Chương bỐn : TRƯỜNG PHÁI BIỂN ĐỨC.

 

LINH ĐẠO BIỂN ĐỨC ?

 

 

Từ ngữ mơ hồ hơn là người ta nghĩ. Phải chăng người ta muốn nói đến linh đạo của thánh Bênêđitô ? Hay là nói đến linh đạo của những đan sĩ “đen”, nghĩa là linh đạo của Citeaux, của Camaldoli và của những chi nhánh khác phát xuất từ thân cây biển đức ? người ta muốn nói đến tất cả những h́nh thức mà linh đạo ấy đă mặc lấy qua các thời đại, hay là h́nh thức đan có hiện giờ ? chút ít lịch sử sẽ giúp hiểu rơ hơn sự đa dạng này, nhưng cũng cho thấy những bất biến của một tư tưởng tu tŕ rất là thuần nhất về cơ bản, bởi v́ đă phát sinh từ truyền thống đích thực nhất là không ngừng cố gắng phục hồi sinh lực bằng việc trở về nguồn [1]

Thánh Bênêđictô, chúng ta chỉ biết lờ mờ về thân thế của ngài. Tài liệu duy nhất c̣n lưu lại cho chúng ta chút ít chỉ dẫn về ngài, là cuốn hai trong tác phầm  "những cuộc đối thoại” của thánh Giêrôriô, giáo Hoàng từ năm 590 đến 604. Dưới h́nh thức của một câu truyện hoàn toàn kỳ diệu, tiểu sử ngắn này giúp ta có một quan niệm khá rơ về chân dung thiêng liêng của thánh nhân và chỗ đứng của Ngài trong truyền thống đang tu.nhưng rất ít chi tiết lịch sử thực sự.

Được theo môn văn học rất sớm, Bênêdictô lo sợ những mối nguy của phần đức hạnh của ḿnh. Ngài trốn khỏi Rôma, “dốt một cách thông minh, đần một cách khôn khéo” và đi sống ẩn dật trong cảnh cô liêu của một hang núi, không xa thị trấn Subinaco ngày nay. Sau ba năm, người ta t́m thấy ngài, và đông đảo môn đệ tuôn đến với ngài. những phiền nhiễu do một linh mục gần đó gây ra, v́ ghen tức tiếng tăm thánh thiện của ngài, buộc ngài phải dời đến “Monte-Cassino”, tại đây, ngài thành lập tu viện và sống ở đó cho đến chết [2]Một thứ lăng mạn mà chúng ta khó thoát khỏi đạ h́nh dung thánh Bênêđictô dưới dáng dấp của một Đan viện phụ thời Trung cổ, gậy vàng trong tay, đạo mạo, đang ban bố Giáo huấn với vẻ huy hoàng của phụng vụ, cổ vơ một nền nhân văn rộng răi và cởi mở, ngài đă khai mạc trong lịch sử phong trào đan tu la tinh, một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên sắp đưa đan tu vào phục vụ Giáo hội và giúp đóng một vai tṛ hàng đầu trong tiến bộ của văn hóa mỹ thuật và trí tuệ ở Âu Châu.

Gần chúng ta hơn, cha Cuthberth Butler, đan viện phụ tại Downside (+ 1934) đă biến thánh Bênêđictô thành địch thủ kính cẩn, nhưng quyết liệt của truyền thống tu đức phát xuất từ sa mạc Ai Cập và Syri. Theo quan điểm này, trước một thứ linh đạo quá ư cá nhân, chỉ cố thi đua trong vấn đề khổ hạnh thể chất, đề cao rơ rệt ưu thế của đời ẩn tu, thánh Bênêđictô đă đứng lên phản kháng, để đ̣i hỏi quyền của một    và, nói trắng ra Kitô hơn. [3]

Những quan niệm trên không có cơ sở ǵ mấy trong những bản văn. Trước hết, trong câu truyện của thánh Bênêđictô đă chủ ư loại bỏ nếp sống cô độc v́ đă nhận ra ưu thế của nếp sống chung. Chính v́ môn đệ tuôn đến, ao ước được thụ giáo với ngài, nên bắt buộc ngài phải ra khỏi nếp sống ẩn cư và tổ chức cộng đoàn đang h́nh thành quanh ngài. Vả lại, bản luật của ngài vẫn duy tŕ rơ rệt giáo thuyết truyền thống vốn nh́n nhận đời ẩn tu là con đường của những kẻ trọn lành.

Như thánh Antôn, như tất cả những bậc thầy nổi danh của đời tu Đông Phương, thánh Bênêđictô trước tiên là một vị khổ tu và một người hưởng đặc sủng. Ngài không thiếu một đặc sủng nào để trở nên người của Thiên Chúa: Hiệu năng cầu bầu ít khi thất bại, quyền hành trên ma quỷ, thông suốt bí ẩn các tâm hồn, phán đoán đâu là thần khí thật, biết trước tương lai, hiện diện hai nơi cùng một lúc. Ngài không ngừng cầu nguyện và thường thường sa lệ lúc cầu nguyện. Sự chiêm niệm của ngài h́nh như đạt đỉnh cao trong thị kiến phi thường, trong đó ngài thấy cả vũ trụ như thu gọn lại trong một tia sáng mặt trời.

Những đặc sủng kỳ diệu này, Bênêđictô đă lănh nhận sau một quá tŕnh khổ hạnh gắt gao, đưa đến trạng thái vô cảm trọn vẹn, đến sự trấn áp toàn diện và chung cuộc các đam mê xác thịt. Dù đă trở thành sư phụ của những người đang sống đời trọn lành, ngài không bỏ chút nào mối âu lo chủ yếu về việc trau dồi đạo đức. Điển h́nh là mẩu chuyện sau đây: “Vào thời miền Campania phải lâm cảnh đói kém trầm trọng, người của Thiên Chúa đă phân phát tất cả những ǵ có trong tu viện cho nhiều người nghèo, đến nỗi gần như không c̣n ǵ nữa trong kho, ngoài một chút dầu trong b́nh bằng thủy tinh. Một phó tế, tên là Agapít đến, khẩn khoản nài xin một ít dầu, người của Chúa, v́ đă quyết định vứt bỏ mọi sự trên trần gian để dành cho ḿnh tất cả trên trời, ra lệnh phải cho người xin chút dầu c̣n lại. Tu sĩ giữ kho nghe rơ lời của bề trên, nhưng chần chừ thi hành. Sau đó ít lâu, Bênêđictô hỏi có cho như ngài đă bải không, thầy giữ kho trả lời rằng không, bởi v́ nếu cho người xin th́ hoàn toàn không c̣n ǵ cả cho anh em. Ngài nổi giận ra lệnh cho các thầy khác phải ném qua của sổ cái b́nh thủy tinh trong đó người ta thấy c̣n chút ít dầu, để không c̣n ǵ trong tu viện, do sự kiện một người không vâng lời.[4]

Bản luật ḍng cũng thấm nhuần tinh thần ấy. Đó là một sách giáo khoa về khổ hạnh, đó cũng là một bộ luật tổ chức đời sống nội bộ của đan viện, nhưng luôn nhằm giúp các đan sĩ vẫn trước sau như một: một nỗ lực để sống trọn ven Tin Mừng, xa thế gian trong khi mong đợi thành tŕ mà Thiên Chúa vừa là kiến trúc sư, vừa là thợ xây cất.

Thực ra, thánh Bênêdictô châm chước và làm cho những luật khổ hạnh của Đông Phương có vẻ nhẹ nhàng và điều ḥa, ngài viết: “Khi lập trường dạy phục vụ Thiên Chúa, chúng tôi hy vọng không đặt ra điều ǵ là kinh tởm, (rebutant), là quá sức chịu đựng”, (Nhập đề). Ngài cho phép kẻ đau ốm ăn thịt, những ai không thể nhịn được uống rượu nho (ch. 36, 39, 40). Đan viện phụ, theo ngài, phải cân nhắc và xếp đặt mọi việc sao cho các linh hồn được ơn cứu rỗi và các anh em làm những ǵ phải làm mà không có lư do chính đáng để than trách (ch. 41), hay là như ngài nói nơi khác, sao cho những kẻ mạnh c̣n có cái ǵ để ước muốn, và kẻ yếu không bị cám dỗ ngă ḷng. (ch. 64). Vậy, thánh Grêgoriô rất có lư khi tán dương “tính cách chiết trung” của bản Luật ḍng, mối bận tâm tránh những ǵ quá đáng, thích nghi với những hoàn cảnh khác nhau, tránh áp đặt trên những người c̣n chưa trọn lành những gánh quá nặng: điều ấy biểu lộ nơi thánh Bênêđictô một ư thức xác đáng về những khả năng cụ thể của bản tính con người và mối lo lắng thu phục nhân tâm bằng ḷng hiền từ hơn là dùng sự cưỡng ép mà ảnh hưởng đến người khác.

Về điểm này, Ngài có một ư niệm đan tu cũ không? Phải có một ư niệm rất hời hợt về tinh thần đan tu mới nghĩ như vậy. Cassien [5]đă dành bài thứ hai trong tác phẩm “Những bài huấn đức” cho tính “chiết trung” hay biện phân; thánh Antôn, vị ẩn tu đầu tiên Ai cập mà lịch sử được biết cách chắc chắn (+355) - theo tác giả, dường như đă tán dương tính “chiết trung” như là nhân đức cần thiết nhất. Các bản văn, khi gặp dịp, có thuật lại một vài mẩu chuyện kiêng khem không b́nh thường cho lắm: như Macaire, người thành Alexandria đổ những miếng bánh nhỏ vào đầy vào một chiếc b́nh, và hằng ngày, chỉ ăn số lượng bánh mà bàn tay ông có thể rút ra được trong một lần qua cái cổ hẹp của chiếc b́nh. Không bao giờ, các bản văn ấy cho là những kỷ lục như vậy có một giá trị tuyệt đối, và lắm khi lại c̣n lưu ư đến sự phán đoán sai trái hoặc tính khoe khoang vốn phá hủy từ gốc rễ lợi ích thiêng liêng của những kỷ lục ấy. Đan viện phụ Gioan, bề trên một tu viện lớn một hôm đến thăm ẩn sĩ Pésius và hỏi ông đă làm ǵ từ 40 năm sống trong cô tịch; Pésius trả lời: khôn bao giờ mặt trời thấy tôi ăn. - C̣n tôi, vị kia trả lời, - với một nụ cười, không bao giờ mặt trời thấy tôi giận dữ.[6]

Khi nói phớt qua về việc ép xác, thánh Bênêdictô h́nh như thu gọn tất cả sự khổ hánh vào sự vâng phục là việc từ bỏ lớn lao nhất, v́ đối tượng là ư riêng. Nhưng ở điểm này, ngài là vị thừa kế của Pakhôme [7] và của Cassien. Pakhôme đặt các tu sĩ dưới một kỷ luật khắt khe: đọc bản Luật của ngài, không ai có thể ngo ngoe nhúc nhích mà không có phép bề trên. Cassien coi sự từ bỏ ư riêng như là lư do tồn tại chính của đời sống chung, và theo ông, đó là điều kiện để trấn áp các đam mê, bảo đảm cuộc sống ổn định trong tu viện và sự đoàn kết giữa anh em.[8]

Thay v́ đối lập phương thức của riêng ngài với truyền thống Đông Phương, th́ hơn một lần, thánh Bênêđictô để lộ một chút luyến tiếc đối với truyền thống này:

“Những đan sĩ nào mà suốt một tuần lễ không đọc hết tập Thánh vịnh với những thánh ca thông thường th́ chứng tỏ quá biếng nhác trong việc đạo đức thiêng liêng của họ: chúng ta không biết các thánh sư phụ chu toàn một cách anh dũng công việc này trong ṿng một ngày đó sao (ch. 18). - Thực ra, chúng ta đọc sách thấy rằng rượu nho không mảy may thích hợp với các tu sĩ thời nay, nên ít nhất chúng ta nên đồng ư là đừng uống đến độ chán chê (ch. 40). - Nếu v́ hoàn cảnh địa phương hay v́ nghèo nàn mà anh em phải đích thân gặt hái, th́ xin anh em đừng buồn phiền, bởi v́ nếu anh em có sống bằng công lao của ḿnh, như các thánh sư phụ và các tông đồ th́ bấy giờ anh em mới thực sự là đan sĩ (ch. 48). Vả lại, đối với ai ân cần tiến lên bậc trọn lành của đời đan tu, th́ sẵn có các giáo huấn của các thánh sư phụ, mà sự thực thi dẫn đến đỉnh trọn lành... Những “bài huấn đức” của các sư phụ, những giáo thuyết và những hạnh tích của các ngài cũng như bản luật của cha thánh Basiliô là ǵ, nếu không phải là những mẫu gương đích thực về các nhân đức của những đan sĩ biết sống và vâng lời đứng đắn? Đối với chúng ta, những con người rất hèn nhát, rất bất toàn, rất bê trễ, quả thật, có đủ lư do để ta đỏ mặt v́ thẹn thùng” (ch. 73).

Chính nơi truyền thống đan tu phát xuất từ Đông Phương mà thánh Bênêđictô mượn hầu hết những luật lệ của ngài: hoàn toàn để chung của cải (ch. 33), nghèo khó trong y phục (ch. 55), vâng lời đúng mức (ch. 5), thinh lặng trước Đan viện phụ (ch. 67), phân chia cộng đoàn ra từng nhóm mười đan sĩ với niên trưởng đứng đầu (ch. 21), số những Thánh vịnh trong kinh đêm (ch. 9), chia ngày ra cho ba công việc: cầu nguyện, đọc sách, lao động (ch. 48), nguyện gẫm, thinh lặng vắn gọn trong Cung thánh (ch. 20), kiêng thịt quanh năm (ch. 36.39), đón khách một cách rộng răi (ch. 53), sống ẩn dật xa thế gian và những huyên náo của thế gian (ch. 4.66.67).

Cũng như những sư phụ của ngành đan tu, ngài tỏ ra ít nhiều e dè đối với chức linh mục, được xem như là một hiểm nguy cho đức khiêm nhường (ch. 62). Thay v́ t́m cách quyến rũ đồ đệ mới, ngài đón tiếp một cách lạnh lùng với những lời gay gắt những ứng viên tự động đến tŕnh diện (ch. 58).

Nhưng nét cơ bản nhất trong những nét khiến ngài gần gũi Đông Phương, chính là quan niệm của ngài về đời đan tu. Đời đan tu không có mục tiêu nào khác hơn là cung cấp cho những người muốn tu (adeptes) phương tiện đáp ứng những đ̣i hỏi của Tin Mừng, theo Chúa Kitô đến cùng. Không có một mục tiêu thứ yếu nào đến làm xao nhăng môn sinh, v́ có nguy cơ làm họ không chú ư đến phần chính yếu.

Thánh Grêgôriô viết rằng động cơ thúc đẩy thánh Bênêđictô trốn vào nơi cô tịch, là ước muốn làm đẹp ḷng một ḿnh Chúa mà thôi. Lời lẽ đơn sơ này biện minh cho ơn gọi đan tu: hay hơn là tất cả mọi sách biện hộ. Ơn gọi này phát sinh từ ḷng ước muốn làm đẹp ḷng Chúa, từ một nỗ lực t́m kiếm Chúa, theo từ ngữ của Bản Luật Ḍng (ch. 58), một cách mănh liệt, bao quát đến nỗi độc chiếm tâm hồn và không chịu chia sẻ với bất cứ bận tâm sâu xa nào khác. Đan viện phụ Monte Cassinô không đ̣i hỏi điều ǵ khác nơi người dự tu: anh ấy có thật sự t́m kiếm Thiên Chúa không? Anh ấy có ḷng nhiệt thành đối với những cử chỉ khiêm hạ không? (ch. 58). Không có tiêu chuẩn nào khác được đặt ra, v́ không tiêu chuẩn nào có cơ sở trong sự biện phân những ơn gọi. Nếu người ta đi tu làm đan sĩ, đó chỉ là để đi đến Thiên Chúa, qua con đường thanh thoát, từ bỏ ư riêng, khiêm hạ tự nguyện “việc Thiên Chúa”, là việc không vụ lợi nhất trong những sinh hoạt tôn giáo và tập trung nhiều nhất vào Thiên Chúa. Hẳn không thấy lo nghĩ đến van hóa nhân bản, không một tham vọng đóng một vai tṛ nào trong xă hội, không một dự định tông đồ trực tiếp nào. Lao động chỉ được xét đến dưới khía cạnh nó có vai tṛ khổ hạnh và nó chỉ là điều tất yếu ở trần thế. Những khách trọ được đón nhận với ḷng bác ái và kính cẩn, nhưng người ta không t́m cách quyến rũ họ. Có dạy dỗ những trẻ nhỏ và những thiếu niên, nhưng với ư định huấn luyện chúng cho đời đan tu.

Đời sống của thánh Bênêđictô và những đan sĩ của ngài như chúng ta được biết qua tác phẩm “Những cuộc đối thoại”, không cung cấp cho ta một h́nh ảnh nào khác về đời sống đan tu. Đối với thời kỳ sống ẩn dật, thời kỳ mà thánh nhân đă không được ai biết đến, t́nh trạng cô lập của những cộng đoàn tu sĩ tại Subiaco hay ở Monté Cassino không tuyệt đối, cũng không có tính cách câu nệ. Những cuộc tiếp xúc với những người lân cận có vẻ tương đối thông thường. Trong thời kỳ đầu tiên mới đến Monté Cassino, Benêđictô dùng việc giảng dạy liên tục, cố đem dân chúng c̣n theo ngoại giáo trong vùng về với Chúa Kitô, và cũng thấy ngài chăm sóc các trinh nữ tận hiến cho Thiên Chúa. Nhưng tất cả những việc đó, hoàn toàn là do cơ hội tạo nên, không có ǵ đi quá những bổn phận b́nh thường của đức bác ái. Đan viện được định nghĩa như là “Trường dạy phục vụ Chúa”, đan viện không có mục tiêu nào khác hơn là đào tạo những kitô hữu trọn lành.

Dom Herwergen đă viết về thánh Bênêđictô rằng, “Công tŕnh chính của ngài là giảng dạy, là thực thi bằng đời sống và là xác định trong Bản Luật của ngài truyền thống đan tu của Đông Phương, với tư cách một người Tây Phương và một người Roma. V́ thế, phải tránh đừng biến vị sáng lập đan viện Monté Cassino thành một đan sĩ Đông Phương lưu lạc sang Tây Phương. Thánh Bênêđictô là một người La tinh chính cống. Nhưng và đó là tất cả điều mà tôi đă muốn chứng minh - Ngài kính trọng truyền thống Đông Phương, v́ truyền thống này đối với đời đan tu th́ tương tự như là truyền thống Tông đồ đối với đức tin Giáo Hội, và ngài muốn trung thành với truyền thống ấy. Chúng ta chỉ hiểu rơ được ngài, nếu chúng ta lưu ư đến mối quan hệ này.

TRUYỀN THỐNG BIỂN ĐỨC TRONG GIAI ĐOẠN PHÔI THAI.

Bản Luật Biển Đức h́nh như không chỉ được viết cho tu viện Monté Cassinô mà thôi. Người ta nhận thấy một số chỉ dẫn về mối lo lắng thích nghi với nhiều nơi và nhiều hoàn cảnh khác nhau. Dù sự kiện chưa được giải thích minh bạch này là như thế nào đi nữa, điều chắc chắn là tác phẩm của thánh Bênêđictô không được đón nhận khắp nơi ngay lập tức. Từ lúc mới bắt đầu được truyền bá - và chỉ tới một thế kỷ sau khi tác giả qua đời - bản Luật ấy chỉ là một bản văn về khổ hạnh trong số nhiều bản văn khác. Quả vậy, khắp nơi bản Luật gặp một nền đan tu đă có lâu đời, và h́nh như lắm khi lại đă trở nên cứng nhắc trong những h́nh thức khá xa tinh thần thuở ban đầu.

Từ giữa thế kỷ IV, nếu không nói là sớm hơn nữa, Tây Phương đă có một thứ đan tu “thành thị”, dĩ nhiên trong đó việc xa lánh thế gian rất ư là tương đối. [9]Trong nhiều trường hợp, tuy vậy, những luật lệ th́ khá giống những luật lệ Đông Phương, để có thể xem những người theo lối tu đó như là những đan sĩ chân chính. C̣n những cộng đoàn quy tụ xung quanh những nhà thờ ở thành thị hay ở thôn quê, để lo việc phượng tự, th́ không phải như vậy; cũng như những cộng đoàn trong các trung tâm phục vụ ở Roma, để làm nhiều việc từ thiện khác nhau. Về những cộng đoàn này, Dom Pierre Salmon đă tiết lộ một cách thật tinh tế tính cách đan tu giả hiệu: đó là những nhóm khá tự nguyện, gồm những kitô hữu đạo đức và những thành phần giáo sĩ, ước muốn cùng nhau sống sâu sắc hơn đời sống kitô, mà không có lời khấn và không có luật sống thật sự nào. Các tài liệu đương thời cho thấy chung quanh nhà thờ có những ngôi nhà mệnh danh là “monasterium”, basilicae monasterium, domus basilicae. Trong những nhà này có những “clerici canonici” sống “secundum minorum canonum regulam”, cũng như những monachi, custodes, servientes, fratres, matricularii, pauperes. Đứng đầu cả cộng đoàn này là “abbas”, vị bề trên không tu sĩ và “thủ trưởng” nhà thờ, tất cả cùng nhau lo việc phục vụ nhà thờ và việc cử hành kinh phụng vụ là một phần quan trọng của việc phục vụ này.

Đời sống cộng đoàn của những giáo sĩ hay giáo dân đạo đức này làm cho họ giống như những đan sĩ. Nhưng họ không tuyệt đối từ bỏ quyền sở hữu, không khước từ sự độc lập cá nhân, không dứt khoát tách biệt với thế gian, không có đời sống khắc khổ như các đan sĩ.

Với thời gian, không thể tránh được ảnh hưởng của những cộng đoàn kinh sĩ đối với những đan viện đích thực và sự thấu nhập hỗ tương của các phương thức. “Những phương thức khá mơ hồ và khá bất toàn của đời đan tu này, Dom Olivier Rousseau viết, lại rất phù hợp với tính t́nh người La tinh vốn tự nhiên thích những nhóm có tôn ti đẳng cấp, việc phụng tự, những lễ nghi được cử hành, chung quanh cung thánh, và một h́nh thức trước hết có tính cách phụng vụ của đan sĩ đạo đức. Đời đan tu Biển Đức không thể thoát khỏi ảnh hưởng đó.

Vả lại, phương thức này sẽ tái diễn bên Tây Phương một cách ổn định và công khai kể từ thế kỷ XI trong những hội các kinh sĩ “chính quy”; với các hội này, các ḍng tu sẽ bắt đầu phân hóa. Nhưng trong sáu thế kỷ trước đó, một cách vô ư thức, phương thức ấy có xu hướng thỏa hiệp với bản Luật của thánh Colomban, ở nhiều điểm sẽ ḥa đồng ít nhiều với bản Luật Bênêđictô, theo đà phổ biến của bản Luật này, th́ cũng vậy, mầm “kinh sĩ”, nếu có thể gọi như vậy đă ḥa đồng với bản Luật Bênêđictô trong sự phát triển của đa số các đan viện, và dù muốn dù không, cũng đă bám rễ do một thứ khả năng ḥa hợp thầm kín của tinh thần La tinh, trong khuân khổ đan tu cũ du nhập từ Đông Phương và đă đem lại nhiều thay đổi quan trọng trong khuôn khổ đó.

Càng lúc càng có thêm đan sĩ được phong chức linh mục, kinh phụng vụ được đọc có nhịp nhàng và được hát chung, hàng ngày có buổi tập họp cộng đoàn và có thánh lễ cộng đoàn, phụng vụ được cử hành long trọng và về sau có những lễ nghi đại triều của các Đan viện phụ, đó là kết quả của hai truyền thống tu tŕ vậy” [10]

Như vậy, qua trung gian Bản Luật, những yếu tố chính của đời đan tu cổ sắp phối hợp với một số h́nh thức đúng ra là của giới “kinh sĩ” thuộc đời tu cộng đoàn. Điều kỳ diệu là chúng vẫn tồn tại cho tới ngày nay, vẫn đem tinh thần của chúng thấm nhuần một tập thể, mà qua dáng vẻ bên ngoài, các ẩn sĩ tiên khởi ở sa mạc có lẽ đă xem là rất ít phù hợp với lư tưởng nguyên thủy, và các nhà tu Đông Phương ngày nay cũng nghĩ như vậy. Tác giả chính của sự hoà đồng này là thánh Benoit làng Aniane (+821). Khi thuyết phục hoàng đế Charlemagne và vua Louis le Pieux bắt buộc tất cả các tu viện trong đế quốc phải sống theo Bản Luật B, th́ ngài đă đem vào đời đan tu lúc đó rất đa dạng và h́nh như thế nào cũng suy sụp nhanh chóng, chất men sắp canh tân đời đan tu theo tinh thần thủơ ban đầu.

 

SỰ KIỆN CLUNY.

 

Đan viện bé nhỏ, sáng lập năm 910 do công tước Guillaume xứ Aquitaine trên đất đai của ông ở miền Bourgogne, trong ít lâu sẽ tiếp tục công tŕnh cải cách của thánh Benoit làng Aniane, bằng cách giúp cho công tŕnh ấy một sức phát triển, một thế vỡng mạnh và một tầm ảnh hưởng vô song. Sau thánh B và Bản Luật của ngài, Cluny là biến cố quan trọng nhất trong lịch sử đan tu Tây Phương. Những ân huệ mà các vị giáo hoàng và các bậc đế vương ban bố cho đan viện, vai tṛ của các đan viện phụ trong nền chính trị đương thời, những tài sản vô tận dùng vào việc từ thiện, những ngôi nhà thờ đồ sộ, các lễ nghi phụng vụ huy hoàng, kể cả nỗ lực cải cách của đan viện có nguy cơ làm lu mờ một sự thật rất đơn giản: Một đời đan tu có kỷ luật cách lạ thường, trung thành một cách tỉ mỉ với điều được xem là tinh thần của Bản Luật, nếu không phải là với tất cả chữ viết.

Mặt khác, phải thú thật rằng, ở diện chúng ta đang quan tâm đây ở đây, những bản văn thật sự của Cluny thường làm cho độc giả thất vọng. Những viện phụ của thời kỳ hoàng kim - Odon, Mayeul, Odilon, Hugues - không viết ǵ mấy, và khi các ngài có viết, th́ ít khi viết về những đề tài đặc thù đan tu. Tiểu sử của các ngài, điển h́nh của lối viết vô vị, th́ về đời sống thiêng liêng của các ngài, chỉ ghi toàn một chuỗi sáo ngữ. Muốn biết tinh thần Cluny, phải nhờ đến Pierre le Vénérable, vị viện phụ thứ chín (+1156), Dom Jean Leclercq đă viết về ngài một cuốn sách luôn luôn theo sát các tài liệu gốc.[11]Tác giả tŕnh bày quan niệm của Pierre le Vénérable về đời đan tu như thế này: v́ khước từ những ǵ là cao trọng trên thế gian, ngay cả trong Giáo hội, và những chức tước chính đáng, v́ là một lối “sống ẩn dật”, bậc đan tu trong xă hội Kitô, là bậc khiêm tốn nhất, thấp kém nhất về phẩm trật, và để gọi bậc đan tu, rất nhiều lần Pierre le Vénérable chỉ dùng danh từ khiêm hạ: trước khi được gắn liền với nhân đức riêng tư của đan sĩ, từ này thích hợp với vị trí của đan sĩ trong Giáo hội, nơi đây đan sĩ không t́m địa vị vẻ vang nào, đối chiếu với sự “uy nghi của Giám mục” là sự “khiêm hạ của đan sĩ”. Nếu Alger và haikinh sĩ khác ở Liège, khi vào Cluny, đă trở thành những đan sĩ thật sự, chính v́ từ bậc thầy xưa kia, họ đă trở nên những môn đệ khiêm hạ; những đan sĩ không được có hoài băo nào khác hơn là trở nên “khiêm hạ và b́nh tĩnh”, và chức vụ trong đời tu càng cao, th́ họ càng phải tỏ ra khiêm hạ, bằng gương lành và lời nói. Cluny nằn ở tận đáy một thung lũng; vị trí này là biểu trưng cho đan sĩ ở đó: đan sĩ “hạ ḿnh v́ Chúa Kitô”, họ hạ ḿnh nơi trần gian để được nâng lên đến Thiên Chúa, vượt các tầng trời, cùng với các thánh. Sở dĩ Pierre le Vénérable nhấn mạnh về điểm này, rơ ràng là ngài xác tín rằng bậc đan tu trong Giáo hội không mảy may quan trọng về mặt phẩm trật, và do đó khác biệt bậc giáo sĩ, bậc của các giám mục, các kinh sĩ, các linh mục, các bậc thầy đủ mọi danh xưng, nghĩa là của tất cả những ai có một vai tṛ tích cực trong Giáo Hội. C̣n đan sĩ th́ chấp nhận không đóng vai tṛ nổi bật nào, và thái độ khiêm hạ này là một h́nh thức chân chính nơi trần gian cũng ví cùng một lư do khiến đan sĩ khước từ mọi sở hữu: v́ người ta tự hào về những sở hữu ḿnh có cũng như về những hành động hay đẹp ḿnh làm, người ta nhận thấy thỏa măn trong các thụ tạo, của cải ḿnh có cũng như bản thân của ḿnh. Chấp nhận không có ǵ cả, chấp nhận không làm ǵ lớn lao, dứt bỏ mọi sự, là phương tiện chắc chắn nhất để chết đối với chính ḿnh (tr. 92-93).

Vậy đời đan tu tại Cluny chính yếu có tính cách chiêm niệm: đời tu ấy được hướng về điều mà Pierre le Vénérable, rập theo ngôn ngữ của Cassien và của tất cả truyền thống huyền bí của Đông Phương Kitô, gọi là “chiêm niệm thiên sự”, và không coá mục đích nào khác hơn là chuẩn bị mọi đan sĩ và giúp một số đan sĩ thực hiện việc chiêm niệm này, với một nhịp độ và một cường độ khác nhau ít nhiều. Pierre le Vénérable có lẽ đă không thể nói về tất cả những đan sĩ của ngài những ǵ ngài đă viết về vài ba người trong họ, như về thầy Benoit: “Ngày đêm hoàn toàn hướng thẳng về việc chiêm niệm thiên sự, tâm tŕ thầy vượt lên trên những thực tại trần gian, và cùng với các thiên thần mà thầy được thị kiến nội tâm, đàm đạo triền miên về Đấng tạo dựng”. Nhưng đời sống của tất cả trôi qua trong bầu khí mà ngài gợi lên bằng những từ đồng nghĩa với rỗi răi, nghỉ ngơi, thinh lặng. Pierre le Vénérable đă không để lại cho chúng ta một bản thuyết minh có hệ thống về thực tại mà ngài ám chỉ bằng những từ ấy. Bù lại, ngài đă sử dụng những từ ấy măi và một cách rất tự nhiên, đến nỗi chúng ta có thể hiểu được ư nghĩa ngài muống bày tỏ. Nghỉ ngơi là trạng thái thích hợp với tu sĩ: khi người ta cải tổ một đan viện, th́ nghỉ ngơi được phục hồi. Trong khi mà rỗi răi của các thánh trên trời là “rỗi răi không bận” (exoccupetorum otium) đời tu là rỗi răi vất vả (negotiosum otium). Mà rỗi răi này, sách Phúc Âm cho chúng ta biết phải hiểu như thế nào: đó là việc của Maria ngồi dưới chân Chúa, bận lắng nghe Lời Người và không rời Người; đối chiếu với rỗi răi của Maria là công việc vất vả của Martha, và rỗi răi ấy, khác hẳn với thứ nhàn cư biếng nhác, có nghĩa là chỉ làm những việc thuộc lănh vực đạo đức thiêng liêng: tâm trí bận cầu nguyện, đọc sách, hát thánh vịnh, chu toàn nhiều bổn phận tôn giáo khác. Đời sống của đan sĩ, trung thành với chương tŕnh nầy, hầu như hoàn toàn được phân chia giữa hành lang bao quanh sân trong tu viện, ở đó đan sĩ ngồi để đọc sách và suy niệm, và nhà thờ, ở đó đan sĩ hoặc đi vào cung thánh để cử hành phụng vụ với cộng đoàn, hoặc đi đến trước những bàn thờ để phủ phục và cầu nguyện một ḿnh (tr. 103-104).

Pierre le Vénérable tóm lược trong vài lời điều mà ngài xem như là vai tṛ của đời đan tu trong xă hội Kitô: “Những đan sĩ có một phần lớn trong việc lo đến phần rỗi của các Kitô hữu, mặc dầu họ không mảy may ban các bí tích. Tất cả những việc mục vụ cần thiết cho dân kitô, họ ủy thác cho các linh mục và các giáo sĩ trên đất đai của họ.” Song với các công việc của các giáo sĩ “triều": rửa tội, giải tội, giảng dạy, Pierre le Vénérable nêu những công việc của đan viện: cầu nguyện, hát Thánh vịnh, khóc lóc, bố thí, đó là những công việc chuyên môn của đan sĩ, chính với những phương tiện này mà Cluny đă cải tổ Giáo Hội (tr. 114).

Người ta thấy những tư tưởng tương tự trong cuốn sách nhỏ của Jean, người của Thiên Chúa (+1049?) “Liber de vitae ordine et morum institutione”[12]Là môn đệ của thánh Guillaume thành Dijon, viện phụ đầu tiêntại Fruttuaria này có thể được xem một cách chính đáng như là đại diện cho trường phái Cluny. Đối với ngài, đan sĩ đă trốn Ai cập để đi vào sa mạc và lên tận núi Sinai (ch.IX, 27); đương sự đă chọn một đời tang chế và yên tịnh, khiêm tốn và hiền hậu (III, 11). Thinh lặng là nhân đức riêng (IV, 12). Mục đích là sự trong sạch trong ḷng và sự sung măn các nhân đức. (XL, 34).

Nơi Jean de Fécamp (+1078) [13] và Pierre de Celle (+1183)[14], hứng khởi huyền bí th́ mạnh hơn. Ḷng nhiệt thành thúc đẩy vị thứ nhất biểu lộ tâm t́nh qua những lời “ca tụng tri ân” rất độc đáo, vừa là những bài suy niệm theo lối trữ t́nh về những tín điều ṇng cốt, vưà là những ao ước nóng bỏng của một tâm hồn khao khát được kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Vị thứ hai chọn lựa trong Kinh thánh những chủ đề, mà thực ra chỉ lấy cớ để nói về chiêm niệm và đời chiêm niệm. Đời tu, đối với ngài, là hưởng trước hạnh phúc thiên đàng. Bao giờ ngài cũng chỉ nh́n đời tu dưới khía cạnh này. Những sinh hoạt đặc thù của đan sĩ là những sinh hoạt có nét tương tự nhiều nhất với sinh hoạt chính yếu của đời sống các thánh: Chiêm ngưỡng Thiên Chúa. Phải chăng ngày của đan sĩ Cluny bị việc ca hát Thánh vịnh choán hết, đến nỗi gần như không c̣n thời giờ để đọc sách và học hỏi? Để quả quyết điều đó, người ta đă dựa vào một bản văn của thánh Pierre Damien[15], trong đó lối nói cường điệu không vắng bóng. Những chứng từ chúng tôi vừa trưng ra nói ngược lại khá rơ. Điều đáng lưu ư là các đan sĩ Xitô đă không trách móc Cluny về những kinh nguyện phụ trội. Không thấy một ám chỉ nào về những kinh nguỵện ấy trong tác phẩm “Apologie” của thánh Bênađô, cũng như trong những tài liệu khác gốc Xitô được Dom Wilmar kê khai[16]. Hơn nữa Hồng y Mathieu d' Albano, sứ thần Toà Thánh và Cựu viện trưởng tại Saint-Martin-des-champs đă khiển trách những viện phụ thuộc Cluny trong tỉnh Reims đă nghe theo Xitô mà bỏ những phần thêm vào kinh nhật tụng; theo ngài, những kinh phụ trội ấy có mục đích bù đắp những khoảng trống trong ngày do việc bỏ lao động chân tay[17]. Vậy những người đương thời h́nh như đă không nhận thấy rằng sự thừa thăi những kinh nguyện đọc lớn tiếng làm cản trở việc chiêm niệm. Việc dành cho phụng vụ, với vô số thêm thắt, một số chỗ quan trọng trong đời đan tu Cluny, không phải là một hiện tượng lẻ loi. Sự kiện đó phản ánh tinh thần của một thời đại, và người ta không thể lên ác cách tiên thiên mà không tỏ ra bất công.


 

[1]Để biết lịch sử linh đạo Biển Đức một cách đầy đủ hơn, xin xem “Histoire de l'Ordre de St Benoit” của Q. Schmitz. Maredsous 942-49, t. II, 1. IV, tr. 309-393; t. VI, 1. II, tr. 149-326.

[2]Về năm tháng trong cuộc đời của ngài, chi tiết duy nhất mà chúng ta biết cách chắc chắn, là cuộc đàm đạo của ngài với đức cha Sabinus, giám mục Canosa, vào tháng 12 năm 546, h́nh như ít lâu trước khi ngài qua đời.

[3]Le Monachisme bénédictin, Paris, 1924, tr. 314.

[4]S. Grégoire, “Dialogue”, III. Ch. 28.

[5]Đan sĩ người Rumani, đă đi tham các nhóm đan tu ở Ai cập; sau đó đă ghi lại kết quả cuộc điều tra của ḿnh, để giúp các đan viện do ông thiết lập ở miền Provence. (+435).

[6]Cassien, “Institutiones”, V, 27.

[7]Nhân vật nổi tiếng nhất, nếu không phải là người sáng lập nếp sống “cộng tu” (hoặc “cộng đồng") ở Ai cập (+348).

[8]Cassien, Sđd, IV, 8.

[9]Xem Consultationes Zacchaei et Apollonii, edit. Morin, tr. 101-102; St. Ambroise, Epist. 63, 66. (PL 16, 1207); St. Augustin, De moribus Eccl. Cath. ch. 33. (PL 32, 1339-1340).

[10]Deux importantes publications monastiques, trong Questions sur l'Eglise et sur son unité (Irénikon). Chevetogne, 1943, tr. 50-51. Xem Henry, Moines et Chanoines, Vie Spirituelles, LXXX, 1949, tr. 53-55, 58-62.

[11]Pierre le Vénérable, Saint-Wandrille, 1946.

[12]Nhan đề do D. Wilmart đề nghị, Revue Bénédictine, 1926, tr. 314.

[13]Xem D.J. Leclerq et J.P. Bonnes, Unmaitrede la vie spirituelle au XIè siècle, Jeande Fécamp, Paris, 1946.

[14]Xem D.J.Leclerq, La Spiritualité de Pierre de Celle, Paris, 1946.

[15]Epist. VI, 5. (PL, 144, 380 AB).

[16]Revue bénédictine, 1934, tr. 296-305.

[17]Xem Dom Berlière, Documents inédits pour servir à l'histoire ecclés de la Belgique, Maredsous, 1894, I. tr. 100-101.