II – Kiếm T́m (Phương Thế – Cách Thức)
III – Gặp Gỡ
IV – Loan Báo
Sau Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa Phụng vụ đưa chúng ta vào hoạt động của Chúa Giêsu mà câu chuyện Anrê và Gioan gặp và khám phá ra Chúa là Đấng Mêsia có tầm quan trọng riêng cả trong lănh vực Tông đồ, cả trong đời sống tâm linh của người môn đệ là tất cả chúng ta, những người đă chịu phép Rửa trong Thánh Thần bởi Chúa Giêsu Kitô.
II – Kiếm T́m (Phương Thế – Cách Thức)
III – Gặp Gỡ
IV – Loan Báo
Sau Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa Phụng vụ đưa chúng ta vào hoạt động của Chúa Giêsu mà câu chuyện Anrê và Gioan gặp và khám phá ra Chúa là Đấng Mêsia có tầm quan trọng riêng cả trong lănh vực Tông đồ, cả trong đời sống tâm linh của người môn đệ là tất cả chúng ta, những người đă chịu phép Rửa trong Thánh Thần bởi Chúa Giêsu Kitô.
1. Ḷng khát khao
Cuộc gặp gỡ và trao đổi giữa Đức Giêsu và hai môn đệ đầu tiên là Anrê và Gioan thật lạ lùng, v́ hai bên hỏi và trả lời nhau như những kẻ "nghễnh ngăng" : "Các anh t́m ǵ thế ? - Thưa Thày, Thày ở đâu?" - " Đến mà xem" và "Họ đă đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm ấy".
Hai ông Anrê và Gioan là môn đệ của Gioan Tẩy Giả. Hiển nhiên là hai ông đă nghe Gioan giảng dạy và khẳng định nhiều lần và với nhiều hạng người rằng ông không phải là Đấng Mêsia, không cả là một ngôn sứ mà chỉ là tiếng kêu trong sa mạc dọn đường cho Đức Chúa là Đấng sẽ đến sau nhưng cao trọng hơn ông bội phần, ông không đáng xách dép cho Người. Khi nghe Gioan giới thiệu Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa th́ hai ông liền đi theo Đức Giêsu... Ong Gioan Tẩy giả đă không để ḷng khao khát của hai ông Anrê và Gioan dừng lại nơi ḿnh nên vừa trông thấy Đức Giêsu đi ngang qua ông đă giới thiệu ngay. Chỉ có Đấng ấy mới lấp đầy ḷng khao khát, chỉ có Đấng ấy mới là bến bờ cho thuyền đời băi đậu. Đức Giêsu lại khơi lên ḷng khao khát để khẳng định và tăng thêm ḷng muốn của các ông "Các anh t́m ǵ thế ?” Và các ông đă không muốn ǵ khác ngoài Thầy, Thầy ở đâu ?
2. Kiếm t́m Chúa.
Chúng ta biết có thể t́m gặp Chúa ở đâu và bằng cách nào. Giáo lư dạy chúng ta rằng Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, trong tâm hồn chúng ta, trong mỗi một con người - nhất là người nghèo- cũng như trong cộng đoàn Giáo hội, trong Phép Thánh Thể cũng như trong Lời Chúa là Bộ Thánh Kinh Cựu và Tân Ước. Nhưng Thiên Chúa c̣n hiện diện trong các biến cố xảy ra cho chúng ta và chung quanh chúng ta. Muốn gặp Chúa th́ chúng ta phải biết kiên tŕ t́m kiếm : "Anh em cứ xin th́ sẽ được, cứ t́m th́ sẽ thấy, cứ gơ cửa th́ sẽ được mở cho" (Mt 7,7) ở những nơi ấy. Riêng người giáo dân phải dành ưu tiên cho việc t́m kiếm Thiên Chúa trong các thực tại trần thế: đời sống gia đ́nh, nghề nghiệp và xă hội như Công đồng Vatican II đă dạy : "V́ ơn gọi riêng, người giáo dân có bổn phận t́m kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách đảm nhận các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ư Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và nghĩa vụ của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đ́nh và ngoài xă hội : tất cả những điều đó như dệt thành cuộc sống của họ. Họ gặp được Chúa ngay trong môi trường hoàn cảnh cuộc sống của họ. Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của ḿnh ; và như thế, với ḷng tin cậy mến sáng ngời, và nhất là với bằng chứng đời sống, họ bộc lộ Chúa Kitô cho kẻ khác. Chính họ là người có nhiệm vụ đặc biệt phải soi sáng và xếp đặt những thực tại trần gian có liên hệ mật thiết với họ, để chúng không ngừng phát triển và ngày một phong phú hơn lên theo Thánh Ư Đức Kitô, hầu ca tụng Đấng Sáng Tạo và Cứu Độ" (HC tín lư về Giáo hội, số 31).
3. Kinh nghiệm gặp gỡ Chúa là một kinh nghiệm riêng tư không ai làm thế cho ai được.
Nếu đi sâu vào tường thuật của Gioan, chúng ta không khỏi thắc mắc, v́ điều chúng ta chờ đợi nhất th́ Gioan lại không nói ra, không chịu bật mí. Trong thời gian một ngày mà hai ông Anrê và Gioan ở lại chỗ Đức Giêsu đă xẩy ra những chuyện ǵ ? Hai bên đă nói với nhau những ǵ ? Làm sao mà chỉ sau một ngày hai ông Anrê và Gioan tin Đức Giêsu là Đấng Mêsia ? Tại sao Gioan không có một lời nhỏ nào để tường thuật về điều quan trọng ấy ? Gioan có chủ ư ǵ khi giữ "thinh lặng" (một sự thinh lặng huyền bí) về kinh nghiệm ấy ? Phải chăng dụng ư của Gioan là muốn độc giả chúng ta biết rằng đó là một kinh nghiệm hết sức riêng tư và độc đáo của riêng ông nên ông không thể nói, kể và chia sẻ ǵ với người khác ngoài kết quả của kinh nghiệm gặp Chúa : "Chúng tôi đă thấy và đă tin!"
Vậy th́ dụng ư của Gioan là nếu ai muốn có một kinh nghiệm gặp Chúa tương tự như ông, th́ chỉ có một cách duy nhất là người đó hăy t́m đến với Đức Giêsu Kitô và ở lại bên Người. Không có một biện pháp "ḿ ăn liền" nào khác. Không thể sao chép, copy kinh nghiệm của người khác, v́ mỗi người là một con người độc đáo, duy nhất trước mặt Chúa.
Kinh nghiệm gặp Chúa của Samuel được tường thuật trong trích đoạn 1 Sm 3, 3b.10-19 (bài đọc 1) cũng giống như thế.
4. Loan Báo (chia sẻ kinh nghiệm gặp Chúa cho người thời nay)
Tuy chúng ta rất khó mà chia sẻ kinh nghiệm gặp Chúa và sống với Chúa của riêng ḿnh cho người khác, nhưng kinh nghiệm ấy lại hết sức cần thiết để chúng ta có thể giúp đỡ những người đang cần đến chúng ta. Nh́n vẻ bên ngoài, chúng ta dễ lầm tưởng rằng ngày nay con người, nhất là người trẻ, đang bị cuốn hút vào ḍng xoáy của học hành và sự nghiệp, của công danh và tiền tài, của tiện nghi cuộc sống và thăng tiến xă hội, nên chẳng quan tâm đến đời sống tâm linh. Chắc chắn có một số người đang lâm vào t́nh trạng ấy. Nhưng không phải tất cả mọi người đều như thế. Vẫn có một số thành phần trong xă hội âm thầm khát khao và t́m kiếm Thiên Chúa.
Muốn giúp đỡ anh chị em ḿnh thực sự, mọi người chúng ta cần có kinh nghiệm t́m kiếm, gặp gỡ và sống với Chúa. Cả kinh nghiệm phản bội và từ chối Chúa của chúng ta cũng sẽ có ích cho công việc tông đồ này. Khi chúng ta sẽ chia sẻ những yếu đuối, sai lầm của ḿnh và nhất là T́nh Yêu và Sức Mạnh của Chúa thể hiện nơi ḿnh cho anh chị em ḿnh th́ anh chị em sẽ gần gũi với chúng ta hơn và dễ cất bước đi t́m Chúa hơn. Nếu không có kinh nghiệm về cách Thiên Chúa mời gọi con người cộng tác, làm sao ông Eli có thể giúp Samuel biết rằng tiếng gọi ban đêm kia là tiếng của Thiên Chúa. Châm ngôn người La Mă thời cổ: "Không ai cho cái ḿnh không có" có thể được chúng ta chọn làm phương châm cho lănh vực kinh nghiệm tâm linh này.
- I - Khao Khát
Các anh t́m ǵ thế ?
Câu hỏi này bắt họ phải trở lại với ḷng ḿnh, phải ư thức về nỗi khát khao đang chi phối ḿnh. Tôi đang t́m ǵ ? Tiền bạc, tiếng tăm, thỏa măn ? Hay tôi đang t́m một Ai đó cho đời tôi một hướng đi ? Đức Giêsu gợi chuyện để họ bày tỏ khát vọng của ḿnh.
Thưa Thầy, Thầy ở đâu ?
Câu hỏi này tương đương với một câu trả lời. Chúng con muốn biết nhà của Thầy, muốn đến thăm Thầy.
Đến nhà một người là đi vào thế giới của người đó. Hai ông không chỉ muốn biết Đức Giêsu qua lời Gioan. Họ muốn đích thân gặp gỡ Ngài. Chuyện này không ai làm thay được.
- II - Lên Đường kiếm t́m
Hăy đến mà xem.
Đức Giêsu không giấu hai ông về thế giới của Ngài. Lời mời này vẫn vang vọng đến tai chúng ta. Đừng sợ đi theo Đức Giêsu để đến nhà Ngài. Đừng sợ trao đổi với Ngài như một người bạn. Nơi nào có những người nghèo khổ, bị bỏ rơi, những người cô đơn, bị khinh miệt hay phản bội, những người khác văn hóa và tôn giáo, nơi đó là nhà của Đức Giêsu.
- III - Gặp Gỡ
Họ đă đến xem và đă ở lại.
Hai ông đă nhận lời mời ngay lập tức. Không có khoảng cách giữa ước muốn và thực hành. Chúng ta chẳng rơ chi tiết của cuộc hạnh ngộ này, nhưng chắc chắn đó là một kỷ niệm không quên.
- IV - Loan Báo
Để gặp được Đức Giêsu, cần có người giới thiệu. Gioan đă giới thiệu Đức Giêsu cho hai môn đệ của ḿnh. Ông Anrê cũng đă giới thiệu Đức Giêsu cho em là Simon, và dẫn ông này đến gặp Ngài. Chẳng ai thực sự gặp được Đức Giêsu mà lại không mong giới thiệu Ngài cho người khác.
Đức Giêsu là kho tàng cứ măi lớn lên khi được san sẻ. Hạnh phúc của Gioan Tẩy giả và Anrê là thấy Đức Giêsu và người ḿnh giới thiệu gặp nhau. Họ chấp nhận tự xóa ḿnh. Gioan chấp nhận chia tay với hai môn đệ yêu dấu. Anrê sau này chẳng được nổi tiếng bằng Simon.
Theo lời giới thiệu của Gioan, hai ông đi theo Đức Giêsu. Chẳng rơ họ đă đi theo bao lâu và bao xa. Họ rụt rè không biết bắt đầu câu chuyện thế nào. Đức Giêsu thấy sự lúng túng dễ thương của họ. Và chính Ngài đi bước trước, mở đầu cuộc đối thoại.
Kết :
Kinh nghiệm của hai ông cũng là của mọi Kitô hữu. Chúng ta phải được giới thiệu Đức Giêsu, phải đích thân gặp Ngài, và phải trở nên người giới thiệu Ngài cho thế giới.
"Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn dấu trong ruộng. Có người kia gặp được th́ liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những ǵ ḿnh có mà mua thửa ruộng ấy. Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi t́m ngọc đẹp. T́m được một viên ngọc quư, ông ta ra đi, bán tất cả những ǵ ḿnh có mà mua viên ngọc ấy". (Mt 13,44-46)
KHO TÀNG CHÔN DẤU (chuyện kho báu chôn dấu trong ruộng)
Kho tàng không lù lù ra đó mà ta có thể nhặt đâu cũng được. Viên ngọc thật là quí, nó không được mang ra bán giữa chợ đời. Những điều quí giá ấy bao giờ cũng ẩn dấu ; và có thể ẩn dấu ngay “trước mũi” của ḿnh. Điều chúng ta t́m kiếm chưa chắc là điều ǵ ở ngoài, ở xa cuộc đời. Khi ông Adong và bà Evà bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, th́ chưa hẳn vườn địa đàng đó phải nằm ở một khung trời nào đó, nhưng có thể là chính cuộc đời này ; trong đó, những giá trị cao đẹp nhất của cơi nhân sinh đă bị chôn vùi, ẩn dấu. Có người Dũng Sĩ, với con ngựa vàng, rong ruổi khắp nơi, qua bao năm tháng để t́m người yêu, và rồi cuối cùng lại trở về chốn cũ. Nhưng chính khi ấy anh ta lại nhận ra con ngựa vàng cùng với ḿnh rong ruổi biến thành người yêu.
Như thế, chúng ta cũng đừng vội ảo tưởng về một môi trường sống nào thật lư tưởng, ước mong giải thoát bằng một giải pháp cụ thể nào. Kho tàng đó đang nằm ngay trong ḷng chúng ta, trong tầm tay chúng ta, trong nếp sống đang có, trong cộng đoàn hiện tại của chúng ta. Nhưng tại sao chúng ta lại không nhận ra, không cảm nếm được niềm vui và hạnh phúc … ? Vậy chúng ta cùng nhau kiếm t́m nghe !
I – ƯỚC MUỐN (khao khát)
Ḷng ước muốn là nền tảng căn bản để lên đường kiếm t́m. Thời Cựu Ước, dân Chúa chờ mong khát vọng Đấng Cứu Thế đến (Giáo Hội cho chúng ta Mùa Vọng trong một năm phụng vụ) ; Hành tŕnh mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông ; Những năm Đức Kitô đi loan báo Tin Mừng, những người ốm đau bệnh tật, những người khố rách áo ôm… đều là người đă tỏ bày ḷng muốn với Đức Kitô và đôi khi Ngài vẫn hỏi lại ḷng muốn đó để tăng lên và khẳng định ḷng muốn đó cho mạnh mẽ hơn. Hôm nay trong những lễ khấn hứa, lễ trao tác vụ phó tế, linh mục và giám mục… cũng đều được vị đại diện Giáo hội hỏi đi hỏi lại nhiều lần nhiều ư khác nhau về ḷng muốn của người lănh nhận. Vậy chuyện Nước Trời cũng phải khởi đi từ ḷng muốn của mỗi người để rồi từ ước muốn đó mới bước lên đường. Và cũng bởi ḷng muốn đó, tùy theo ḷng muốn có mạnh mẽ hay không, họ sẽ vượt qua được những rào cản, hố sâu lầy lội, gai góc sỏi đá, khô ran nắng cháy chai sạm, mưa rào trơn trượt lạnh căm… “Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức th́ chiếm được” (Mt 11,12).
Trong họ, ḷng “mong muốn” được hạnh phúc – nghĩa là khát mong Thần Khí – đă tản mát thành nhiều mong muốn ít nhiều phù du hay nhỏ bé.
Trở thành nô lệ của các mong muốn không kiềm chế, bị phân tán theo mọi hướng, con người không t́m ra hạnh phúc, họ tự hủy hoại chính ḿnh bằng cách khước từ Sự Sống.
Khát vọng của con người làm sao bằng cái khát của Thiên Chúa : “Tôi Khát”.
II – LÊN ĐƯỜNG
A/ Kiếm T́m (một thương gia đi t́m ngọc đẹp)
"Đi t́m" đó là một thái độ cao quí; người nào c̣n đi t́m, người đó c̣n có sức sống, c̣n có lư tưởng sống và c̣n có thể vượt qua những gian lao trong cuộc sống. Thật đáng buồn cho những người sống mà không t́m kiếm điều ǵ cả, họ thỏa măn, họ an hưởng, hoặc họ sống mặc chăng hay chớ và chính từ khi đó, đời sống của họ bắt đầu xuống dốc ; cuộc sống đó không c̣n nguyên lư sống và đă bắt đầu “chết”.
Người lái buôn như thể t́nh cờ t́m thấy viên ngọc và người tá điền như thể ngẫu nhiên đă gặp thấy kho vàng. Dĩ nhiên, viên ngọc hay kho tàng đó không phải do công sức của họ làm nên. Nhưng chính thái độ cầy xới mảnh vườn của ḿnh hay cầy nát đường phố để t́m ngọc như thế mới làm cho người ta t́m thấy. Thái độ “đi t́m” như thế chính là thái độ mà Chúa Giêsu luôn kêu gọi : “phải tỉnh thức”, “ai có tai để nghe th́ nghe”, “biết nh́n điềm trời”, “t́m kiếm Nước Thiên Chúa trước”, “nếu ngươi muốn nên trọn lành”... Ta có thể nói rằng “người lái buôn đi t́m ngọc quí”, “những cô trinh nữ khôn ngoan” chính là h́nh ảnh các chứng nhân, những người đă nghe được “tiếng ḷng” thôi thúc khát vọng, ước muốn và quyết tâm lên đường t́m kiếm.
Ngược lại, những cô trinh nữ khờ dại, những con người “ngái ngủ” sẽ không thể gặp thấy được viên ngọc quí nào, kho tàng đáng giá nào trong cuộc đời cả ; không phải ngủ gật trong giờ kinh mà thôi, nhưng “ngủ gật” trong cuộc đời, ngủ gật măn tính. Tôi biết có những con người luôn luôn gặp may mắn, cuộc sống của họ là điều mơ ước của bao người. Những những cuộc đời ấy lại không được trân trọng, người ta sống cuộc đời ấy như một sự hưởng thụ, và không c̣n cảm được hết nét sâu sắc, giá trị tuyệt đối của nó. Ngược lại, với những mảnh đời đau khổ, có người lại t́m thấy hạnh phúc....
Trong cuộc truy t́m này, điều không thể thiếu là mỗi người phải dám cầy nát mảnh vườn của ḿnh, dám lùng sục hết mọi nẻo đường đi của ḿnh. Trong h́nh ảnh người thương gia và anh nhà nông, tôi thấy được h́nh ảnh của mỗi người đang đi t́m chính ḿnh, càng t́m kiếm càng “biết ḿnh” hơn, càng hiểu ḿnh hơn. Với chúng ta, mảnh vườn phải cầy xới không phải là đâu khác hơn chính con người của ḿnh; đường phố người thương gia rảo bước cũng không là ǵ khác hơn chính những bước đường đời của ḿnh. Chỉ khi dám cầy nát như thế, dám rong ruổi như thế, chúng ta mới có thể biết ḿnh.
Đời sống đạo không phải là một số sinh hoạt bao bọc ; tuần tĩnh tâm không phải chỉ là một lớp xi mới. Những lớp vỏ như thế chắc chắn sẽ sớm bong ra trước những trầy trụa của cuộc sống. Thiên Chúa hẹn gặp ta trong chính cuộc đời ta, trong chính con người ta.
Đời sống đạo như thế liên hệ đến chính những đường nét căn bản của cái tôi, với những đức tính riêng biệt, và nhất là với những nết xấu, những ưu điểm và khuyết điểm cá biệt của một ngôi vị. Một mối liên hệ đích thực với Chúa, một đời sống tâm linh đích thực phải dính dáng đến những chiều kích sâu xa và cá vị như thế.
Xin nói trước : viên ngọc quí mà chúng ta t́m kiếm trong tuần pḥng này, và trong suốt cuộc đời, không là ǵ khác hơn ơn cứu độ của Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô ; không phải là một sự “cứu rỗi linh hồn” mà ta chỉ có thể bắt gặp được ở đời sau, nhưng chính là một ơn cứu độ toàn diện, có giá trị giải thoát vận mạng của ta, có sức nâng đỡ ta trong những bước đường đời, có ánh sáng giúp ta nh́n thấy đường đi trong những lúc tối tăm mù mịt, có khả năng nâng ta dậy trong những lần vấp ngă... một ơn cứu độ như thế, b́nh thường, cũng dính dáng tới những đường nét cá biệt và sâu xa của mỗi con người.
C/ Loại Bỏ… “bán tất cả những ǵ ḿnh có…”
Hành tŕnh kiếm t́m, nó giúp ta từ bỏ, loại dần những ǵ vướng víu, đeo bám ; những chất chồng cồng kềnh ; những quẩn quanh cũ kỹ quen thuộc… Tính tự động loại bỏ trong hành tŕnh kiếm t́m, bởi khi nó chưa gặp được chính cái nó đang khát vọng kiếm t́m th́ tự nhiên nó không bận tâm tới những cái không phải là đích điểm. Niềm khao khát hạnh phúc đích thật, niềm ước muốn vui tươi chan chứa vỡ bờ chẳng hề tàn phai th́ nó rất sớm nhận ra những niềm vui hạnh phúc chỉ tương đối, mau qua chóng tàn. Người uống rượu, bắt đầu uống th́ nao nức phấn khởi ; đang khi uống th́ đa đă yêu đời yêu người như đang ở cơi trên quên hết ưu phiền ; sau khi uống th́ khô cổ khát nước, thân xác ră rời, hồn cô đơn trống rỗng… mệt lử. Và c̣n nhiều hậu quả không biết đâu mà lường. Tiền bạc, địa vị, chức quyền, danh lợi… x́ ke ma túy và nhiều thứ kích thích trên cơi đời này đă dẫn đưa con người lạc vào chốn thiên thai ảo ảnh mê hồn trận không lối thoát.. cuối cùng lọt tỏm xuống vực thẳm trần gian nhầy nhụa.
Người tỉnh thức sẽ sớm nhận ra, quyết tâm từ bỏ v́ nó chưa phải là niềm vui hạnh phúc đích thật. Càng khao khát th́ càng kiếm t́m và càng loại bỏ. Loại bỏ dần dần cho đến khi con người trở nên trống không ; không c̣n tham lam vun vén ; không c̣n ích kỷ ; không c̣n cái tôi… và lúc đó có sự HIỆN DIỆN.
D/ Trong Thinh Lặng.
1 – Thinh lặng để nghe. “Này đây Ta đứng trước cửa và gơ. Ai nghe tiếng ta và mở cửa, th́ Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy…” (Kh 3,20). Chúng ta được tự do đón tiếp hay khước từ sự thân mật mà Thiên Chúa đề nghị với chúng ta ! Sự thinh lăng hẳn là cách tốt nhất để lắng nghe tiếng của Đấng đang gơ cửa ḷng ḿnh và mở cửa cho Người.
2 – Thinh lặng để nh́n[1]. “Thưa Ngài, xin cho tôi được thấy” (Mc 10,51; Mt 20,33 ; Lc 18,41)
“Thế là đối với họ đă ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ Isaia, rằng : Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nh́n cũng chẳng thấy…” (Mt 13,14)
“Điều chúng tôi đă thấy, điều chúng tôi đă chiêm ngắm… th́ chúng tôi loan báo cho anh em” (1Ga 1.1)
3 – Thinh lặng để mở ḷng ra đón nhận. “Thiên Chúa đă sai Thần Khí của Con ḿnh xuống trong ḷng chúng ta để kêu lên : “Abba, Cha ơi !” (Gl 4,6). Ta không “tạo” thinh lặng, nhưng ta bước vào thinh lặng, ta mở ḷng ra đối với một Đấng Hiện Diện khiến cho lời nói trở nên vô ích. Sự thinh lặng “Thần Linh” ấy, con người không thể tự tạo ra cho ḿnh mà chỉ có thể đón nhận thôi.
III - GẶP ĐƯỢC, RẤT ĐỖI VUI MỪNG “gặp được… rồi vui mừng”
Chuyện kho báu không đặt vấn đề luân lư về hành động của người mua thửa đất. Dụ ngôn chỉ muốn đề cao giá trị của Nước Trời, nên nhấn mạnh niềm sung sướng hạnh phúc của người kia thôi. Theo luật Roma thời ấy, th́ kẻ gặp được bảo vật chôn dấu như vậy, có quyền chiếm hữu. C̣n theo luật Do Thái trong văn mạch của dụ ngôn này, h́nh như quyền sở hữu bảo vật thuộc về chủ thửa đất.
Chuyện thương gia đi t́m ngọc quư cũng mang ư nghĩa tương tự. Nước Trời cao quư hơn tất cả mọi sự con người có thể có, nên con người sẵn sàng từ bỏ tất cả để có được Nước ấy. Có người hiểu thương gia là Chúa Giêsu, và viên ngọc quư là con người : Con Thiên Chúa đă hy sinh tất cả v́ loài người chúng ta (x. 2Cr 8,9 ; Pl 2,6-11)
IV – LOAN BÁO
“V́ ḷng yêu của Đức Giêsu đă thúc bách tôi” (2Cr 5,14) ; “Nơi ḷng tôi như lửa bừng bừng, tôi hết sức nén lại, nhưng không tài nào nén được” (Gr 20,9) ; “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16)
Người ta dự đoán rằng : sang thế kỷ XXI, chỉ những ai có cảm nghiệm thực sự về Chúa mới sống đạo. Dự đoán ấy, theo tôi, có lẽ đúng. T́nh trạng tương tự đă xẩy ra đối với đời sống gia đ́nh : yếu tố c̣n lại để gắn bó đời sống gia đ́nh chỉ có thể là t́nh yêu ; khi mà tất cả những áp lực của tục lệ, truyền thống gia tộc, áp lực tôn giáo… không c̣n là hàng rào vững chắc để bảo vệ đời sống gia đ́nh nữa. Cũng thế, khi tự do cá nhân càng ngày càng được đề cao, th́ lối sống đạo v́ truyền thống gia đ́nh, làng xóm, hay v́ sợ hăi… chắc chắn sẽ giảm bớt.
Ta sẽ không thể nào bắt các bạn trẻ “bán tất cả gia sản” để mua lấy những mảnh vườn không có ǵ quí báu cả, mua lấy một đống đồ ve chai… Khi đời sống đức tin chỉ là những luật lệ, những đ̣i buộc mà không mang lại một chút niềm vui, hạnh phúc, hy vọng hay một sự trợ đỡ trên bước đường đời, th́ các nhu cầu khác của cuộc sống, nhu cầu kiếm tiền, nhu cầu thăng tiến xă hội, nhu cầu vui chơi… sẽ là những điều cần thiết hơn nhiều, thúc bách hơn nhiều.
Quả thực, đây là một thách đố lớn cho sứ vụ của chúng ta ; đây là một biên cương mà Tổng Hội Avila của Ḍng Đa Minh đă nhắc tới, biên cương của kinh nghiệm Kitô giáo. Nếu không khám phá ra kho tàng Nước Trời, chúng ta sẽ không thể làm chứng được về ơn cứu độ của Thiên Chúa cho những con người của thế kỷ XXI.
Luca 2, 15-20
Khi thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau : “Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đă xảy ra, như Chúa đă tỏ cho ta biết.” Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ liền kể lại điều đă được nói với họ về Hài Nhi này. Nghe những người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên. C̣n bà Ma-ri-a th́ hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong ḷng. Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa , v́ mọi điều họ đă được mắt thấy tai nghe, đúng như đă được nói với họ.
- KHAO KHÁT “Hồi đó, dân đang trông ngóng” (Lc 3,15)
Mơ ước gặp Ngài, t́m kiếm để gặp Ngài, con người chỉ măn nguyện khi gặp được Thiên Chúa. Đă sinh ra làm người, ai ai cũng có ước vọng triền miên ấy, nhưng đặc biệt là nơi người Is-ra-en . Dầu chỉ là những người chăn chiên đơn sơ mộc mạc, tháng ngày làm bạn với đoàn vật cỏ cây, niềm an ủi của họ là đến ngày Sabbat được nghe đọc luật pháp và lời tiên tri tại hội đường, và hằng năm đến kỳ lễ lớn được thấy các tư tế dâng lễ vật cầu ơn tha tội cho dân, và được nghe giảng giải ư nghĩa đó nơi Đền thờ : họ đều chia sẻ niềm hi vọng Chúa Cứu Thế sẽ đến giải phóng dân tộc khỏi ách ngoại bang cai trị và đem lại cảnh thái b́nh hoan lạc. Nhưng với năm tháng đợi chờ, thức lâu chầu mỏi, tin ấy vẫn xa vời làm ḷng họ sao lăng đến dường như quên mất.
Thế là giờ đă điểm, việc phải đến đă đến, lời tiên tri đă được ứng nghiệm, v́ sau khi nguyên tổ phạm tội, Thiên Chúa liền hứa cho con người một Chúa Cứu Thế từ ḍng dơi người nữ sinh ra (St 3,15). Khi kêu gọi tổ phụ Abraham, Ngài đă hứa Chúa Cứu Thế ra đời từ dân Is-ra-en (St 26,4). Khi lănh tụ Môsê qua đời đă dặn ḍ dân là một vị ngôn sứ sẽ ra đời (Đnl 18, 15-18). Tiên tri Isaia tiên báo Chúa Cứu Thế sẽ được một trinh nữ sinh ra (7,14) Và tiên tri Mikêa tiên báo Ngài sẽ được sinh ra tại Bêlem.
Dân Is-ra-en nghiền ngẫm các lời tiên tri trên đây, nên khi những người chăn chiên nghe thiên sứ báo tin mừng về Chúa Cứu Thế giáng sinh, th́ niềm hi vọng bấy lâu tiềm tàng trong ḷng họ vùng dậy và hồi sinh. Họ vui mừng náo nức, không thể chờ đợi thêm mà muốn đi t́m Ngài ngay.
Như thường lệ, các mục đồng đang canh giữ bầy súc vật trên cánh đồng Bêlem, th́nh ĺnh một thiên sứ sáng chói hiện ra : “Và ḱa sứ thần Chúa đứng bê họ, và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh, khiến họ kinh khiếp hăi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: "Anh em đừng sợ, này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân : Hôm nay Đấng Cứu Độ đă sinh ra cho anh em trong thành vua Đa vít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa”.
- LÊN ĐƯỜNG “Họ liền hối hả ra đi” (Lc 2,16)
Thiên sứ cho dấu để đi t́m Chúa: “anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tă, nằm trong máng cỏ”. Tiếp theo lời giới thiệu về Chúa Cứu Thế giáng sinh trong cảnh nghèo hèn đơn bạc đó, liền có muôn vàn thiên binh cùng với vị thiên sứ chúc tụng Ngài bằng bài ca bất hủ: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, b́nh an dưới thế cho loài người Chúa thương”. Chúa Cứu Thế tự hạ, giáng sinh nơi thấp hèn để tôn vinh Thiên Chúa oai nghiêm, vinh hiển tuyệt vời trên trời, và đem b́nh an ân điển cho loài người dưới đất.
Nghe, thấy, biết như vậy là quá đủ, những người chăn chiên vội vàng lên đường đi t́m gặp Chúa. Dầu giữa đêm khuya, nhà nhà đều cửa đóng then cài, người người đều mơ màng giấc điệp, nhưng những người chăn chiên vẫn vội vă t́m đến hang đá, nh́n vào máng cỏ để t́m kiếm Chúa Cứu Thế .
Chương III - GẶP GỠ “họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”
Gặp được Chúa Hài Nhi họ vui mừng hết sức, họ tranh nhau thuật lại cho mọi người điều thiên sứ báo tin và dấu hiệu Con Trẻ nằm trong máng cỏ. Ai nghe cũng phải ngạc nhiên v́ không ngờ một việc kỳ diệu xảy ra quá đột ngột như vậy. Chỉ có Maria biết rơ hơn ai hết, v́ thiên sứ đă báo tin cho nàng rằng sẽ thụ thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần nên Con Trẻ sinh ra được gọi là Con Thiên Chúa .
Qú bên máng cỏ, những người chăn chiên cúi đầu chiêm bái Chúa Cứu Thế vừa giáng sinh. Mắt họ như vẫn thấy thiên sứ với hào quang rực rỡ, tai họ như c̣n nghe rơ “Đừng sợ, tôi đến báo cho các anh một tin mừng”, rồi thánh thót trên không trung “Sáng danh Thiên Chúa trên trời...”. Giờ đây, Con Trẻ này chớ không ai khác là Chúa Cứu Thế . Tự trong đáy ḷng họ, dường như vang lên lời nguyện cầu : “Lạy Chúa Cứu Thế, Ngài đă từ nơi cao sang, vinh hiển vô cùng, tự hạ xuống nơi thấp hèn cùng cực, thậm chí yên vui ngự vào máng cỏ, chỉ v́ yêu thương nhân loại. Giờ đây, xin Chúa ngự vào ḷng con như đă ngự vào máng cỏ. Chúa ơi, đời con như máng cỏ, không có ǵ, không ra ǵ, giống như vườn khô, giống như đất trống, hoàn toàn vô dụng. Nhưng khi được Chúa ngự vào, đời con sẽ như vườn địa đàng, như thiên đàng thu hẹp nơi trần gian...”
- LOAN BÁO “v́ mọi điều họ đă được mắt thấy tai nghe”
Tâm hồn lâng lâng như có thể bay bổng, mặt mày sáng rỡ như vớ được của kho báu, những người chăn chiên trở về trong niềm vui ngập ḷng. Nếu có ai hỏi : “Có ǵ mà các anh vui mừng thế ? Họ đáp : không vui sao được, v́ chúng tôi đă gặp Chúa Cứu Thế. Có thể nói, những người chăn chiên là người truyền giảng Tin Mừng đầu tiên. Họ cũng như Phêrô và Gioan khẳng định: “Phần chúng tôi, những ǵ tai đă nghe, mắt đă thấy, chúng tôi không thể không nói ra” (Cv 4,20).
- Kết :
Nhà truyền giáo Phaolô đến thành Athen, nơi đây ông thấy một đền thờ rất lớn với bảng hiệu “Thần Vô Danh”. Ông lấy ngay đề tựa đó như nói lên ḷng khao khát của con người đi t́m kiếm vị Thần Chân Thật mà họ không biết đến, sau cùng ông giới thiệu Chúa Giêsu là Thần Vô Danh mà họ âm thầm thờ kính. Thiên Chúa đă tạo dựng loài người có khả năng khao khát t́m kiếm Ngài, và họ ḍ dẫm t́m kiếm Ngài trong bóng tối. Điểm dị biệt giữa một người t́m kiếm Chân Lư và một người kiếm t́m trần gian là ở chỗ cả hai đều có thể nói rằng “ḷng tôi ước mơ thèm khát”, nhưng người t́m khát Chân Lư thêm vào “Thiên Chúa hằng sống”.
Chúa tạo điều kiện cho con người t́m kiếm Ngài, cố gắng vươn lên để t́m gặp Ngài. “Như vậy là để họ t́m kiếm Thiên Chúa ; may ra họ ḍ dẫm mà t́m thấy Người, tuy rằng thực sự Người không ở xa mỗi người chúng ta” (Cv 17,27). Và Ngài hứa cho người thành tâm : “Các ngươi sẽ t́m Ta và các ngươi sẽ thấy, bởi v́ các ngươi sẽ hết ḷng t́m kiếm Ta, Ta sẽ cho các ngươi được gặp…” (Gr 29,13). Ḷng khao khát ấy luôn luôn thúc đẩy con người đi t́m kiếm, nhất là trong nỗi khổ đau. Trong cơn tuyệt vọng Gióp than : “Ai sẽ cho tôi biết tôi phải tới đâu để t́m Người, và làm sao đến được nơi Người ngự ? (Gióp 23,3). Khi Đavít và mấy cận thần chạy trốn trong cuộc phản loạn của Apsalon, đă trông thấy tại bờ phía đông sông Giođan một con nai đáng thương đang mệt mỏi, há miệng đi t́m chút nước đọng trên băi bùn khô để làm mát cái lưỡi đang thè dài ra. H́nh ảnh đó như tương đồng với thân phận của chính ḿnh khiến tác giả đă thốt lên những vần thơ tuyệt diệu :
Như nai rừng mong mỏi, t́m về suối nước trong,
Hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa !
Linh hồn con khao khát Chúa Trời,
Là Chúa Trời hằng sống.
Bao giờ con được đến, vào bệ kiến Tôn Nhan ? (41,1-2)
Bạn đă thấy và nghe, nhưng rồi bạn đă loan báo Tin Mừng này cho những ai ?
Bài Tin Mừng hôm nay nói tới biến cố con người đi t́m Thiên Chúa. Nhưng Tông Thư “Tiến Đến Thiên Niên Kỷ Thứ Ba” nhắc nhở chúng ta rằng : “Trong mầu nhiệm Nhập Thể không phải chỉ là chuyện con người đi t́m Thiên Chúa, mà là Thiên Chúa đích thân đến nói cho con người biết về ḿnh và chỉ cho con người thấy đường để họ có thể đến với Thiên Chúa” (TNK 6a; xem 19,24d).
Điểm làm nổi bật lên ư định mầu nhiệm chung nhất của Thiên Chúa trong mùa Giáng Sinh. Đó là Ngài muốn tỏ ḿnh ra cho tất cả mọi người, mọi thời, bất luận họ là ai và ở đâu, miễn là họ khát vọng và chân thành kiếm t́m Ngài.
- KHÁT VỌNG
Anh sao khơi dậy khát vọng trong ḷng những con người gọi là dân ngoại ở những miền đất xa xôi. Điều mà họ thao thức, khát vọng, giá trị mà họ kiếm t́m chắc phải lớn lao và mănh liệt lắm mới có thể thúc đẩy họ rời bỏ quê hương, rời bỏ cuộc sống ổn định và chấp nhận hành tŕnh gian khổ, như văn hào Mal-raux đă viết : “Những giá trị đích thực là những giá trị mà v́ đó con người sẵn sàng chấp nhận những khổ đau, chế diễu và đôi khi cấp nhận cả cái chết nữa”.
Đứng từ phía con người, những t́m kiếm ấy nhằm xây dựng cuộc sống hạnh phúc đích thực. Nhưng đứng từ phía Thiên Chúa, sở dĩ con người cưu mang nơi ḿnh một khát vọng và thao thức, là v́ chính Ngài đă gieo cấy nơi ḷng mỗi người niềm khát vọng sự sống. Như thế, ở tự khát vọng ấy đă là một sự tỏ ḿnh, một hiển linh, một mặc khải đệ nhất rồi.
Bên Anh theo tục lệ lâu đời, đêm Noel, trẻ nhỏ có thói quen treo trên ống khói ḷ sưởi một tấm bảng ghi những chữ "Xin vào lối này". Chúng thơ ngây tin rằng đêm Noel thiên thần sẽ đem quà đến qua ống khói và chúng sợ thiên thần lạc đường. Chúng ta cũng nên làm như chúng, nhưng một cách thật nghiêm túc, là chỉ lối cho Thiên Chúa vào ḷng ḿnh. Có một thánh ca Mùa Vọng và Giáng sinh thật đơn giản mà thật sốt sắng :
"Lạy Chúa xin hăy
đến
v́ hồn con khát khao dược rước Chúa
Xin vào linh hồn con
Và Nước Chúa thống trị muôn dời.
Ước ǵ mỗi ngày lời cầu trên trở thành lời cầu riêng của mỗi người chúng ta.
- LÊN ĐƯỜNG KIẾM T̀M
Điều quan trọng không phải là lo xác định họ là vua hay không là vua, họ có ba vị hay có thể nhiều hơn thế nữa, mà cái chính là nh́n họ như h́nh ảnh sống động của tất cả những ai trong đời đă có một ḷng khát khao chân thành t́m kiếm Thiên Chúa khởi đi từ những thiện hảo tốt lành, để rồi với sự trợ giúp của ơn thánh, tới lúc Chúa muốn và bằng muôn ngàn cách thế linh động theo sáng kiến của Ngài, họ sẽ được dẫn tới gặp gỡ Đấng họ nỗ lực kiếm t́m.
Xưa ở Bêlem, Đức Maria đă không t́m được một chỗ trong quán trọ. Nay trong rất nhiều tâm hồn cũng không c̣n một chỗ cho Thiên Chúa cư ngụ. Không có chỗ cho Thiên Chúa nhưng lại có chỗ cho muôn vàn cái phụ thuộc, phù phiếm hoặc giả dối. V́ thế, năm này qua năm khác, đời nọ tới đời kia Thiên Chúa vẫn lên đường vất vả nhọc mệt để kiếm t́m con người “Này Ta đứng trước cửa và gơ…” (Kh 3,20)
– GẶP GỠ
Anh sao dẫn đường đi trước họ, măi cho tới nơi và đậu lại trên nơi có Hài Nhi. Mà nơi ấy lại là mái nhà tầm thường (Lc 2,7). Chính trong cuộc sống thật thân quen của đời thường : một mái nhà, một bà mẹ, một trẻ thơ… mà Thiên Chúa đă tỏ ḿnh ra cho con người được gặp gỡ. Chính trong cảnh b́nh thường của cuộc sống mà con người gặp được Thiên Chúa, gặp được Đấng mang lại b́nh an, niềm vui và hạnh phúc đích thực cho ḿnh.
Ngày hôm nay, nh́n vào những hang đá đẹp lộng lẫy, mẹ Maria khỏe khoắn, thánh Giuse gương mặt can đảm, Hài Nhi Giêsu tươi cười. Nhưng có lẽ 2002 năm trước đây, hẳn nhiên có ai nh́n vào hang ḅ lừa sẽ thấy một hài nhi đỏ hỏn, máu me bê bết, khóc không thành tiếng trong máng cỏ hôi ŕnh, bà Maria th́ co ro, nằm gọn trong góc nào đó v́ đau đớn, c̣n ông Giuse th́ mặt không c̣n giọt máu v́ không biết phải làm cái ǵ, và nên làm ǵ khi chuyện xảy ra bất ngờ như vậy. Thế mà đây lại là nơi gặp gỡ. Các mục đồng gặp gỡ, Ba Vua gặp gỡ, cụ già Simêon gặp gỡ tại đền Thánh. Ḷng ước muốn của con người là khởi điểm nhưng hồng ân Hiển Linh mới là kết điểm mở ra những mùa gặp gỡ. Và gặp gỡ như thế là một cuộc đổi đời. V́ thiện chí luôn t́m kiếm hồng ân, mà cũng v́ hồng ân luôn đợi chờ một thiện chí biến đổi cuộc đời. Ba vua gặp Chúa với tất cả ḷng thành tuyên xưng được thể hiện qua những lễ vật tiến dâng, họ đă được soi sáng để theo đường khác mà về nhà. Và ở đó sẽ là những cuộc hiển linh mới trong đời sống thường ngày.
Gặp ai th́ cũng có thể gỡ ra được, nhưng ḷng khát vọng con người một khi đă gặp được Thiên Chúa vốn từ bao giờ để sẵn tỏ ḿnh ra, th́ cuộc gặp ấy không thể gỡ ra được nữa. Người ta thành người nhà của Thiên Chúa. Hiển Linh chính là tên gọi khác của mầu nhiệm Nhập Thể, của danh xưng Em-ma-nu-en và của bốn mùa gặp gỡ.
– LOAN BÁO
Nếu nét đặc trưng của lễ Hiển Linh là ánh sao dẫn đường, th́ trách nhiệm của những kẻ đă được gặp gỡ Thiên Chúa sẽ không chỉ thu hẹp trong đời sống cá nhân tu thân tích đức, mà c̣n hướng tới sứ vụ đối với những người thân cận của ḿnh. Nếu mỗi người tin là một ánh sao, con đường gặp gỡ biết bao sáng ngời, và lời tiên báo của ngôn sứ Isaia sẽ nên hiện thực hiển linh cho đời.
“Anh em phải chiếu sáng như những v́ sao trên ṿm trời” (Pl 2,15)
* Kết : Đây không chỉ là một biến cố ngày đă qua, mà c̣n là một sứ điệp của ngày hôm nay và cho những ngày sẽ tới. Chúa vẫn tỏ ḿnh, nhưng vấn đề là người ta có khát vọng thiện chí gặp Ngài không. Hôm xưa đă có một nghịch lư là những người gặp gỡ Chúa đều là những người mạt rệp, bị loại bỏ, bị xua đuổi… nhưng c̣n toàn thể xă hội tôn giáo Do Thái lại hầu như vắng bóng, hay nếu có th́ chỉ như một lực cản đáng buồn. Thế đấy ! điều tưởng như thuận lợi lại là một cạm bẫy dẫn tới sự thảm bại, c̣n điều chừng như bất lợi lại trở nên lợi thế cho việc gặp Chúa. Liệu nghịch lư ấy hôm nay có c̣n tồn tại trong đời sống đức tin của cộng đoàn cũng như của mỗi cá nhân chúng ta không ?
[1] Thinh lặng trường dạy cái nh́n trang 88