Chúng ta, ai cũng đă lănh nhận Bí tích Rửa tội, đă trở thành con cái Chúa, ngành nho đă được tháp vào thân nho và đă được hội nhập chung trong một Giáo Hội. Bí Tích Thánh Tẩy mỗi người lănh một lần là đầy đủ rồi, đă là thành toàn rồi nhưng nó c̣n kéo dài trong cuộc sống mỗi người nên nó như một khởi điểm để từ đó cần được dưỡng nuôi và tăng triển mỗi ngày như cây non cần được lớn lên, đâm rễ sâu, trổ cành lá chồi non xanh tươi, hoa nở và trái chín xum xuê..."Nó ví như cây trồng bên nước, và đâm rễ bên cạnh suối trong ; nó sẽ không sợ nắng hè đến ; lá của nó sẽ xanh tươi ; vào năm hạn hán, nó cũng chẳng e sợ, nó sẽ không bao giờ ngưng ra trái” (Yer 17,7-8).
Ngay từ ban đầu Thiên Chúa đă gieo nỗi khát vọng khôn nguôi vào tận đáy sâu tâm hồn, vào vực thẳm trái tim của mỗi người :
- "Hai tay cầu Chúa giơ lên
Hồn con khát Chúa như miền đất khô"
- "Lậy Thầy nhân lành, tôi phải làm ǵ để được sống đời đời"
- Một cơi day dứt dày ṿ
một trái tim thao thức khôn nguôi
một tâm tư luôn luôn khát vọng
Ngài ở đâu tôi kiếm t́m Ngài.
Từ đó con người lo đi t́m kiếm để lấp đầy hố sâu thăm thẳm nơi cơi ḷng họ. Họ hung hăng t́m kiếm như những cơn đói cồn cào ruột gan, như những cơn khát lửa bỏng cháy cổ.
Dựa theo tác giả Michel Qouist trong cuốn "nói chuyện t́nh yêu cho em đi" chúng ta cùng chia sẻ với nhau về cái đói, về cái khát đó :
"Tinh thần tôi đói. Để nuôi dưỡng nó tôi vơ vét lung tung những tư tưởng vương văi trong sách vở, h́nh ảnh và lời nói trên môi miệng người ta, nhưng cái đầu tôi vẫn như một tổ ong rào rào mà chả có chút mật".
"Tôi khát quá !
Khát nhất là trái tim tôi, ở đó trong đáy tim, trong tận thâm sâu của trái tim, xa hẳn hơn cả thể xác và máu huyết, măi tận miền hậu phương huyền diệu mà tôi đang lo sợ run rẩy ước lượng chiều kích vô tận, khi đo lường sự vô biên của cơn khát tôi đang chịu.
Ôi ! cơn khát cháy bỏng đang thiêu rụi trọn con người, như một ngọn lửa quay cuồng, trong vực thẳm không đáy".
* * *
Thế mà tôi vẫn sống đây, nhưng làm sao tiếp tục sống nếu không biết sống để làm ǵ (làm được một số công việc chưa hẳn là đă biết sống) và làm sao nuôi dưỡng được sự sống ?
Người cha người mẹ vẫn biết cho tôi ăn uống, may mặc quần áo, sắm sửa đồ dùng, thế nhưng tất cả các thứ đó vẫn chưa đủ mà tận đáy sâu tâm hồn c̣n cảm thấy thiêu thiếu một cái ǵ đó, không diễn tả ra được. Cha mẹ chỉ biết cho những ǵ mà cha mẹ cũng đă nhận được từ nơi ông bà, c̣n cái ǵ thiêu thiếu đó cũng không giải đáp được trong sự hiểu biết của ḿnh. Các ngài chỉ nói là cha mẹ đă làm xong bổn phận, cha mẹ đă "cho con" sự sống như ông bà đă cho cha mẹ. Vâng, các ngài là những người tốt bụng và các ngài c̣n trao cho tôi thêm cả một mớ luân lư nữa, một mớ bảng chỉ dẫn, một số cách thức xử dụng... nhiều lần tôi thấy nó có vẻ cổ lỗ sỹ quá, những lời chú giải mờ mịt quá nên tôi cứ ráng nuốt mà không trôi nổi. V́ thế có lúc tôi cũng đánh liều mà hỏi là tại sao phải làm điều này và phải tránh điều kia ? Cha mẹ tôi trả lời : v́ thế là tốt, hay v́ thế là xấu. Nhưng tôi vẫn không bằng ḷng tại sao thế là tốt và thế lại là xấu. Cả cha mẹ tôi cũng chẳng biết, khi tôi ĺ lợm hỏi thêm, các vị gắt lên : tại v́ như thế đó, hoặc các cố đạo nói thế đó hoặc lănh vài cú bợp tai v́ hỏi vớ vẩn (bị tát tai v́ cái đó tốt không chịu làm, tát tai v́ cái đó xấu sao cứ làm, mà chẳng hiểu sao lại xấu, sao lại tốt)
Rồi khi lớn lên, tôi đă thấy những người chung quanh tôi, cha mẹ tôi, các đấng các bậc không phải lúc nào các vị cũng sống theo lời các vị nói (cũng ngủ gật, cũng căi nhau). C̣n đối với các bạn bè tôi, có nhiều đứa cười chê tôi, chúng nó tuyên bố là bảng chỉ dẫn "cách thức xử dụng" của tôi đă lỗi thời từ lâu, lâu lắm rồi, không c̣n hợp thời nữa. Chúng nó chẳng biết có thứ nào khác thay thế cả và chúng cho rằng dù có th́ cũng vô ích thôi v́ nào đă ai sống được những lư tưởng đó, và nếu có thắc mắc th́ chẳng bao giờ có lời giải đáp cho thỏa đáng được. Điều quan trọng là cứ sống đi-chúng nói-bởi v́, nay đă đến lúc rồi chẳng c̣n điều ǵ bị cấm kị nữa, v́ người ta được đi trên thảm cỏ xanh và tha hồ mà hái hoa tại các công viên. "Cứ làm tất cả điều anh thích đi, là anh sẽ sung sướng đấy". Tôi đă nghe theo chúng nó và đă hành động :
- Yến tiệc linh đ́nh say sưa, nhậu nhoẹt phủ phê
- Tiền bạc của cải tích lũy, tiện nghi dư thừa, quyền hành trong tay...
- Cờ bạc rượu chè, hút sách...
- Sách vở, phim ảnh, nhảy nhót...
Tôi đă đi qua rất nhiều vườn hoa, chơi ngông nên thường đạp lên chúng, và tôi thích hái lúc nào tùy ư tôi muốn. Thế nhưng hạnh phúc thật th́ chẳng bao giờ gặp được. Đôi khi tưởng như cầm bắt được nó nhưng chỉ được vài giờ thoáng qua, giống như thứ kẹo tan mau trong miệng, háo hức của tôi một đôi chút hạnh phúc èo uột đó đă biến mất mà không làm tôi bớt đói.
C̣n các bạn, các bạn thân yêu của tôi ơi ! Các bạn có c̣n cảm thấy trong tim ḿnh cơn cồn cào của đói khát không ? Hay là rất sớm cam chịu, chấp nhận số phận ngủ yên và như thế các bạn đă nhập đoàn với muôn ngàn "những con người đi hoang" bỏ xa Cha ḿnh và nghèo khổ v́ chính phần gia tài giầu có của ḿnh, đang tự thỏa măn với những thứ thực phẩm ăn bớt của lũ heo trong thành phố chăng ? (Lc 15,11-32)..... và ngay cả, nếu, v́ là những người con trung thành, được đặc ân may mắn, từ lâu vẫn ở trong nhà Cha, các bạn vẫn thưởng thức hương vị những bữa cơm dọn sẵn, mỗi ngày các bạn không c̣n đói khát nữa sao ?
Lúc này đây, tôi biết rơ rồi, con người được tạo nên như với qui luật và phải chăng đó là sự cao quí nhưng cũng là nỗi khổ tâm của con người, là những cơn đói khát chẳng bao giờ thuần hóa được cả, ngay lúc con người tưởng rằng đă khống chế được chúng, th́ chúng lại vuột khỏi con người và tái xuất hiện, luôn c̣n hung hăng hơn măi. Chúng chạy trước con người và con người đuổi theo chúng đến kiệt lực mà chẳng bao giờ bắt nổi chúng ...
Và tôi suy nghĩ : "Ai sẽ giải thoát tôi khỏi những cực h́nh của tôi đây ?".
*** ***
- "Ai khát hăy đến với Tôi mà uống" (Ga 7,37)
- "Đến cả đi, hỡi những ai đang khát, nước đă sẵn đây. Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng, đến mua rượu và sữa, không phải trả đồng nào" (Is 55,1)
- "Xin hăy đến ! Ai khát, hăy đến ! Ai muốn, hăy lĩnh lấy nước sự sống, nhưng không !" (Kh 22,17)
- "Lậy Chúa, Chúa đă tạo dựng chúng con cho Ngài, nên ḷng chúng con sẽ không yên nghỉ được, bao lâu chưa được ở với Ngài" (Th. Augustin, "Confessions" 1,1)
- Ermann Coen, Thời trai trẻ chỉ biết ăn chơi và chạy theo thế gian. Sự nhàm chán cứ đè nặng trên vai ngài. Ngày kia Ngài từ chối tất cả và xin vào tu viện. Trong buổi giảng Mùa Vọng tại đền thờ Đức Bà ở Balê, Ngài nói : "Tôi đă đi khắp cả mặt đất, tôi đă yêu thế gian, tôi đă biết thế giới và tôi đă học được một điều : Không có hạnh phúc ở trên thế gian này. Nhưng tôi cũng như nhiều người khác, đă sa vào nó nơi không có. Tôi đă t́m nó ở những nơi tôi tưởng nó có : ở những nụ cười, ở những cuộc giải trí, ở những ngày lễ, ở những nơi vàng bạc, ở nơi sắc đẹp.... Ôi lậy Chúa, điều con mơ ước mọi giờ mọi ngày con đă t́m ở đâu ? Và con đă chỉ t́m được nó trong Chúa.
- "Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi
Hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn" (Tv 61)
Tất cả chẳng là ǵ cả khi Đức Kitô trên Thập Giá nói với nhân loại :
"Tôi Khát"
Khát vọng là những tiếng "rên" trong ḷng nơi sâu thẳm nhất của con người. "Cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo càng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở" (Rom 8,22).
Con người thường rất dễ ngủ yên, an vui tại tọa, thú vị với những ǵ ḿnh thu lượm được, hạnh phúc v́ ḿnh thành công đậu đạt, ngông nghênh v́ tiền bạc thoải mái, vênh vang v́ chức vị quyền uy đầy ḿnh.... Lúc đó tiếng "rên" bị chết đuối ch́m nghỉm và chia tay không hối tiếc.
Con người thường hay trốn chạy hoặc khỏa lấp tiếng "rên", v́ ai cũng sợ cũng ngại phiền toái, đôi khi nó làm đau đớn giằng co kinh khủng. Xấu hổ với những chuyện quá khứ, luôn hướng tới mộng ước một tương lai v́ thế mà trốn chạy những phút giây hiện tại. Quá quen với tiếng động nên sự im lặng để nghe tiếng "rên" ra như ngoài sức chịu đựng mỗi khi phải đối diện với chính ḿnh.
Khát vọng là đi vào cuộc sống phiêu lưu, mạo hiểm, bấp bênh, rời bỏ cuộc sống an toàn, rời bỏ khung cảnh nhỏ hẹp trong thế giới đóng kín của ḷng ḿnh. Dám nghĩ ngược lại những ǵ xưa nay đă in vết trong tâm trí, trong năo trạng chật hẹp nhỏ nhoi của ḿnh. Dám đối diện với những ǵ đang có trong nơi thâm sâu âm u của tâm hồn, đôi khi chấp nhận sự đau đớn bào gan xé ruột với những khoảng trống tê tái cô đơn vời vợi. "Nước Trời phải dùng sức mạnh mà chiếm lấy và những kẻ mạnh mẽ can đảm mới chiếm được" (Mt 11,11-15)
Khát vọng là đi tới chỗ sâu nhất của cơi ḷng. Hăy đi đến chỗ nước sâu... tới miền đất xa lạ là nơi sâu nhất trong tâm hồn bạn. Hay đi đến chỗ sâu nhất để bạn nhận thấy cuộc sống bạn có giới hạn, có bế tắc, có tội lỗi quái gở. Hăy đi đến chỗ sâu nhất để bạn nhận ra con người thật của bạn "Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá" (Lc 5,1-11)
Cuộc sống luôn có nhiều va vấp, bao gánh nặng đau thương chồng chất ngợp đầu ngập cổ... những tếng "rên" la tha thiết khẩn cầu là tiếng nói của tâm hồn khát vọng nhưng cũng đừng v́ thế mà mong phải được băng bó, chữa lành vết thương ngay và rồi sau khi đă lành lặn th́ cuộc sống đâu vẫn hoàn đó. Đức Giêsu th́ vẫn xa vời, vẫn chưa gặp được. Khao khát những điều không thấy để thấy những điều ḿnh khao khát : Đấy mới là điều quan trọng.
Những nỗi khát vọng, những tiếng "rên" la, những điều khắc khoải là những lời cầu nguyện thiết tha thành khẩn nhất, thật nhất. Nên đừng sợ, đừng lo dập tắt, đừng đè nén, đừng trốn chậy, đừng hoảng hốt.... Bởi v́, đó chính là tiếng của Thánh Thần đang "rên" lên trong ḷng ta, bạn hăy tin như vậy đi để bạn khỏi nghĩ ḿnh là tên láo toét nhé. "Thần Khí giúp đỡ ta là những kẻ yếu hèn, v́ chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải ; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta bằng những tiếng rên siết không tả" (Rom 8,26).
Ḷng khát vọng giống như người lực sĩ chạy đua trên thao trường hay một người nhạc sĩ th́ phải kiêng khem đủ điều, họ phải khổ luyện kiên nhẫn vất vả từng ngày, mọi tư tưởng hành vi đều phải nỗ lực cố gắng tập trung vào điều họ đang mơ ước, họ nghĩ đến tương lai để vươn tới nên đôi khi họ phải trả giá đắt bởi v́ phải vắt kiệt sức "Anh em hăy chạy thế nào để chiếm cho được phần thưởng. Phàm là tay đua, th́ phải kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy.... trái lại chúng ta nhằm phần thưởng không bao giờ hư nát" (1Cor 9,25)
Ḷng khao khát ví như chiếc bị muốn chứa đựng được nhiều th́ cần làm cho bị rỗng ra (gia tài là chiếc bị Người mang trên vai), cần nới ra càng to càng tốt, và rồi khi đổ vào bạn cần dồn cần lắc cần nén cho chặt. V́ vậy ḷng khao khát làm tâm hồn bạn nẩy nở ph́nh to ra, tăng thêm khả năng đón nhận của bạn. Ḷng khao khát làm cho rỗng ra rồi mới làm đầy được, đúng không, thưa bạn ? "Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới vào được nước Thiên Chúa" (Cv 14,22)
Ḷng khát vọng không phải ngồi ́ ra một đống, không làm cái ǵ hết, mơ mộng trên mây trên gió nhưng là hằng canh cánh bên ḷng, như nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai. Mặc dầu vẫn phải giữ các bổn phận vẫn ăn vẫn uống vẫn ngủ nghỉ vẫn chơi... nhưng vẫn mang tâm trạng đêm năm canh ngày sáu khắc vẫn luôn hướng ḷng về khát vọng khôn nguôi bởi v́ mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe và ḷng cũng chưa được cảm thấy "nhưng tôi đang cố gắng chậy tới, mong chiếm đoạt... Tôi chỉ chú ư đến một điều, là quên đi chặng đường đă qua, để lao ḿnh về phía trước" (Pl 3,12-13).
Ḷng khát vọng để tôi tập bước ra khỏi ḿnh, làm quen với cuộc lên đường ra khỏi nơi thân quen, nhận diện cái tôi kịch cỡm của ḿnh để rồi mỗi ngày trở nên ngoan ngoăn dễ thương hơn. Từ bỏ ḿnh là yêu ḿnh như Chúa yêu "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính ḿnh, vác thập giá ḿnh mà theo" (Mc 4,34)
Ḷng khát vọng liên lỉ cho đến khi Chúa đổ đầy t́nh yêu của Ngài và lúc đó chúng ta sẽ được no say bởi chúng ta sẽ được nên giống như Ngài, v́ Người thế nào chúng ta sẽ được thấy Người như vậy "Hăy có những cảm nghĩ trung thực về Chúa, và t́m kiếm Người với tâm hồn đơn sơ. V́ những ai không thách thức Người, mới được Người cho gặp, những ai vẫn một niềm tin tưởng, Người sẽ cho họ được thấy Người" (Kng 1,1-2)
Thế nhưng nếu chỉ nhấn mạnh đến những nỗ lực con người t́m kiếm khát vọng thôi để rồi khát vọng đó diễn tả ra những lễ nghi phượng tự, hoặc cố gắng giữ một nền luân lư vững chắc, hoặc qua những hoạt động tông đồ um oé... th́ có lẽ đúng với những tôn giáo cổ xưa. Khát vọng không chỉ là nỗ lực con người t́m kiếm Chúa mà đồng thời và trước đó, đă là bước chân của Thiên Chúa đến t́m con người, gặp gỡ, trao đổi và đưa ra những đề nghị thân t́nh. Để tóm kết mời các bạn cùng đọc một đoạn Thánh thi Kinh Trưa mùa chay :
Trưa hôm ấy chịu khổ h́nh thập tự
Chúa kêu rằng : "Khát nước", thảm sầu thay !
Xin cho con ca tụng Chúa giờ này
Biết khát vọng ơn Ngài công chính hóa
Ôi lạy Chúa, con thấy ḿnh đói lả
Chỉ có Ngài làm no thỏa được thôi
Tội lỗi xưa con hối hận lắm rồi,
Chỉ ao ước trở nên người đức hạnh.
Môn sinh Giuse Phạm Quốc Văn
Những ngày tuần thánh 2003
Tác giả Thánh vịnh 41 thật ví von, thi vị khi dùng h́nh ảnh con nai vàng khát khao đi t́m ḍng nước để diễn tả tâm hồn con người luôn khao khát hướng về Thiên Chúa:
“Như nai rừng mong mỏi
t́m về suối nước trong
hồn con cũng trông mong
được gần Ngài, lạy Chúa” (41,2).
Ḷng khao khát khôn nguôi này của con người có thể gọi tên một cách khác đó là đời sống tâm linh. Đời sống tâm linh là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống người Kitô hữu, đặc biệt là những người muốn theo Đức Giêsu một cách trọn vẹn hơn. Cũng như bất cứ một tiến tŕnh phát triển tự nhiên nào khác, đời sống tâm linh cũng cần được huấn luyện, để mỗi cá nhân có thể trải nghiệm, trưởng thành, và nên như lời chứng tá.
Tiến tŕnh thanh luyện mỗi người có thể ít nhiều, dài ngắn, và cách thức khác nhau. Đứng từ góc độ một người trẻ đang trong giai đoạn thụ huấn, người viết muốn tỏ bày những tâm t́nh, những khát khao, và cùng những khó khăn trên bước đường t́m kiếm, khám phá.
Xin được khởi đi từ h́nh ảnh :
Nai khát xa nguồn
Như nai rừng khát khao t́m nguồn nước, ḷng người cũng khắc khoải kiếm t́m không nguôi. Có thể nói những khát vọng của con người là khát vọng không cùng. Người ta biểu lộ những khát vọng này bằng nhiều cách khác nhau. Xuyên qua những nhu cầu vật chất, t́nh cảm, danh vọng, địa vị ... con người để lộ cho thấy không ǵ có thể lấp đầy khát vọng thăm thẳm của ḷng ḿnh.
Cũng trong thời đại chúng ta, hơn lúc nào hết, nhiều giáo phái mới ra đời, con người t́m đến những ǵ là siêu nhiên, là đời sống tinh thần. Đặc biệt những tôn giáo lớn có truyền thống tâm linh sâu xa đă có sức thu hút nhiều người. Tông huấn “Giáo hội tại Á châu” số 18 đă gọi tên những hiện tượng này là “cơn khát nước hằng sống” của con người hôm nay.
Mọi người, trong đó có
chúng ta, đều như nai khát.
Đâu là nguồn suối mát ? Cứ theo bài học mà trả lời, dễ ợt : chính Thiên Chúa.
Câu trả lời không sai, nhưng sớm quá, đốt giai đoạn quá, nhưng mấy môn sinh có
thể hiểu, có thể cảm nổi ? Trả lời câu hỏi này không miễn chấp cho mỗi cá nhân
phải lên đường t́m kiếm, phải “giác ngộ”. Cái khó khăn là người môn sinh gặp
phải nhiều thách đố trên bước đăng tŕnh này.
Thách đố đầu tiên là mỗi môn sinh, theo lẽ thường, phải được một vị thầy “khải thị” và đồng hành. Nếu thiếu đi sự đồng hành thiêng liêng nay, người môn sinh dù có cố gắng mấy cũng cứ ṃ mẫm măi, không khéo lại lạc đường, bỏ cuộc. Tiếc thay!
Thách đố thứ hai là người môn sinh đang được khuyến khích để lội ngược ḍng ; trong khi đó ḍng chảy lại mạnh quá, ồ ạt quá : ḍng chảy tục hóa, hưởng thụ, thờ ơ, coi nhẹ phẩm giá của con người... Các chọn lựa đi liền với những bậc thang giá trị bị đảo lộn, ḷng người không khỏi hoang mang. Đâu là những giá trị đích thực ? Đâu là một đời tu đúng nghĩa ? Đâu là khoảng không tự do mỗi người có thể xoay xở ? Hoặc đâu là sự dung hoà giữa những chọn lựa, cam kết, với những thực tại của đời thường ? ... Những câu trả lời theo mẫu in sẵn chỉ việc điền vào có lẽ không thoả măn được những vấn nạn hiện sinh này. Vẫn cứ phải lội ngược ḍng, dẫu ḷng chưa xác tín ?
Một điều rất thật, là mỗi người trẻ hôm nay đều là những “con đẻ của thời đại” được mang những “gien di truyền của bố” từ nếp suy nghĩ, cách hành xử, kiểu xoay xở... Cái khó là phải thanh lọc, phải lột xác. Đau lắm!
Bên cạnh đó, theo xu hướng chung của xă hội, người môn sinh của Đức Giêsu cũng rất dễ có nguy cơ đánh mất sự thăng bằng giữa việc trau dồi tri thức và đời sống thiêng liêng. Và nếu như thế, chúng ta có thể trở thành những công chức là điều dễ hiểu. Những chứng tá đức tin sống động lúc này cần thiết biết bao !
Và rồi đâu phải người môn sinh lúc nào cũng hăng hái, có những lúc chán nản, muốn buông xuôi, muốn bỏ cuộc ; ấy là chưa kể những vấp váp trên hành tŕnh có vẻ như đơn độc dẫu đang cùng đi với nhiều người. Bóng mát bên đừng vẫn mời gọi, một cám dỗ muốn dừng chân. Cần sự cảm thông biết bao ! Cần được nâng đỡ biết chừng nào !
Cuộc hành tŕnh mỗi ngày cứ phải làm mới lại. Mỗi ngày là một khởi đầu, một niềm hy vọng mới. Và như thế là cuộc kiếm t́m chưa kết thúc, nai khát vẫn xa nguồn, vẫn khắc khoải, ḷng vẫn canh cánh một điều :
T́m về suối nước trong
Chúng ta có thể khởi đầu cuộc t́m kiếm này bằng cách trở về với Kinh thánh.
Sách Diễm Ca diễn tả một cuộc t́m kiếm người yêu, một cuộc gặp gỡ trong tương quan ngôi vị, đó cũng phải là cuộc t́m kiếm của mỗi chúng ta:
“Suốt đêm, trên giường ngủ,
tôi t́m người ḷng tôi yêu dấu.
Tôi đi t́m chàng mà đâu có gặp !
Vậy tôi sẽ đứng lên, đi rảo quanh khắp thành,
nơi đầu đường cuối phố,
để t́m người yêu dấu của ḷng tôi.
Tôi đi t́m chàng mà đâu có gặp !” (Dc 3, 1-2)
Trong đời sống thiêng liêng, đôi khi mối tương quan của ta với Chúa như một cuộc trốn t́m. Không ít khi ta cảm thấy Chúa dường như vắng bóng : “Tôi đi t́m chàng mà đâu có gặp !”. Nhưng nếu phải nói rốt ráo hơn, Thiên Chúa đă đi t́m ta, nhiều khi ta đă lẩn mặt Người !
Thiên Chúa đă gieo vào ḷng chúng ta niềm khát vọng, nỗi khắc khoải khôn nguôi, để rồi chúng ta phải lên đường t́m kiếm Người luôn măi. Tác giả Thánh vịnh 62 diễn tả rất sống động điều này:
“Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ
ngay từ rạng đông con t́m kiếm Chúa.
Linh hồn con đă khát khao Ngài,
tấm thân này ṃn mỏi đợi trông,
như mảnh đất hoang khô cằn không giọt nước” (62,2).
Ngôn sứ Isaia nhắc nhở chúng ta: Hăy t́m kiếm Chúa khi Người c̣n cho gặp (Is 55, 1 - 11), và Thánh vịnh 118 ca ngợi hết lời hạnh phúc của những ai hết ḷng t́m kiếm Thiên Chúa (118,1 - 8).
Những cuộc t́m kiếm này càng tỏ rơ hơn trong những tŕnh thuật của Tin mừng. Trong Tin mừng ta bắt gặp được sự t́m kiếm của các mục đồng (Lc 2, 1-20), nỗi khát khao những nhà chiêm tinh đi t́m Chúa (Mt 2, 1-12). Và rồi chúng ta cũng thấy h́nh ảnh của Giakêu : Thiên Chúa đi t́m kiếm kẻ t́m kiếm Người (Lc 19, 1-10).
Và đây, lời khẳng định của Chúa Giêsu như một bảo đảm cho những ai t́m kiếm Người : “Anh em cứ xin th́ sẽ được, cứ t́m th́ sẽ thấy, cứ gơ cửa th́ sẽ mở cho” (Mt 7,7). Và nói như Hiến pháp của chúng ta, chúng ta không chỉ t́m kiếm ơn cứu độ, t́m kiếm hạnh phúc cho riêng ḿnh, nhưng c̣n t́m kiếm ơn cứu độ cho tha nhân nữa (Xc. Hiến Pháp nền tảng, khoản 2). Nói như thánh Phaolô tông đồ, chúng ta c̣n có nhiệm vụ phải trả lời cho những ai đang t́m kiếm nữa (Xc. 1Cr 18-25).
Như vậy, Chúng ta có thể định nghĩa đời tu là cuộc đời t́m kiếm Thiên Chúa liên lỷ. Sắc lệnh về đức ái trọn hảo “Perfecter caritatis”, số 1, cho chúng ta định nghĩa về đời tu đó là đời sống tiến đến đức ái trọn hảo. Giáo luật điều 573 đă khai triển ư tưởng thần học trong hai số 43 và 44 của Hiến chế tín lư về Giáo hội Lumen Gentium và dạy chúng ta rằng đời tu tŕ không ǵ khác hơn là theo Đức Kitô dưới tác động của Chúa Thánh Thần, qua việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm, để dâng hiến trọn vẹn đời sống cho Thiên Chúa, để yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, kết hợp với Giáo hội bằng đức ái để phục vụ nước Chúa, và để trở thành dấu chỉ cho đời sống mai sau.
Đối với chúng ta, những tu sĩ Đaminh, ngoài những hướng dẫn của Giáo hội, chúng ta c̣n được Hiến Pháp của Ḍng soi sáng. Hiến Pháp nền tảng khoản 2 nhắc lại cho chúng ta lời dạy của thánh phụ Đaminh :
“Anh em chúng ta như những người khao khát t́m kiếm ơn cứu độ cho ḿnh và cho tha nhân, phải sống chính trực và đạo đức khắp mọi nơi, và như những con người Tin mừng, theo chân Đấng Cứu Thế, chỉ nói với Chúa hay nói về Chúa cho ḿnh hoặc cho tha nhân”.
Đến lúc này, chúng ta có thể có câu trả lời xác đáng về ư nghĩa và mục đích của đời tu, mà đời sống tâm linh là sợi chỉ hồng xuyên suốt mọi hoạt động trong đời sống con người.
Tuy nhiên phải nh́n nhận rằng người ta hay hiểu lầm và tách biệt tâm linh như một mảng giữa muôn vàn mảng khác của cuộc sống. Đúng hơn, tâm linh là trọn vẹn đời sống, là cả một tiến tŕnh với không ít những thăng trầm. Ứng với từng lứa tuổi, từng thời điểm khác nhau, con người có những cách cảm nhận, có những cơn khủng khoảng khác biệt, do vậy vấn đề huấn luyện đời sống tâm linh là một tiến tŕnh dài hạn, kiên nhẫn và bền bỉ. Đây cũng là một thách đố và căng thẳng đối với những người làm công tác đào tạo. Làm sao giúp cho ngươi thụ huấn có được một cuộc gặp gỡ đích thực với chính Thiên Chúa, chứ không chỉ dừng lại ở những t́nh cảm hời hợt chóng qua, hay những mớ lư thuyết cao siêu huyền bí. Có thể nói, công việc huấn luyện tâm linh vừa khơi mở, vừa kiện toàn đời sống tâm linh cho người thụ huấn và cho chính bản thân người làm công tác huấn luyện nữa.
Cuối cùng, xin đưa ra một vài mối nghi ngại, và cũng như lời nhắc nhủ chính bản thân ḿnh, kẻo có ngày:
Chết khát bên ḍng sông
Có thể nói không ai ở gần Chúa hơn những người tu sĩ, những người “chuyên” về Chúa. Chúng ta thường giảng giải, khuyên bảo, nhưng đôi khi chính chúng ta lại không sống, không xác tín ; chúng ta dẫn người khác đến ḍng sông sự sống, nhưng chính bản thân ḿnh th́ họng lại ráo khô. Có lẽ hơn một lần chúng ta thấy ḿnh phải nói, phải làm như một cái máy. Nhiều giá trị ḿnh cổ vơ, nhưng bản thân lại không sống được. Nghịch lư thay!
Và nhiều khi v́ duy lư quá chăng, chúng ta có thể đánh mất đi những cảm nghiệm, những rung động về huyền nhiệm cuộc sống, về những giá trị linh thiêng ngay trong những thực tại của đời thường. Chúng ta cứ đ̣i gặp Chúa măi ở nơi đâu cao xa huyền bí, nhưng lại không thấy Chúa nhập thể nơi những người anh em của ḿnh, nơi những người quá quen thuộc hằng ngày ḿnh gặp gỡ. Đôi khi quá thiêng liêng nên bản thân cũng miễn chước cho ḿnh những cung cách cư xử nhân bản, những tương quan tế nhị giữa người với người. Vô t́nh, tôi đang giải trừ huyền nhiệm Thiên Chúa làm người một cách nào đó mà tôi không biết.
Và điều cuối cùng nhắc nhở cho chính bản thân, nếu không phản tỉnh th́ hố thẳm chênh lệch giữa việc bồi bổ tri thức và rèn luyện tâm linh sẽ ngày càng thăm thẳm. Rốt cuộc, khi phải đối đầu với những sóng gió của cuộc sống, vớí những thất bại, những cám dỗ, người môn sinh dễ buông lỏng tay chèo, thất vọng, hoang mang. Có lẽ nếu mượn câu thơ của thi hào Nguyễn Du mà ví von lúc này cũng có thể diễn tả được điều ǵ đó:
“Thiện căn ở tại ḷng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
Kết luận
Có lẽ chúng ta thường tự hào về Ḍng có thánh tiến sĩ Thomas Aquinô, niềm tự hào này là xác đáng. Nhưng chúng ta đừng quên rằng ngoài bộ óc thông thái của một bậc tiến sĩ, ngài là một tu sĩ thánh thiện, chan ḥa đời sống tâm linh. Những kiến thức siêu vời ngài đă học được chính dưới chân thập giá. Chính ḷng khao khát, khắc khoải kiếm t́m, không những thánh Thomas, nhưng chúng ta c̣n có cả một đám mây nhân chứng những vị thánh trong Ḍng, đă đi trọn hành tŕnh kiếm t́m và đă gặp gỡ được Thiên Chúa.
Xin trích dẫn tâm t́nh của thánh Âutinh như chắp cánh cho những khát vọng Thiên Chúa của chúng ta vươn lên măi: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con, và ḷng con khao khát Chúa cho đến măi khi nào được nghỉ an trong Ngài”.