nh. Tôi sẽ t́m người khác không phải v́ bản thân họ, mà chỉ v́ họ đem lại khoái cảm cho tôi. Lúc đó t́nh yêu không c̣n vô vị lợi nữa, mà chỉ là phương thế để t́m cảm giác dễ chịu của t́nh yêu. Thậm chí người kia có thể bị xử dụng v́ họ đem lại những lợi lộc cho tôi. Rất tiếc trong cuộc hành tŕnh yêu thương của nhiều cặp vợ chồng t́nh yêu nhục dục chiếm quá rơ. Đôi khi người ta từ chối con cái như trong xă hội hôm nay là v́ họ đă thần thánh hóa t́nh yêu nhục dục. V́ nếu đứa con đ̣i phải được yêu thương v́ chính bản thân nó, th́ thật là phiền phức. Người ta đă tự hạ ḿnh xuống ngang hàng thú vật một cách ích kỷ và khi thấy nó cản trở th́ có thể loại bỏ một cách dễ dàng. Cuộc sống trở thành một hố sâu ích kỷ, lúc nào cũng u ám buồn sầu.

Đặt trong bối cảnh đó ta sẽ thấy đam mê vừa có giá trị vừa thật hàm hồ. Con người có thể sống đam mê. Và theo một cách phân loại tính t́nh, đam mê là tính cách phong phú nhất. Người làm khoa học đam mê khám phá. Người hoạt động đam mê thực hiện những công tŕnh, làm cho cuộc sống thống nhất và làm cho nó trở thành cao cả, đẹp đẽ. Nhưng, cũng như mọi t́nh cảm trong ḷng con người, đam mê rất hàm hồ và có thể trở nên xấu khi người ta không hướng sự đam mê tới việc thực hiện h́nh ảnh của Thiên Chúa, mà con người đang cưu mang trong ḿnh. Đương sự có thể tận dụng sức đam mê nơi ḿnh để t́m kiếm bản thân, coi thường Thiên Chúa và anh em. Con người có thể dâng t́nh yêu say mê đó cho một thụ tạo không phải để đi t́m cái tốt thật sự,  làm cho sự phát triển bản thân của thụ tạo đó trở nên mong manh không chắc chắn. Lúc đó lư trí sẽ không kiểm soát được cái khả giác : con người sẽ không c̣n đáp lại tiếng Chúa gọi, hay chỉ c̣n ít thôi.

Nhưng nơi con người cũng có t́nh yêu bác ái (chỉ Thiên Chúa t́nh yêu ấy mới trọn vẹn). Chúng ta được ban cho khả năng yêu như Chúa yêu, đó chính là sự cao đẹp của ơn gọi con người : “Thiên Chúa đă đổ t́nh yêu của Người vào ḷng chúng ta, nhờ Thánh Linh mà Người ban cho ta” (Rm 5,5)

Bản dịch Kinh Thánh của trường Giêrusalem có ghi chú : t́nh yêu Thiên Chúa, tức là “t́nh yêu mà Người đă yêu thương”. T́nh yêu nồng cháy, t́nh yêu đam mê đang cháy nóng trong con tim Thiên Chúa, t́nh yêu đă được Chúa Thánh Linh đưa vào trái tim chúng ta. Thiên Chúa không ù ĺ bất động một cách lạnh lùng, mà dâng hiến trọn vẹn, nồng nàn giữa các Ngôi với nhau. Từ đời đời, Cha yêu thương Con bằng một t́nh yêu tới mức “Cha hoàn toàn măn nguyện với Con”. Trong t́nh yêu đó không có chút ǵ là quay về với bản thân một cách ích kỷ, mà luôn luôn nh́n tới Ngôi kia, vui sướng trong Ngôi kia. Đó là một t́nh yêu đích thực chỉ muốn cái tốt cho Ngôi vị được yêu và hiến thân cho Ngôi ấy với ḷng tận tụy thiết tha, nguồn cội vĩnh cửu sinh ra mọi tâm t́nh thiết tha tận tụy của con người.

Hỡi con, mọi sự của Cha là của con. Chính t́nh yêu ấy đă làm cho Con hiện hữu và cũng có khả năng để yêu thương như vậy. Lễ dâng đáp trả của Con cũng không thua kém ǵ sự trao ban đầu tiên của Cha. Cha và Con đồng bản tính với nhau trong t́nh yêu triệt để ấy, một t́nh yêu đă nối kết hai bên. Ngôi mà ta gọi là Thánh Linh không phải là một nhân vật thứ ba thêm vào cuộc trao đổi ấy, nhưng là chính t́nh yêu đó với tất cả sức mạnh, tất cả sự triệt để mà chỉ có Chúa mới đủ khả năng có được.

Con người đă được ban cho khả năng sống t́nh yêu bác ái. Đó chính là sự tham dự cao nhất của con người vào những sự sống của Thiên Chúa. Khả năng này không chỉ dành cho người đă chịu rửa tội, mà c̣n được ban cho hết mọi người “bằng cách nào, chỉ có Chúa biết” (MV 22,5). Như thế, con người đă được ban cho khả năng yêu thương anh em bằng một t́nh yêu thật sự của Thiên Chúa, bằng tất cả sự thật của t́nh yêu Thiên Chúa. Vợ chồng hiến thân cho nhau trọn vẹn bằng cách luôn t́m sự hài ḷng của người họ yêu. Cha mẹ khơi dậy một sự sống mới, không phải để hài ḷng tự măn hay để được tiếp tục tồn tại nơi các con cái, nhưng để đưa con cái tới chỗ tự do làm người. Bạn bè th́ muốn chia sẻ tất cả cho nhau và như thế họ đă tham dự vào kinh nghiệm của Ba Ngôi, v́ theo một cách diễn tả rất hay của Aered de Rievaulx : “Thiên Chúa là t́nh bằng hữu”. Có người hiến cả cuộc đời để phục vụ công lư. Chúng ta đă biết khi phụng sự những chính nghĩa lớn của con người, ḷng tận tụy của chúng ta có thể làm được nhiều chuyện.

Như thế, sự đam mê đă triển nở hết sức của nó. Ta có thể nói tới sự đam mê yêu thương của Thiên Chúa, theo hai nghĩa : đam mê là sức mạnh của t́nh yêu và đam mê là chấp nhận đau khổ để chứng minh t́nh yêu ấy.

Dù tội lỗi của con người có lớn đến đâu, dù sự điên cuồng của con người có ồ ạt phá hoại đến đâu, vẫn không ngăn cản Thiên Chúa yêu thương con người. Dacaria, thân phụ của Gioan tẩy giả, đă ca ngợi “ḷng trắc ẩn của Thiên Chúa” (Lc 1,78), một kiểu nói làm ta nói tới t́nh cảm của người mẹ một cách hết sức hiện thực. Chính Đức Giêsu cũng bị nung nấu một nỗi đam mê đi t́m vinh quang cho Cha như thế : “V́ nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi sẽ phải thiệt vào thân” (Ga 2,18)

Nhiệt tâm ấy sẽ đưa Người tới thập giá. Chúa Thánh Linh đặt trong ḷng ta sự đam mê hiến thân. Phaolô đă nhắc cho người Thêxalônica nhớ tới ḷng tha thiết của Ngài muốn đem Tin Mừng đến cho họ, như sự thiết tha của một người mẹ : “Khi ở giữa anh em, chúng tôi đă cư xử thật dịu dàng, chẳng khác nào mẹ hiền ấp ủ con thơ. Chúng tôi đă quí mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến thân cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa, v́ anh em đă trở nên những người thân yêu của chúng tôi” (1Tx 2,7-8)

Ở đây Phaolô dùng ngôi thứ nhất số nhiều, và qua đó ta hiểu được rằng Phaolô không cho rằng chỉ ḿnh Ngài có thái độ yêu thương bác ái như vậy, mà nghĩ rằng đó là đặc điểm của tất cả những người loan báo Tin Mừng. Khi Ignace (Atioche) kêu nài cộng đoàn Kitô hữu Roma đừng can thiệp ǵ hết để cứu Ngài, mà hăy để Ngài “noi gương cuộc khổ nạn (passion) của Chúa”, thánh nhân nhắm nói tới những đau khổ của Đức Kitô, nhưng nguồn gốc của chữ “passion” cũng có nghĩa là ḷng yêu mến của Ngài đối với Chúa Cha.

Đức ái được phú vào ḷng mỗi người chính là sự đam mê hiến thân, là muốn điều tốt cho người khác và muốn yêu, muốn phục vụ họ một cách vô vị lợi tối đa, dù họ không muốn hay không thể đáp lại. Biểu hiện lớn nhất của t́nh yêu đó là tha thứ và yêu thương kẻ thù : “Anh em hăy trở nên giống Cha anh em, Đấng ngự trên trời, Người cho mưa xuống trên kẻ dữ cũng như người lành” (Mt 4,45)

Dù yếu đuối, ta cũng được Chúa ban cho vinh dự thông phần vào t́nh yêu bác ái của Người. Đưa con người vào trong đời sống Ba Ngôi không phải là một điều chỉ có trên lư thuyết  hay trong khái niệm, nhưng là được cho tham dự vào một hành vi yêu thương mà chỉ Thiên Chúa mới có khả năng làm được. T́nh yêu của con người lúc nào cũng pha lẫn t́nh yêu nhục dục và t́nh yêu bác ái, kể cả khi cầu nguyện (v́ thế phải không ngừng thanh luyện việc cầu nguyện). Nhưng dần dần, dưới tác động của Chúa Thánh Linh, nơi con người sẽ h́nh thành một con tim thuần khiết, một t́nh yêu hết sức thật, đưa ta xích lại gần cơi phúc của Thiên Chúa mỗi ngày một hơn.

* Hy Sinh Và Phụng Tự Thiêng Liêng.

Chúng ta cần phải giúp các Kitô hữu làm quen lại với chữ “hăm ḿnh” cổ điển, đối với chữ “hy sinh” hay “hy tế”, th́ càng cần phải t́m hiểu khi sử dụng nó thường xuyên ở số nhiều, khiến ta có cảm tưởng ḿnh có thể cộng trừ, kết toán các hy sinh, đi ngược lại mầu nhiệm Đấng cứu thế, một mầu nhiệm tự nó đă đầy đủ. Ta không thể leo tới trời được nhờ những hy sinh chồng chất, bởi v́ nếu như thế th́ Thập giá Đức Kitô hoàn toàn vô ích, ta phải lớn tiếng công bố rằng : “do ân sủng và nhờ ḷng tin mà anh em được cứu độ: đây là ân huệ Chúa ban, chứ không phải bởi sức anh em, cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hănh diện về ḿnh” (Ep 2,8-9)

Tuy vậy, trong đời sống Kitô hữu, bước theo Đức Kitô, nhất thiết phải có hy sinh. Điều cần là phải t́m lại ư nghĩa và giá trị của việc hy sinh.

Hăy nh́n vào kinh nghiệm tôn giáo của Israel, nh́n vào sức năng động bên trong kinh nghiệm đó và kinh nghiệm đó đă được hoàn thành thế nào trong Đức Kitô, Israel là dân giao ước, là cộng đoàn tự coi ḿnh có quan hệ chặt chẽ với Thiên Chúa. Thế mà, giữa cộng đoàn đó, ta thấy có đền thờ, nơi cử hành phụng tự hy tế rất quan trọng. Sự có mặt của đền thờ, phụng vụ trong đền thờ, là những biểu tượng nói lên tính vĩnh cửu của giao ước. Qua các hy tế đó, Dân Giao Ước cho thấy rằng ḿnh có thể sử dụng của cải để tỏ ra ḿnh là Dân Thiên Chúa. Có rất nhiều loại hy tế mà ta không thể giản lược vào một loại hy lễ chuộc tội như nhiều nhà thần học đă chủ trương. Hy tế hiệp thông giúp chúng ta nhớ tới giao ước nhiều hơn, và nó tựơng trưng cho một sự chia sẻ thực thụ giữa ta với Chúa.

Các ngôn sứ đă giảm nhẹ giá trị của việc phụng tự bên ngoài ấy và đồng thời cho thấy ư nghĩa đúng của nó. Các Ngài không bảo rằng phụng vụ đền thờ vô giá trị, nhưng cho biết ta phải thanh lọc phụng vụ ấy từ bên trong, đưa vào một nền phụng vụ linh thiêng bao hàm t́nh yêu đối với Chúa và đối với h́nh ảnh cụ thể của Người, bằng cách nỗ lực đi t́m công lư. Ta không thể cử hành phụng tự Giao Ước bằng những lễ vật nếu không thực hiện Giao Ước đó một cách cụ thể qua sự công b́nh và ngay thẳng, giữa các thành phần của một dân tộc đă được tạo nên và được duy tŕ trong Giao ước.

Đức Giêsu thực hiện việc phụng tự và phụng vụ ấy bằng cách tự hiến chính ḿnh cho Cha để thực hiện giao ước mới của Dân Chúa, và ḷng tha thiết của Người đối với Cha có giá trị thế nào, th́ lễ vật của Người có giá trị như thế. Có thể nói hy tế này vừa đủ cho mọi thời, vừa mở ra một nền phụng vụ mới trong tinh thần và chân lư, v́ nó thúc đẩy mỗi tín hữu cũng hăy hiến dâng bản thân ḿnh như chính Người. Ai bước vào đời sống đạo th́ cũng dần dần sẽ có kinh nghiệm về những cần thiết phải hy sinh, họ không c̣n con đường nào khác hơn con đường Đức Giêsu đă đi qua. Dù ban đầu, họ có thể chỉ hy sinh một thực tại cụ thể nào đó (một ít giờ để cầu nguyện, một đồ vật không cần thiết lắm để có thể sống khắc khổ hơn), nhưng lúc nào cũng phải t́m cách tiến tới chỗ hiến dâng chính bản thân ḿnh, v́ đây là hy tế duy nhất Chúa chờ đợi nơi họ. Một khi đă hiểu rằng những hy sinh vụn vặt có được ư nghĩa là nhờ thái độ hy sinh chung, ta sẽ tránh được nguy hiểm là đo lường giá trị của những ǵ ta đă hiến dâng, hay tưởng rằng ḿnh xứng đáng với t́nh yêu Thiên Chúa. V́ cho một vật ǵ th́ dễ hơn là cho đi chính bản thân ḿnh gấp ngàn lần : “Thưa anh chị em, v́ Thiên Chúa xót thương chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hăy hiến dâng thân ḿnh làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp ḷng Thiên Chúa : đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1).

Phụng tự đền thờ được hoàn tất trong phụng tự “trong Thần khí và chân lư” (Ga 4,24). Phụng tự này đă mở màn với Đức Kitô, không phải trong các nghi lễ phụng vụ của đền thờ, nhưng trong mầu nhiệm cô đơn trên Thập giá. Kể từ sau Đức Kitô, phụng tự đó đă được giăi sáng ra nơi bản thân người tín hữu, biến họ trở thành “của lễ sống động và đẹp ḷng Chúa”. Lúc ấy người tín hữu mới nhận thức được rằng hiến lễ của ḿnh có giá trị không phải do khả năng riêng của ḿnh, nhưng do “ḷng nhân từ của Thiên Chúa”  Họ không ao ước dâng nhiều lễ vật thêm cho Người, không xả thân cách kiêu ngạo để làm nhiều hơn, nhưng ao ước dâng chính bản thân ḿnh cách hết sức trung thực theo một phụng tự càng ngày càng “linh thiêng” hơn.

Với tính từ “thiêng liêng” này, ta được đưa đến với Chúa Thánh linh, Ngôi Ba Thiên Chúa và được chiêm ngắm mầu nhiệm Ba Ngôi. Thật là sai lầm nếu coi đồi Canvê là nơi khởi đầu và là nơi vĩnh viễn của nền phụng tự mới này. Từ đời đời Ngôi Lời đă hiến thân cho Cha trong t́nh yêu. Người là chiên đă bị sát tế trước cả khi vũ trụ được tạo thành. Người cho chúng ta tham dự vào phụng tự vĩnh cửu này một cách rộng răi lạ thường. Khi t́m đến tận nguồn như vậy, ta không thấy ǵ là đau khổ trong phụng tự hy lễ đó. Ngôi Lời hiến thân cho Cha cách vui tươi, hoàn toàn chỉ v́ yêu. Phần chúng ta, dù việc hy sinh h́nh như lúc nào cũng mang sắc thái khó khăn và vất vả, ta cũng không được coi đó là giá trị và ư nghĩa của hy sinh. Chúa Cha không vui sướng ǵ khi thấy ta tự nguyện hay phải chịu đau khổ. Người yêu ta như yêu Con Một của Người, và Người vui tươi khi thấy ta yêu thương cách chân thành.

* Những Lúc Bị Bỏ Rơi.

Đến đây, nghĩa là khi đă đi vào trọng tâm mầu nhiệm hy tế của Đức Kitô, ta cần có một cái nh́n đúng đắn về những thử thách trong đời sống đạo của ḿnh. Trước khi phác họa một vài yếu tố để phân biệt, chúng ta hăy thẳng thắn đặt hai vấn nạn :

1. Ta có thể nói Thiên Chúa bỏ rơi con người và lánh xa họ không ? Phải chăng những kiểu nói đó chỉ có tính cách nhân h́nh, phản ảnh những tâm trạng con người và v́ vậy không quan trọng lắm đối với những ǵ sẵn sàng tiến bước trong đức tin ?

Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và quan pḥng của con người, Ngài không thể bỏ rơi con người một giây phút nào mà con người lại không tan biến trong hư vô. Hơn thế nữa, ta có thể nói rằng: Thiên Chúa đang giao ước với con người, một giao ước do chính Người lập ra và mong muốn. V́ thế, Ngài không thể bất trung trong những ǵ liên quan với con người. Bởi vậy không lạ chi khi thấy phần lớn các từ mà các thánh vịnh hay dùng có rất nhiều từ diễn tả tâm trạng con người. Nhưng đừng v́ thế mà kết luận rằng những t́nh trạng tâm lư đó không quan trọng. Dù phải cố gắng tái lập lại sự b́nh an (“parrhesia”) cho tâm hồn trong cơn thử thách, nhưng nhiều lần cũng không dễ ǵ mà nói được như Elizabeth de la Trinité : “Nếu Chúa đă ngủ dưới khoang thuyền, th́ tốt nhất cứ để Người ngủ”.

2. Phải chăng Thiên Chúa cố t́nh giấu mặt để thử thách chúng ta và để trắc nghiệm t́nh yêu của chúng ta ?

Nếu nh́n như vậy th́ thật là nguy hiểm, v́ ta đă cho rằng Thiên Chúa đùa với con người, với một ác ư nào đó, dù là một ác ư xuất phát từ t́nh yêu, như v́ nhắm một điều tốt hơn mà không đến xỉa đến đau khổ của ta chẳng hạn. Muốn khôn ngoan và muốn đúng với thần học hơn, th́ nên tránh những kiểu nói đó. Chỉ cần nói rằngnhững lúc đó là những lúc ta đang trải qua khó khăn v́ những lư do bên ngoài hay v́ những lư do tâm lư. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa luôn trung thành và những thử thách do chúng ta gây ra v́ chúng ta là những con người đầy giới hạn. Nhưng trong những cái xấu đó có thể cho chúng ta những bài học quư giá !

Những câu trả lời vừa đưa ra cho hai vấn nạn trên đây đă phác họa cho chúng ta thấy đâu là thái độ sống đạo mà chúng ta cần có trong những lúc khô khan. Đó là thời gian “thử thách” đức tin. Một cách cụ thể, lúc đó chúng ta phải gia tăng những lời cầu nguyện tin tưởng : “Dù tôi đi qua chốn tối tăm hiểm nguy, ḷng tôi không e sợ lo ngại ǵ, v́ Chúa ở cùng tôi” (Tv 23,4)

Đó là những lời cầu nguyện đơn sơ, trần trụi, những lời nguyện của người nghèo thường chỉ gồm hai chữ, hay chỉ là một câu đơn sơ được lập đi lập lại suốt đêm. Chỉ sau khi đă trải qua những giờ khó khăn đó, ta mới thấy được chúng có giá trị thế nào đối với sự trưởng thành của ta trong đời sống đạo.

Từ những suy tư đó, chúng ta trở về lại với trọng tâm kinh nghiệm sống đạo : sống đạo chính là phát triển đức tin, một nhân đức đối thần mà Chúa Thánh Linh đă đặt nơi ta. Sống đạo không phải là biến ḿnh trở thành người có nhiều nhân đức, nhưng trở thành những người tin thật sự. Ai đă tin rằng Chúa Cha trung thành, vẫn yêu ta bằng một t́nh yêu mà Người đă yêu Đức Kitô, khi liên tục ban Thánh Linh cho ta, người ấy sẽ ít bận tâm tới những t́nh trạng linh hồn, không cần biết ḿnh đang sống giữa thiên nhiên tắm nắng mặt trời hay giữa cảnh vật mây mù u ám. Người ấy luôn đứng vững trong đức tin giữa sự trần trụi của linh hồn, như lời Jean de la Croix nói, hay giữa sự b́nh tâm thánh thiện mà khoa huyền nhiệm của Ignace đă dạy.

* Ích Lợi Và Nguy Hiểm Của Lo Au.

Sau đây, tôi sẽ tŕnh bày những ǵ đă suy nghĩ ở trên trong tương quan với sự lo âu, và đây là một điều rất cần thiết đối với thế giới ngày nay. Rất nhiều người thời nay tỏ ra âu lo, có lẽ v́ một số yếu tố trong đời sống hiện đại. Các Kitô hữu ngày nay phải thực hiện kinh nghiệm sống đạo và lớn lên trong đức tin ngay chính trong bối cảnh của một thế giới càng ngày càng có nhiều nỗi lo âu. Nếu nói rằng chỉ cần cầu nguyện và tin tưởng là lo âu sẽ tan biến, là chúng ta đă coi khinh thời đại chúng ta đang sống, thời đại này cũng là thời gian ơn nghĩa trong Đức Kitô. Quả là thất đức nếu thấy một người đang lo âu mà nói rằng họ thiếu tin tưởng vào Chúa, họ chỉ cần bỏ thuốc thang để phó thác cho Chúa quan pḥng v́ người có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề tâm lư của họ.

Ngày nay muốn sống đạo, ta phải dựa vào các khoa học nhân văn và phải nhờ đến Y học nếu cần. Thường thường chỉ cần điều trị thích hợp và đúng đắn là mọi sự sẽ đâu vào đó và ta có thể tiến bước tốt hơn trên con đường sống đạo. Biết lợi dụng Y học và tin vào Y học, đó cũng là sống nghèo khó và khiêm tốn.

Phải biết xin Chúa ban cho ta ơn b́nh an của Người. B́nh an là một thực tại linh thiêng, phát xuất từ Thiên Chúa, từ nơi sâu xa nhất của mầu nhiệm Ba ngôi. B́nh an chính là cái chi phối sự trao đổi cho nhau bằng cách Ngôi này dâng hiến trọn vẹn cho Ngôi kia. Thế nhưng sự b́nh an ấy thường bị cản trở bởi sự lấp lửng của chúng ta, bởi sự dâng hiến nửa thật nửa vờ, và bởi những giới hạn thầm kín mà ta c̣n giữ lại khi cho đi và khi tha thứ. B́nh an lan tỏa trên thế giới từ khi có thập giá của Đức Kitô. Có hai lần Đức Kitô phục sinh loan báo sự b́nh an cho các môn đệ (Ga 20,19-21). Đó là hồng ân quí giá nhất mà Người có thể đem đến cho các môn đệ từ nơi Cha. V́ thế, thật là sai lầm cho đời sống đạo nếu muốn tự ḿnh thiết lập b́nh an cho ḿnh, xem b́nh an như là kết quả do hoạt động tự ư của ḿnh. Các tín hữu có thể  đi đến chỗ tự măn với sự b́nh an tâm lư mà ḿnh đă dày công xây dựng hoặc có thể buồn phiền và lại rơi vào nỗi lo âu, v́ một thứ b́nh an như thế không thể kéo dài được.

Hay âu lo, đó là một kinh nghiệm sống đạo. Đó cũng có thể là dấu hiệu của việc định hướng sai cho cuộc đời. Khi nhận định một ơn gọi, t́nh trạng thường xuyên âu lo có thể là dấu hiệu bắt ta phải chọn con đường khác, phải chọn một bậc sống có thể đem lại b́nh an cho ta.

Nhưng may thay, Thiên Chúa có thể rút cái tốt từ trong cái xấu. Một người có tính hay lo có thể nhờ vào chính sự yếu đuôi mỏng ḍn của ḿnh đó mà tiến lên tới một đức tin trần trụi hơn, một ḷng tín thác trọn vẹn hơn. Không c̣n tin vào ḿnh một chút nào, mà chỉ phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa. Các vị thánh lớn như Thérese d' Avila, Thérèse de Lixieux, hay có thể cả thánh Jean Marie Vianey đă biết dựa trên những đặc điểm thần kinh của ḿnh để đi hết con đường của ḿnh. Cũng nhờ đó, các Ngài đă trở thành những bậc thầy của đời sống đạo. Thường những ai trải qua kinh nghiệm âu lo của ḿnh có điều kiện để giúp anh em t́m lại b́nh an dễ dàng hơn. Au lo có thể là con đường để học tập kiên nhẫn và tin tưởng vào Chúa. Hăy cố gắng đừng coi âu lo như một bất lợi, càng không nên coi nó như một sự chúc dữ.

* Thử Thách Của Bệnh Tật

Ta chỉ nói đến bệnh tật một cách hết sức tế nhị. Chúng ta c̣n nhớ lời tâm sự của Đức hồng y Veuillot Tổng giám mục Paris, trước khi Ngài qua đời : “hăy bảo các linh mục của tôi đừng vội nói về đau khổ, họ không biết đau khổ là ǵ đâu”. Mỗi một bệnh đều là một mầu nhiệm, và ngay giữa những người bệnh với nhau, họ cũng thường khó mà hiểu nhau và giúp đỡ lẫn nhau.

Cũng như đau khổ và lo âu, bệnh tật không thể là một cái ǵ do Thiên Chúa muốn như một mục đích, v́ Thiên Chúa đă tạo ra sự sống và yêu quí những ǵ tốt đẹp. Khi thấy nhiều vị thánh kết liễu cuộc đời trong một cơn đau đớn đă mắc phải từ hồi c̣n trẻ (đây không phải là số phận chung của đa số chúng ta sao?), nhiều người đă quay ra bóp méo cái nh́n thần học đúng đắn về bệnh tật. Những bài giảng về đề tài: “Thiên Chúa chỉ thử thách những ai được Người yêu thương” chỉ làm cho nhiều người phẫn nộ một cách chính đáng. Bệnh tật xuất phát từ những nguyên nhân thể lư hay do những yếu tố bên ngoài. Thật là hợm hĩnh khi dám cho rằng Chúa muốn cho nhà ḍng kín ở Lisiuex lạnh giá để Thérèse Martin phải mắc chứng ho lao, và nhờ đó trở thành một đại thánh. Ai lại dám gán cho Thiên Chúa những tính toán bệnh hoạn như vậy ?

Trước tiên và trên hết, bệnh nhân phải cố gắng làm sao cho khỏi bệnh v́ tôn trọng bản thân ḿnh và tôn trọng Thiên Chúa. Lời khuyên này không lạc điệu cho những ai đang đi trên đường sống đạo. Không thể t́m kiếm và duy tŕ bệnh tật như một phương thế đi lên cùng Chúa. Đấu tranh để khỏi bệnh là một dấu hiệu của ḷng tin. Tin vào một Thiên Chúa hằng sống luôn yêu thương sự sống và chống lại sự dữ, kể cả sự dữ thể lư. Tin vào những trung gian Thiên Chúa đă đặt trên đường đời chúng ta, như Y học chẳng hạn. Nếu được đón nhận như một ân huệ của Thiên Chúa, nó sẽ giúp ta rất nhiều trong đời sống đạo. Biết bao bệnh nhân có thể thú nhận những điều bác sĩ cho phép ḿnh làm là  những điều họ đă làm không phải trong đức tin.

Nếu bệnh tật phải chịu là một thử thách lâu dài và có thể là vĩnh viễn, th́ người tín hữu phải cố gắng biến bệnh tật thành con đường đào sâu và thanh luyện đức tin. Trong bệnh tật cũng có những cám dỗ riêng của nó, như nổi loạn thất vọng, ghen tỵ với những người khỏe mạnh. Nếu được đón nhận ngay từ khi bắt đầu bị thử thách, bí tích bệnh nhân có thể giúp  rất nhiều cho người bệnh, tạo được sự b́nh an trong tâm hồn, bệnh nhân “được mời gọi chú ư”, được kêu mời cầu nguyện cách đơn sơ và trần trụi, đúng như lời cầu nguyện của một người nghèo phó thác cho Chúa. Họ được Chúa kêu mời sống tế nhị, hiệp thông với tất cả những ai đang đau khổ.

Muốn t́m ư nghĩa của bệnh tật th́ phải t́m trong Giáo hội, Thân ḿnh Đức Kitô. Bệnh nhân không phải là kẻ bị cô lập, cũng không phải là người vô ích. Họ phải có chỗ đứng trong Giáo hội, họ dâng sự thử thách ḿnh đang chịu để âm thầm xây dựng cộng đoàn thiêng liêng và để góp phần truyền giáo. Họ sống hơn là hoạt động. “Sống” trong Đức Kitô, vùi ḿnh vào trong mầu nhiệm vượt qua đau khổ của Người, là đă góp phần làm cho ơn cứu độ có mặt trong hiện tại này.

* Mầu Nhiệm  Sự Chết Và Kinh Nghiệm Sống Đạo.

Sự chết là một mầu nhiệm hầu như không thể diễn tả được :

            - Chúng ta không thể nói ǵ về cái chết của những người khác, dù họ là những người rất gần gũi với chúng ta. Người sắp “qua đời” là người sắp sửa bước vào một con đường, trên đó họ phải đi một ḿnh, và dù ta có âu yếm dịu dàng cầm tay họ, ta cũng không thể đồng hành với họ. Phải tôn trọng mầu nhiệm sự chết và đừng bao giờ đưa ra lời phê phán về cách người ấy đă đi qua cái chết. Có những người ra đi, rất b́nh an và tin tưởng, nhưng cũng có những người phải trải qua cơn hấp hối cuối cùng thật gay go trong một cuộc chiến. Chúng ta không thể phê phán về mức độ tin tưởng của họ.

- Chúng ta càng không thể nói ǵ về cái chết của bản thân ḿnh. Chúng ta không biết cái chết ấy sẽ đến khi nào và bằng cách nào. Cũng chẳng ai từ phía bên kia bức màn trở về nói cho chúng ta biết sự việc đang diễn tiến thế nào. Phục sinh của Chúa Giêsu chính là điểm tựa cho đức tin của chúng ta, v́ thế sự xác tín của chúng ta hoàn toàn có cơ sở : “Nếu kẻ chết không sống lại, th́ Đức Kitô cũng không chỗi dậy” (1Cr 15,13)

Mầu nhiệm này hoàn toàn nằm trong lănh vực đức tin. Chính v́ thế, mầu nhiệm này không nhằm giải đáp mọi thắc mắc của chúng ta.

Trong lănh vực sống đạo, có một vài đ̣i hỏi căn bản cần được nhắc lại :

1 . Phải tin vào mầu nhiệm các thánh thông công với tất cả sự phong phú kín đáo của mầu nhiệm đó. Hội Thánh không đóng khung trong thực tại xă hội của những người c̣n sống trên trần gian. Nhưng tất cả những ai “đă đi trước chúng ta mà chỉ có Chúa biết ḷng tin của họ”, đều sẽ vây quanh  con người sắp sửa bước một bước quan trọng theo chân họ. Trong số các vị đó, đặc biệt có Đức Maria, Mẹ các tín hữu, là Người mà chúng ta thường cầu xin “cầu cho chúng con... khi nay và trong giờ lâm tử”. Phải tin vào sự chuyển cầu của Ngài, và rút ở đó sức mạnh, b́nh an.

2. Phải đón nhận cuộc vượt qua này như một phép rửa thứ hai, xác nhận phép Rửa thứ nhất và đem lại đầy đủ ư nghĩa cho phép rửa ấy. Trong nền tu đức dựa vào phép rửa, ta có thể t́m thấy vài khía cạnh làm nên cái chết thứ nhất khi ta cùng chết với Đức Kitô trong phép rửa. C̣n lúc chết thật là lúc sức mạnh của cái chết thứ nhất được thể hiện tối đa : lúc đó sự sống không c̣n là của chúng ta nữa, mà là của Đức Kitô. Trong giờ chết đó, chúng ta mất tất cả : những quan hệ máu mủ và t́nh cảm, sự quan tâm gắn bó với những dự phóng và ước mơ của ḿnh. Chỉ c̣n một việc là phó ḿnh như Đức Kitô vậy : “Lạy Cha chí thánh, con về với Cha” (Ga 17,11)

3. Phải cố gắng biến cái chết thành hành vi tuyên xưng đức tin cuối cùng của ḿnh. Cơ bản của kinh nghiệm sống đạo là trở nên người có đức tin thật sự. Không phải chỉ bằng cách đưa ra những lời tuyên xưng vững chắc, giúp chúng ta trong lúc qua đời, nhưng con phát huy tối đa ḷng tha thiết gắn bó của ḿnh, nhất quyết không nghi ngờ Thiên Chúa. Có như thế th́ cái chết mới đúng là hành vi tuyên xưng đức tin tối hậu : “Dù tôi đi qua chốn tối tăm hiểm nguy, ḷng tôi không e sợ lo ngại ǵ, v́ Chúa ở cùng tôi” (Tv 23,4)