ĐỨC GIÊSU KITÔ
I Đức Giêsu Kitô
Trung tâm của đời sống tâm linh Kitô giáo là Đức Giêsu Kitô : không những bởi v́ Người mạc khải cho chúng ta khuôn mặt của Thiên Chúa và kế hoạch t́nh thương của Ngài, nhưng Người c̣n là mẫu gương cho chúng ta trong cách thức đối xử với Thiên Chúa và với tha nhân. Hơn thế nữa, các tín hữu c̣n tuyên rằng Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu chuộc nhân loại : v́ thương yêu chúng ta, Người đă chết v́ chúng ta; nay Người đă sống lại và trở thành nguồn sống cho chúng ta. Người tự ví như Nước hằng sống (Ga 4,12), Bánh hằng sống (Ga 6,35.58), Sự sống (Ga 11,15; 14,6), và mời gọi chúng ta hăy đón tiếp Người, sống với Người, sống cho Người, ngơ hầu lănh nhận sự sống viên măn (Ga 3,36; 10,10). Lịch sử linh đạo Kitô giáo, từ những trang đầu của Phúc âm, cho đến các thư của Phaolô cũng như truyền thống của các vị thánh đă để lại nhiều mẫu thức diễn tả mối t́nh giữa Đức Kitô với các môn đệ, và ngược lại.
Trong chương này, chúng tôi sẽ tŕnh bày hai điểm : 1/ trước tiên, ôn lại vài nét chính về thân thế và sự nghiệp của Đức Kitô ; 2/ những h́nh thức sống mối tương quan với Đức Kitô.
Bàn về thân thế và sự nghiệp của Đức Giêsu có nghĩa là trả lời hai câu hỏi sau đây : Đức Giêsu là ai ? Người đă làm ǵ ? Có rất nhiều lối trả lời hai câu hỏi đó, tùy theo những góc độ, cách tiếp cận. Một văn kiện của Ủy ban Giáo hoàng về Kinh thánh xuất bản năm 1984 (Bible et christologie) đă liệt kê ra 11 lối tiếp cận khác nhau, từ đó ta có thể suy diễn là có ít nhất là 11 thứ Kitô-luận. Hơn thế nữa, ngay trong Tân ước, ta cũng có thể thấy những lối tŕnh bày khác nhau về chân dung Đức Giêsu nơi Phúc âm nhất lăm, thánh Gioan, thánh Phaolô, dựa theo những cảm nghiệm khác nhau của các cá nhân hay cộng đoàn[1].
Khi nói về các danh hiệu của Đức Giêsu, Sách Giáo lư Hội thánh Công giáo kê ra bốn danh xưng chính: Giêsu - Kitô - Con Thiên Chúa - Chúa (GLCG 430-451). Trên thực tế, các danh hiệu của Người trong Tân ước c̣n phong phú hơn nhiều, chẳng hạn như : Mêsia (Kitô), Tôi tớ (1Pr 2,21-25), Con người (Cv 7,56; Kh 1,13), con vua Đavit và Con Thiên Chúa (Rm 1,3-4), Thượng trí (Sự khôn ngoan) của Thiên Chúa (1Cr 1,15), Lời của Chúa (Kh 19,13; Ga 1,1-14), Chiên Thiên Chúa (Kh 5,6 ; Ga 1,29 ; 1 Pr 1,19), Chứng nhân trung tín (Kh 1,5), Mục tử nhân lành (Ga 10,1), Trung gian của Giao ước mới (Dt 1,1-10.18), Alpha và Omega (Kh 1,17), Thiên Chúa (Ga 20,28).
Ở đây chúng tôi không muốn viết lại khảo luận về thân thế và sự nghiệp của Đức Kitô[2], nhưng chỉ muốn dừng lại ở vài chân lư nền tảng có ảnh hưởng đến thần học tâm linh, dựa theo ba mầu nhiệm chính của cuộc đời Đức Giêsu: nhập thể, sứ vụ, tử nạn và phục sinh.
Đức tin cổ truyền tuyên xưng rằng Đức Giêsu Kitô là Ngôi Lời nhập thể : Lời Thiên Chúa làm người (Ga 1,14). Công đồng Vaticanô II đă muốn rút ra nhiều hệ luận từ lời tuyên xưng đó :
1/ Đức Kitô là Lời của Thiên Chúa: Người mặc khải cho chúng ta về Thiên Chúa (Ga 1,18), bởi v́ không ai biết Thiên Chúa hơn Người (Dt 1,1-2; Mt 11,27). Chính Người là lời hằng sống và chân thật (Ga 6,68; 17,17). Lời Người mang lại ân sủng cho chúng ta (Ga 1,16).
2/ Đức Kitô là Thiên Chúa làm người. Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa đă xuất hiện dưới thân h́nh của con người. Thiên Chúa siêu việt, Đấng tạo dựng đất trời, nay trở thành một con người, để chia sẻ thân phận với con người. Đối lại, con người được nâng lên hàng Thiên Chúa nơi Đức Kitô. Đây là cao điểm tột độ của mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người.
3/ Các giáo phụ kéo dài ảnh hưởng của mầu nhiệm ngôi-hiệp cho toàn thể nhân loại. Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa và là người : đây là một biến cố độc nhất vô nhị trong lịch sử. Tuy nhiên, Đức Kitô cũng muốn cho nhân loại được thông phần vào phẩm tính của Ngài, nghĩa là con người cũng được mời gọi vào chia sẻ bản tính Thiên Chúa (Ga 1,12; 1Ga 3,2; 2Pr 1,4). Thần học Đông phương gọi là “thần hóa”, “thiên hóa” (deificatio, divinisatio). Chúng tôi sẽ trở lại đề tài này trong phần thứ hai (chương Sáu). Ở đây chỉ gần ghi nhận rằng trong khi các giáo phụ Đông phương bàn về ơn gọi con người trong cơi vĩnh hằng, th́ công đồng Vaticanô II muốn áp dụng vào cuộc sống hiện tại qua đoạn văn thời danh ở số 22 của hiến chế Vui mừng và Hy vọng :
Với việc nhập thể, Con Thiên Chúa phần nào đă kết hợp với mỗi người. Người đă làm việc với bàn tay con người, đă suy nghĩ với tâm thức con người, đă hành động với ư chí con người, đă yêu thương với quả tim con người. Sinh bởi trinh nữ Maria, Người đă thực sự trở thành một người như chúng ta, giống y như chúng ta trong mọi mặt chỉ trừ tội lỗi.
4/ Mầu nhiệm nhập thể cũng mở ra một hướng đi cho hoạt động truyền giáo của Hội thánh. Khi làm người, Đức Giêsu đă nhận lănh điều kiện của một con người lịch sử, với những phong tục sinh sống của Palestina, sử dụng kho tàng văn hóa của họ để diễn đạt chân lư về Thiên Chúa. Đó là mẫu gương để Hội thánh thu nhận các tinh hoa của các nền văn hóa trong nhân loại để loan truyền Tin mừng (Hiến chế Vui mừng và Hy vọng số 58, Sắc lệnh về Truyền giáo số 22).
Mầu nhiệm Nhập thể chú trọng đến bản tính của Đức Kitô, nhằm trả lời câu hỏi : Người là ai ? C̣n khi nghiên cứu sứ vụ của Người, chúng ta muốn t́m cách trả lời câu hỏi : Người đă làm ǵ ? Có nhiều cách thức t́m câu trả lời, nhưng chúng tôi muốn lưu ư cách riêng đến lối sinh hoạt của Người, được Sách Giáo lư Hội thánh Công giáo đặt tên là “mầu nhiệm cuộc đời Đức Giêsu” (số 512-560), bởi v́ nó hé mở cho ta biết tâm t́nh và đường hướng của Người. Nhờ việc chiêm ngắm các mầu nhiệm đó mà chúng ta biết Người hơn, yêu mến Người hơn. Từ chỗ hiểu biết và yêu mến, chúng ta được mời gọi hoạ lại cuộc đời đó.
Ngoài những số vừa liệt kê ở sách Giáo lư Hội thánh Công giáo, thiết tưởng một đoạn văn súc tích tóm lược ư nghĩa sứ vụ Đức Giêsu có thể đọc thấy ở số 11 của tông huấn Hội thánh tại Á châu :
Kinh thánh chứng thực rằng Đức Giêsu đă sống một cuộc sống con người hoàn toàn... Người trở nên giống như chúng ta trong hết mọi phương diện, ngoại trừ tội lỗi. Người sinh bởi bà mẹ trinh khiết trong làng quê Belem, yếu ớt như bao nhiêu thơ nhi khác, thậm chí đă nếm cảnh tha hương để trốn tránh cơn thịnh nộ của một bạo vương (xc Mt 2,13-15). Người tùy thuộc cha mẹ, tuy dù các ngài không lúc nào cũng hiểu được đường lối của ḿnh nhưng Người vẫn âu yếm phục tùng (xc Lc 2,41-52). Người cầu nguyện liên lỉ, sống tương quan mật thiết với Thiên Chúa, Đấng mà Người gọi là Abba Cha, trước sự ngỡ ngàng của các thính giả (Ga 8,34-59). Người gần gụi với những kẻ nghèo, bị bỏ rơi, thấp kém, và Người tuyên bố rằng họ may phước bởi v́ Thiên Chúa ở với họ. Người ăn chung với phường tội lỗi, bảo đảm với họ rằng lúc nào trên bàn tiệc của Cha cũng c̣n chỗ dành cho họ một khi họ từ bỏ đường tội lỗi và trở về nhà Cha. Người đụng chạm đến những kẻ ô uế và để cho họ rờ đến ḿnh để tỏ rằng Thiên Chúa ở kề họ. Người khóc thương một bạn thân đă qua đời, Người cho đứa con của bà góa sống lại, Người đón tiếp các thiếu nhi, Người rửa chân cho các môn đệ. Xưa nay người ta chưa từng bao giờ cảm được t́nh thương của Thiên Chúa gần kề như vậy. Những người bệnh, què, mù, điếc, câm đều cảm nhận sự chữa lành và tha thứ khi được Người đụng đến. Người đă tuyển làm đồng chí và cộng sự của ḿnh một nhóm người gồm những bác thuyền chài ngồi lẫn với kẻ thâu thuế, những đảng viên của nhóm Nhiệt huyết cùng với những kẻ dốt nát về Luật, và cả nữ giới nữa. Một gia đ́nh mới được thiết lập dưới t́nh thương tuyệt diệu của Cha ôm ấp hết mọi người. Đức Giêsu rao giảng cách đơn sơ, dùng những thí dụ từ đời sống thường nhật để nói về t́nh thương của Thiên Chúa và Vương quốc của Ngài. Dân chúng nh́n nhận rằng Người rao giảng có uy tín. Tuy vậy Người bị tố cáo v́ tội lộng ngôn phạm thượng, vi phạm Luật Chúa, phá rối trị an, do đó cần phải khai trừ. Sau một phiên toà dựa trên những chứng gian (xc Mc 14,56), Người bị lên án xử tử trên thập giá như một đại tội phạm. Người bị bỏ rơi, bị hạ nhục, và coi như thất bại. Người được chôn cất vội vă trong một huyệt cho mượn. Nhưng ngày thứ ba sau khi chết, người ta thấy mồ chôn Người trống rỗng, tuy dù lính canh gác cẩn thận !
Đoạn văn vừa kể được trưng dẫn không phải chỉ để suy gẫm nhưng c̣n để mang ra thực hành. Thực vậy, các môn đệ của Đức Giêsu cũng được mời gọi mang Tin mừng đến cho đồng bào của ḿnh, đặc biệt là dân nghèo (xem số 34).
Tuy dù toàn thể cuộc đời Đức Kitô hướng về việc cứu chuộc nhân loại, nhưng cao điểm của việc thực hiện công tŕnh này là cuộc Tử nạn trên thập giá và cuộc Phục sinh. Ư nghĩa của biến cố này được giải thích tường tận trong Sách Giáo lư Hội thánh Công giáo (số 571-658). Ở đây chúng tôi chỉ muốn ghi nhận vài điểm liên hệ tới đời sống tâm linh.
1/ Cuộc Tử nạn
Một ngôi nhà thờ Kitô giáo khác với một ngôi đ́nh chùa không tại kỹ thuật kiến trúc, nhưng ở chỗ cây thập gía được cắm trên nóc và giữa gian chính điện. Thập giá là biểu tượng cho Kitô giáo. Tại sao vậy ?
Nh́n lên thập giá, nhiều người liên tưởng ngay đến hy sinh đau khổ. Đức Giêsu đă chẳng nói : “Ai không vác thập giá ḿnh mà đi theo tôi, th́ không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,27) đấy ư ? Thực vậy, nh́n lên thập giá, chúng ta thấy một con người bị thương tích từ đầu cho đến bàn chân. Tuy nhiên, đọc kỹ các bản văn Tân ước, từ Phúc âm nhất lăm cho đến Gioan và các thư thánh Phaolô, ta thấy thập giá c̣n mang nhiều ư nghĩa khác nữa. Như đă nói trước đây, thánh Phaolô nh́n Thập giá như là một mầu nhiệm của Thiên Chúa, nơi mà sự thượng trí và quyền năng được biểu lộ qua sự điên rồ và yếu đuối (1Cr 1,23-24). Thánh Gioan th́ coi thập giá là nơi biểu lộ vinh quang của Thiên Chúa : việc Đức Giêsu được treo lên thập giá khởi đầu cho việc Người được tôn vinh, bởi v́ nhờ thế mà t́nh yêu Thiên Chúa được bày tỏ, cũng như thế gian được nhấc lên cùng Thiên Chúa (Ga 3,14-15; 12,32).
Thực vậy, giá trị cao quư nhất của thập giá nằm ở chỗ là biểu tượng của t́nh yêu : t́nh yêu của hai tay giang ra như muốn ôm choàng tất cả nhân loại. Thập giá là dấu chứng của t́nh yêu : “Không có t́nh yêu nào lớn lao cho bằng chết cho người yêu” (Ga 15,13). T́nh yêu của ai ? Tiên vàn, t́nh yêu của Thiên Chúa, như thánh Gioan tông đồ đă viết : “Thiên Chúa quá yêu thế gian đến nỗi đă trao phó Con Một cho nó” (Ga 3,16). Tư tưởng này cũng gặp nơi thánh Phaolô : “Thiên Chúa đă trao Con ḿnh cho tất cả chúng ta” (Rm 8,32). Đức Giêsu đă muốn thực thi kế hoạch đó, cho nên Người đă trao nộp ḿnh (Mt 26,2 ; Ga 10,17-18;14,31). Việc trao nộp này hàm ngụ việc tự hủy ḿnh v́ tuân phục Cha (Pl 2,8). Thậm chí đôi lúc việc trao nộp mang theo cảm giác là bị bỏ rơi, bị quên lăng, như Mathêu chú giải khi đặt trên môi miệng Đức Giêsu lời mở đầu thánh vịnh 22 : “Lạy Chúa, Ngài nỡ ḷng ruồng bỏ con sao ?” (Mt 27,46; xc Mc 15,34).
Đức Giêsu chịu chết trên thập giá để làm ǵ ? Các tác giả Tân ước đă sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau để giải thích hậu quả cái chết của Người[3]:
- Người chết cho tất cả chúng ta (Rm 5,8; 2Cr 5,14-15), chết v́ tội chúng ta (1Cr 15,3), chết để chuộc tội chúng ta (Mt 20,28), chết thay cho chúng ta là những tội nhân đáng chết (1Pr 3,18) để làm cho chúng ta được trở nên công chính (Rm 5,18)
- Người chết như để xóa tội trần gian (Ga 1,29), như hy lễ xá tội (1Ga 4,10; 1Pr 2,22-25).
- Người đổ máu ra để rửa chúng ta sạch tội lỗi (Ep 1,7; 1Cr, 6,11; Tt 2,14).
- Người chết để mang lại sự hoà giải giữa Thiên Chúa với loài người (Rm 8,10; 2Cr 5,9; Cl 1,20), mang lại sự hoà giải giữa loài người với nhau, đạp đổ những bức tường ngăn cách giữa các dân tộc (Ep 1,10; 2,14.16).
- Người chết để trút đổ sự sống trên chúng ta. Thánh Gioan đă diễn tả điều này qua biểu tượng việc trao ban Thần khí, máu và nước khi Đức Giêsu tắt thở trên Thập giá (Ga 19,30.34).
2/ Cuộc Phục sinh
Xưa nay, các tác phẩm viết về công tŕnh cứu chuộc của Đức Kitô thường chỉ dừng lại ở cái chết trên thập giá. Một cái nh́n như vậy hơi thiếu sót, bởi v́ trong Tân ước (đặc biệt là thánh Phaolô và thánh Gioan), công tŕnh cứu chuộc được gắn liền với hai biến cố : thập giá và Phục sinh. Thậm chí thánh Phaolô khẳng định rằng : “nếu Đức Kitô không phục sinh, th́ lời giảng của chúng tôi trống rỗng, và đức tin của anh em trống rỗng ...anh em vẫn sống trong tội lỗi” (1Cr 15,14.17). Giả như đức Giêsu không phục sinh, th́ Người cũng chỉ là một nhà anh hùng hy sinh chết thay cho đồng bào, đáng cho chúng ta khâm phục bắt chước, nhưng Người không c̣n liên lạc trực tiếp với chúng ta nữa, và công cuộc cứu chuộc vẫn c̣n dở dang. Ngược lại, chính nhờ sự phục sinh, mà Người đă đập tan tội lỗi, mở cho chúng ta cánh cửa hướng về cuộc sống. Hơn thế nữa, v́ Người đă phục sinh cho nên Người có thể hiện diện với từng người chúng ta để ban sự sống cho chúng ta.
Dựa theo các bản văn Phúc âm nhất lăm và các thư thánh Phaolô, nhiều học giả cho rằng khi Đức Giêsu c̣n tại thế, các môn đệ coi Người như một ngôn sứ, một vị cứu tinh (Mêsia). Dưới ánh sáng của cuộc Phục sinh và nhờ Thánh thần, họ mới dần dần khám phá Ngài là Con Thiên Chúa (Rm 1,4), là Chủ tể (Cv 2,36; Pl 2,11). Nói cách khác, biến cố Phục sinh không những ám chỉ sự kiện Đức Giêsu chịu chết rồi sống lại, nhưng c̣n mang theo nhiều hệ quả khác đối với niềm tin liên quan đến bản thân Đức Giêsu, liên quan đến khuôn mặt của Thiên Chúa, và liên quan đến tương lai của nhân loại và vũ trụ.
Với cuộc Phục sinh, Đức Kitô trở thành nguyên tổ mới của nhân loại (1Cr 15,45), bởi v́ Người ban thần khí sự sống cho ta, bảo chứng cho sự phục sinh mai hậu (Rm 8, 11; xc. Ga 20,22), mở cho nhân loại và thụ tạo một niềm hy vọng mới (Rm 8,19-25). Người nắm giữ ch́a khóa của sự sống và sự chết (Kh 1,18) cũng như ch́a khóa của lịch sử (Kh 5,9).
Nhất là nhờ cuộc Phục sinh, Đức Kitô có thể hiện diện với các môn đệ khắp nơi khắp chốn, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian nữa. Người tiếp tục đồng hành với các môn đệ để giải nghĩa Sách thánh và bẻ bánh cho họ (Lc 23,25-32). Người hiện diện nơi nào có hai ba người tụ họp nhân danh Người (Mt 18,20). Người hứa hiện diện với họ mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28, 20).
Đức Kitô không phải là một nhân vật thuộc về quá khứ. Người cũng không phải là một vị Cứu tinh khải hoàn ngự trên các tầng mây cao thẳm. Các Kitô hữu tiên khởi thâm tín rằng Người hiện diện với họ, trở nên sự sống của họ. V́ thế họ t́m cách duy tŕ mối tương quan sống động với Người. Mối tương quan này được diễn đạt bằng nhiều h́nh thức khác nhau.
Ngoài việc tin nhận Đức Kitô là Con Thiên Chúa (Ga 20,31; Rm 10,9; Cv 8,37), là Đấng Cứu thế (Cv 4, 12), ta thấy nhiều lối phát biểu khác về mối tương quan giữa tín hữu với Đức Kitô : đi theo Đức Kitô, bắt chước Đức Kitô, sống trong Đức Kitô.
1/ Đi theo Đức Kitô (sequela Christi).
Động từ “đi theo” (akolouthein) được sử dụng 90 lần trong Tân ước (cách riêng là trong Phúc âm : 70 lần). “Đi theo” có nghĩa là trở thành môn đệ, chia sẻ cùng một cuộc sống với Người (Mc 1,16-20; 8,34), tin theo lời Người (Ga 8,12; 10,4) ; thông dự một số phận như Người lúc khổ cũng như lúc vinh (Ga 12,26; 13,36.37 ; Kh 14,4).
2/ Bắt chước đức Kitô (imitatio Christi)
So với cụm từ “đi theo” th́ cụm từ “bắt chước” được dùng ít hơn. Động từ “bắt chước” (mimeisthai) chỉ xuất hiện 4 lần trong các thư thánh Phaolô (2 Tx 3,7.9 ; Dt 13,7), tuy không hẳn quy về Đức Kitô. Danh từ “kẻ bắt chước” được dùng 6 lần, nổi tiếng hơn là trong đoạn văn 1Cr 11,1 : “Anh em hăy là những kẻ bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Kitô” (xc. Pl 3,17;1 Tx 1,6. Tuy nhiên, thánh tông đồ dùng nhiều từ ngữ tương đương, tựa như : “trở nên đồng h́nh đồng dạng” (Rm 8,29 ; Gl 4,19; 2Cr 3,18 ; Pl 3,10), “mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3,27), “mặc lấy con người mới theo h́nh ảnh Đức Kitô” (Cl 3,10-11), tạo cho ḿnh những tâm t́nh giống như Người, chẳng hạn như sự khiêm tốn tự hủy (kenosis: Pl 2,5.7).
Các tác giả khác của Tân ước nói đến “mẫu gương” (exemplum) mà Đức Kitô để lại cho chúng ta, chẳng hạn: trong việc khiêm tốn phục vụ, “rửa chân cho nhau” (Ga 13,15), hiến mạng cho nhau (1Ga 3,16), chịu đựng tha thứ (1Pr 2,21).
3/ Sống trong Đức Kitô
Cụm từ “trong Đức Giêsu” xuất hiện 164 lần trong các thư thánh Phaolô. Nó muốn nói lên sự kết hiệp khắng khít, dường như cả hai nên một : Đức Kitô sống trong tôi (Gl 2,20) ; tôi sống trong Đức Kitô (1Cr 1,9), nên một với Người (Rm 6,5). Đối với tôi, sống là Đức Kitô (Pl 1,21). Sự kết hiệp này khởi đầu từ Bí tích rửa tội , khi mà ta được thông hiệp vào sự chết và phục sinh với Đức Kitô (Rm 6,3-4). Điều này có nghĩa là suốt đời ta là một cuộc chia sẻ thân phận với Đức Kitô. Sự “chia sẻ” (koinonia : thông hiệp, đồng thông cộng hiệp) được thánh Phaolô diễn tả trong nhiều lănh vực : chia sẻ vào Ḿnh và Máu Đức Kitô (1Cr 10,16), chia sẻ đau khổ gian lao (Rm 8,17), đồng chịu đóng đinh vào thập giá (Rm 6,6), đồng chịu chết (Rm 6,8), đồng chịu mai táng (Rm 6,4), đồng trỗi dậy (Ep 2,6), đồng hiển trị (Rm 8,17; 2Tm 2,12), đồng kế thừa (Rm 8,17).
Việc “sống trong Đức Kitô” không phải chỉ liên quan đến cá nhân mỗi người tín hữu, nhưng c̣n chi phối tất cả các môn đệ của Người. Tất cả họp thành một thân thể, mà Đức Kitô là đầu (Cl 1,18; Ep 1,22) và chúng ta là chi thể. Một cách tương tự như vậy, tất cả các tín hữu họp thành “hiền thê của Đức Kitô” (Ep 5,21-23; Kh 22,17.20).
Thánh Gioan tông đồ nói nhiều đến việc “ở lại trong Đức Kitô” (Ga 6,54; 14,20), như cành ở trong cây nho (15,4). Ở lại với Đức Kitô có nghĩa ở lại trong t́nh yêu của Người : đón nhận t́nh yêu của Cha được trao ban qua Người, và đón nhận chính t́nh yêu của Người như bằng hữu (15,15) : “Như Chúa Cha đă yêu Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hăy ở lại trong t́nh thương của Thầy” (15,9). Sự kết hiệp này không phải chỉ dừng ở lĩnh vực t́nh cảm, nhưng c̣n biểu lộ qua việc đồng hóa với Người trong hành động, đặc biệt trong việc thi hành ư định của Cha và yêu thương phục vụ tha nhân (1Ga 4,20-21).
Tại Antiôkia, vào khỏang năm 44 CN, các tín đồ của Đức Kitô đă được đặt tên là “Kitô hữu” (christianoi : Cv 11,26), nghĩa là thuộc về Đức Kitô. Họ không chỉ chấp nhận một đạo lư do Đức Kitô đă dạy, nhưng c̣n đặt Người làm lư tưởng cho cuộc sống và tâm t́nh của họ. Lư tưởng này mang tính chất đa dạng theo ḍng thời gian. Chúng tôi xin tóm lược vài khuôn mẫu chính.
1/ Trong những thế kỷ đầu tiên, các vị tử đạo không những chỉ muốn làm chứng nhân cho Đức Kitô cho đến chết, nhưng họ c̣n ước ao diễn lại chính cuộc đời của Thầy ḿnh nữa. Ta có thể đọc thấy điểm này nơi Têphanô vị tử đạo tiên khởi. Thánh sử Luca đă tŕnh bày những nét tương đồng giữa cái chết của Đức Kitô và người môn đệ : Têphanô cũng bị vu cáo về tội phá hủy đền thờ (Cv 6,13 ; Mt 14,56-61), bị điệu ra trước Thượng hội đồng (Cv 6,12 ; Mc 14,53), bị đám đông la ó phản đối (Cv 7,57 ; Mc 14,63-64) ; bị điệu đi xử ở ngoài thành phố (Cv 7,58 ; Dt 13,12) ; nhất là những lời cuối cùng biểu lộ tâm t́nh phó thác (Cv 7,59 ; Lc 23,46) và tha thứ cho kẻ bách hại (Cv 7,60 ; Lc 23,34). Một ước nguyện tương tự được bộc lộ nơi các thư của thánh Inhaxiô Antiôkia (+110) : ông muốn chết để bắt chước Đức Kitô, bắt chước cuộc thương khó của Người, chịu đựng hy sinh giống như Người, và biến thành một hy lễ như Người.
2/ Đồng thời với các vị tử đạo, các giáo phụ (ngay từ Cyprianô, Atanasiô vào thế kỷ III) c̣n đề cao một lư tưởng khác sẽ kéo dài trải qua các thế kỷ, đó là các trinh nữ tận hiến : họ hiến dâng trọn mối t́nh cho Đức Kitô như lang quân, và cương quyết chung thủy với Người, chống lại mọi thứ quyến rũ. Đề tài này sẽ được khai triển vào thời Trung đại (chẳng hạn như thánh Bênarđô) và áp dụng cho cả nam giới lẫn nữ giới : linh hồn được mời gọi đến kết hôn với Đức Kitô.
3/ Sang thời Trung đại, người ta thấy nhiều h́nh thức bày tỏ tâm t́nh yêu mến Đức Giêsu qua việc suy gẫm và bắt chước cuộc đời của Người, thí dụ như thánh Phanxicô Assisi ôm ấp cuộc đời khó nghèo v́ muốn hoạ lại Đức Giêsu khó nghèo nơi hang đá, trần trụi trên thập giá. Việc suy gẫm Đức Giêsu chịu khổ nạn không những chỉ được lặp lại qua h́nh thức suy gẫm các “chặng đường thập giá” (via crucis), mà c̣n qua những h́nh thức khổ chế, đánh tội, để chia sẻ những đau khổ với Người. Cũng từ thời Trung cổ, người ta thấy gia tăng ḷng tôn kính bí tích Thánh thể, nhằm thờ lạy Chúa Kitô hiện diện giữa nhân loại.
4/ Vào thời cận đại, tác phẩm “Gương Chúa Giêsu” (nguyên văn là De imitatione Christi : bắt chước đức Kitô) trở thành cuốn sách gối đầu giường của nhiều thế hệ linh mục tu sĩ. Các tín hữu được mời gọi hăy suy niệm những tâm t́nh của Chúa Giêsu và diễn lại trong cuộc sống của ḿnh, qua việc thực hành các nhân đức hoặc dấn thân phục vụ Nước Chúa (thí dụ các phương pháp suy niệm của Ḍng Xuân Bích : Đức Kitô ở trước mặt, ở trong tim, ở trong tay). Ngoài ra, từ thế kỷ XVII, ḷng tôn kính Thánh tâm Chúa Giêsu cũng được quảng bá, nhằm đền tạ những người không nhận biết t́nh yêu của Người[4].
5/ Trong những thế kỷ gần đây, một h́nh thức khác để bày tỏ ḷng mến yêu Đức Kitô là phục vụ Người nơi người nghèo (Vinh sơn Phaolô, Têrêsa Calcutta), dựa theo đoạn văn của Matthêu 25 : “Điều ǵ, các con làm cho kẻ bé mọn nhất là các con làm cho Ta”
6/ Dựa theo sắc lệnh Đức Ái trọn hảo của công đồng Vaticanô II, thần học về đời tu đă lấy chủ đề “đi theo Chúa Kitô” (sequela Christi). Các tu sĩ muốn đi theo Chúa Kitô, chấp nhận nếp sống khiết tịnh, khó nghèo, vâng phục để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. Đó mới chỉ là bối cảnh tổng quát, bởi v́ trên thực tế có nhiều h́nh thức tu tŕ, và mỗi h́nh thức một khía cạnh của cuộc đời Chúa Cứu thế, được tóm lại trong khuôn mẫu chính : cầu nguyện trên núi, rao giảng nước trời, cứu giúp người túng thiếu, hoà ḿnh vào đời (xc. Hiến chế về Hội thánh số 46a ; Bộ Giáo luật, điều 577).
7/ Ngoài ra, chúng ta không thể bỏ qua những cuộc cử hành phụng vụ. Phụng vụ diễn lại toàn thể mầu nhiệm cuộc đời Đức Kitô để các tín hữu suy gẫm và kết hiệp. Điển h́nh hơn cả là bí tích Thánh thể tưởng niệm cuộc Tử nạn và Phục sinh của Đức Kitô (1Cr 11,26). Năm phụng vụ cử hành mầu nhiệm trọng đại : Nhập thể (Mùa Vọng và Giáng sinh) và Cứu chuộc (Mùa Chay và Phục sinh), cũng như những sinh hoạt của Người trong những năm thi hành sứ vụ (Mùa Thường niên). GLCG 1168-1171.
Trong khung cảnh này, cần nhắc đến việc cầu nguyện với Đức Kitô. Trong Phúc âm, Người đă hứa sẽ chuyển cầu cho chúng ta lên Chúa Cha. Các thế hệ Kitô hữu đă nh́n nhận Đức Kitô như là Trung gian, Đấng chuyển cầu. Họ cầu nguyện cùng Chúa Cha v́ danh Đức Kitô. Nhưng đồng thời, các lời nguyện hướng đến Đức Kitô cũng sớm xuất hiện, chẳng hạn như ông Têphanô trước khi tắt thở đă thưa : “Lạy Chúa Giêsu xin đón nhận thần trí con” (Cv 7,59). Chúng ta có thể xem vài mẫu khác ở sách Giáo lư Hội thánh Công giáo số 2665-2669.
1. Người Kitô hữu cần phải học biết về Đức Kitô, không những qua việc học hỏi giáo lư nhưng nhất là qua việc chiêm ngắm cầu nguyện. Từ chỗ biết Người, biết t́nh thương của Người, ta sẽ tiến đến chỗ yêu mến Người : “Tôi sống, nhưng không c̣n là tôi mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đă yêu mến tôi và hiến mạng v́ tôi” (Gl 2,20 ; xc Ep 5,2). “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?... Không có ǵ tách chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,35.39). “Tôi coi mọi sự là thiệt tḥi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu Chúa của tôi, v́ Người tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả là đồ bỏ, để được Đức Kitô và được kết hợp với Người” (Pl 3,7).
2. Mục tiêu của đời sống tâm linh là trở nên đồng h́nh đồng dạng với Người, để được kết nạp vào hàng nghĩa tử của Thiên Chúa và đồng kế hưởng gia nghiệp con cái Chúa (Rm 8,17). Một từ ngữ khác tương đương là “Kitô khác” (alter Christus): mỗi Kitô hữu phải là hiện thân của Đức Kitô trên trần gian, trở thành chứng nhân cho Người bằng cuộc sống và lời nói.
3. Việc chấp nhận kết hiệp với Đức Kitô c̣n bao hàm việc chấp nhận những người mà Người đă kết nạp vào thân thể, các chi thể của Hội thánh cũng như toàn thể gia đ́nh nhân loại. Đức Kitô, Đầu của Hội thánh đồng thời cũng là Ađam thứ hai, nguyên tổ của nhân loại được cứu chuộc (Rm 5,12-19 ; 1Cr 15,21-22 ; xc. 8,29 ; Cl 1,18-20).
Trong chương này, chúng ta chú trọng đến việc Đức Kitô mở đường đưa chúng ta đến với Thiên Chúa : Người đứng về phía Thiên Chúa để dạy dỗ con người. Trong chương Năm, chúng ta sẽ trở lại với Đức Kitô nh́n dưới góc độ khác : Người mạc khải cho con người về con người nữa.
Đời sống tâm linh III Phần I chương 2
P.T.Thành
[1] Xc. Đời sống tâm linh, tập II, chương 1: “Cảm nghiệm tâm linh Kitô giáo theo Tân ước”.
[2] Xc Về nguồn, tập I (nguồn gốc Kitô giáo), Rôma 1997.
[3] Xc. Về nguồn, tập II, trang 166-171.
[4] Xc Đời sống tâm linh, tập II, trang 245-247 (Gương Chúa Giêsu); 293-294 (trường phái Berulle: họa lại tâm t́nh đức Giêsu); 310-311 (Tôn sùng Thánh tâm).