Chương Ba: LINH ĐẠO TRONG THỜI ẨN TU.
Tiết 1: Linh ĐẠo tẠi Đông Phương.
CuỘc sỐng tu tŕ tẠi Đông
Phương
(thế kỷ IV và V).(*)
Trong ba thế kỷ đầu, có những Giáo phụ đă vạch ra những con đường, mặc dù chưa hoàn hảo, nhưng đă nói lên khát vọng hoài băo của các tâm hồn muốn đạt tới toàn thiện: ước ao hiểu biết Chúa và chiêm ngưỡng Ngài trong thinh lặng. Như Clément d'Alexandrie, Origène[1].
Đây là giai đoạn chuẩn bị cho linh đạo đan tu thực sự ra đời vào thế kỷ IV, cũng là thời gian khởi đầu cuộc sống tu tŕ cộng đoàn và nếp sống độc tu.
Trước khi đề cập tới linh đạo tu sĩ của những thế kỷ quan trọng (thế kỷ IV-V) này, chúng ta cùng nhắc lại vài nét đại cương về lịch sử nguồn gốc các tu trào tại Đông Phương (thế kỷ IV-V).
Trong hai thế
kỷ IV và V, cuộc sống tu tŕ phát sinh và tăng trưởng cách mạnh mẽ ở Đông
Phương. Cuộc sống
tu tŕ phát triển dưới hai h́nh thức khác nhau tuy nhắm vào một cùng đích: T́m
Chúa và lo cứu rỗi chính ḿnh cũng như anh chị em. Hai h́nh thức đó là độc tu
(l'anachorétisme) và Đan tu (le cenobitisme)
Bắt đầu với thánh Phaolô de Thèbes (-340) và đặc biệt là thánh Antôn. Các tu sĩ độc tu thường sống riêng lẻ moi người một lều, lúc đầu ở chung quanh thành phố hay làng mạc quê hương ḿnh sau để thực hiện lư tưởng cách thấm thía hơn, các Ngài lui vào những nơi hoang địa, sống riêng lẻ mỗi vị có pḥng riêng, có cuộc sống riêng, tổ chức tùy theo nhu cầu cá nhân.
Nhưng bao giờ các Ngài cũng lưu tâm đặc biệt đến giờ phụng vụ, đặc biệt là ngày thứ Bảy và Chúa Nhật, tất cả các đan sĩ đều họp lại trong nguyện đường để chia sẻ lễ Tạ ơn và cùng nghe Lời Chúa[2]. C̣n những ngày khác, khách hành hương nghe từ các cḥi rải rác trên sườn núi đồi vang lên những cung ca thánh vịnh sốt sắng hướng về Cha, khiến họ cũng muốn ở lại tu luôn, chả muốn trở lại gia đ́nh, tưởng chừng như thiên đàng ở đâu đây rồi[3].
Sắc thái cuộc sống các ẩn sĩ là ca tụng Chúa qua các Thánh vịnh và nếp sống khổ chế. Đối với các Ngài , thể xác chỉ là chướng ngại vật trên bước đường kết hiệp cùng Chúa. Càng hy sinh nhiều, càng mưu ích. Ăn và ngủ xem như không cần nếu không phải là để sống mà thôi.
Bên cạnh các tu sĩ ở sa mạc, chúng ta c̣n gặp thấy những cộng đoàn đan sĩ, cũng là nguồn gốc và mẫu mực của các cộng đoàn tu sĩ chúng ta hôm nay. Nếp sống tu sĩ cộng đoàn được sinh nở và tăng trưởng với thánh Pacôme (320) tại Tabennési Thébaide.
Khác nếp sống của các đan sĩ ẩn tu, các đan sĩ này sống cộng đoàn có bề trên, có kỷ luật, cùng sống một nếp sống chung, cùng học vâng lời một vị hướng đạo. Say mê cầu nguyện, học hỏi Lời Chúa và chuyên cần lao động (travail manuel) là nếp sống thường nhật của họ.
V́ có kỷ luật, nên linh đạo được vạch ra khá rơ ràng: Các tu sĩ sống cách quân b́nh, không thái quá, như các ẩn sĩ độc tu, nhất là trong việc khổ chế và phụng vụ.
Về phụng vụ, không quá dài hay quá nhiều, nhưng vừa phải để không đan sĩ nào quá mệt v́ cầu kinh, về pḥng riêng các tu sĩ c̣n được tự do sống cuộc sống chiêm niệm riêng tư thấm thía[4].
Bên cạnh các đan viện nam tu, cũng mọc lên những nữ đan viện[5].
Giữa nếp sống ẩn sĩ độc tu và đan sĩ cộng đoàn, c̣n có một số tu sĩ sống ở Palestina với tổ phụ Hilarion, Epiphane, d'Elen Théropolis. Các vị sống riêng rẽ như các ẩn sĩ độc tu, nhưng lại có một vị hướng đạo như ở Gia-liêm, Sinai, núi Cây Dầu chẳng hạn.
C̣n một vài tâm hồn có đặc ân lạ lùng, sống một cuộc đời đơn độc khổ chế đặc biệt, điển h́nh như thánh Simon Cột, hay Daniel de Stylite, ngày đêm chỉ sống trên cột. Như thánh Simon sống trên cột cao 18m - Nhưng đây chỉ là ơn đặc biệt cho một số ít tâm hồn.
Trong các thế kỷ quan trọng này, và khi đề cập tới nguồn gốc các ḍng tu, chúng ta không thể quên vị tổ phụ nổi tiếng Tiểu Á được, đó là thánh Ba-sinh.
Trước khi lập ḍng, Ngài đă đi thăm các tu viện ở Ai cập, Syrie, Mesopotamie và quan sát nếp sống của các đan sĩ, Ngài rất thán phục sự khổ chế trong lương thực, hăng say can đảm trong lao tác, kiên nhẫn trong phụng vụ cầu nguyện của các đan sĩ: sống cuộc sống cao vời xem như không biết lạnh, đói khát, chẳng quan tâm ǵ đến thể xác, chỉ có một sứ mệnh là công dân Nước Trời.[6]
Với kinh nghiệm của những năm chủ chăn (Giám Mục), Ngài đă lập ḍng và ra thánh luật cho các đan sĩ, ảnh hưởng của Ngài khá lan mạnh trên nếp sống của các ḍng tu Đông Phương.
Qua luật thánh Pacôme và Ba-sinh, chúng ta thấy rơ linh đạo tu sĩ lúc bấy giờ:
Trước khi nhập tu, thỉnh sinh gặp nhiều thử thách sỉ nhục để xem có thực t́m Chúa không, có chút nhẫn nại và khiêm nhường nào không. V́ đó là ba điểm quan trọng của đời tận hiến. Trước khi mang áo ḍng, nhập cộng đoàn tu sĩ, thỉnh sinh cần phải học biết cách t́m Chúa và gặp Ngài, nhất là qua Thánh Kinh, đồng thời thỉnh sinh cũng được bổ túc ngay về cuộc sống xă hội, cách sống làm người. Thánh Ba-sinh đặt nền tảng vững chắc cho tu sĩ của Ngài , không phải chỉ về tu đức và chiêm niệm, nhưng c̣n lưu ư cách riêng đến đào tạo nhân bản. Tu sĩ cần học hỏi và nh́n thấy rơ giá trị của đời tận hiến, để không ǵ có thể bịt mắt ḿnh, nhất là của cải[7].
Trong thời kỳ này, các vị linh hướng nhấn mạnh cách riêng về nhân đức vâng lời. Nền tảng của tu đức là ở đây. Bên ngoài tu sĩ phải đón nhận những chỉ thị của Bề trên xem như kỳ cục, và tác động tu sĩ coi như là mù quáng. Nhưng trong thực tế, các vị linh hướng đặt một nền tảng vững chắc.
Trước hết, cả
cuộc đời của tu sĩ là t́m Chúa, như đă nói trên, nên khi thực tập vâng lời, tu
sĩ phải sống trước hết với
đức tin. Tu sĩ phải tập nh́n thấy ư Chúa trong chỉ thị, ư muốn của vị phụ
trách[8].
V́ chỉ t́m ư Chúa, nên nếu có gặp ǵ ngăn trở, ngay nếu phải chết, tu sĩ vẫn sẵn
sàng vâng phục, một khi thấy ư vị phụ trách thích hợp với Luật Chúa, trái lại
nếu nghịch luật Chúa, th́ dù là thiên thần hay các thánh tông đồ hiện ra xin
thực hiện, cũng không nên, hay có phải hy sinh mạng sống.
Điều kiện thứ ba để tu sĩ luôn sống hạnh phúc và an b́nh là tập bỏ ư riêng hoàn toàn qua đức vâng phục. Nhưng làm sao để dễ dàng thực hành những ước vọng đó. Các Ngài đưa ra hai phương thế:
* Đặt tất cả tin tưởng vào vị phụ trách, có thể tâm sự tất cả với Ngài.[9].
* Và vâng lời chu toàn mọi nhiệm vụ, chỗ đứng của ḿnh trong cộng đoàn tu sĩ.[10].
Điều kiện thứ tư: để luôn có thể t́m gặp Chúa trong khi thi hành chỉ thị của cấp trên v́ vâng phục, tu sĩ cần phải tập sống liên lỉ với Chúa, và để dễ gặp Chúa liên lỉ, tu sĩ phải cần nhờ những câu Thánh Kinh. Do đó, tu sĩ phải học thuộc ḷng một ít phần Thánh kinh, nhất là Thánh Vịnh.
Mặc dù linh đạo của tu sĩ trong giai đoạn này không có ǵ phức tạp, nói được là đă thống nhất,, nhưng cách tổ chức cuộc sống bên ngoài của các tu sĩ c̣n đa thức, chỉ nh́n cách tổ chức của Thánh Pacôme và thánh Basiliô, ta đă thấy có những khác biệt rồi.
Thánh Pacôme vừa thích tổ chức cuộc sống tu sĩ cộng đoàn, vừa nếp sống ẩn sĩ, độc tu. Trong cuộc sống cộng đoàn , Ngài thường tổ chức những tu viện lớn gồm ba, bốn trăm tu sĩ, nên thường gặp khó khăn. Ngài không trực tiếp hướng dẫn các tu sĩ được và v́ thế các ước vọng của vị sáng lập ḍng có thể mất một phần, không thông đạt qua con cái tất cả được, một khi chỉ nhờ các thừa tác viên làm trung gian đào tạo. Điểm trở ngại thứ hai: v́ các tu sĩ quá đông, không thể được hướng dẫn chu đáo nên giữ luật cũng không nghiêm chỉnh như ư muốn của vị sáng lập và ngay của các vị hướng dẫn.
Trái lại thánh Basiliô thích tu viện nhỏ, nên dễ đào tạo tu sĩ. Theo ư Ngài , một vị phụ trách không được điều khiển nhiều cộng đoàn .
Chúng ta cũng nên lưu ư rằng bấy giờ mỗi tu viện thường gồm 30-40 nhà hay gọi là gia đ́nh. Mỗi gia đ́nh gồm khoảng 40 tu sĩ và cứ 4 hay 5 gia đ́nh họp lại thành một chi tổ, và mỗi gia đ́nh chuyên một công việc riêng như thêu, dệt, đan, canh nông, giặt, vá may, chuyện nội trợ v.v... Mỗi gia đ́nh có một gia trưởng hay gọi là cha. Ngoài các công việc chuyên môn của mỗi gia đ́nh, c̣n có những công việc chung khác tùy mỗi tuần, nên có các vị đại diện bề trên điều khiển thường gọi là vị tu sĩ phiên tuần: hebdomadarius.
Sau hai loại tu sĩ độc tu và cộng đoàn , c̣n có thứ tu sĩ cứ sống từng hai, ba người với nhau. Điều làm cho nhiều người không thích các Ngài là các Ngài sống ngoài kỷ luật của ḍng tu, tự do hoàn toàn, nên thánh thiện là do cá nhân.
C̣n một loại cuối cùng là loại vô định cư. Gọi như vậy v́ họ không có một chỗ ở nhất định, hay thay đổi, nay đây mai đó, t́m sốt sắng đạo đức nhưng không sao t́m thấy, để rồi cuối cùng cứ đi từ tu viện này tới tu viện khác, từ thành này đến thành khác, làm cho nhiều người thêm nghi ngờ cuộc sống tu tŕ đích thực.
Nét nổi bật của linh đạo tu sĩ trong thời đại này là khổ chế. Các nhà tu đức muốn nhấn mạnh cách riêng về khổ chế. Tất cả linh đạo tŕnh bày một sự thánh thiện dưới khía cạnh hăm ḿnh, hy sinh, nói cách khác, tất cả thánh thiện được nh́n dưới khía cạnh luôn tranh đấu với các nết xấu, tính hư. Người tu sĩ không khác ǵ là người Kitô hữu muốn đạt tới toàn thiện và muốn thế, người tu sĩ cần phải tranh đấu mănh liệt với các t́nh dục. Người tu sĩ luôn phải tỉnh thức tranh đấu với các tính hư nết xấu: Muốn tập các nhân đức, cần phải chiến đấu, thắng cho được nết xấu đối nghịch với nhân đức đó: muốn khiêm nhượng, tu sĩ hăy luôn ghét sự kiêu căng v.v... Nghĩa là linh đạo tu sĩ trong thời này muốn nhấn mạnh cách riêng trên nết xấu hơn là nhân đức và ít khi nói đến sự xinh đẹp quyến rũ của nhân đức. Linh đạo trong thời này khác thế kỷ XVI sau này: “Nên làm tất cả v́ yêu mến chứ đừng v́ sức mạnh, nên yêu mến nhân đức vâng lời hơn là sự bất tuân phục” [11]Chúng ta sẽ đi sâu vào vấn đề trong những chương sau.
Tuy vậy, trừ một số nhỏ, c̣n đa số các vị linh hướng, không phải v́ nhấn mạnh ở khổ chế mà quên yếu tính của toàn thiện, cùng đích của cả đời tận hiến là yêu mến. Ăn chay, hăm ḿnh, thức khuya dậy sớm, tất cả mọi khổ chế chưa phải là sự toàn thiện, chỉ là phương thế để đạt tới toàn thiện thôi [12]Sự toàn thiện ở tại yêu mến [13]ăn uống chay kiêng thực tế đâu đă là quan trọng, nhưng chính đức tin và nhờ yêu mến đức tin thể hiện qua mọi công việc mới là chính yếu[14].
Sự toàn thiện như vậy trước hết là nội tại: điều cần chỉnh đốn, canh tân, trước hết là con người nội tâm[15].V́ đức ái chỉ được thực thi cách sung măn là khi liên kết với Chúa, tất cả được nằm trong Chúa Kitô và với Chúa Kitô như cành với cây.[16]Nhưng muốn kết hiệp với Chúa cách mật thiết, điều kiện khẩn thiết là phải giữ tâm hồn trong sạch.
Thứ đến toàn thiện đ̣i buộc tu sĩ phải tập hết mọi nhân đức. Tâm hồn luôn phải hướng thượng, vượt qua mọi t́nh dục và cố tập cho được những tập quán tốt. Bao lâu chưa được như thế, tu sĩ vẫn chưa đạt tới hoàn thiện. Ăn chay nhưng cứ tự do nổi giận, nguyện gẫm lâu giờ nhưng cứ khinh dể anh chị em. Đó đâu phải là hoàn thiện. Như vậy ta càng thấy rơ ư nghĩa câu nói của thánh Augustinô: sự toàn thiện đối với người Kitô hữu là luôn cố gắng tiến lên măi.
Chúng ta có thể tóm lược linh đạo tu sĩ của buổi đầu: Đối với các ẩn sĩ, sự toàn thiện là giữ tâm hồn hoàn toàn xa lánh mọi sự thế gian và chỉ sống kết hiệp với Chúa Kitô, bao lâu điều kiện con người c̣n cho phép. C̣n các tu sĩ cộng đoàn v́ sống dưới lề luật và có vị phụ trách, nên muốn toàn thiện th́ hy sinh trước hết là ư riêng để thực hiện những cam kết tinh thần Phúc Âm: tuân phục, khó nghèo, tinh khiết nhờ động lực yêu mến.
Nhưng các nhà tu đức cũng ư thức quá rơ: lư thuyết th́ dễ, thực hành mới khó. Lư tưởng toàn thiện rất xinh đẹp, phong phú trước mặt tu sĩ nhưng chướng ngại vật không ít: nào yếu đuối tự nhiên, nào thế gian ma quỷ.
Khi đề cập tới ma quỷ, thánh Antôn tổ phụ của tu trào, đă quả quyết rằng, tu sĩ càng tiến nhiều trên đường thánh thiện, ma quỷ càng quấy rối và chính Ngài cũng đă là nạn nhân của chúng. Chúng có thể dùng mọi thủ đoạn để cám dỗ, lừa gạt và quật ngă tu sĩ . Nếu muốn tiến đến toàn thiện, người tu sĩ cần phải tỉnh thức cầu nguyện, mặc dù đă ăn chay.
Tập gặp Chúa Kitô liên lỉ, để khi gặp ma quỷ hay dục vọng bất chính tấn công, người tu sĩ có thể tâm sự với Chúa ngay, có thể được Ngài yểm trợ, cứu chữa liền (Hesychius, De Temperantia et virtule centuria I P.G. XCIII 1485, thánh Biển Đức, Thánh Luật Lời nói đầu).
Nhưng làm sao để có thể cầu nguyện liên lỉ,
Điều kiện tiên quyết là khổ chế, nhất là cac t́nh dục, luôn canh pḥng và cố giữ tâm hồn trong trắng. Một chiếc lồng chim một khi bi ướt cũng khó bay lên. Chỉ một nết xấu cũng đủ cầm giữ không cho linh hồn tự do hướng về Chúa (Cassien, Collatio IX, 4). Ta không thể thấy mặt ḿnh trong vũng nước đục được, cũng thế, nếu tâm hồn không được thanh luyện th́ không thể chiêm ngưỡng Chúa trong lúc nguyện cầu được. (Vitoe patuum lib. VI, I, 8, 13).
Đàng khác, trước khi cầu nguyện ta đừng quên tập tĩnh tâm, xem có ǵ ngăn cản ta không thể gặp được Chúa chăng.
Và bắt tay vào việc: Tập sống liên lỉ với Chúa. Nhưng làm sao thực hiện được. Các nhà tu đức bấy giờ hướng dẫn các môn đệ như sau: chúng ta thi hành tất cả mọi sự v́ vâng lời và dâng cho Chúa tất cả, rồi cứ hướng ḷng về Chúa với một lời nguyện rất vắn tắt. Như thế, ta đă cầu nguyện liên lỉ, và mọi người có thể cầu nguyện liên lỉ không bao giờ mệt. (Vitoe patruum, Ibid).
TiẾt 2: LINH ĐẠO TẠI TÂY PHƯƠNG.
* cuỘc sỐng tu sĩ tẠi Tây Phương.
(thế kỷ IV và V).
Cuộc sống tu tŕ ở Đông Phương ảnh hưởng rất mạnh tới Tây Phương , dù tiếng gọi của t́nh yêu Chúa khắp mọi nơi và không phân biệt thời gian. Dĩ nhiên, ơn gọi tu tŕ ở Tây Phương không phải từ Đông Phương qua. Trước khi các tu sĩ Đông Phương như thánh Athanasiô, thánh Hiêrônimô qua Tây Âu và tường thuật cuộc sống tu tŕ ở Đông Phương và trước khi có những tổ chức hành hương Thánh Địa của giáo hữu Tây Phương, đă có nhiều tâm hồn hăng say, nhất là phái nữ, tổ chức nếp sống cộng đoàn tu sĩ, có kỷ luật và có vị phụ trách hẳn ḥi như ở Đông Phương .
Từ ngày thánh Athanasiô và Hieronimô tường thuật cuộc sống tu tŕ Đông Phương , các tâm hồn ưu tuyển này càng cảm thấy hăng say dấn thân theo tiếng gọi, nhất là sau những cuộc hành hương Thánh Địa, họ có dịp nh́n tận mắt, chiêm ngưỡng cuộc sống tận hiến của các cộng đoàn tu sĩ Đông Phương , càng thấy hứng khởi và khích lệ can đảm lên đường t́m kiếm Chúa. Thánh Hieronimô và Ambrosiô đóng vai tṛ rất quan trọng trong giai đoạn phôi thai của tu trào Tây Phương[17].
2. Thánh Hieronimô và thánh Ambrosiô.
Các Ngài nói được là các vị chiến sĩ cổ động tu trào Tây Phương , vừa là những vị chủ chăn đầy kinh nghiệm, cuộc sống thánh thiện, vừa cũng là những tu sĩ thực danh. Thánh Hieronimô và Ambrosiô kêu gọi các thánh nữ can đảm từ giă gia đ́nh tận hiến cuộc đời cho Chúa Giêsu.
3. Kim chỈ nam.
Các Ngài không những khích lệ, c̣n đưa ra những kỷ luật như kim chỉ nam hướng dẫn các nữ tu hăng tiến trên con đường lư tưởng:
Ai muốn t́m kiếm Chúa Kitô, muốn tận hiến cuộc đời cho Ngài , cần phải can đảm, phải dứt khoát. Trước hết là đừng để t́nh yêu gia đ́nh, bà con ngăn trở, mặc dầu tận hiến cho Chúa cuộc đời ḿnh không phải là hủy diệt t́nh yêu gia đ́nh[18].
Thứ đến, người tu sĩ không cần phải quá để ư đến cách trang phục, đừng quá làm dáng, trái lại nên mang những y phục rẻ tiền và sạch sẽ để nói lên tâm hồn đơn sư trong trắng và nghèo khó.
Để tham dự cách sống động và phong phú vào cuộc sống Chúa Kitô, mỗi tu sĩ cần phải có một kiến thức khá sâu rộng về Thánh Kinh và đừng bao giờ bỏ đọc Thánh Kinh.
Để tránh những mơ mộng vô ích và có thể hại ơn gọi, người tu sĩ không nên ngồi rồi, trái lại cần phải làm việc và cầu nguyện nhiều.[19].
Đặc biệt đối với các tâm hồn mới nhập tu, như thỉnh sinh, tập sinh, luôn luôn cần được sự nâng đỡ của bề trên và anh chị em trong cộng đoàn. Cũng v́ lư do đó họ cần sống tập thể, đừng bao giờ đơn độc, có thể làm mồi cho ma quỷ[20].
Người tu sĩ muốn đạt tới hoàn hảo, thực thi đức ái, nên thích thinh lặng, ít nói và cầu nguyện nhiều. Nhờ đó dễ giữ được tác phong của ḿnh khi giao dịch với người : ḥa nhă và khiêm tốn[21].
Tới thế kỷ V, tu trào đă lan rộng từ Roma qua Tây ban nha và Pháp. Các vị sáng lập các ḍng tu nổi tiếng như thánh Martinô, Cassien, vẫn giữ tinh thần, lư tưởng của tu trào Đông Phương , nếu có khác, th́ chỉ khác những ǵ cần phải thích nghi theo phong tục và tâm lư địa phương thôi[22].
*KẾT: VỀ NẾP SỐNG TU TRÀO
TẠI CHÂU ÂU.
Các tu viện đă giúp cho việc tăng trưởng Giáo Hội rất nhiều, cũng là nơi cung cấp cho Giáo Hội nhiều vị linh hướng chắc chắn vững mạnh như Giám Mục Corentin, Giám mục Cornoaille, Brice, Giám mục Siège de Tours, Maurille giám mục của Angers, Victorius Giám mục của Mans, Martinô Giám mục Lyon,(thuộc tu viện Marmontier) rồi ba Tổng Giám mục Arles, thánh Honorat, thánh Hilarion, thánh Cesarion, thánh Loup Giám mục thành Troyer, Maxime, Fauste Giám mục Riez, thánh Eucher Giám Mục Lyon cũng là những đan sĩ của tu viện Lérins v.v...
V́ theo luật của Đông Phương , nên các vị sáng lập ḍng cũng không ra thánh luật riêng cho các tu sĩ của ḿnh một cách đích thực, đợi đến thánh Augustinô và Biển Đức trong thế hệ tới như chúng ta sẽ đề cập sau.
(*) Vinh Sơn Trần Văn Bằng, Sđd, tr. 31-7744
[1] Strom. II, 11 (P.G. IX, 484) và Hom. 6 in Levit. 1 (P.G. XII, 466).
[2] Palladius, Histoire Lausiaque 7.
[3] Histoire Lausiaque 44.
[4] Histoire Lausiaque 32.
[5] Acta sanetarum 14, mai, p. 296 (P.L. LXXIII, 232).
[6] Ba-sinh, Epist. 223, 2.
[7]Regula Bachomii 49; Regulae fusius tractatoe 10, Regulae brevius tractatoe 304.
[8] De coenob. Inst. 4, 10.
[9] Reguloe brevius tractatoe 303.
[10] Cassien de Coenob. Inst VI, 8.
[11] Oeuvres de St. Francois de Sales, Annecy-Lyon, XII.
[12] Cassien, Collatio 1,7.
[13] ICor 13,3.
[14] Hist. Laus. Lời nói đầu.
[15] St. Jérome Epist. 130 ad deme triadem, 14.
[16] Ga 15, 1-12.
[17] Ngài sinh ra năm 342 tại Dalmtie, lên 18 tuổi được du học tại Roma. Ngài thấy cuộc sống xa hoa của kinh thành và chính Ngài cũng là nạn nhân. Nhưng năm 366 Ngài chịu bí tích Thánh tẩy, rồi từ bỏ tất cả để theo Chúa. Ngà từ giă Roma và rút lui và sa mạc Chaleis để tu tŕ với các đan sĩ Đông Phương. V́ nhu cầu của Giáo Hội và v́ vâng lời Đức Thánh Cha Đamasô, năm 381 Ngài lại trở về Roma. Nhưng đây cũng là dịp tốt để Ngài sống và đào sâu kho tàng Mạc khải. Trong dịp này Ngài cũng đă giúp nhiều nữ tu đi sâu vào cuộc đời tận hiến và sống Thánh Kinh. Sau khi Đức Thánh Cha Đamasô băng hà, Ngài lại từ giă Roma về tu tại Bêlem để trao trả những ngày c̣n lại cho Chúa trong cảnh thinh lặng đan tu.
[18] St. Jérome. Epist. XIV ad Helrodorum, 3.
[19] St. Jérome. Epist. CXLVIII, 14.
[20] Jérome. Epist. CXXV, 11.
[21] Jérome. Epist. CXXV, 11, 9, 15; St. Ambrosio, de Virginibus I, 32, de officiis I, CXVIII-XX.
[22] Cassien, De coenobirum Institis, proefactio, liv. II, III.