PHONG TRÀO ẨN TU

VÀO NHỮNG THẾ KỶ XI VÀ XII.

 

Song song với phong trào phát xuất từ Cluny, những nỗ lực cải cách cỡ nhỏ hơn nảy sinh và phát triển nhiều nơi khác tại Pháp và Âu Châu. Khó mà phân định phần ảnh hưởng hỗ tương liên kết những nỗ lực đó với nhau. Về phần chính yếu, h́nh như khắp nơi đều có một tinh thần như nhau: đó là tái lập kỷ luật bằng việc tuân giữ đứng đắn hơn, nếu không phải là chính Bản Luật, th́ ít nữa là những truyền thống cổ xưa của đời đan tu. Tuy vậy, một số trong những phong trào này cũng cho thấy một xu hướng ẩn tu mà thời đại trước đă không nghĩ tới. Một sử gia rất thông thạo, Dom Germain Morin c̣n nói đến một cuộc khủng hoảng về đời cộng tu vào những thế kỷ XI và XII.[1]

Qua trung gian của Cassien, cũng có thể của nếp sống đan tu Byzance lúc đoa đang thịnh hành tại miền Nam Ư Đại Lợi, giảng thuyết và đan sĩ của các ẩn sĩ tiên khởi trong sa mạc có được vào thời đó một ảnh hưởng độc lập đối với thánh Bênêđictô và những truyền thống riêng của Tây Phương. Vậy sẽ khai sinh đan viện la Chartreuse (1084), vốn luôn phủ nhận bất cứ mối liên hệ nào với đời tu Bênêđictô. Vậy đan sĩ Biển Đức, thánh Romuald, ngay từ khoảng năm 975, cảm thấy ḿnh bị cảnh cô tịch hấp dẫn và tuy không chủ định, ngài trở lại thành vừa là nhà cải cách đan viện, vừa là “tổ phụ của những ẩn tu” bởi v́ ngài, như một môn đệ đă gọi ngài như vậy, cho họ một bản luật và khơi lại ḷng sốt mến của họ.  Nơi ngài, cũng như nơi thánh Pierre Damien (+1072), đối thủ và sử gia của ngài, không thấy có tinh thần chiết trung (discrétion) đặc thù của thánh Bênêđictô. Đúng hơn, cả hai vị đều cho thấy h́nh ảnh nhiệt thành và siêu nhiên của những nhà cự phách được ơn thiên khải. Những cuộc đi đây đi đó nhiều vô số kể của Romual, đi đến khắp mọi nơi mà Thần khí đưa đẩy, không giống chút nào bầu khí an b́nh và ổn định mà tổ phụ các đan sĩ pt tán dương. Sự khổ hạnh khắt khe của ngài làm cho dân chúng kính phục, những sự vượt quá tầm sức của phần đông. C̣n những bút tích của Pierre Damien th́ ít phảng phát sắc thái êm dịu của bản luật: đó chỉ là những lời công kích dữ dội, những lời thóa mạ không nương tay đối với những tệ đoan của thời đại, lời lẽ quá khích t́m cách gây ấn tượng mạnh.

Tuy nhiên, sự sôi nổi hơi cuồng nhiệt này không nhằm mục đích nào khác hơn là sự an b́nh của cô tịch và “sự rỗi răi thiêng liêng” (spirituale otium). [2]Nơi các đan sĩ và viện phụ, thánh Romual lên án sự vi phạm Bản Luật, ḷng ham muốn xa xỉ, tinh thần độc lập, tật ham nói; ngài không mảy may t́m cách kéo họ ra khỏi đời sống tĩnh tâm và cầu nguyện, ngược lại, ngài tán dương sự cô tịch, ngài muốn ép buộc các viện phụ có nếp sống cô tịch v́ ngài thấy đó là trạng thái b́nh thường của con người chiêm niệm đă đạt tới trọn lành, và do đó, được mời gọi bồi dưỡng kẻ khác bằng thành quả chiêm niệm chan chứa của ḿnh. Lư tưởng đan tu không bị sứt mẻ, người ta chỉ tô đậm những ranh giới của nó, chỉ tạo cho nó một khuân mặt khắc khổ hơn, tựa như là căng thẳng v́ cố gắng: đó là h́nh ảnh của một thời mà những đam mê thật mănh liệt và các tâm trí có khuynh hướng cực đoan.

XITÔ : TRỞ VỀ BẢN LUẬT, VÀ TRƯỜNG DẠY ĐỨC ÁI.

Cho tới lúc gần đây, việc sáng lập đan viện Xitô (1098) đă được các sử gia tŕnh bày như là một cuộc cải cách thử trong số nhiều cuộc thí nghiệm khác, một nỗ lực phục hồi việc giữ luật bị suy đồi làm hao ṃn, bị sự nguội lạnh trễ nải làm cho trở nên bơ thờ. Cuộc nghiên cứu của cha Othoa Ducourneau [3] đă đánh tan huyền thoại này. Lúc đầu, Xitô không đối lập với Cluny như là một đan viện giữ luật nghiêm ngặt đối với một đan viện suy đồi. Ư hướng của các vị sáng lập Xitô đi xa hơn là chỉ tăng cường kỷ luật: đi xa hơn những tục lệ chính đáng được hàng thế kỷ thực hành chuẩn nhận, các ngài muốn trở về với chính Bản Luật được giữ toàn bộ và chỉ Bản Luật mà thôi, không thêm không bớt. Do đó, có việc bỏ đi những y phục và những món an thêm không được thánh B cho phép, có việc kiêng thịt thường xuyên trở lại, có việc khước từ mọi thứ lợi tức không do lao động kiếm được; nhưng cũng có việc quyết định loại bỏ khỏi phục vụ tất cả những kinh nguyện phụ trội và những nghi lễ ngẫu sinh. Mục tiêu không phải là t́m về khắc khổ suông, nhưng t́m lại nét thuần khiết và đơn giản của Bản Luật. Đối ứng với mối lo âu t́m lại chân tính, “trở về nguồn” là một giáo thuyết chính xác về linh đạo của ḷng mến.

Trái với cảm tưởng mà người ta có thể có, khi thấy Xitô có vẻ theo sát mặt chữ của Bản Luật, đan viện này mới đầu xuất hiện như là một trường dậy đức ái.

Vào thế kỷ XII, nước Pháp có nhiều trường dạy những khoa học đời và văn chương cổ điển. không chỉ có trường Saint-Vorles, nơi cậu Bênađô đến học, mà không bao lâu chương tŕnh học vấn làm cho tâm hồn cậu vốn khát khao Chúa Kitô phải bỡ ngỡ và lo sợ nữa, c̣n có Paris, Reims, Laon, Chartres và nhiều nơi danh tiếng khác. Nhưng cũng vẫn những bậc thầy sau đây: Cicéron, Virgile, Horace, Ovide, những phát ngôn viên hùng hồn của một thế giới đă không được đọc sách Tin Mừng. Tại sao lại không viện đến uy tín một bậc thầy khác, bậc Thầy duy nhất có Lời ban sự sống đời đời?: ...Vậy Xitô, Clairvaux và Signy sắp đứng lên chống lại Reims, Laon, Paris và Chartres, trường chống trường, và đ̣i hỏi trên xứ theo Kitô giáo, quyền có một nền học vấn có tính cách Kitô hơn là chương tŕnh đang đầu độc một giới trẻ khao khát Chúa Kitô”.[4]

Cùng lúc với sự quảng bá mau lẹ “trật tự Xitô” (Ordo cisterciensis), người ta chư1ng kiến một cảnh trăm hoa đua nở lạ lùng về giáo thuyết, mà tất cả các tác phẩm đều quy tụ về hai cực sau đây: linh hồn, hay là biết bản thân và đức ái, hay là biết Thiên Chúa. Linh đạo phong phú của thế kỷ Xitô đầu tiên đạt đến cao độ. Thánh Bênađô (+1153), gương mẫu của tâm hồn được ơn Chúa chiếu soi nhờ việc tập luyện về ḷng mến, về nguyện gẫm, về việc đọc sách Thánh, về khổ hạnh như việc tập luyện ấy được thực hiện trong các đan viện. Đối với ngành “thần học đan tu” ([5]phát sinh từ thần học giáo phụ, thánh Bênađô là vị đại diện trọn hảo nhất vào lúc thần học ấy sắp tàn lụi.

 
 


[1]Revue bénédictine, 1928, tr. 99.

[2]De decem Aegypti plagis, ch. 13 (P.L. 145, 694 C).

[3]Les origines cisterciennes, Revue Mabillon, 1932-1936. Xem Lenssenn Le fondateur de Citeaux, S. Robert, Collectanea Ord. Cist. Ref. IV, 1937, tr. 2tt.

[4]Gilson, La théologie mystique de S. Bernard, Paris, 1934, tr. 79-80.

[5]Từ ngữ “théologie monastique” là của D.J. Leclercq, Médiévisme et unionisme, Trénikon, 1946, tr. 13.