LỊCH SỬ LINH ĐẠO

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

Những tài liệu sử dụng trong giáo tŕnh Linh Đạo Sử 1-2 này, đại bộ phận được trích dịch, nhưng cũng có bài được biên soạn.

1. Phần trích dịch trong quyển La Spiritualité Catholique của Jean Gautier.

2. Linh đạo Tin mừng do tu sĩ Vinh sơn Trần văn Bằng soạn.

3. Linh đạo Lasan do Sư huynh Phan Văn Chức soạn

4. Linh đạo theo anh Charles de Foucauld do anh Tiểu đệ Hoàng Yên soạn.

5. Linh đạo Prado do Đức cha Alfred Ancel soạn.

6. Linh đạo theo Đức Gioan XXIII do linh mục Fx. Nguyễn Hữu Tấn soạn.

 

Tp Hồ Chí Minh, Hè 90
           

NHẬP ĐỀ

 

I. LINH ĐẠO LÀ G̀ ?

1. Theo nghĩa tiẾng.

Đạo là đường hay nói cách thực tiễn, là phương thế thích hợp giúp đưa đến mục đích mong muốn. Chữ “Linh” được giải thích linh thiêng, tức là đời sống thiêng liêng, nhưng đó là “một kiểu nói mông lung trống không trực tiếp gợi nhớ tới Thánh Linh (hay Chúa Thánh Thần) chút nào, trong khi lẽ ra phải gọi là “đời sống linh thuộc” với chữ “Linh” viết hoa, có nghĩa đời sống lệ thuộc vào Chúa Thánh Linh, do Chúa Thánh Linh hướng dẫn hoặc đời sống của chính Thánh Linh ở trong tâm hồn”

(thơ giới thiệu của Đức TGM Nguyễn Văn B́nh, trong “Linh đạo về Chúa Cha, tập I in ronéo, Tp Hồ Chí Minh, 1989, trang 7).

2. Theo nghĩa chung.

Linh đạo là sự hiểu biết con đường hoàn thiện và cách
sử dụng các phương thức dẫn đến mục tiêu nói trên. Hay nói cách khác, linh đạo học, hay là thần học linh đạo là một bộ môn của phân khoa thần học đề cập đến sự hoàn thiện : đến với Chúa Cha qua Chúa Giêsu, nhờ Chúa Thánh Thần cuộc sống lư tưởng của mọi kitô hữu hay mọi loại kitô hữu và đồng thời chỉ cho họ
con đường phải đi để đại tới lư tưởng đó.

3. GiỜ đây ta nên phân tích quan niệm khái quát trên hẦu có thỂ hiỂu thẤu triệt hơn :

- Đă gọi là một bộ môn thuộc phân khoa thần học, v́ chúng ta biết trong phân khoa này gồm có nhiều bộ môn :
thần học Tín lư, thần học Luân lư, thần học Thánh kinh, thần học Phụng vụ, rồi gần chúng ta hơn có thần học Giải phóng, thần học Hy vọng, thần học Á châu, thần học Phi châu.

Tuy nhiên thần học Tín lư và Luân lư là hai bộ môn
thiết thân với môn thần học Linh đạo. V́ “môn linh đạo không phải là một cấu trúc ít nhiều có tính cách lư thuyết, trừu tượng, thúc bách và vơ đoán do trí tưởng tượng tạo ra.

Quả thực, Linh đạo học mượn lấy nhựa sống trong phần Tín lư Kitô. Từ ngữ này chỉ những căn bản rút ra từ Tin mừng được Thánh truyền minh xác, đôi khi lại được Huấn quyền của Giáo hội công bố là tín điều. Việc tiến đến sự trọn lành vốn là
lẽ sống của linh đạo; đ̣i hỏi chẳng hạn phải biết Chúa Ba ngôi, nguyên thủy và cứu cánh của chúng ta, mà chúng ta phải hướng đến và chúng ta sẽ được hưởng trên trời; phải biết Chúa Giêsu Kitô, là “Đường đi là Sự thật và là Sự sống” và chúng ta phải kết hợp với Ngài để đi đến Chúa Cha và nhờ sự trợ giúp của ân sủng, chúng ta phải noi giữ những nhân đức của Ngài.

Linh đạo c̣n dựa trên đạo đức học (luân lư). Đạo đức tŕnh bày những giới luật mà chúng ta phải tuân theo để có được và duy tŕ đời sống siêu nhiên trong linh hồn. Dĩ nhiên là chúng ta không thể thực thi sự kết hợp thật sự với Thiên Chúa nếu chúng ta bỏ qua những giới răn của Ngài đă đích thân ban hành cho chúng ta hoặc ban hành qua trung gian Giáo hội. Linh đạo tuy phát xuất từ Tín lư và đạo đức nhưng thực chất vẫn khác biệt với hai bộ môn ấy”. (Jean Gauthier, Linh đạo Công giáo, Le Rameau, Paris 1953 trang ).

Linh đạo bao giờ cũng thay đổi với tâm lư năo trạng con người tùy thời đại. Vậy thử hỏi trong linh đạo yếu tố nào thay đổi được, yếu tố nào là bất di bất dịch. Linh đạo học gồm hai yếu tố :

- Yếu tố chính : cũng gọi là yếu tính, là mục đích của linh đạo vượt không gian và thời gian nghĩa là không thay đổi, đó là sự hoàn thiện căn cứ trên ḷng “yêu mến”.

- C̣n yếu tố phụ : là những phương tiện thích nghi giúp con người đạt đến mục đích th́ hoàn toàn thay đổi được, thêm bớt được trong thời gian và không gian. V́ thế mới phát sinh linh đạo Biển đức, linh đạo Cát minh, linh đạo Đa minh, linh đạo Phan sinh...

II. LỊCH SỬ LINH ĐẠO

Thần học linh đạo cũng có lịch sử riêng của nó, nếu xét về khía cạnh thời gian, người ta sẽ bàn đến :

- Linh đạo tiên khởi, gồm thời Chúa Cứu thế, thời các thánh Tông đồ và các thánh phụ từ thế kỷ I đến thế kỷ VII.

- Linh đạo thời Trung cổ (VIII - XV)

- Linh đạo thời Cận đại (XVI - XVIII)

- Linh đạo thời Hiện đại (XIX - XX)

C̣n đứng về không gian mà nghiên cứu th́ chúng ta sẽ thấy có nhiều linh đạo do những vị thánh hay các nhà đạo đức ở nơi này chốn nọ đă đề xướng phương thức sống đạo cho bản thân ḿnh và sau này có những thế hệ con tinh thần tiếp tục sinh hoạt cho đến ngày nay :

- Linh đạo Biển đức ở Ư đại lợi

- Linh đạo Phan sinh ở Ư đại lợi

- Linh đạo Đa minh ở Tây ban nha

- Linh đạo Cát minh ở Tây ban nha

- Linh đạo Y nhă ở Tây ban nha

- Linh đạo Salêsianô ở Pháp quốc

- Linh đạo Lasan ở Pháp quốc

- Linh đạo Prado ở Pháp quốc

- Linh đạo Charles de Foucauld ở Pháp quốc

- Linh đạo Gioan XXIII ở Ư đại lợi

Trong giáo tŕnh này, v́ thời gian cấp bách chúng ta chỉ đề cập đến lịch sử linh đạo trên địa hạt không gian, tuy cũng có dính dấp về phương diện thời gian, tức là linh đạo thuộc các trường phái.

 

 

 

 

 

Tập Một:

 

LINH ĐẠO
THỜI KỲ ĐẦU TIÊN CỦA GIÁO HỘI

 

(Từ thế kỷ I đến thế kỷ V)

Chương Một:  LINH ĐẠO SỬ QUA TIN MỪNG

 

Nói đến linh đạo của Chúa Kitô theo Tin mừng, chúng ta không thể đề cập đến tất cả được; ở đây chúng ta chỉ chú ư đến cách riêng những điểm căn bản, nền tảng của linh đạo mà Chúa Kitô và các thánh Tông đồ đă rao giảng và để lại cho Giáo hội.

 

A. Linh đẠo theo Tin mỪng “NhẤt Lăm” [1]

Chúa Giêsu giảng dạy nhiều, nhưng Ngài không chú ư dạy một giáo khoa tu đức nào cả. Ngài vạch cho thính giả một con đường cụ thể để sống tùy theo cảnh huống đ̣i buộc. Ngay cả thánh Tông đồ cũng không cố gắng tổng hợp lại giáo lư của Thầy. Các ngài chỉ biên chép lại những lời Thầy dạy thôi. V́ thế có nhiều nơi trong Tin mừng chúng ta gặp những lời khuyên cuộc sống toàn thiện đặt liền với những yêu sách nhiệm vụ chính yếu của kitô hữu. Nhưng Truyền thống Công giáo đă phân biệt rơ ràng những lời Thầy dạy về tu đức, những ǵ liên hệ tới cuộc sống toàn thiện và những ǵ liên hệ tới cuộc sống luân lư Phúc âm.

Và tất cả giáo lư Tin mừng được tóm lược trong lời này: “Ai muốn theo Thầy (làm môn đệ Thầy) hăy bỏ ḿnh vác thánh giá mỗi ngày và theo Thầy” [2].

Tất cả cuộc sống kitô hữu và tất cả con đường hoàn thiện ở tại hai trạng thái như hai điều kiện căn bản liên hệ tới nhau : Bỏ ḿnh và bắt chước Chúa Kitô. Càng bỏ ḿnh, càng sát gần Giêsu. Và điều kiện bảo đảm hai trạng thái trên là hăy tỉnh thức
cầu nguyện. [3]

a/ Bỏ ḿnh cũng có nhiều cấp bậc :

- Với mọi người, nên từ khước sự ham chuộng không đứng đắn những tạo vật có thể làm ta vấp ngă nặng nề, xa t́nh yêu Chúa, làm sứt mẻ t́nh yêu giữa con và Cha.

- Với các tâm hồn được gọi tới toàn thiện cần phải từ khước không những những  ǵ không nên, mà c̣n ngay cả những ǵ cho phép.

Nếu giữ Luật Chúa mà thôi là để được cứu rỗi, nhưng muốn toàn thiện càng đi xa hơn nữa :“Nếu con muốn toàn thiện, hăy đi bán của cải, cho người nghèo khó, sẽ được nguồn lợi trên trời. Rồi đến theo Thầy”[4]

Sự toàn thiện Phúc Âm c̣n đ̣i hỏi sự hy sinh đừng quá dính bén gia đ́nh, dính bén cái “tôi”, nhưng c̣n đón nhận mọi khó khăn trong cuộc sống ḿnh và theo bước của Thầy Chí thánh[5]

Sự bỏ ḿnh được thể hiện dưới nhiều h́nh thái, nhưng
đặc biệt qua cuộc sống t́nh cảm : khước từ sự vui thỏa sinh lư : sống tinh khiết; khước từ mọi sự : như thánh Jérôme và thánh Ambrôsiô đă quả quyết :” Chóp đỉnh của công việc Tông đồ và
sự toàn thiện là bán tất cả hữu sản ḿnh và phân phát cho người nghèo khó rồi nhẹ nhơm tự do bay về trời với Chúa Kitô” [6]Chúa Giêsu không thích sự “do dự” [7]Do dự là dấu chưa thích hợp với ơn gọi đồ đệ Chúa[8].

Nhưng cứ nh́n qua Tin mừng, th́ ít người được toàn thiện quá chỉ có một nhóm nhỏ thôi- như vậy c̣n toàn dân Chúa không thể đạt tới toàn thiện sao ? Không, các nhà tu đức và nhất là Phanxicô Salêsiô đă quả quyết :“Bất cứ cảnh huống nào, chúng ta có thể và nên ao ước sự toàn thiện”[9].

Công Đồng Vatican II qua Hiến chế “Ánh sáng muôn dân” nhắc lại chân lư đó :“Chúa giảng sự thánh thiện cho mọi người và kêu gọi mọi người, không phân biệt cảnh huống, nên toàn thiện như Cha chúng con ở trên trời. Bởi v́ Cha gởi Thánh Linh đến với hết mọi tâm hồn và khích lệ mọi người cách thầm kín “yêu mến Chúa hết ḷng, hết linh hồn và hết sức hết tâm trí”[10], và yêu nhau như Chúa Giêsu đă yêu[11]. Mọi người phải nên thánh và có thể nên thánh, nên toàn thiện.

b/ Nhưng Chúa gọi ta từ khước tất cả, ngay cả chính ḿnh để làm ǵ?

Tự nó, sự từ khước chính ḿnh, từ khước tất cả không phải là sự toàn thiện, không phải là thánh. Nhưng nó cần phải được thông hiệp với Chúa Kitô bằng t́nh yêu, bằng theo gương các nhân đức. V́ từ khước tất cả ngay chính cái tôi mà không phải để theo Chúa Kitô, th́ thế nào cũng v́ một lư do nào khác, v́ một người nào khác. Như vậy chưa phải là lư tưởng của môn đệ.

Các Tông đồ từ khước tất cả v́ để theo Thầy.

V́ thế, từ khước là một điều kiện để thánh hóa bản thân và là một phương thế chứ không phải là cùng đích của sự toàn thiện.

Một khi đă nhắm cùng đích rơ rồi th́ chỉ c̣n một điều kiện :

Càng nên từ khước để càng theo sát Thầy.

Người môn đệ theo Thầy sát hơn người khác nên càng
chia sẻ những thầm kín của Thầy nhiều hơn, nhất là gương yêu mến và các thử thách.

Sự toàn thiện chính yếu là yêu mến, yêu mến nồng nàn[12].

Chính động lực đó, tâm hồn nhận tất cả mọi thử thách, “Fiat” luôn như Chúa Kitô trong vườn Cây Dầu[13].

Đây là lư tưởng của tâm hồn muốn theo Thầy :“Sống là để phục vụ chứ không phải là để được phục vụ”[14]. Môn đệ phải tập sống như Thầy : nh́n người đau yếu, nghèo khó là chi thể Chúa Kitô. Chúa Kitô muốn đồng nhất ḿnh với tha nhân[15].T́nh yêu đối với Chúa và t́nh yêu đối với tha nhân nh́n dưới một khía cạnh nào đó, khía cạnh khẩn thiết như phải đồng nhất. Chúa nhấn mạnh và đi sâu vào chi tiết của vấn đề : từ tha thứ đến làm ơn, làm phúc, để rồi đi tới điểm tột đỉnh là không phân biệt người tốt hay xấu, lành hay dữ. Chúa bảo thương th́ cứ thương như Chúa thương và thương như Chúa muốn. V́ Cha cũng thương tất cả “mưa xuống trên cả người lành và dữ”[16].

Chúa Kitô không phải chỉ dạy suông môn đệ yêu mến Cha và anh chị em như chính ḿnh nhưng Ngài cũng cho phương pháp để thực tập yêu mến.

Phương thế để dễ thực thi yêu mến tha nhân là :“Khiêm nhượng”[17]. Chính khiêm nhượng giúp ta không tự tôn, tự cao, nh́n thấy “cái tôi” của ḿnh. Nhờ đó ḿnh dễ liên lạc với người khác và người khác cũng cảm thấy dễ đến với ḿnh.

Chúng ta có thể tóm lược linh đạo theo Tin mừng Nhất lăm :

- Muốn làm Tông đồ phải từ khước và theo Thầy.

- Theo Thầy thế nào cũng có thử thách để lành mạnh và trưởng thành thánh hóa đời sống t́nh yêu Chúa và tha nhân. Để đạt tới đích cần khiêm tốn.

Tông đồ “Từ khước và theo Thầy”

Từ khước Theo Thầy

Theo Thầy Yêu mến Chúa + tha nhân

Yêu mến Chúa + tha nhân + Khiêm nhường

B. Linh đạo theo Tin mừng thánh Gioan.

Các nhà thần học thường gọi thánh Gioan là một nhà thần bí, và Tin mừng của ngài là Tin mừng của cuộc sống nội tâm. Đề tài chính yếu của Tin mừng Gioan là sự sống thông hiệp giữa Chúa Kitô với con người[18].

“Theo Thầy ” : làm môn đệ Thầy, thuộc về Thầy đă được thánh Gioan xác định rơ ràng và có vẻ mới hơn Tin mừng Nhất lăm.

- Thánh Gioan đặt tất cả lư tưởng của một môn đệ Chúa Kitô ở tại sống mật thiết với Thầy, đồng nhất với Thầy.

Muốn mau đạt tới toàn thiện , lư tưởng của môn đệ Thầy, càng phải sống với Thầy nhiều.

Sống với Thầy bằng cách nào ?

Bắt đầu bằng Đức tin qua Bí tích Rửa tội. Qua Bí tích này tâm hồn môn đệ bắt đầu gặp Thầy để trao trọn cho Thầy và có thể được đổi mới, không phải đổi bên ngoài nhưng bên trong, trước hết là bắt đầu cuộc sống thông hiệp giữa Chúa Kitô với môn đệ như cây nho và cành[19].

- Nhưng người môn đệ không được dừng lại ở đây, người môn đệ cần sống động hơn, kết hiệp mật thiết hơn qua Bí tích Thánh Thể.

Chính Bí tích này, nhờ chịu lễ, môn đệ sẽ được đồng hóa với Chúa Kitô, không những thông hiệp với Chúa Kitô ở trong môn đệ và môn đệ ở trong Chúa Kitô ; có một sự đồng hóa trong hai người như trong Ba Ngôi vậy :“Như Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy”[20].

Chính nhờ sự thông hiệp với Chúa Kitô trong khi chịu lễ, tâm hồn môn đệ mới cảm được cuộc sống t́nh yêu và bắt đầu sống mật thiết cuộc sống t́nh yêu.

- Và đi đến giai đoạn thứ ba là tâm hồn cần ở lại trong t́nh yêu Chúa.

Nhưng làm sao để bảo chứng rằng ḿnh ở trong t́nh yêu Chúa và Chúa ở trong t́nh yêu ḿnh. Đó là giữ các giới răn của Thầy[21].

Đó là bằng chứng cụ thể của môn đệ đối với Thầy.

Trong lúc này, môn đệ không những được yêu mến, nhưng c̣n được mạc khải những bí mật của t́nh yêu nữa[22].

Và tới giai đoạn này là môn đệ có thể đạt tới ước nguyện của ḿnh : sống mật thiết với Ba Ngôi[23].

Từ giai đoạn thứ ba này, môn đệ tràn đầy diễm phúc v́ thực là người thân yêu của Chúa Kitô :

Bản thân được thánh hóa thực là đền thờ của Ba Ngôi, trở thành một cái ǵ thánh, linh thiêng.

Từ đó, có một t́nh thân với Chúa Ba Ngôi như người con yêu mến .

Từ đó môn đệ xin ǵ nhân danh Thầy đều được cả.

Từ đó, môn đệ thực sự là ánh sáng muôn dân[24].

Từ đó, môn đệ cũng dễ tiến trên đường tu đức, có nhiều nhân đức, không c̣n đi trong bóng tối sự dữ..., v́ ai thích sự dữ th́ không có ánh sáng[25].

Sau khi đă yêu mến thông hiệp với Chúa được như thế, tâm hồn tận hiến cũng dễ yêu mến tha nhân.

V́ ư thức rằng
yêu mến tha nhân là yêu mến Chúa. Yêu mến ở đây theo ư Chúa Kitô, phải là một t́nh yêu khác t́nh yêu tự nhiên của người đời : yêu kẻ yêu ḿnh, yêu người ḿnh thích mà thôi. Không, t́nh yêu của môn đệ, phải là t́nh yêu cao vời hơn, nghĩa là Chúa Kitô là tất cả.

Yêu anh em trong Chúa Kitô.

Yêu anh em v́ Chúa Kitô muốn thế.

Đến đây ta có thể tóm lược lư tưởng của môn đệ Chúa Kitô, của tâm hồn tận hiến được diễn tả qua cây bút của thánh Gioan.

- Môn đệ phải yêu mến Chúa, v́ chính Ngài đă yêu mến ta trước[26].

- Hoa trái của t́nh yêu mến Chúa trước hết là : Chúa ở trong ta, thứ đến ḷng tin tưởng đặc biệt, ḷng tin tưởng của con cái vào Cha, không có sợ sệt tôi đ̣i[27].

Dấu hiệu để kiểm chứng ta đă yêu mến Chúa chưa, là chúng ta có giữ giới răn của Chúa chưa, đặc biệt là giới răn tin vào Chúa Giêsu và yêu mến anh chị em[28].

Thực thi bác ái với anh em là dấu chỉ chắc chắn bảo đảm cuộc sống ơn thánh trong ta [29]và cũng là dấu chỉ thực của
môn đệ Chúa, tâm hồn tận hiến cho t́nh yêu.

 

C. Linh đạo theo thánh Phaolô Tông đồ

 

Linh đạo thánh Phaolô cũng theo một kim chỉ nam của Thầy Chí thánh, nhưng được nhấn mạnh trên hai lề luật quan trọng của cuộc sống thiêng liêng : chế ngự các khuynh hướng xấu và cuộc sống kết hợp mật thiết liên lỉ với Chúa Kitô.

- Theo thánh Phaolô, hai luật trên là con đường chắc chắn để đi tới toàn thiện. Đó là khuôn vàng thước ngọc của tư tưởng, cảm t́nh và tác động chúng ta; hay nói cách khác đó là kim
chỉ nam cho linh đạo tu sĩ chúng ta.

Abneget semetipsum et sequatur me.

Thánh Phaolô rút từ kinh nghiệm bản thân đă xác tín rằng trong con người chúng ta luôn luôn có sự tranh chấp giữa con người hạ đẳng và con người thượng đẳng[30].

Sau khi nhận Bí tích Thánh Tẩy, con người nhận thêm một cuộc sống mới, một con người mới được ráp vào Chúa Kitô sống lại, nên từ nay không c̣n chết nữa.

- Nền tảng quan điểm tu đức của thánh Phaolô ở tại : con người nhờ Bí tích Thánh Tẩy đă tham dự vào sự chết và sống lại của Chúa Kitô.

Khi đă nhận Bí tích Thánh Tẩy, trong ta, con người cũ và con người mới luôn có xích mích, có xung đột. Nhưng cần phải thắng con người cũ v́ người kitô hữu có ơn thánh. Tất cả sự thành công hay không trên con đường toàn thiện cũng ở tại cuộc tranh đấu này. Mức độ của toàn thiện được đo lường bằng những chiến thắng
vẻ vang của người mới trên người cũ.

Linh đạo Phaolô rất sâu rộng, chúng ta không thể đi vào mọi chi tiết được, chỉ ghi nhận những điểm quan trọng sau đây :

- Ư niệm về thể xác (con người cũ) đối diện với tinh thần (con người mới).

- Con người mới ở tại đâu.

- Nền tảng của tất cả cuộc sống : sự thông hiệp của
con người với Chúa Kitô trong Thánh Linh.

1. ThỂ xác vỚi tinh thẦn.

a/ Khi nói tới thể xác, thánh Phaolô muốn hiểu ở đây với nghĩa cụ thể là bản tính tự nhiên con người hôm nay đây chứ không phải thế hệ nào xa xôi cả, là cái bản tính bị tội lỗi làm
tổn thương hoen ố, bị nhục t́nh làm hư hại rồi đó. Khi nói tới
thể xác (corps) hay (chair), thánh Phaolô thấy đối thủ của nó ngay, đó là tinh thần (esprit) là con người mới, con người được sinh ra bởi ân sủng.

Đối với ngài, thể xác hay con người cũ là nguyên nhân của mọi tội lỗi và của sự chết. Và v́ thế có tranh chiến âm thầm liên lỉ trong ta giữa con người cũ và con người mới, hay giữa thể xác và tinh thần.[31]

b/ Khi đă ư thức nền tảng rơ ràng như vậy rồi, người tín hữu, môn đệ Chúa Kitô phải tranh đấu, phải canh pḥng đừng sống theo thể xác nhưng theo tinh thần. Nếu không, không những không đạt tới toàn thiện mà c̣n có thể mất Nước trời[32].

Môn đệ Chúa luôn luôn phải tỉnh thức với thể xác để sống với tinh thần, v́ mặc dù nhờ Bí tích Thánh Tẩy, trong lư thuyết các khuynh hướng xấu có thể bị tiêu diệt, nhưng trong thực tế chúng cứ ló đầu lên măi. Nên sẵn sàng chà nát đầu nó, đừng để cho nó đưa đầu lên được[33].

Như thế điều kiện trước hết của môn đệ không những
ư thức trận chiến âm ỉ liên lỉ trong ḿnh, nhưng c̣n phải là một chiến sĩ của thể xác nữa[34]nghĩa là hăy canh pḥng với chú bé
thể xác của ta. C̣n canh pḥng chủ nó nữa là bác quỉ kia, mà thánh Phaolô cho một cái tên dịu dàng là “lăo cám dỗ”[35]. Chưa đủ, thằng bạn của Satan nữa cơ, đó là thế gian, những ǵ làm ta bất tuân Cha và nghe theo dục vọng. Môn đệ phải tỉnh thức, không được yêu thế gian theo hướng dẫn của Satan; nếu không sẽ mất t́nh yêu của Cha.

Điều kiện khi giao tranh : trước hết, khi giao tranh ta luôn tin tưởng bao giờ cũng có ơn thánh với ta và thế nào ta cũng thắng xác thịt, Satan và thế gian. Thứ đến, cần cầu nguyện nhiều[36].

2. Tinh thẦn là con ngưỜi mỚi.

Thánh Phaolô phân biệt rơ ràng xác thịt và tinh thần, và ảnh hưởng của hai bên. Tinh thần, đối với ngài, là con người sống dưới ảnh hưởng của Thánh Linh; c̣n xác thịt là con người không có Thánh Linh[37].

 

a/ Con người và Thánh Linh.

Chân lư căn bản của linh đạo Phaolô là con người, nhờ Bí tích Thánh Tẩy, đă được nhập vào chi thể Chúa Kitô, trở thành chi thể của nhiệm thể Ngài, tức là Giáo hội, và thông hiệp với Chúa Kitô như chi thể với đầu. V́ thế :

Thánh Linh là linh hồn của Giáo hội, v́ chính Ngài linh động, hướng dẫn Giáo hội. Cũng v́ thế, chính Thánh Linh là linh hồn của linh hồn chúng ta; Ngài ở trong ta, Ngài thánh hóa chúng ta, nghĩa là Ngài hành động trong ta, dạy vẽ cho ta hành động cách siêu nhiên. Ngài không những chiếm hữu tâm hồn ta, nhưng Ngài c̣n là động lực của tâm hồn ta, Ngài điều khiển và giúp hồn ta chiến thắng xác thịt. Chính Ngài đưa ta đến gần Cha và
giao kết ta lại với Cha bằng t́nh yêu phụ tử để ta bạo dạn gọi Thiên Chúa là Cha[38].

Chính Thánh Linh hướng dẫn ta không những gọi tên Cha, nhưng cũng dạy ta bập bẹ tập nói rồi tâm sự với Cha, như người mẹ bày vẽ cho con nói cùng ba, để ba vui ḷng và chấp nhận
tâm sự của ta[39].

Hơn nữa, từng giây phút, Thánh Linh không những hướng dẫn, c̣n khích lệ ta tiến bước trên đường tu đức[40].

Để rồi cuối cùng chính Ngài cải đổi, canh tân cả con người của ta, hầu ta trở thành thực là những con người mới, con người thiêng liêng, con người tinh thần, để có thể thông hiệp mật thiết với Chúa Kitô như cành nho với cây nho của thánh Gioan Tông đồ [41]
để ta sống một sự sống và một sức sống của Chúa Kitô một cách sung măn mà chính Thiên Chúa, Cha chúng ta, đă ban cho chúng ta qua Bí tích Thánh Tẩy, và đó chính là lư tưởng của môn đệ Chúa.

b/ Con người và Chúa Kitô

Nhờ Bí tích Thánh Tẩy, con người đă được nối kết với Chúa Kitô cách mật thiết mà thánh Phaolô ví như sự liên kết giữa đầu và các chi thể, như cành và cây ([42]nghĩa là chúng ta được sống bằng một mạch và một sức sống với Chúa Kitô, thực sự “chúng ta đă được đâm rễ và lớn lên trong Ngài”[43].

Nhờ cùng mạch sống đó, người kitô hữu được đồng hóa càng ngày càng phong phú với Chúa Kitô qua trung gian của Thánh Linh. Làm cho ta trở nên đệ nhị Kitô (Alter Christus). Đến nỗi những mầu nhiệm của cuộc sống Chúa Kitô cũng sinh hoa kết quả cách linh thiêng trong ta, đặc biệt là mầu nhiệm sự chết và sống lại.

Chúa Kitô đă sống lại, đă thoát khỏi sự lệ thuộc của xác phàm, tượng trưng của tội lỗi, và từ đây Ngài sống trong sự vinh quang, mặc dù có thân xác nhưng không phải là thứ thân xác mục nát kia. Cũng thế, qua Bí tích Thánh Tẩy, chúng ta có một cuộc sống mới : chết cho tội lỗi và sống cho Chúa trong Đức Kitô. Đó là ư nghĩa của tâm hồn tận hiến.

Đối với thánh Phaolô, sự canh tân là một sự chết cho tội lỗi và dục t́nh.

Mầu nhiệm “chết” này bắt đầu với Bí tích Thánh Tẩy và tiếp tục với Bí tích Thánh Thể. Người kitô hữu ăn bánh và uống chén mầu nhiệm cứu chuộc, chính là chịu lấy hiến lễ của
Thánh giá.

Nếu đă tham dự vào sự chết của Chúa Kitô th́ người kitô hữu cũng sẽ tham dự vào sự sống lại với Chúa Kitô : người kitô hữu có một cuộc sống mới giống h́nh ảnh Chúa Kitô sống lại.  Chúa Kitô sống lại không c̣n chết nữa, người kitô hữu cũng thế, được tái sinh một cách mầu nhiệm với Chúa Kitô, không phải chết nữa, nghĩa là người kitô hữu cần cố gắng sống tránh các sự dữ : chúng ta không thuộc về thế gian tội lỗi nữa, nhưng là dân Nước Trời. Người kitô hữu phải sống bằng cuộc sống dân Nước trời, bằng tâm trí của Chúa Kitô : chỉ t́m các hữu thể trên trời, t́m ánh sáng ([44]Nhờ đó, chúng ta không quá lo lắng với cuộc sống hiện tại; trái lại, lợi dụng nó cho cuộc sống tương lai : đôi mắt cứ nh́n về cuộc sống tương lai, nh́n về vinh quang muôn thuở[45]. Và từ đây không ǵ ở trần thế có thể phân ĺa môn đệ ra khỏi Thầy được[46].

3. Nền tảng của cuộc sống thông hiệp với Chúa Kitô trong Thánh Linh

Sau khi đă tŕnh bày cho ta thấy chân lư căn bản của đời kitô hữu, sự phong phú nơi môn đệ Chúa Kitô trong cuộc sống liên kết với Chúa Kitô nhờ Thánh Linh, thánh Phaolô c̣n nhấn mạnh : ta không được dừng ở đây để chiêm ngưỡng chân lư xinh đẹp đó, nhưng c̣n phải bắt tay vào việc, hăy sống, hăy sống với mầu nhiệm thánh hóa đó để đi đến toàn thiện, để thực sự là môn đệ của Chúa. Thánh Phaolô nhắc lại nhiều lần rằng đă được Thiên Chúa định thế nhờ Chúa Thánh Linh với h́nh ảnh Chúa Kitô rồi, chúng ta cần phải sống làm sao để thể hiện được mầu nhiệm h́nh ảnh Chúa trong ta.

Tất cả công tŕnh thánh hóa của ta không có ǵ khác là minh chứng mầu nhiệm kỳ diệu đó. Nói cách khác, nhờ ơn thánh người kitô hữu đă được đồng hóa với Chúa Kitô, đă là con của Cha, là em của Chúa Kitô, người kitô hữu c̣n có nhiệm vụ thích nghi cuộc sống ḿnh với nếp sống của Ngài và tập sống như Ngài. Bao lâu nếp sống của ta chưa nói lên được cuộc sống của Chúa Kitô, bấy giờ ta chưa phải là môn đệ của Thầy, và thánh Phaolô c̣n cho rằng ta đă bất trung với ơn gọi.

Nhưng muốn là h́nh ảnh Chúa Kitô, chúng ta phải có một kim chỉ nam rơ ràng, một đường hướng chắc chắn, không mông lung. Ngài khuyên ta hăy bắt đầu từ nội tâm trước, xă hội sau.

Trước hết là phải tập sống với Chúa Kitô, mới hiểu Ngài là ai, mới cảm nghiệm được cuộc sống của Ngài, ta mới bắt chước được. Nếu không chỉ là do tưởng tượng của ta, do sở hiếu của ta, và để rồi cuối cùng ta giống ta chứ không phải là Chúa Kitô. Cuộc sống của Chúa Kitô phải là cuộc sống của ta, hai nhưng là một ([47]Nhờ đó, chúng ta mới mặc lấy những tư tưởng, lời nói, tác đồng của Chúa Kitô được. Chúng ta đừng có chủ trương yêu mến dấn thân vào xă hội nhưng tâm hồn rỗng tuếch : đối với Chúa Kitô nếu không xa lạ, th́ cũng chả có ǵ là tha thiết, th́ hăy coi chừng kẻo té, không thể chu toàn sứ mệnh một kitô hữu được, khó mà đạt tới thánh thiện như ư muốn[48].

Nhờ sống với Chúa Kitô, chúng ta mới cảm nghiệm được tâm tư của Ngài để mà sống theo Ngài. Và đối với thánh Phaolô, muốn làm môn đệ Chúa Kitô, muốn tiến đến toàn thiện, trước hết hăy tập sống những tâm tư của Chúa; rồi các tác động bên ngoài. V́ tác động bên ngoài chỉ là biểu hiệu tâm tư bên trong. Phải tập suy tư như Chúa Giêsu, mới mong thực hiện như Ngài. Chớ vội hành động bên ngoài, khi chưa biết suy tư hay có những tâm tư của Chúa Kitô. Điều kiện cần thiết trong khi thực tập thánh thiện là tập hiệp nhất, phù hợp tâm t́nh chúng ta với tâm t́nh của Chúa Kitô, nhất là sự khiêm cung [49]Càng thực tập theo Chúa Kitô từ tâm tư đến hành động sẽ giúp ta đồng nhất với Chúa để thực sự “không phải là tôi sống nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi”[50].

Nhưng không phải dễ đâu. Thánh Phaolô bảo chúng ta phải cầu nguyện luôn và hăy nhận thức rằng : với ơn Chúa ta có thể tiến được và tiến dần dần. Càng thông hiệp với Chúa Giêsu, ta càng tiến đến toàn thiện. Nếu trên con đường toàn thiện, có nhiều chặng đường, trong phạm vi đồng nhất với Chúa Kitô cũng thế. Và người toàn thiện là người đă sống phong phú cuộc sống của Chúa Kitô và gần gũi Ngài hơn cả. Thực là bạn thân của Ngài[51]. Cứ tập đi sẽ thấy.[52]Con người thánh thiện và con người chiêm niệm chỉ là một. V́ con người thánh, theo thánh Phaolô, là con người “không phải tôi sống, nhưng chính Chúa Kitô sống trong tôi”, th́ sắc thái của kết hiệp thần bí cũng không ǵ khác là luôn cảm thấy sự hiện diện của Chúa trong ta.[53]

Một khi đă đạt tới sự kết hợp với Chúa Kitô, môn đệ Chúa hăng say dấn thân thi thố đức ái, thương người. Thánh Linh sẽ không để cho yên đâu; không cần sự hô hào của Người, tận đáy ḷng có tiếng gọi ra đi phục vụ xă hội, giúp đỡ tha nhân. V́ cũng một Thánh Linh đó kết hiệp ta với Chúa Kitô cũng muốn ta liên kết với mọi người[54]. Đă sống với Chúa Kitô th́ cũng hoạt động như Ngài và cả cuộc đời của Ngài chỉ là thể hiện t́nh yêu của Cha đối với nhân loại nên ta cũng thế :“Anh em đă được Thiên Chúa chọn lựa, thánh hóa và yêu thương, anh em hăy mặc lấy ḷng thương xót, nhân hậu, khiêm cung, đơn giản, nhẫn nại, chịu đựng nhau, tha thứ cho nhau ... Chúa đă tha thứ cho anh em làm sao, anh em cũng thực thi như thế. Hăy đặt đức ái trên hết mọi sự, đó là dây buộc trọn lành”[55].

Trong mọi nhân đức xă hội, thánh Phaolô nhấn mạnh cách riêng đến đức ái, tiêu cực rồi tích cực. Ngài nhắc đi nhắc lại nhiều. V́ đối với ngài, môn đệ Chúa là người yêu mến; chưa biết yêu mến chưa phải là môn đệ Chúa Kitô ([56]hăy kính trọng nhau, chịu đựng nhau đó là điểm mà thánh Phaolô muốn lưu ư cách riêng, hầu như trong mọi lá thư của ngài có đề cập tới tuy với nhiều kiểu nói khác nhau. Rồi nhờ đó, tích cực hơn, đừng nh́n bên ngoài, đừng phân biệt cảnh huống, nếp sống của nhau. Với đức tin, hăy nh́n biết mỗi người chúng ta là chi thể của một nhiệm thể là Hội thánh và Chúa Giêsu Kitô là đầu. Cứ thương yêu nhau, đoàn kết với nhau đi ai cũng cần nhờ cậy người khác, tự ḿnh không thể đi tới cùng đích cuộc sống một cách hạnh phúc được[57].

Linh đạo thánh Phaolô dẫn ta đến t́nh yêu hoàn hảo, đức ái siêu việt : kết hiệp mật thiết với Chúa và đoàn kết với tất cả anh chị em. Càng yêu mến Chúa, càng dấn thân lo lắng cho xă hội, cho tha nhân. Tóm lại, tập yêu mến đi sẽ có mọi nhân đức, sẽ đi đến toàn thiện, sẽ thực sự là môn đệ của Chúa[58].

Nét đặc biệt của linh đạo thánh Phaolô là thực tế với thế giới vật chất. Ta phải sống với thế giới vật chất, phải lam lũ như ai, chứ không phải chỉ cầu nguyện và rao giảng Tin mừng, nhưng phải “tay làm hàm nhai”[59]. Nhưng khi làm việc đừng chỉ nhắm vào ham lợi vật chất, trước hết là làm v́ Chúa muốn, để sáng danh Chúa[60]Ngay khi dùng v́ nhu cầu cũng để sáng danh Chúa, c̣n không th́ đừng quá dính bén. Có như không có, dùng như không dùng.

 

D. LINH ĐẠO CỦA CÁC CỘNG ĐOÀN TIÊN KHỞI TRONG GIÁO HỘI

 

Theo đường hướng của Thầy Chí thánh Giêsu, các Tông đồ vạch lại con đường hạnh phúc, con đường mà các tâm hồn tận hiến muốn đi qua để đạt tới toàn thiện : yêu mến phong phú, hoàn hảo.

Chúng ta đă thấy ở trên, Chúa Giêsu cũng như các Tông đồ, có những tiêu chuẩn rơ ràng, sâu đậm, bảo đảm thực hiện cuộc sống đức ái hoàn hảo. Mặc dù khó, đối với bản tính tự nhiên, nhưng con người có thể theo những con đường đó để đi đến lư tưởng, nghĩa là có ơn Chúa, con người có thể làm được mọi sự như ư muốn.

Qua lịch tŕnh Giáo hội, chúng ta thấy tuy trong ba thế kỷ đầu chưa có những cộng đoàn tu sĩ thực danh, ngay giữa sa mạc cũng không, nhưng phải đợi tới thế kỷ IV, tinh thần tận hiến đă được biểu hiện qua những tâm hồn có nếp sống khác biệt quần chúng, có những sắc thái riêng tư muốn nói lên hoài vọng tận hiến cuộc đời cho Chúa bằng cách tích cực thực hiện phong phú các lời khuyên của Thầy Chí thánh trong Phúc âm.

Trước tiên, ngay thời các thánh Tông đồ, đă có tu hội ra đời, mặc dù không có tên, nhưng đă có những nét chính yếu nói lên lư tưởng đó : cộng đoàn tiên khởi ở Giêrusalem đă thực hiện cách công khai đức khó nghèo và tinh thần bác ái cộng đồng tận hiến[61].

Trong thời các thánh Tông đồ, đă có những tâm hồn, nhất là phái nữ, t́nh nguyện giữ đức trinh khiết để tự do phụng sự Chúa và phục vụ anh chị em.[62]Và cũng có những tâm hồn khác say sưa tận hiến cho Chúa, với ước ao đạt tới cuộc sống thiện hảo, mặc dù tu tại gia[63].

Để rồi tới cuối thế kỷ III, đời sống tu tŕ bắt đầu tăng trưởng mạnh mẽ, phong phú và sang thế kỷ IV, các tu viện h́nh thành.

Đây, chúng ta nghe tác giả của bức thư gởi Diognète đă diễn tả cách trung thực nếp sống của các tâm hồn tận hiến tiên khởi của Giáo hội và cũng là thực tại của các tu sĩ của hậu lai :

“Họ là những kitô hữu cũng không có ǵ khác mọi người, vẫn sống cùng lănh thổ với đồng bào, cùng sống cùng giao tế nói năng với đồng bào. Họ cũng không có phố xá riêng rẽ, cuộc sống họ không có ǵ kỳ cục khác biệt anh chị em khác... Cũng theo tập tục quê hương bản xứ, cũng ăn mặc như đồng bào; nhưng vẫn có một cái ǵ đáng kính phục, đáng chiêm ngưỡng nơi họ, làm mọi người bỡ ngỡ. V́ họ vẫn sống với bổn phận một công dân tại thế như đồng bào nhưng đồng thời cũng như người xa lạ, họ tham gia mọi sự với anh chị em đồng bào, nhưng vẫn chịu tất cả như đối với người xa lạ. Họ sống với thể xác nhưng không tùy thể xác, sống tại thế nhưng quê hương vĩnh cửu là Nước Trời; họ vâng phục mọi lề luật nhưng nếp sống của họ c̣n nhặt nhiệm hơn lề luật nhiều. Họ thương yêu mọi người nhưng mọi người muốn tẩy chay họ. Người ta muốn đừng biết tới họ, lên án họ..., nhưng cứ thấy họ và các tín hữu cứ tồn tại đông đúc. Họ nghèo thực, nhưng họ lại làm giàu cho mọi người khác; họ thiếu thốn mọi sự, nhưng nhu phẩm vẫn đến với họ. Người ta cứ chúc dữ cho họ, nhưng họ cứ chúc lành; người ta cứ ngược đăi họ, họ lại kính nể người khác. Họ làm phúc, lại bị hà hiếp như kẻ tội lỗi; người ta bàn tính giết hại họ, họ càng thêm vui mừng, v́ họ sẽ t́m thấy sự sống chân thực trong sự chết. Tâm hồn sống thế nào trong thể xác, th́ họ vẫn sống trong xă hội loài người như vậy”.[64]

Origène mới tả sơ qua về cuộc sống kitô hữu muốn đạt tới toàn thiện. Chúng ta càng cảm thấy ư nghĩa sâu đậm chừng nào khi bàn tới đời tận hiến với thực tế cuộc sống trong các thế kỷ đầu.

Giai đoạn khởi đầu :

Trong ba thế kỷ đầu, có nhiều tâm hồn tín hữu, nhất là phái nữ, muốn tận hiến cho Chúa giữ đức trinh khiết vẹn toàn. Và đă có khá đông tận hiến cho Chúa, giữ cuộc sống trinh khiết độc thân, cũng được các Đấng bản quyền của Giáo hội địa phương phê chuẩn và nâng đỡ[65].

Theo linh đạo thời bấy giờ, đức trinh khiết là nhân đức tuyệt hảo, là một nhân đức thiên thần, có một sắc thái linh thiêng do Cha ban cho mà thôi. Một tâm hồn tận hiến là một tâm hồn phải hăng say tranh đấu với mọi cám dỗ để thực hiện, mua sắm cho được nhân đức đó. Cần phải tỉnh thức luôn, canh chừng cho nhân đức quư báu nhưng mỏng ḍn đó. Các vị linh hướng đặc biệt dẫn dắt các tâm hồn tận hiến qua mọi cạm bẫy của ba thù để bay bổng lên không trung với sơn ca líu lo cùng các thiên thần[66]. Chính nhờ đức trinh khiết, người tận hiến mới có một ư nghĩa đích thực.

Nhưng không phải dễ, con người yếu đuối, thánh Phaolô đă báo trước rồi[67], cần phải tỉnh thức bằng thực thi các nhân đức luân lư xă hội, đặc biệt chay tịnh, bố thí. Chưa đủ, v́ Thầy Chí thánh đă bảo “họ sàng chúng con như sàng gạo, hăy cầu xin liên lỉ”. Điều kiện tiên quyết là phải cầu nguyện. Hết cầu nguyện, khó trung thành với lư tưởng tận hiến [68]Cầu nguyện mà thôi cũng không đủ, cần có những tác động nhân đức xă hội đi đôi, tức thực thi khổ chế và yêu mến. Đó là hai chiếc cánh nâng người tu sĩ bay lên khỏi trần tục để sống như công dân Nước Trời, mặc dù vẫn dấn thân giữa xă hội với anh chị em đi nữa.

Lược tóm Linh đạo giai đoạn tiên khởi :

Lư tưởng đời tận hiến được đề cao qua nhân đức khiết tịnh : Nhân đức này nói lên ư nghĩa cao vời của đời tận hiến. Nhưng không phải dễ, muốn đạt tới cần phải khổ chế và yêu mến anh em chân thực. Về các nhân đức khác. Người tu sĩ phải là người kitô hữu tốt : chu toàn luật Chúa.

Thực thế, muốn đạt tới lư tưởng cao vời đó, trước hết tâm hồn tận hiến không thể bỏ qua các giới luật của Chúa và ư thức tranh đấu liên lỉ với chính ḿnh cùng mọi trở ngại khác.

Nhân đức căn bản của đường tu đức là khiêm nhường tuân phục. Bao lâu chưa khiêm nhường vâng phục, bấy lâu khó mà có tâm hồn an vui thực. Nhờ khiêm nhường tuân phục, nếp sống xă hội, cộng đoàn mới tăng trưởng, mới phong phú. V́ cộng đoàn phong phú là cộng đoàn đă biết đoàn kết chặt chẽ; nhưng để thể hiện nếp sống bền chặt đoàn kết, mọi người phải chu toàn nhiệm vụ, địa vị của ḿnh, nghĩa là mọi người phải biết khiêm nhường và tuân phục.

Nhưng làm sao có được khiêm nhường tuân phục và an b́nh chân thực, nếu không có đức ái. Đức ái là linh hồn của các nhân đức, không phải chỉ khiêm nhường và tuân phục mà thôi. Muốn có đức ái trung thực, cần phải sống với Đấng tự cho ḿnh là Yêu mến, đó là Chúa Kitô. Hay nói cách khác, muốn yêu mến cần phải cầu nguyện nhiều[69].

Đó là điểm nổi bật của linh đạo trong các thế kỷ đầu. Chúa Kitô là sức mạnh, là sự sống và cũng là gương mẫu cụ thể của mỗi tâm hồn. Cần phải học biết gương mẫu quí trọng này và mỗi tâm hồn tận hiến hăy cố gắng làm cho h́nh ảnh đó sống động thực sự trong cả cuộc sống ḿnh[70].

Nhờ sự kết hợp với Chúa Kitô ta mới có cuộc sống thiêng liêng sung măn được. Làm sao có yêu mến hoàn hảo nếu chưa biết và có thể kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô, nhất là qua Bí tích Thánh Thể. Chính nhờ Bí tích này, Chúa Kitô sống trong ta, và nhờ sự hiện diện thực của Ngài trong ta, ta mới không thể chết và hư nát được, và nhờ sự hiện diện đó, trong cộng đoàn tận hiến cũng như trong Giáo hội sẽ có thực sự một niềm vui sâu đậm, một cuộc sống đoàn kết chân thành.

Cộng đoàn phong phú :

An b́nh thực là cộng đoàn biết đoàn kết sống trong yêu thương. Đức ái phải là linh hồn cộng đoàn. Muốn cộng đoàn yêu thương đoàn kết : mọi người phải chu toàn nhiệm vụ với tâm hồn khiêm nhượng và tuân phục.

Muốn có khiêm nhường và tuân phục :

Phải sống với Đấng tự xưng ḿnh là Khiêm nhường, tôi đ̣i mọi người là Chúa Kitô. Kết hiệp với Ngài, nhất là Bí tích Thánh Thể. Nhờ Ngài, qua cộng đoàn tu tŕ và Giáo hội được an b́nh vui tươi thực.


 

[1] Trích Vinh Sơn Trn Văn Bng, LINH ĐẠO TU SĨ, in ronéo 1974, tr. 5-13

[2] Mt 16, 24; Mc 8,34; Lc 9,23.

 

[3]Mc 14, 38.

[4]Mt 19, 16-21; Mc 10, 17-31; Lc 18, 18.

[5](4) Cf. Lc 14, 25-27; Mt 10, 37; Lc 14, 28-32.

[6] St. Jérome, Epist. CXXX, ad demetriadem, 14; cf. St. Ambroise De offociis minist. I, ch. XI.

[7]Lc 8, 27; Mt 9, 9; Mc 2, 13.

[8]Lc, 59-62.

[9]Introduction à la vie dévote, lère part. ch. 3. Cf. Bossuet, médit. sur l'Evangile, La Cène, lère part. 83è jour.

[10] Mc 12, 30.

[11] Ga 13, 34; 15, 12. Hiến Chế Ánh Sáng muôn dân. s 40.

[12] Francois de Sales, Vie dévote, phn 1, ch. I.

[13] Mt 26, 42;  6, 10.

[14] Mt 20, 28.

[15] Mt 25, 35.

[16] Mt 5, 43-48.

[17] Mt 5, 3-10.

[18] Ga 15, 5; Cf. ICor 12, 27.

[19] Ga 15, 5.

[20] Ga 14, 10.

[21] Ga 15, 9-10.

[22] Ga 14, 21-23.

[23] Cf. IGa 1, 3; Ga 14, 15; 15, 14...

[24] Ga 7, 12; 1, 4-9; 9, 5; 12, 46.

[25] Ga 3,20.

[26] IGa 14, 9.

[27] IGa 14, 9.

[28] IGa 4, 20.

[29] IGa 3, 14.

[30] Con người h đẳng ca Phaolô là t́nh dc, tham vng, khuynh hướng ti li. Thánh Gioan cũng nói ti con người h đẳng vi ư nghĩa là yếu đui, vô ích. Cf. Lebron, Les Origines du dogme de la Trinité.

[31]Cf. Rm 7,18-24; Gal 5, 17.

[32] Cf Gal 5, 24.

[33] Cf. Rm 8, 13; Gal 5, 24.

[34] Cf. IITim 4,7; ITim 6, 12; Mt 11, 12; Lc 16, 12.

[35] Cf. IThess 3,5; Eph 6, 11-17.

[36] IThess 5, 17.

[37] Cf. Prat. La théologie de St. Paul II, p. 102.

[38] Rm 8, 13-16.

[39] Rm 8, 26.

[40] Rm 8, 4-9; Gal 5, 22.

[41] Ga 15, 1.

[42] Col 1, 18; Eph 1, 22; 4, 15; ICor 12, 12; Rm 6, 5; 11, 17-24.

[43] Col 2, 7.

[44] Col 3, 1-4; Phil 3, 20; Rm 13, 12.

[45] Rm 8, 18.

[46] Rm 8, 38.

[47] Phil 1, 20; Gal 2, 20.

[48] ICor 11, 1.

[49] Phil 2, 6-8.

[50] Gal 2, 20.

[51] Eph 4, 13.

[52] Eph 4, 15; 5, 1.

[53] La Spiiritualité chrétienne I, p. 47-49. Gal 2, 20; IICor 11, 2.

[54] Gal 6, 14; Phil 1, 23.

[55] Col 3,9-13; cf. IThess 4, 1-11; Gal 5, 23.

[56] ICor 13, 1-7.

[57] Rm 12,10; 14, 13; 15, 2; Gal 6, 2. Cf. IThess 5, 11.

[58] ICor 13, 1-13; Rm 13, 8-10; Gal 5,14.

[59] Eph 4, 28; IThess 4, 11-12; IIThess 3, 7-12.

[60] Col 3, 17a; ICor 10, 31.

[61] Cv 2, 45; 5, 4.

[62] Cv 21, 8; Clément d'Alexandre, Strom. 2, 118.

[63] Eusèbe, H. 2, 23.

[64] Epist. ad Diognetum, ch. 5-6.

[65] Banquet des viergees 1, 4 (P.G. XVIII, 44); St Kyprien, Epist.IV, 1.

[66] St. Kyprien, De habitu virginum 22.

[67] Rm 7, 19-23.

[68] Clément de Rome, Comment. in Mt XIV, 25 (P.G. XIII, 1252); Tertulien, De Gratione, 28.

[69] La Clémentis VII, 1-3; Hemmer II, 145, 147.

[70] Polycarpe ad Philip.