Con Người

 

VIII – Thấp Thoáng Bóng Tương Lai

 

* Các Thánh, Giúp Chúng Ta Xác Tín An Ban

- Khơi lên niềm khát vọng

Khi nói về các thánh, th́ chúng ta không phải chỉ chăm chăm lo đọc kinh, hát, khấn xin, cao rao... bởi những đức tính của các ngài, những gương lành nhân đức của các ngài, những khổ chế tài ba của các ngài, những việc lạ lùng của các ngài... Tất cả chúng ta đều phục lăn đến nỗi thèm nhỏ cả dăi ra. Nhưng chúng ta cũng đừng tập khiêm nhường giả tạo v́ cho các ngài th́ “ngon lành” hơn ḿnh nên ḿnh ngậm tăm chịu vậy ; ḿnh chỉ có cái mức tới đây thôi ráng yên vui trong số phận ; tự nhủ ḷng ḿnh không dám mơ ước tới bờ bến v́ sợ phiền toái rắc rối xáo trộn người ta cười cho ; các ngài là cục cưng c̣n ḿnh là cục... Có bao giờ tôi dám nghĩ là tại sao tôi không được như các ngài ? Tại sao các ngài được mà tôi lại không được ? Các ngài có con đường của các ngài c̣n tôi cũng có con đường của tôi chứ ? Tôi cảm tạ Chúa đă thực hiện nét độc đáo và những điều kỳ diệu nơi con người yếu đuối mỏng ḍn của các ngài nhưng tôi cũng cần khám phá nét độc đáo riêng, những điều kỳ diệu Chúa đă và đang thực hiện trong cuộc sống của tôi chứ ? Tôi không phải bắt chước giống như các ngài v́ các ngài ở trong hoàn cảnh và bầu khí thời bấy giờ, c̣n tôi trong hoàn cảnh và bầu khí thời đại của tôi hôm nay nhưng tôi cũng muốn sớm nhận ra cái ǵ là nền tảng làm nên con người của ccác ngài và cái ǵ là nền tảng làm nên con người của tôi, và cái nền tảng đó mới là cái giống nhau, đúng không ? Tự bản thân các ngài, các ngài vẫn khiêm tốn nói rằng (và cũng đúng thôi) chỉ là đầy tớ vô dụng, một kẻ vô tích sự, bởi điều ǵ mà lại không phải là nhận lănh ? Tất cả những suy nghĩ này không phải là v́ tôi kiêu ngạo, bé mà đ̣i trèo cao ; hay tôi cố gắng khiêm nhường chịu vậy bởi ḿnh là công dân bậc hai, thấp cổ bé miệng biết ǵ ; nhưng với tấm ḷng thành là chỉ muốn nói lên ḷng khát vọng khôn nguôi, muốn lên đường, tha thiết ra đi ngay trong ḷng ḿnh để nhận ra An Ban, để đến được miền đất hứa, để gặp gỡ được Đấng là con đường, là sự thật và là sự sống (Ga 14,6) đấy thôi !

- Bắt chước

Thiên Chúa đă hạ sinh mỗi người giống như đă hạ sinh Con Một của Người và mỗi người đều có cái độc đáo riêng, nét riêng mà không ai giống ai.

Vậy th́ ai phải bắt chước ai cơ chứ ? Đời này họ thích bắt chước nhau, bắt chước các cử chỉ điệu bộ ăn mặc tóc tai của những minh tinh màn bạc, những ca sĩ tên tuổi... nhất là tạo được h́nh dáng thân ḿnh nét mặt nên giông giống những thần tượng th́ thật là diễm phúc. Có người bạo mồm nói rằng nếu chỉ bắt chước rập khuôn y trang th́ có ǵ khác con khỉ đâu ?

Mỗi lần nói đến hoặc đọc tiểu sử của một vị thánh thường người ta cũng “thêm mắm thêm muối” vào như  ngài đă sống thật lạ lùng y như thánh từ hồi mới lọt ḷng mẹ, các nhân đức th́ ôi thôi thật cao cả, hăm ḿnh hy sinh đánh tội như một anh hùng... Do đó, những người “đạo đức” cũng muốn bắt chước như ăn chay kiêng khem đến nỗi gầy trơ xương lồi mắt ra mà vẫn không thấy ḿnh khá lên được ; có kẻ tập đơn sơ ngây thơ như chị Têrêsa đến nỗi trở thành bà cụ non ngây ngô.

Nếu chúng ta có đọc thấy trong những bản văn của thánh Phaolô, chúng ta cũng sẽ gặp thấy nhiều câu ngài khuyến khích dân chúng “bắt chước” Đức Kitô hay “bắt chước” ngài như 1 Cr 11,1 ; 4,14 ; Pl 3,17 ; 2 Tx 3,7.... Ở đây, bắt chước Đức Kitô phải hiểu là nên một với Ngài, nên đồng h́nh đồng dạng với Ngài, tương quan với Ngài... ; bắt chước thánh Phaolô đó là sống với, sống cùng Đức Kitô y như thánh Phaolô đă sống như vậy ; bắt chước các thánh là gặp gỡ, sống tương quan, ḷng kết hiệp mật thiết nên một trong Đức Kitô, để Thánh Ư yêu thương của Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

Do đó những ai đă gặp gỡ, đă sống nên một trong Đức Kitô, đă sống tṛn vo với Ngài... th́ Đức Kitô đều làm nổi bật lên cái độc đáo cho riêng người ấy và Chúa sẽ thực hiện những điều kỳ diệu nơi người ấy. Nếu trong tự nhiên, tôi cái độc đáo thô kệch th́ chỉ một ḿnh Đức Kitô, Ngài biến đổi thành cái rất riêng cho cuộc sống, trở thành cái độc đáo của tôi mà tôi không cần phải bắt chước ai. Được như vậy bởi v́ Ngài đă làm cho giữa tôi với Ngài, Ngài với tôi trở nên tṛn trĩnh.

“Các ngươi phải nên thánh và phải thánh thiện, v́ Ta là Đấng Thánh” (Lv 11,44 ; 1Cr 1,16 ; Mt 5,48 ; Gc 1,4)

- Chuyển cầu :

Chúng ta cũng hay bị nhầm lẫn trong việc chuyển cầu là đến với các ngài cầu xin để được hưởng những lợi lộc theo ḷng mong muốn của ḿnh. Những điều chúng ta cầu xin rất là chính đáng nhưng phải chăng đă nhiều lần không nhớ ra Đấng ân ban mà chỉ dừng lại nơi các ngài và tâm trí ḷng dạ chỉ c̣n là các ngài v́ các ngài đă “ban” cho điều này chuyện kia thật lạ lùng !

            Việc các thánh chuyển cầu cho chúng ta chính là giúp chúng ta nhận ra gương mặt thật của Thiên Chúa “Thiên Chúa giầu ḷng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta” (Ep 2,4) mà chính chúng ta hay trần gian đă bóp méo.

* Đời Sống Của Người Kitô Hữu Tiêu Biểu

            Hành động như một Kitô hữu không chỉ là làm theo thánh ư Chúa, mà c̣n phải thực hiện theo cách thức Chúa muốn. Có một cách thức đặc trưng của người Kitô hữu. Nếu học biết cách thức này, chúng ta có thể làm gương cho những người t́m đến với chúng ta.

Cách đặc trưng có hai cấp độ :

* Cấp thứ nhất, khi ta hành động, không phải là hành động quy ngă nhưng là quy thần, không phải làm v́ lợi ích của con người nhưng là v́ lợi ích của Thiên Chúa. Chúng ta có thể thực hiện những việc tuyệt vời, nhưng nếu chúng ta làm để phô trương, được ngưỡng mộ, được đền đáp, để t́m tiền, và để chứng tỏ cái tôi, th́ chúng ta chưa thể nói được cung cách của người Kitô hữu. Những căng thẳng thường xảy do tranh chấp trong xă hội và các hội đạo đức hoặc ngay cả những người tự nguyện gia nhập vào các cộng đoàn chứng tỏ rằng họ không luôn làm việc “v́ Nước Trời” nhưng v́ “nước” của ḿnh mà thôi. Thật vậy, có thể có những người hăng say làm việc cho Giáo Hội nhưng thực chất là họ hám quyền.

Là những người hướng dẫn tâm linh, công việc của chúng ta là trợ giúp những người đến với chúng ta để càng ngày họ càng thấu hiểu những ham muốn ích kỷ nơi bản thân họ. Không phải bằng việc nói toạc ra rằng : “Anh đang làm việc này v́ lợi ích của anh”, cũng đừng tranh luận, v́ tranh luận ít khi đưa đến kết quả. Nhưng bằng những câu hỏi cẩn trọng, hoặc sự im lặng, sự im lặng có chất vấn.

Điều quan trọng nhất trong cuộc sống không hệ tại ở việc chúng ta làm được ǵ nhưng tại sao ta lại làm như vậy. Bằng cách này hay cách khác, luôn phải gợi lên câu hỏi này : “Tại sao bạn làm việc này, thật ra bạn đang muốn điều ǵ ?”

Thời trước, người ta dạy trẻ em Công Giáo cầu nguyện mỗi sáng rằng chúng sẽ làm mọi việc “để danh Thiên Chúa cả sáng hơn”. Điều này đúng. Nhưng có lẽ thực hiện th́ không dễ dàng chút nào. Không chỉ là nói như vậy vào mỗi buổi sáng là đủ, đúng là chúng ta làm mọi việc nhưng không hẳn chúng ta làm mọi việc “để rạng danh Thiên Chúa” đâu. Để sống như những ǵ chúng ta cầu nguyện đ̣i hỏi phải có nhận thức một cách sâu thẳm trong tâm can và có sự biến đổi không ngừng.

* Cấp độ thứ hai dựa trên tư tưởng rằng không phải tôi làm mà không có Chúa nhưng chính Chúa đang làm trong tôi (Gl 2,20). Chúa Giêsu nói : “Cho đến nay Cha tôi vẫn làm việc, th́ tôi cũng làm việc” (Ga 5,17). Đây là một điệp khúc trong Tin Mừng theo Thánh Gioan : “Người Con đón nhận mọi thứ từ Chúa Cha, người Con không thể tự ư ḿnh làm bất cứ điều ǵ, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha đă  làm ; v́ điều ǵ Chúa Cha làm, th́ người Con cũng làm như vậy. Chúa Cha yêu thương người Con và cho người Con thấy mọi điều ḿnh làm…” (Ga 5,19-20 ;  x. 5,30 ; 12,49-50).

Hành động theo con đường Kitô hữu là trở nên giống Đức Giêsu đó là hăy để Chúa Cha hoạt động trong chúng ta. Bây giờ, chúng ta không c̣n là tôi tớ của Người, nhưng theo kiểu chúng ta là cộng tác viên của Người, chúng ta làm một phần c̣n Thiên Chúa làm phần khác. Tôi “giúp” Ngài bằng cách buông ḿnh để Thiên Chúa hoạt động. Những ǵ tôi làm không phải là làm cho Chúa mà là việc Chúa làm.

Phải chăng đó là huyền bí ? Đúng vậy, huyền bí lắm. Tôi đang sống bằng sức sống của Chúa hơn là của tôi hay là dùng những ngôn từ của Thánh Tôma Aquino khi ngài nói về các ơn Chúa Thánh Linh như Magis aguntur quam agunt (anh bị làm hơn là anh làm). Người ta ở thế bị động hơn là chủ động. Chúng ta đừng lo sợ về điều huyền bí này. Chúng thuộc vào cuộc sống Kitô giáo. Không có sự huyền bí này th́ luân lư Kitô giáo rất èo uột. Tôi muốn nhắc bạn nhớ câu nói nổi tiếng của Karl Rahner (1904 – 1984) : “Người Kitô hữu của ngày mai, một là nhà thần bí, hoặc không c̣n là Kitô hữu nữa”.

Có nhiều sự thần bí trong Giáo Hội nếu chúng ta, những linh mục, những vị hướng dẫn tâm linh dám đặt tiêu chuẩn mục vụ ở cấp độ cao hơn. Chúng ta có thể làm được điều đó nếu trong cuộc sống chúng ta dám hướng tới một mục tiêu cao hơn. Bản thân tôi nhận thấy rằng có một con đường hành động, trong đó ít nói đến cái tôi một cách chủ động bởi v́ chúng ta buông ḿnh theo hành động của Thiên Chúa. Con người hiểu điều này, làm và không suy nghĩ ǵ cả. Điều này quá huyền bí.

Cách thức hành động như vậy trái ngược với bản tính bẩm sinh thích náo động của chúng ta, bởi thực ra đó chỉ là việc né tránh những hỗn mang trong chúng ta. Điều này có thể xảy ra khi chúng ta cảm thấy hoàn toàn thoải mái. Chúng ta không lo lắng bận tâm về việc kết quả sẽ ra sao. Chúng ta dâng trao chính bản thân và khả năng của ḿnh cho Thiên Chúa rồi mọi sự ra sao th́ ra. Tự ra khỏi những lo lắng bận tâm không phải là thiếu dấn thân cũng không là mối đe dọa đến “tính chất” của công việc. Ngược lại, khi không c̣n lo lắng về kết quả công việc th́ một khối năng lực được giải tỏa. Bấy giờ con người hoàn toàn sẵn sàng, và trở nên hữu  ích.

Nếu chúng ta muốn hướng dẫn những người t́m đến ḿnh làm việc theo cách này, chúng ta phải giúp họ ư thức về những stress đang diễn ra trong họ. Stress có nghĩa là tự định đoạt hết mọi sự thay v́ phó thác tất cả vào tay Chúa quan pḥng.

Bổn phận của mỗi chúng ta là luôn sẵn sàng mách bảo với người khác rằng cuộc sống có thể đơn giản và dễ dàng hơn những ǵ chúng ta thường nghĩ, nếu chúng ta có dám từ bỏ bản thân và những tham vọng của chính ḿnh, chúng ta sẽ cảm thấy thư thái, b́nh an và làm mọi việc cách thanh thản.

“Hăy kư thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay” (Tv 37, 5). 

* Đường Sống Đạo Của Người Đày Tớ

Chúng ta thường dịch chữ Hy lạp “agapè” thành bác ái (charité). Và chữ này hết sức thích hợp để nói về t́nh yêu Thiên Chúa mà Chúa Thánh Linh đă đổ tràn vào ḷng chúng ta. Nhưng khi dùng để nói tới thái độ của chúng ta đối với anh em, qua nhiều thế kỷ chữ đó đă mang một sắc thái khổ cực và thường là xấu. Làm bác ái đồng nghĩa với giúi vào tay người nghèo một đồng bạc, chẳng cần nh́n vào mặt người ấy, làm sao cho rảnh nợ với họ càng sớm càng tốt. Đức ái tỏa sáng của Thiên Chúa không hề như vậy.

Ta không bỏ chữ bác ái nhưng phải t́m cách trả lại cho nó hương vị ban đầu. Công đồng Vatican II đă hướng chúng ta tới những từ liên quan đến sự phục vụ. Đó có lẽ là một trong những yếu tố quan trọng trong tổng luận tu đức của công đồng :

- Giáo hội nh́n nhận ḿnh là đầy tớ của Thiên Chúa và con người.

- Phẩm trật được tŕnh bày như một sự phục vụ cộng đoàn. Công đồng cũng ưa thích lời Grégoire Cả : Ngài đă giới thiệu vai tṛ giáo hoàng của ḿnh như sau : “đày tớ của mọi đày tớ Thiên Chúa”.

- Chức phó tế là tác vụ đúng nghĩa nhất v́ chữ “diacre” vốn có nghĩa là người phục vụ. Chức này đă được phục hồi lại thành một thánh chức trường tồn trong Giáo hội.

Như thế đă có một cách mới để tŕnh bày thần học về các tác vụ, một nền thần học hết sức cần thiết trong thời đại chúng ta.

Chủ đề đức ái là phục vụ Thiên Chúa và con người có nền tảng sâu xa trong Kinh Thánh. Đức Giêsu đă tự xưng ḿnh là tôi tớ, và câu định nghĩa do Người đưa ra về sứ mạng của Người là một trong những điều được xác nhận rơ nhất trong Tân ước . “Con người đến không phải để được kẻ hầu người hạ, nhưng là để hầu hạ” (Mc 10,45 và Mt 20,28) ; “Thầy sống giữa anh em như một người hầu hạ” (Lc 22,27)

Đức Giêsu thích giới thiệu cuộc đời ḿnh như một sự phục vụ toàn diện trong t́nh yêu duy nhất. Người yêu mến và phục vụ Cha bằng cách hy sinh cuộc đời để thực hiện giao ước mới. Cũng trong hy sinh như thế, người phục vụ nhân loại, và người hiến dâng mạng sống ḿnh bằng cách phục vụ. Thái độ này chi phối Người toàn diện và đưa Người đến cuộc vượt qua triệt để : đối với Người phục vụ không phải là một việc tùy từng lúc, cũng không phải là giúp đỡ thêm, nhưng đó là sự hiến dâng bản thân ḿnh qua những đau khổ và cho đến chết.

Ai bước vào kinh nghiệm sống đạo, ai chấp nhận Thánh Linh để chia sẻ kinh nghiệm của Con Thiên Chúa nhập thể đương nhiên phải sống thế nào cho người khác thấy đó chính là sự phục vụ : “Tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đă trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người” (1Cr 9,19)

Chúng ta đă quá biết t́nh cảnh người nô lệ trong văn minh thời bấy giờ. Qua câu nói trên, Phaolô cho thấy sự phục vụ triệt để của Ngài, sự khước từ không muốn tính toán nhưng muốn đi cho tới cùng.

Đức Giêsu đă sống đức ái phục vụ thế nào “khi biết giờ của Người đă đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha” (Ga 13,1), và người đă giới thiệu đức ái đó như con đường mà các môn đệ phải đi theo. Người lấy khăn mà thắt lưng, giống như các đầy tớ, qú xuống bên chân các môn đệ để rửa. Khi khai mạc phép Thánh Thể của Giáo hội vào tối hôm trước ngày hoàn tất lễ tế trên thập giá như thế, Đức Giêsu đă dùng cử chỉ rửa chân này để nói lên Người yêu thương các môn đệ thế nào. Trong đêm hôm đó, mọi việc đều mầu nhiệm : từ việc chia bánh, báo tin ra đi cho đến cử chỉ khó hiểu ấy. Về sau, mọi việc ấy mới trở nên sáng tỏ. Như Đức Giêsu đă nói với Phêrô : “Sau này anh sẽ hiểu” (câu 7).

Tuy nhiên, đ̣i hỏi lúc ấy thật là tuyệt đối : “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng c̣n được chung phần với Thầy” (câu 8)

Người đang yêu th́ phải sống t́nh yêu một cách cụ thể, khiêm tốn là phục vụ. Môn đệ không thể không đi theo con đường của Thầy ḿnh. “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không ? Anh em gọi thầy là “Thầy”, là “Chúa”, điều đó phải lắm, v́ quả thật, Thày là Thày, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thày, mà c̣n rửa chân cho anh em, th́ anh em cũng phải rửa chân cho nhau... Anh em đă biết những điều đó, nếu anh em thực hành, th́ thật phúc cho anh em” (Ga 13,13-17)

Cử chỉ tầm thường đó, việc rửa chân đó là cách diễn tả sự kính trọng đối với người khác. Không một chút tham vọng coi ḿnh hơn người khác hay lấy sự ban tặng của ḿnh đè bẹp anh em. Không có ǵ để khoe mẽ, không có ǵ để tự phụ. Chỉ có mặt ở đó, làm những ǵ cuộc sống đ̣i hỏi. Có người mẹ nào lại đi khoe là đă giúp con ḿnh làm vệ sinh ? Đức ái huynh đệ có thể đi tới chỗ hy sinh mạng sống và tử đạo, v́ “Không ai có t́nh thương lớn hơn t́nh thương của người hy sinh mạng sống ḿnh cho bạn hữu” (Ga 15,13).

Thánh Maximilien Kolbe đă nối gót hàng ngàn người minh chứng điều đó. Nhưng thật là phi lư khi muốn vươn tới những đỉnh cao đó mà trước tiên không chịu thi hành việc phục vụ hàng ngày.

Như thế, ḷng kính trọng người khác, thể hiện qua việc phục vụ khiêm tốn, đă ăn khớp với sự kính trọng vô hạn mà Chúa Cha dành cho con người, cho tất cả mọi người. Không phải tất cả những ǵ chúng ta cho là t́nh yêu đều là t́nh yêu. Chỉ có Thiên Chúa đă sống t́nh yêu đích thực một cách nguyên tuyền, v́ Người yêu thương và tôn trọng mỗi người như đă yêu thương và tôn trọng con đời đời của Người, và ban Thánh Linh xuống cho mỗi người như đă ban Thánh Linh xuống cho Con đời đời ấy. Như thế, yêu thương anh em như Thiên Chúa yêu, chính là tôn trọng họ tới mức coi họ quí giá không kém ǵ Đức Kitô.

* Cầu Nguyện, Bố Thí Và An Chay.

Đức cha Rhodain, sáng lập viên tổ chức Cứu trợ Công giáo đă nói tới một thứ “bác ái đổi thay theo h́nh học” mà các phương tiện thông tin liên lạc ngày nay có thể giúp thực hiện và thậm chí đ̣i hỏi nữa. Ngài lưu ư tới mối liên hệ chặt chẽ giữa thao thức sống đức ái và đấu tranh cho công bằng. Ngài áp dụng câu nói của Augustin : “Hăy cho người đói ăn. Nhưng giá không ai đói th́ hay hơn”.

Trong Giáo hội ngày xưa, người ta chỉ cử hành việc sám hối trọng thể đối với những tội được coi là hết sức nặng và v́ thế anh em chỉ lo chiến đấu chống lại những tội hàng ngày mà nguồn gốc luôn luôn là do ích kỷ. Các nhà giảng thuyết thường đề nghị ba việc sau đây làm thuốc chữa trị những tội lỗi quen phạm đó : bố thí, cầu nguyện và ăn chay.

Cầu nguyện là một việc bác ái nếu được làm với tâm t́nh yêu thương. Ai tin Chúa mà chưa dâng lời cầu nguyện cho anh em ḿnh th́ kể như chưa làm cho họ tất cả những ǵ ḿnh có thể làm được. Chúng ta không biết lời cầu nguyện có hiệu quả trực tiếp trước mắt không, nhưng Thánh Kinh và Đức Giêsu đă nói rất nhiều về sự cần thiết phải cầu nguyện, nên trên nguyên tắc không thể nghi ngờ sức mạnh của lời cầu nguyện.

Bố thí cũng là một sức mạnh để cân bằng với tính ích kỷ ở trong tâm hồn ta. Bố thí góp phần triệt hạ sức mạnh của tội lỗi. Bố thí của cải, thời gian, sự phục vụ, thăm người bệnh hay kẻ cô đơn : tất cả những việc ấy đề có giá trị như Đức Giêsu đă long trọng tuyên bố trong dụ ngôn về ngày chung thẩm (Mt 25). Nhưng việc bố thí phải xuất phát từ ḷng bác ái chân thành, như Đức Giêsu đă nhắn nhủ : “C̣n anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay mặt làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những ǵ kín đáo, sẽ trả công cho anh” (Mt 6,3-4)

C̣n Phaolô khẳng định : “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt mà không có ḷng bác ái, th́ cũng chẳng ích ǵ cho tôi” (1Cr 13,3)

C̣n đối với việc ăn chay, thật khó đề cập tới, nhất là trong thế giới tây phương hay lưu ư tới việc sống cho có chất lượng, do nhịp làm việc kinh khủng đ̣i hỏi. Thế nhưng, Giáo hội vẫn tiếp tục đ̣i phải có sự ăn chay, trọn vẹn hay một phần, đặc biệt trong thời gian sám hối chuẩn bị cử hành mầu nhiệm Phục sinh. Việc ăn chay trong Kitô giáo có hai mục đích :

- để kỷ luật thân xác hầu đạt tới sự quân b́nh đúng đắn trong đời sống đạo.

- để có thể chia sẻ thật sự hơn.

Một trong những Kinh tiền tụng đọc trong Mùa Chay có nói rơ : “Chúa cho chúng con thời gian thiếu thốn này để khi chế ngự tính kiêu ngạo và khi chia sẻ với những người đói khát...” ta sẽ đi lạc hướng khi coi chay tịnh chỉ là một cách để ngạo nghễ chế ngự các bản năng, hay chỉ là một h́nh thức giữ kỷ luật trong ăn uống. Trái lại, ở đây ta cũng phải ghi nhớ lời dặn ḍ của Đức Giêsu : “C̣n anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy anh ăn chay, ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những ǵ kín đáo, sẽ trả công cho anh” (Mt 6,17-18)

* Việc Bổn Phận

Nhiều thế hệ Kitô hữu đă được dạy dỗ trong tinh thần tôn trọng việc bổn phận, tôn trọng “công việc mỹ măn”, dù không phải chỉ có họ độc quyền chu toàn các việc làm. Ngày nay chúng ta phải khôi phục lại nền tu đức không nhằm những việc phi thường, ngoạn mục mà trân trọng các việc làm hàng ngày được thi hành trong tâm t́nh t́m kiếm Chúa.

Đức Giêsu rất thích tŕnh bày các tín hữu như những “gia nhân tài giỏi và trung thành trong một ít việc”, cuối cùng “được đặt lên coi nhiều việc” (Mt 25,21)

Một trong những lời giáo huấn của Đức Giêsu cho biết giá trị của các công việc mà hàng ngày cả triệu người vẫn làm. Họ không đ̣i ai khen họ về những việc đó, v́ đó chẳng qua chỉ là phần việc họ phải làm : “Ai trong anh em có người đày tớ đi cày hay đi chăn chiên, mà khi nó ở ngoài đồng về, lại bảo nó : mau vào ăn cơm đi, chứ không bảo : hăy dọn cơm cho tôi ăn, thắt lưng hầu bàn cho tôi ăn uống xong đă, rồi anh em hăy ăn uống sau”(Lc 17,7-8)

Chúng ta không thể nói ǵ hơn về giá trị linh thiêng sâu xa của các việc làm đơn sơ đó, khi được thi hành với ḷng trung thành. Người đày tớ trong thí dụ trên đây đă làm hết mọi thứ việc : từ cày cấy ngoài đồng hay chăn súc vật, và bây giờ phải đâm đầu vào bếp, và rồi sau đó đứng phục vụ. Paul Verlaine đă có lư khi nói : “Đời tuy thường với việc làm chán ngán chẳng khó chi. Lại là cả công tŕnh phải yêu nhiều mới thành công”.

Biết bao cuộc đời thánh thiện sâu xa, chỉ v́ đă chấp nhận sự đều đặn buồn tẻ của các việc trong nhà ? Nhiều người tiếc là có quá ít bà mẹ gia đ́nh được phong thánh. Trong các đan viện người ta thường đề cao sự thánh thiện của đức đan viên phụ nhiều hơn sự thánh thịên của ông thầy nấu bếp. Các vị thánh gần chúng ta hơn như Bernadette Soubirous hay Thérèse Couderc đă cho chúng ta thấy rơ giá trị của những công việc hàng ngày. Elizabeth de la Trinité hay nói: “Ta t́m thấy Chúa khi giặt quần áo cũng như lúc cầu nguyện”

Tuy không phủ nhận tầm quan trọng của đời sống chiêm niệm, nhưng muốn kiểm chứng đời sống ấy th́ phải dựa vào tiêu chuẩn này là có chu toàn bổn phận hay không. Đây là một bảo chứng nghiêm túc cho ta khỏi rơi vào ảo tưởng. Nếu để chu toàn bổn phận, tôi phải làm những việc ích lợi cho người khác th́ chu toàn bổn phận là đă thỏa măn tiêu chuẩn mà thánh Gioan đă đề ra : “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, th́ không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1Ga 4,20)

Đối với những người sống trong một cộng đoàn có qui luật đời sống hẳn hoi, th́ chu toàn nhiệm vụ đă chọn hay đă được giao là đă sống đức vâng phục. Thật nguy hiểm khi tránh né công việc hàng ngày tầm thường bằng cách cho rằng ḿnh được giao cho một sứ mạng vĩ đại hơn, đặc biệt hơn cơ. Người phụ trách phải lưu ư tới khả năng của các cá nhân hay phải phân chia công việc thế nào cho tốt đẹp và xứng hợp hơn. Tuy nhiên, dù được mời gọi đặc biệt hơn chăng nữa, người tu sĩ vẫn xác tín rằng chu toàn bổn phận là ngưỡng cửa để kiểm chứng mọi việc làm khác. Những ǵ công đồng nói với đời sống và chức vụ của các linh mục, ta cần nâng lên thành nguyên tắc chung : “Thành tâm và kiên nhẫn thi hành chức vụ của ḿnh trong tinh thần Chúa Kitô là phương pháp riêng giúp các linh mục đạt tới sự thánh thiện” (Lm 13)

Đi ngoài nguyên tắc đó, đời sống đạo của chúng ta sẽ rơi vào những con đường tưởng tượng viễn vông.

Cũng nhờ đó, Thân Ḿnh Đức Kitô được xây dựng : “Cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới t́nh trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên măn của Đức Kitô” (Ep 4,13)

Mỗi người tùy theo vị trí của ḿnh đều phải nỗ lực cho công việc này. Cũng như không có nghề nào là điên rồ, trong việc xây dựng Thân Ḿnh Đức Kitô dưới sự chỉ đạo của Kiến trúc sư tài ba đầy ḷng kiên nhẫn, là Chúa Thánh linh, cũng không có việc ǵ là vô ích cả. Chúng ta hăy lắng nghe lời nhắn nhủ của Chúa : “Khi đă làm tất cả những ǵ Thiên Chúa truyền dạy cho ḿnh, th́ phải nói : chúng tôi chỉ là những người đầy tớ vô dụng, chúng tôi đă chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17,10)

Hăy nghe lời ấy không phải vào buổi sáng, không phải khi bắt đầu, v́ ta có thể v́ đó mà nản ḷng. Nhưng hăy nghiền ngẫm lời ấy vào chiều tối, khi đă làm việc xong, để trao tất cả mọi sự lại cho Chúa.

* Thứ Tha Cho Kẻ Thù.

Ngay trong cuộc hành tŕnh sống đạo mỗi ngày, nghĩa là c̣n ở phía bên này sự chọn lựa tối hậu, đă có nhiều cánh cửa hé mở cho ta được hưởng làn gió mát và bổ dưỡng của tương lai. Một trong những nguồn sáng nhất cho mọi người trông thấy là mầu nhiệm tha thứ.

Mầu nhiệm ấy đưa chúng ta lại gần với đời sống của Ba Ngôi, nền tảng đức tin của chúng ta :

- Đức Giêsu chịu khổ nạn và mời gọi ta chiêm ngắm cuộc khổ nạn ấy là chịu khổ nạn và mời gọi ta trong tư cách của Ngôi Con đời đời.

Khi bị đóng đinh, Người đă cầu nguyện : “Lạy Cha, xin tha cho họ, v́ họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34)

Một người cả đời đă loan báo t́nh yêu của Cha và ḷng thương của Cha đối với con chiên lạc (Lc 15,4-8), nay lại tha thứ. Khi cầu nguyện như thế, Đức Giêsu vừa mạc khải cho ta thấy t́nh thương của Cha, vừa dạy ta làm như thế : Người cho chúng ta biết Thiên Chúa không yêu thích ǵ hơn là tha thứ, và mời gọi chúng ta hăy để Chúa Thánh Linh rèn luyện cho ta cũng có thái độ tương tự như thế. Chúng ta cũng phải tha thứ cho những người gây sự dữ cho chúng ta, những người có lẽ không bao giờ thèm nhận sự tha thứ của chúng ta. Kinh nghiệm sống đạo đạt tới cao điểm trong sự tha thứ vô hạn đó, một sự tha thứ không hề nghi ngờ Thiên Chúa. Đó chính là thái độ của thời cánh chung, là cánh cửa mở ra cho tương lai, v́ Thiên Chúa có thể tha thứ tất cả, đón nhận mọi kẻ tội lỗi vào ḷng từ bi của người. Khi tha thứ cho kẻ thù là ta đă đi vào Nước trời, bởi nơi đó mọi sự đều được tha, nơi đó chúng ta sẽ cùng nhau hân hoan v́ được Thiên Chúa đón nhận vào mầu nhiệm từ bi của Người.

Vào lúc gần chết, Đức Giêsu đă loan báo Tin Mừng cho người trộm cướp : “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43)

Đó là một tội nhân, một phạm nhân. Tuy vậy, anh vẫn không coi là bất xứng với Tin Mừng. Tôi không có quyền ǵ để xét xử người khác, không thể tuyên bố ai là không thể được cứu độ. Trái lại, tôi phải loan tin vui về ḷng thương xót của Thiên Chúa, và tôi không bao giờ có thể loan tin ấy một cách trung thực ngoại trừ khi tôi tin rằng mọi người đều có thể được cứu độ. Tôi sẽ mạc khải Thiên Chúa sắp tới bằng cách giới thiệu trời là vương quốc mở cửa cho hết mọi người.

Khi tôi có thể tha thứ cho những người không bao giờ chấp nhận sự tha thứ của tôi, là tôi đă tiến rất sâu vào vương quốc của Thiên Chúa giàu ḷng thương xót, tôi đă đạt tới bậc bác ái thứ ba mà thánh Maxime Tuyên giáo đă tŕnh bày, vượt lên hai bậc kia là kính trọng người khác và sống bác ái một cách đơn sơ giản dị.

- Ơn tha thứ này được ban cho hết mọi người trong Chúa Thánh Linh. Và đây chính là điểm làm cho sự tha thứ trở thành cửa ngơ mở ra thời cánh chung. Khi Chúa Thánh Linh được ban cho ta là thế giới mới và những thực tại cuối cùng được mở ra.  Và càng tiếp nhận hoạt động của Chúa Thánh Linh, ta càng thấy thế giới truyền sinh ấy rộng mở trước mắt ta. Dù nơi Thiên Chúa, thương xót không phải nhân đức cần thiết, nhưng nơi chúng ta sự tha thứ của Người chính là kết quả trung thực nhất của t́nh yêu Ba Ngôi : “Anh em hăy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai th́ người ấy được tha” (Ga 20, 22-23)

Chúng ta chỉ có thể tha thứ thật sự được là nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Linh ấy. Và khi chúng ta để Người hành động nơi ḿnh là chúng ta chứng tỏ Người đă chiến thắng sự dữ : “V́ tên cầm đầu thế gian này đă bị xét xử rồi” (Ga 16,11)

Chúng ta đă bắt đầu bước vào thế giới mới, ở đó mọi sự ích kỷ đều bị tiêu tan trong mầu nhiệm t́nh yêu.

- Tha thứ kẻ thù là cách kết hợp sâu xa nhất với ḷng thương xót của Chúa Cha. Trong thông điệp thứ hai của ḿnh, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đă cho thấy tuy không dám định nghĩa Thiên Chúa, nhưng phải nh́n nhận chữ thương xót có lẽ là chữ giúp ta tiếp cận thực tại sâu xa của Thiên Chúa nhiều hơn hết. Tha thứ là con đường để chúng ta kết hợp với Chúa Cha, mà như Gioan đă nói : “Phàm ai yêu thương, th́ đă được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa” (1Ga 4,7)

Nghĩa là ḷng thương xót c̣n cho thấy rơ hơn : những ǵ chúng ta sống không c̣n phải là do con người nữa, mà do chính Thiên Chúa.

Chúng ta phải khẩn khoản xin cho được ơn biết tha thứ, và phải mở ḷng đón nhận ơn ấy. Chúng ta thường có cảm tưởng rằng ḿnh không thể tha thứ được. Có những vết thương ḷng sâu sắc và xa xưa đến nỗi những vết thẹo do chúng để lại dường như không thể chữa được nữa. Đúng, xét theo quan điểm loài người, chúng ta không thể nào chữa khỏi. Nhưng Thiên Chúa ở trong chúng ta có thể làm được mọi sự. V́ thế, ta phải khiêm tốn xin Người thanh luyện tâm hồn ta, phải mở con tim bệnh hoạn của ḿnh ra cho Người, để con tim ấy trở nên giống con tim của Chúa Cha. Người tỏ ra sung sướng hơn “V́ một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn” (Lc 15,7)

Việc thanh luyện con tim như thế là một việc vừa chậm vừa âm thầm, như những giọt sương của Chúa Thánh Linh thấm nhẹ vào con tim đất sét đă bắt đầu rạn nứt nơi chúng ta. Con tim khốn khổ và quá ư nhân loại của chúng ta sẽ dần dần đập theo nhịp của con tim Thiên Chúa. Đây chính là cánh cửa hé mở ra cho tương lai, hé mở ra cho một loại thời gian vượt trên mọi thời gian, khi đó không c̣n ǵ để tha thứ cho nhau mà chỉ nhảy mừng hân hoan v́ đă được Chúa yêu thương và qui tụ về.

* B́nh An Của Thiên Chúa.

Trước đây chúng ta đă thường đề cập tới đề tài b́nh an này : sự b́nh an tựa như một cụm hoa đồng nội e lệ bên những bông hoa cao lớn. B́nh an thiêng liêng trong ḷng con người là một trong những dấu chỉ cảm kích nhất cho ta biết về thế giới sắp tới. Sự b́nh an đó không phải là khung cửa lớn có lắp kính cho ánh nắng mặt trời ùa vào, mà đúng hơn nó chỉ là một ô cửa nhỏ của căn pḥng sát nóc mái nhà, chỉ để cho một luồng ánh sáng nhè nhẹ lên vào.

Sự b́nh an thiêng liêng là một mầu nhiệm v́ nó xuất phát từ Thiên Chúa. Cái mà con người quen gọi là b́nh an th́ nhiều khi chỉ là một sự thỏa hiệp mong manh, một sự đ́nh chỉ tạm thời giữa hai giai đoạn căng thẳng. Chỉ có Thiên Chúa là được b́nh an thật sự, v́ Người là t́nh yêu trọn vẹn. Khi ban cho cho chúng ta b́nh an “của Người”, sự b́nh an xuất phát từ Đức Kitô (Ga 14,27), Người đưa chúng ta đi vào chốn thâm giao của Ba Ngôi và cho chúng ta thấy thoáng qua cơi vĩnh cửu mà ở đó chúng ta sẽ được b́nh an thư thái hoàn toàn.

Phaolô giải thích cho các tín hữu Philiphê những con đường giúp họ đạt tới sự b́nh an đó : hăy luôn luôn vui tươi trong Chúa, v́ Người sắp tới, không lo lắng ǵ cả, luôn cầu nguyện với ḷng biết ơn. Và Ngài kết luận : “Và b́nh an của Thiên Chúa, là b́nh an không ai hiểu thấu, sẽ giữ cho ḷng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu” (Pl 4,7)

Sự b́nh an ấy vượt mọi hiểu biết của con người. V́ thế, không được t́m cách phân tích hay đoạt lấy sự b́nh an đó như phân tích một kết quả để rồi nhờ nỗ lực hay nhờ kỷ luật ư chí mà ta có thể đạt được. Sự b́nh an đó không thụ động ù ĺ, nhưng là sự b́nh an có thể có mặt ngay khi chúng ta đang bị thử thách, tựa như đáy biển vẫn lặng yên dù lớp sóng trên mặt có dồn dập thế nào đi nữa. Nếu đón nhận sự b́nh an đó trong đức tin, tâm tư ư nghĩ của ta sẽ được nhờ đó mà an toàn. Con tim ta quân b́nh hơn, trí khôn ta bớt chỉ trích hay kết án.

Lúc đó sự b́nh an trong ta sẽ tỏa sáng ra ngoài, như nơi nhiều vị thánh : các Ngài có khả năng tiếp nhận mọi sự, t́m cách thông cảm hơn là kết án.

Như thế, lời loan báo của Đức Giêsu đă được thực hiện : “Phúc thay ai xây dựng ḥa b́nh, v́ họ sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Mt 5,9)

Được gọi là Con Thiên Chúa, v́ chính Chúa là sự b́nh an và là người xây dựng ḥa b́nh.

Sự b́nh an đó chính là ơn huệ của Nước Trời vĩnh viễn. Ơn ấy sẽ tỏa chiếu trên thế giới qua đời sống chứng tá can đảm của những con người b́nh an. Sự b́nh an thiêng liêng là cửa mở ra tương lai, v́ nó sẽ tỏa chiếu trên những người chung quanh.

Đó là ơn của sự vượt qua. Tin Mừng thứ tư đặc biệt nhấn mạnh tới mối liên hệ giữa mầu nhiệm thập giá với ơn b́nh an ấy. Phaolô cũng nói : “Chính là Đức Kitô là b́nh an của chúng ta” (Ep 2,14).

Theo Tin Mừng Gioan, chính đức Kitô là người loan báo sự b́nh an mà cuộc vượt qua của Người sẽ đem lại cho thế giới. Trong buổi tṛ chuyện cuối cùng, Người đă cho nếm trước những ǵ sắp xảy ra : “Thầy để lại b́nh an cho anh em, Thày ban cho anh em phúc b́nh an của chính Thầy” (Ga 14,27)

Và chiều ngày Phục sinh, Người chào cộng đoàn hai lần bằng mấy chữ này : “B́nh an cho anh em” (Ga 20, 19-21)

Không c̣n ân huệ nào qúi hơn, cũng không có cách nào tóm tắt giáo lư của Người hay hơn. Qua mầu nhiệm thập giá, b́nh an của Chúa đă đến với tâm hồn con người và biến đổi nó. Kinh nghiệm sống đạo càng nếm thử thách nhiều bao nhiêu (một điều chẳng những không thể tránh được, mà c̣n có sức giáo hóa ta nữa), việc ta kết hợp với Đức Giêsu trong Thánh Linh càng đem lại cho tâm hồn ta ơn b́nh an nhiều bấy nhiêu. Thậm chí, b́nh an c̣n là một trong những dấu chỉ rơ nhất cho biết ta đă chọn lựa đúng : ta đă lấy quyết định tối hậu trong sự b́nh an.

* Sự B́nh Tâm Thánh Thiện

Các bậc thầy về đời sống đạo, như thánh Ignace de Loyola, đều nhấn mạnh đến thái độ b́nh tâm này, coi đó là một trong những cửa ải cuối cùng của kinh nghiệm sống đạo.

            Không phải là sự b́nh tâm ích kỷ, dửng dưng với mọi sự chung quanh, nhưng là thật sự chết đối với ḿnh trong đức tin thuần khiết tối đa. Thánh Jean de la Croix đă từng nói sống đạo là một cuộc hành tŕnh, và có nhiều đoạn trong cuốn “Lên núi Cát Minh” (“Montée du Carmel”) rất để ư tới đời sống trong đức tin. V́ thế, đi trên con đường thiêng liêng không phải là chinh phục một cách kiêu ngạo, để chỉ có một thiểu số mới làm được. Nhưng là trở thành người tin thật sự, là sống trọn vẹn ơn đức tin của Bí tích rửa tội. Đó chính là tiếng gọi Chúa gửi đến hết mọi Kitô hữu.

Như vậy, rốt cuộc, tin thật và tiếp cận mầu nhiệm tương lai c̣n là ǵ nữa khi đức tin sẽ “qua đi” và thay vào đó ta được diện đối diện : “Tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi” (1Cr 13,12)

- Tin thật là cương quyết chết đối với bản thân ḿnh và để cho ơn nghĩa của bí tích rửa tội được phát triển. Không có ǵ đáng buồn trong cái chết ấy, trái lại hết sức vui tươi v́ được tự do thật sự, rũ bỏ những cái kềnh càng, để chạy đến Thiên Chúa như người mù ném áo choàng đi để chạy đến với Đức Giêsu (Mc 10,50). Hay như Phaolô nói : “Quên đi chặng đường đă qua, để lao ḿnh về phía trước. Tôi chạy thẳng tới đích để chiếm được phần thưởng dành cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi trong Đức Giêsu” (Pl 3,13-14)

Cái giá phải trả là chính Thiên Chúa, được mọi người chiêm ngưỡng trong cuộc sống Ba Ngôi và trong t́nh yêu Ngài đă dành cho mỗi người chúng ta từ đời đời.

- Tin thật là chấp nhận Thiên Chúa với sức mạnh của t́nh Chúa yêu và sự triệt để của tiếng Chúa gọi. Phải chấp nhận Thiên Chúa “ở trong” ta, chứ không phải ở trên chúng ta. Chấp nhận cội nguồn của hữu thể chúng ta (tức là Thiên Chúa) cũng là mục đích và lẽ sống của cuộc đời : “Tôi thưa cùng Giavê : Chính Ngài là Thiên Chúa của con, hạnh phúc con, không quỉ ma trần gian này tạo được” (Tv 16,2)

- Tin thật là chấp nhận sự có mặt của Thánh Linh, là Thiên Chúa hiện diện “nơi đáy sâu ḷng tôi”. Không phải một Thiên Chúa mà ta công nhận hay chịu đựng ở bên ngoài bản thân ḿnh, nói năng với con người và xét xử con người bằng cách kết án hay chúc mừng nó. Nhưng đó là Thiên Chúa đi sâu vào đáy ḷng ta và cho t́nh yêu Ba Ngôi chảy vào đó. “Ta sẽ đặt luật Ta vào đáy ḷng chúng, sẽ khắc ghi trên trái tim chúng” (Gr 31,33)

Ước ǵ con tim chúng ta trở thành bảng gỗ cho Thánh Linh ung dung vạch các dấu hiệu cụ thể của t́nh yêu trên đó.

- Tin thật là chấp nhận chủ quyền của Đấng bị đóng đinh. Không phải tuyên bố một cách hơi cũ rích rằng Giêsu Kitô là Chúa chúng ta, mà phải thốt lên một cách chân thành : Lạy Chúa Giêsu, Ngài là Chúa tể của đời con. Con muốn dựa vào Ngài để chọn lựa và để sống. Con chấp nhận tận đáy ḷng con và tận gốc rễ yếu hèn của con rằng thánh giá Ngài là Thánh giá quyền năng. Con chấp nhận t́nh bạn mà Ngài mời con chia sẻ cũng như tất cả mọi thay đổi trong cách sống của con do t́nh bạn ấy gây ra. Con chỉ muốn một ḿnh Ngài, v́ Ngài đă mời gọi con. “Không phải là đầy tớ nữa mà là bạn hữu” (Ga 15,15). Và con cũng ao ước được gọi Ngài là bạn của con.

- Tin thật là để Chúa đến và làm những ǵ Người muốn. Vào một thời kỳ không c̣n bóng dáng một ngôn sứ  nào để nói cho người nghèo ở Israel biết chừng nào Chúa tới, những người nghèo ấy chỉ c̣n cách là lặng lẽ khoét sâu trong ḷng ḿnh như đào một cái giếng, chờ mong Chúa đổ đầy nước hằng sống vào. Maria đă sống qua tâm trạng  đó một cách hết sức mănh liệt : “Xin Chúa làm cho tôi như lời Sứ thần nói” (Lc 1,38)

Ngài dạy chúng ta phải sống qua tâm trạng đó, phải ước ao “Ngôi lời như nhập thể lại trong chúng ta” (Elisabeth de la Trinité).

Ta sẽ đạt được sư b́nh tâm thánh thiện khi không c̣n muốn ǵ ngoài những điều Chúa muốn, không phải v́ khinh rẻ ḿnh nhưng v́ ư thức rằng được Chúa ǵn giữ là an toàn hơn cả. Thậm chí chúng ta cũng không c̣n ao ước quá đáng là đ̣i phải hiểu biết ḿnh. Đối với chúng ta điều quan trọng nhất là chỉ có Chúa biết và chỉ có Chúa làm. Lúc đó, t́nh nghĩa tử, ư nghĩa sâu xa của mọi đời sống đạo, mới có thể thực hiện được.

“Khi đă học biết ca hát không ngừng, ḥa với các thiên thần, linh hồn sẽ được đưa tới chỗ sống t́nh nghĩa tử. Linh hồn sẽ cầu nguyện với Chúa như với Cha ḿnh. Linh hồn sẽ nhập định trong một cơn xuất thần, thoát ra khỏi mọi sự

Linh hồn sẽ biết những mầu nhiệm của Thiên Chúa nhiều đến nỗi không muốn thuộc về ḿnh nữa, không muốn ḿnh biết hay ai biết ḿnh nữa. Và lúc đó, Thiên Chúa sẽ hiện diện nơi linh hồn một cách tài t́nh, sẽ cất linh hồn lên trong hạnh phúc, đi vào linh hồn một cách nhẹ nhàng và thần hóa linh hồn trọn vẹn”.

 

 

 

 

 

 

T́m Bài

 

CHƯƠNG I            CON NGƯỜI                                                          03

            - Con người, được sinh ra để giao ước với Chúa            03

            - Con người, tạo vật được Chúa yêu thương              04

            - Con người, h́nh ảnh của Thiên Chúa             05

            - Con người, được tạo dựng trong Đức Kitô                      06

            - Con người, niềm nở đón rước Thánh Linh                   09

            - Con người, nghĩa tử của Chúa Cha               10

CHƯƠNG II            CẦU NGUYỆN                                           12

CHƯƠNG III            TIN                                                                 24

CHƯƠNG IV            SAO BIẾT ĐƯỢC TÔI ĐANG YÊU ? 35

            - Phái Tính                                                                  44

CHƯƠNG V            DÂNG HIẾN BẢN THÂN M̀NH                        49

            - Đời sống đạo và tâm lư học                                 49

            - Xác, hồn và thần khí                                                 51

            - Hướng về con tim sâu thẳm                             55

            - T́nh yêu nhục dục và t́nh yêu bác ái                      57

            - Hy sinh và phụng tự thiêng liêng                           63

            - Những lúc bị bỏ rơi                                                   66

            - Ích lợi và nguy hiểm của lo âu                                   69

            - Thử thách của bệnh tật                                            70

            - Mầu nhiệm sự chết và kinh nghiệm sống đạo            71

CHƯƠNG VI            THÂN XÁC                                                    74

            - Người ta có thể sử dụng thân xác ḿnh không ?          74

            - Người ta có thể sử dụng th/x người khác không ?            76

            - Người ta sẽ được sử dụng một th/x khác không ?            77

            - Thân xác của Đức Giêsu                                        78

            - Thân xác của riêng bạn                                           80

CHƯƠNG VII             TỰ DO                                          83

            1- Tiếng “tự do” có ba ư nghĩa                            83

            2- Đừng tỏ ra cá nhân chủ nghĩa                         84

            3- Tự do của bạn cũng phải quan tâm

 đến tự do của người khác                             85

            4- Đời sống xă hội dân sự                                            86

            5- Vấn đề Giáo Hội                                                      87

            * Bài đọc thêm                                                          89

CHƯƠNG VIII THẤP THOÁNG BÓNG TƯƠNG LAI            91

            - Các thánh giúp chúng ta xác tin vào Ân Ban             91

            - Đời sống của người Kitô hữu tiêu biểu                  94

            - Đường sống đạo của người đấy tớ                           97

            - Cầu nguyện, bố thí và ăn chay                                100

            - Việc bổn phận                                                          102

            - Thứ tha cho kẻ thù                                                   105

            - B́nh an của Thiên Chúa                                        108

            - Sự b́nh tâm thánh thiện                                         110