NHỮNG
ÂM HƯỞNG NGOẠI LAI:
PHONG TRÀO “SÙNG ĐẠO” CẬN ĐẠI.
Thế kỷ XII, lúc mà đời sống thiêng liêng phát triển rất mạnh trong các đan viện, cũng là buổi b́nh minh của thần học kinh viện. Việc áp dụng biện chứng pháp vào việc học hỏi các mầu nhiệm đang có thể toàn thắng những địch thủ. Thần học càng ngày càng có vẻ thuần lư, với một cơ cấu càng lúc càng được hệ thống hoá. Vốn là đạo lư, thần học biến thành khoa học. Phản ứng lại, một h́nh thức tư tưởng tôn giáo khác bắt đầu h́nh thành mà một ngày kia sẽ được gọi là “linh đạo” và sẽ được biểu hiện trong “văn chương đạo đức”. Sự nghiên cứu và phân loại những tác động của tâm hồn, những phương pháp nguyện gẫm, việc trau dồi trực tiếp tâm tư tôn giáo, phép nội quan, tự tạo cho ḿnh một chỗ đứng độc lập đối với việc chiêm niệm những mầu nhiệm. Đối ứng với một thứ thần học đă trở thành một cái ǵ thuần túy tri thức từ nay sẽ có một “linh đạo”, nhấn mạnh đến tâm t́nh, có vẻ cá nhân và răn dạy, nh́n về phí con người hơn là về phía Thiên Chúa[1], và cũng như thần học mất sự tiếp xúc hữu hiệu với Kinh Thánh, th́ cũng vậy “linh đạo” hầu như khép kín lại, Lời Chúa không c̣n bồi dưỡng dồi dào nữa.
Các đan sĩ đă không đứng bên lề sự biến chuyển này. Khi tự phân chia, ḍng tư tưởng Kitô đă lôi cuốn họ vào những đường lối của truyền thống riêng của họ nữa. Những bút tích của một Jean de Kastl (+ sau 1410), một Louis Barbo (+1443), một Garcia de Cisneros (+1510), một Inuis de Blois (+1566), không có ǵ là đặc thù đan tu. Họ liên kết với trường phái linh đạo này hay trường phái linh đạo nọ đang thịnh hành vào thời bấy giờ, và về diện này, phải nh́n nhận họ có giá trị thật sự, nhưng không thể xem họ là những kẻ trung thành ǵn giữ truyền thống đă có trước.
Tuy nhiên, có một điểm mà họ không chủ trương ngược lại truyền thống: tất cả, không trừ một ai, đều xem linh đạo đan tu như có tính cách thuần túy chiêm niệm, và khi họ có bàn đến linh đạo đan tu, th́ họ dồn mọi nỗ lực để tăng cường nơi anh em ḷng mộ mến đời sống nội tâm. Nếu lục đó họ sử dụng một thứ linh đạo có phương pháp chặt chẽ, th́ không phải là họ ngỏ lời hay tưởng ḿnh ngỏ lời với những tông đồ dấn thân trong hành động: đó là bởi v́ những phương thức như thế cũng cần thiết cho những con người mà ḷng trí không c̣n được bồi dưỡng nơi những nguồn mạch sống động của Kinh Thánh và các Giáo phụ. Họ đă không biết t́m lại sự thống nhất giữa thần học và cuộc sống, giữa hiểu biết và kinh nghiệm, ít ra cùng với nhiều người khác, họ cũng có công duy tŕ ưu vị của ḷng mến và ḷng ái mộ những giá trị Tin Mừng chống lại những tham vọng của một thứ thần học kinh viện đă trở nên khô khan và rỗng tuếch. Hai phong trào song song của thời cận đại: những cải cách và việc giáo sĩ hóa. Nhiều nguyên nhân khác nhau, mà ở đây không phải chỗ kể lại lịch sử, đă gây nên một sự xuống dốc ngày càng thêm sâu của đời đan tu. Kể từ thế kỷ XII, trong thực tế, nếu không phải là trên nguyên tắc, những đan viện càng ngày càng bị tục hóa. “Đan viện trở thành một lănh thổ và chức viện phụ một bổng lộc. Viện phụ là một lănh chúa và một “giám chức”. Viện phụ cai trị, nhưng không hướng dẫn đan sĩ bằng lời nói và gương lành nữa. Rất thông thường, viện phụ bị áp đặt từ bên ngoài, và được chọn v́ những lư do chính trị hay gia đ́nh. Lắm khi, viện phụ cũng không phải là tu sĩ, mà là một giáo dân, được mệnh danh là “viện phụ hưởng bổng lộc”. Mà bề trên thế nào, th́ bề dưới thế ấy”. Đến phiên các trách vụ trong đan viện trở thành những bổng lộc, đối tượng của mưu mô hay chạy chọt bên trong và của cạnh tranh giành giựt bên ngoài. Số chỗ trong đan viện, được hạn chế khít khao, được xem như là những bổng lộc, mà người ta mưu cầu không khác ǵ việc được nhận vào một kinh sĩ hội. Những “ơn gọi” không c̣n phát sinh do thần khí của ân sủng. Việc tuyển mộ bị hỏng ngay từ gốc. Những gia đ́nh quư tộc yêu cầu dành cho con trai ḿnh những chỗ trốmng nơi đan viện, mấy cậu quư tử được một chức nghiệp dọn sẵn.
“Nhiều tu viện chỉ c̣n mở cửa cho giai cấp quư tộc. Đời sống thâm sâu của những cộng đoàn lúc bấy giờ xoay quanh những quyền lợi của gia đ́nh này hay gia đ́nh nọ. Trong những điều kiện như vậy, c̣n có thể giữ kỷ luật một cách đứng đắn được không?
Ưu vị của đan tu trong thế giới phong kiến cũng chính là một mầm mống suy nhược. Khi trở thành một trong những guồng máy chủ động nhất của hệ thống phong kiến, đan tu đă ngă theo vật chất, đă mất mát phần nào tính ca1ch siêu nhiên của nguồn gốc và của sứ mạng của ḿnh, và hơn nữa, phần nào đă bị tục hóa. Xa cách thế gian, đan tu đă trở lại thế gian qua ngă đó, những sinh hoạt đă trở nên thế tục, cuối cùng chúng đă hút hết, làm cạn hết sinh lực. Từ giữa thế kỷ XII, tập thể vĩ đại này (đan tu) bắt đầu cản thấy một sự mệt mỏi nguy hiểm. Nhiều nguyên nhân khác liên kết với nhau, gây trở ngại cho một đời đan tu đúng đắn: cuộc khủng hoảng tài chánh, tiền tệ mất giá làm cho các tu viện trở nên nghèo túng, nghèo đến nỗi mà vấn đề tiền bạc, tại nhiều nơi, sau cùng được đặt lên trên mọi vấn đề khác. Và do những thăng trầm của giá cả, tiền tệ và những thay đổi trong lối khai thác đất đai, việc quản lư những tài sản của đan viện trở thành phức tạp đến mức các tu sĩ, để sống, phải dành hết hời giờ cho việc ấy. Do đó, phụng vụ bị lơ là, việc học hỏi bị bỏ bê.[2]
Để đối phó với những tệ hại này, có nỗ lực triệu tập những “tổng công hội”, được tụ họp trước tiên do sáng kiến riêng của những viện phụ cảm kích trước sư thành công của cơ chế ấy trong ḍng Xitô, những Tổng Công Hội, sau đó ít lâu, đă trở thành đối tượng của những luật chung trong Giáo hội Latinh. Tên tuổi các vị Giáo hoàng Innocent III (1198-1216), Honorius III (1216-1227), Grégoire IX (1227-1241), Benoit XII (1332-1342) được gắn liền với những nỗ lực cải cách ấy.
Từ những “Tổng công hội, không bao lâu đă phát xuất những “hội ḍng” (Congrégations), là những hiệp hội vững bền gồm nhiều đan viện muốn trở lại việc giữ luật đúng đắn hơn, và chống lại những sự can thiệp của người đời. Ngay từ trước Công Đồng Trentô, đă thấy h́nh thành hiệp hội Thánh nữ Justine-de-padoue tại Ư, hiệp hội Bursfeld tại Đức, hiệp hội Valladolid tại Tây Ban Nha, sau cùng hiệp hội Chezal-Benoit tại Pháp.
Theo quyết định của Công Đồng, các hiệp hội đan viện này trở thành bắt buộc, và nhiều Hội Ḍng ra đời. Những Hội Ḍng danh tiếng nhất là Hội Ḍng St. Vanne được sáng lập năm 1604, và Hội Ḍng Saint-Maur (1621). Ư chí cải cách th́ đặc biệt rơ nét nơi Hội Ḍng Sain-Maur, đồng thời có sự tập trung rập theo cách tổ chức của những ḍng tu ra đời sau thế kỷ XII.
Ảnh hưởng của những ḍng tu này c̣n được biểu lộ trên một lănh vực khác, lănh vực tông đồ bên ngoài. Việc đan sĩ được thụ phong linh mục trở thành luật chung. Những giáo xứ lệ thuộc những đan viện, xưa kia được phụ trách bởi những thành phần của cộng đoàn nhiều hơn, ít nữa là tại Đức, Áo, Thụy sĩ. các đan sĩ h́nh như đă không bao giờ thi hành thừa tác vụ tông đồ một cách tích cực bằng những ḍng tu mới. Tuy vậy, không thấy rơ lắm cái ǵ c̣n phân biệt họ với những kinh sĩ chính quy: họ có những trường học, họ giảng dạy, họ giải tội. Có những Viện phụ trở thành giám mục và cai quản phần đất nơi đan viện tọa lạc. Năm 1776, vua Louis XVI trao cho các đan sĩ Mauristes năm trường binh bị. Dom Mabillon lập luận dựa vào “sự giao thiệp và cam kết này với thế gian”[3] để bênh vực việc học vấn bị chống lại ư kiến của Rancé.
Về phương diện đang được chúng ta lưu ư ở đây, th́ sẽ nhận thấy trong những phong trào này thực sự có một mối lo nghĩ trở về nguồn. Bản Luật thánh B được đọc, suy niệm, chú giải, luôn được tham chiếu. Tuy vậy, linh đạo không v́ thế mà thay đổi nội dung. Các đan sĩ Mauristes, chẳng hạn, mà người ta thường chỉ biết về diện nghiên cứu uyên bác, đă là những tác giả viết rất nhiều sách về tu đức. Những sách vở về đời sống thiêng liêng chứng tỏ họ có một sự hiểu biết sâu sắc về các giáo phụ. Nhưng h́nh như họ đă không thấu triệt tinh thần của các ngài. Đời sống nội tâm của họ vẫn cô lập đối với thần học của các giáo phụ, cũng như đối với Lời Chúa.
Cuộc tranh luận về việc học vấn mà tôi vừa nói phớt qua thật sôi nổi và thật rối ren, chỉ v́ người ta thấy khó mà ấn định một cách chính xác đâu là lănh vực của khoa học và đâu là lănh vực của “đời sống đạo đức”. H́nh như họ không nhận thấy rằng cả hai có thể hoà đồng một cách êm đẹp, miễn là cái trước - tôi muốn nói thần học - phải thật là thần học.
Linh đạo “phản chiếu” được thắng lợi hơn bao giờ hết. Và làm sao mà có thể khác được? Bởi lẽ những nhà cổ xưa này (đan viện của các nữ đan sĩ) cần được cải tổ, phần khác bởi lẽ những đan sĩ B mới bắt đầu tự cải tổ các chị em, th́ tất nhiên công tŕnh đó được xúc tiến trong một tinh thần và do những bàn tay trẻ trung hơn. Các tu sĩ Oratoriens, Capucins, Ḍng Tên, dù có cố thấu triệt Bản Luật B mà họ đang giúp canh tân, th́ họ cũng vẫn hoàn toàn là những con người hiện đại, những tu sĩ hậu Công Đồng Trentô. Do đó mặc dù không mất phần thiết yếu của sắc thái đặc thù nguyên thủy, các đan viện ấy cũng đă được in dấu vết mới. Ḍng tu Bênêđictô đă suy niệm lâu ngày trước Công Đồng Trentô và trước ngày sinh của Inhaxiô. Tuy nhiên, h́nh như cái thứ cải cách trong cải cách này, nếu có thể gọi như vậy, đă đưa vào những đan viện một đời sống nội tâm có hệ thống hơn, có quy củ hơn, giống đời sống các Hội Ḍng mới hơn, và có thể nói là phù hợp với những “linh thao” của thánh Inhaxiô hơn. Người ta không chỉ trở về nếp sống đúng đắn của ngày trước, về “nội cấm”, về đức nghèo khó của đời tu, về những lễ nghi phụng vụ huy hoàng, nhưng đồng thời người ta cũng thử làm cho những nữ đan sĩ Bênêđictô quen với những phương pháp và những việc đạo đức mà những thế kỷ sơ khai của ḍng đă không biết.
Mọi việc đă có thể xảy ra khác không, nếu những đan sĩ đă đích thân nắm lấy việc cải cách các chị em của ḿnh? - Không chắc, sách vở của họ và vấn đề linh đạo có rất ít điểm khác biệt với những tác phẩm tương tự do các tu sĩ khác xuất bản. Dom Claude Martin cẩn thận chỉ bảo một cách chính xác cho các tập sinh biết những tâm t́nh mà họ phải cảm thấy vào mỗi giờ trong ngày. Đối với Dom du Sault, th́ kinh phụng vụ chỉ là một “việc đạo đức” trong số những việc đạo đức khác, nên ngài nhét bừa vào giữa giờ nguyện gẫm và giờ xưng tội. Cũng tác giả đó bàn dài ḍng về nguyện gẫm, nhưng chỉ dành vừa đúng hai trang cho việc đọc sách. “Thế th́ chúng ta đang ở đâu, linh mục Bremond dí dỏm kêu lên, chúng ta đang ở đâu, trong pḥng một tu sĩ chiêm niệm, tại buổi tŕnh bày một luận án cử nhân, hay trong văn pḥng một chưởng khế? Cái chậm chạp nặng nề này, cái chứng lư sự như điên này, cái như cầu tự làm khổ ḿnh này, những khó khăn này, những quả núi mà một hơn thở làm tan biến ra không; tất cả những cái đó thiếu một thứ duyên dáng, một thứ hoan hỉ và linh hoạt của các thiên thần, cái vẻ tươi trẻ, vốn làm chúng ta say mê trong những bút tích của Suso. A! chẳng c̣n phải là cái ngày thơ, cái tươi mát xuân xanh của thời Trung cổ, nhưng là cái long trọng, cái đa cảm, cái suy diễn, cái buồn tẻ, cái xám xịt của thế kỷ Nicole, bầu khí nặng nề, trong đó ít lâu nữa những nhà huyền bí sẽ không thể thở được nữa, những câu văn tao nhă sẽ biến thành những lời quở trách, tiếng ca của trẻ thơ sẽ bị át đi bởi những lời lẽ phân tích của các nhà văn đời”.[4]
Thời đại các đan sĩ Maurists cũng là thời đại của Ḍng Trappe, thời đại mà Rancé phun ra ,ời nguyền rủa lên án sự suy đồi của những người anh em áo đen và bêu xấu sự hăng say học hỏi của họ với những lời lẽ khắt khe của người tiên tri. Mặc dầu, những quá khích và những thành kiến rơ rệt, tác phẩm lớn của ông “De la sainteté et des devoirs de la vie monastiques” (1683), có một âm hưởng truyền thống rơ rệt. Tuy nhiên người ta cảm thấy mùi khổ hạnh giả tạo, g̣ ép và tóm lại có tính cách tŕnh diễn.
Cho dù những lời phê b́nh quá dễ dàng này là thế nào đi nữa, th́ cũng phải nh́n nhận rằng linh đạo Bênêđictô của những thế kỷ chứng kiến một sự biến hóa sâu xa về tôn giáo, có một nội dung nghiêm túc, một xác tín nhiệt thành, một sự khắc khổ tạo nên thán phục và kính trọng. Nét duyên dáng dễ mến của một Louis de Blois, cái trung dung và thái độ khiêm nhường của một Mabillon, lương tri vững chắc của một Dom Calmet làm ta nhớ lại thánh Bênêđictô. Sự tiếp xúc với những tư tưởng xa lạ đối với tư tưởng của ngài, đă không làm cho con cái của ngài mất đi mối lo lắng sống phù hợp với tinh thần của ngài.
CUỘC CANH TÂN VỚI GUÉRANGER.
Chính nhờ Dom Prosper Gueranger (1805-1875) mà có sự khôi phục đời tu Bênêđictô bên Pháp sau cuộc Đại Cách Mạng. Vị đan viện phụ đầu tiên tại Solesme tra tay vào việc mà chỉ hiểu biết về đời đan tu qua sách vở. Một bản năng vững chắc thúc đẩy ngài, trải qua trăm ngàn thăng trầm, đến những h́nh thức nhắc lại thời tiền-trung-cổ hơn là thời đại thánh Vanne và thánh Maur. Những nguyên tắc, những quan niệm của ngài không tránh khỏi bị chỉ trích là có tính cách lăng mạn: ngài cũng vậy, ngài cũng theo thời. Nhưng những nguyên tắc và quan niệm ấy mang một cái mầm vẫn tiếp tục phát triển và mang kết quả: ḷng ái mộ văn hóa kitô cổ, ư thức sâu sắc về phụng vụ, ư muốn đạt được trong sáng triệt để khi theo đuổi lư tưởng đan tu. Ảnh hưởng của Dom Guéranger đă và c̣n rất lớn lao đối với những đan sĩ áo đen. Nhờ ngài mà các đan sĩ này được xem như là những vô địch bẩm sinh của phong trào phụng vụ hiện đại. Chính ngài, một cách ư thức hay vô ư thức, cách trực tiếp hay gián tiếp, đă bắt buộc họ phải xét lại ơn gọi riêng của ḿnh để nhận ra giám trị cao cả bất khả di nhượng của ơn gọi ấy.
Theo nhiều danh nghĩa khác nhau và theo những chiều hướng đôi khi trái ngược nhau, những tác phẩm của Dom Maur Wolter, [5]Dom Delatte,[6]Dom Marmion,[7]Dom Butler,[8] Dom Herwegen, [9]Dom Stolz,[10] Dom Vandenbroucke,[11] cha P. Bouyer (tu hội Oratoire), Dom Steidle, để chỉ kể những tác phẩm chính, thuộc về cái tinh thần t́m về nguồn mạch và thấu triệt chương tŕnh được thánh Bênêđictô vạch ra.
Sự tiến bộ về những khảo cứu lịch sử, một mối bận tâm rất lớn sống thành thật, đơn sơ và chân thật, những nhu cầu của một thời đại khao khát thoát khỏi những ǵ là thiếu nhân đạo trong một nền văn minh làm choáng váng đầu óc, hiện nay đang đưa các đan sĩ trở về nguồn và khiến họ ước muốn chỉ là đan sĩ mà thôi.
Ngay cả tính đơn sơ của lư tưởng các đan sĩ, đối với trí óc bề bộn của chúng ta, th́ cũng tạo nên một khó khăn, khi ta muốn hiểu rơ hay muốn diễn tả đầy đủ lư tưởng ấy. Nhưng đó là việc phải thử làm bây giờ, dù coa nguy cơ phải lặp lại dưới một h́nh thức khác những ǵ mà phần phác họa lịch sử trên đă hé cho thấy.
Đọc những điều trên đây, người ta có thể có cảm tưởng rằng tôi đă vô ư pha trộn hai điểm khác nhau: linh đạo đan tu và đời đan tu. Cũng dễ trả lời rằng ở đây đời sống và linh đạo chỉ là một. Dựa trên ngữ nguyên có lẽ đúng của danh xưng, - monos - đơn (đan), có thể nói đan sĩ là con người của một tư tưởng duy nhất, con người thống nhất tất cả mọi hoạt động để theo đuổi một mục đích duy nhất. Chỉ một ḿnh Thiên Chúa. Khẩu hiệu này của bất cứ Kitô hữu chân chính nào, của bất cứ người nào có ḷng đạo đức chân thành, th́ người đan sĩ,[12] hiểu theo nghĩa đen và áp dụng khẩu hiệu ấy theo một cách suy luận câu nệ đôi khi gây kinh ngạc.
Tại gốc của ơn gọi đan tu, có sự ước muốn, một thứ ước muốn lắm khi lờ mờ và do dự về đối tượng, ước muốn lià bỏ, trốn tránh xa lánh thế gian và mọi tạo vật. Vị thiên thần đă rót vào tai thánh Arsène: “Hăy chạy trốn, hăy giữ thinh lặng”, th́ cũng ngỏ lời với bất cứ ai được Thiên Chúa tuyển chọn để chỉ phục vụ một ḿnh Ngài mà thôi. Đan sĩ ư thức một cách sâu sắc rằng những thực tại trần thế là tạm bợ, tất cả những ǵ mắt thấy đều là phù vân. Trần gian là chốn lưu đầy và ta chỉ sống nơi ấy một thời gian hữu hạn. Hơn nữa, trần gian tất cũng sẽ qua đi. Vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của mỹ thuật, những tuyệt tác của xảo năng con người tất cả phải bị tiêu diệt trong cuộc hỗn loạn hoàn vũ để nhường chỗ cho trời mới và đất mới, nơi đó công chính sẽ ngự trị. Tại sao lại quyến luyến nhiều như vậy đối với một t́nh trạng hoàn toàn tạm bợ? “Chúng ta hăy để những chuyện đời cho người đời”. thánh Pierre Damien nói: “Tỏ ra ḿnh đă chết đối với một thế giới trước sau cũng phải chết thế là đủ”. Tuy không lên án những kẻ có vai tṛ xây dựng thành đô trần thế, đan sĩ biết đó không phải là ơn gọi của ḿnh; và mặc dù có nguy cơ bị người ta không hiểu ḿnh, đan sĩ trốn vào sa mạc hay là tự giam ḿnh trong tu viện; tờ nay là khách lạ đối với thời đại hiện có, đan sĩ trở thành công dân nước Trời trước kỳ hạn. Đó là triết lư, là nhăn quan về thế gian, của đan sĩ, điên rồ trước mắt loài người, khôn ngoan trước Thiên Chúa.
Các triết lư này không phải thuần túy tiêu cực. Dom Guéranger đă có thể nói: “Sự xa cách thế gian, một ḿnh nó, cũng làm nên nhà tu”. C̣n thánh Bênêđictô th́ nói đặc điểm của môn sinh của ngài là “đi t́m Thiên Chúa”. Hai diện bổ sung cho nhau và chúng xác định trọn vẹn ơn gọi đan tu. Nếu đan sĩ trốn thế gian, chính v́ đă nhận thấy tính cách phù vân của nó, và đó là v́ Thiên Chúa thu hút đương sự mạnh hơn là tất cả mọi sự khác. Do đó tất cả sinh hoạt của đan sĩ được tóm lại trong sinh hoạt của Maria xứ Bêtania: đan sĩ lắng nghe Chúa và cho Chúa biết điều ḿnh ước muốn, đan sĩ cố gắng ra khỏi bản thân sau khi đă ra khỏi thế gian, để đi vào niềm vui và sự thân mật của Thầy ḿnh.
Đời sống của đan sĩ không có mục đích nào khác hơn là gặp gỡ Thiên Chúa. Đời tu đă không được lập ra nhằm một công việc nào thuộc lănh vực trần thế. Những công tŕnh mà các đan sĩ Bênêđictô đă thực hiện, trong cụ thể - khai khẩn Âu Châu, bảo tŕ những cổ tích, loan báo Tin mừng cho những dân tộc ngoại giáo, những tác phẩm nghệ thuật, sách vở uyên bác hay những cuộc nghiên cứu lịch sử v.v... - không được làm ta hiểu lầm. Do ơn gọi, đan sĩ không phải là một nông dân, một nhà bác học, một tông đồ. Nếu có khi đan sĩ đóng vai tṛ đó, th́ sinh hoạt như thế vẫn có tính cách hoàn toàn phụ thuộc đối với ơn gọi, do những cảnh huống không tất yếu, nếu không phải là ngẫu nhiên. Sinh hoạt đó phải phụ thuộc vào việc riêng của đan sĩ, việc mà ta có thể gọi là “việc Thiên Chúa”, theo nghĩa rộng răi nhất và hàm súc nhất của từ ngữ này. Vừa khi mà tính cách toàn vẹn của công việc này có cơ bị tổn hại th́ phải hy sinh không nương tay công việc trần thế. Và bởi v́ theo quan niệm của đan sĩ, sự t́m kiếm Thiên Chúa đ̣i hỏi phải ít nhiều cô lập với thế gian, nên lănh vực mà sinh hoạt trần thế của đan sĩ được thi thố, cũng tất nhiên phải có giới hạn.
Một đời sống biệt lập với thế gian và với sự náo động của nó, là một đời sống rỗi răi, thinh lặng, “b́nh an”, thánh Antôn đă từng chỉ ơn gọi đan tu bằng từ ngữ “propositum quietis”, dự tính, “lư tưởng về đời sống an b́nh”. (43) Verba seniorum, I, II, I. (P.L. 73. 858)./ Thánh Bênêđictô muốn thấy sự b́nh an ngự trị trong đan viện của ngài. Những khách trọ (ch. 53), những đan sĩ qua đường (ch. 61), tu sĩ quản lư (ch. 31), tu viện trưởng (ch. 65), đan viện phụ (ch. 63 và 64), không ai có quyền gây náo loạn. Trong truyền thống thiêng liêng đời tu có nhiều chứng từ thuận lợi cho quan niệm ấy. Tưởng không cần nói rằng một sự b́nh an như thế chỉ chính đáng nếu nó tạo nên bầu khí cho một sinh hoạt tinh thần phong phú. Rỗi răi chân chính của đan viện là chính sự bác bỏ cảnh nhàn cư, negotiosum otium (rỗi răi vất vả).
Sự cách biệt với thế gian có phải đi tới sự cô lập trọn vẹn, đế sự cô quạnh tuyệt đối không? Sa mạc, có phải là nơi mà ơn gọi đan sĩ bắt buộc phải đưa đến không? Thánh Bênêđictô và các môn sinh không nghĩ như thế. Họ thấy đời ẩn tu là một đặc sủng phi thường, vả lại hoàn toàn chính đáng và rất phù hợp với xu hướng thiêng liêng của riêng họ. Nhưng nơi b́nh thường để họ nên thánh là “cộng đoàn”. Họ gán cho cộng đoàn một sự kiến hiệu đặc biệt để cải thiện tính t́nh và thực hành nhân đức. Khi ngài nói về nhiệt thành th́ thánh Bênêđictô chỉ nghĩ đến những nhân đức thiết yếu có tính cách cộng đoàn: kính trọng lẫn nhau, nhịn nhục, kính nể những ước muốn của kẻ khác, quên ḿnh, t́nh huynh đệ, ưu ái, khiêm nhu và chân thành đối với viện phụ và ngài kết luận bằng cách ước mong Đức Kitô dẫn đưa “hết thảy” chúng ta “cùng nhau” vào đời sống đời đời (ch. 72).
Cộng đoàn Bênêđictô là một “gia đ́nh”, bởi v́ viện phụ là cha, và những đan sĩ là anh em. B́nh thường viện phụ tại chức đến chết, và cũng đến chết mà những đan sĩ hứa sẽ sống trong đan viện nơi họ tuyên khấn. Sự vững chắc, an toàn và thanh b́nh, vốn ảnh hưởng đến năo trạng của mọi người và của mỗi người. Sự kiên tŕ trong cố gắng, sự tôn trọng truyền thống, sự đồng tâm nhất trí, ḷng mộ mến thiện ích chung, là những thành quả tự nhiên của cơ chế Bênêđictô.
Khổ hạnh là nền tản của một đời tận hiến cho Thiên Chúa. Về khắc khổ thể chất, th́ đời đan tu đă dựa nhiều hơn vào những khắc khổ mà truyền thống sơ khởi đă để lại: ăn chay, kiêng thịt, thức đêm. Đời đan tu đă thấy rằng những cắt xén về ăn uống và giấc ngủ nghỉ là tự nhiên nhất và thích hợp nhất để làm cho thân xác được dẻo dai và có ít nhu cầu và đó là những điều kiện để thân xác phục tùng tinh thần.
Cũng nhằm mục tiêu tự chử mà việc giữ thinh lặng, thứ rào cản để chặn bớt những lệch lạc của một năng khiếu đặc biệt cứng đầu.
Chúng ta đă thấy, thánh Bênêđictô đưa vào sự khổ hạnh này một sắc thái chừng mực, “chiết trung”, nhân đạo rất đặc thù. Đối với ngài, khổ hạnh là thứ yếu, và ngài lưu tâm nhiều hơn đến những xả kỷ có tính cách nội tâm hơn. Tuy nhiên không có nhiều chi tiết quá tỉ mỉ một số công thức đơn giản: bỏ ḿnh để theo Đức Kitô, trở nên xa lạ với những hành động của thế gian, ghét bỏ ư riêng (ch. 4), từ bỏ ư riêng; chọn con đường hẹp. Không c̣n sống theo ư riêng, không c̣n nghe theo những ước muốn riêng tư và sự quyến rũ của lạc thú, đặt những hành động của ḿnh dưới sự phán đoán và mệnh lệnh của một người khác, sống cách vững bền trong cộng đoàn, các đan sĩ ước mong có một viện phụ làm bề trên (ch.5). Họ không thể tự do sử dụng thân xác và ư muốn của họ (ch. 33). Đọc chương bẩy của Bản Luật, ta thấy tất cả khổ hạnh của đan sĩ được tóm lại trong một nỗ lực hạ ḿnh: sự thăng tiến lên Thiên Chúa được mô tả cách nghịch thường dưới h́nh thức cụ thể, tương tự như những bậc thang, vừa đi lên, hướng về ḷng mến, vừa đi xuống, hướng tới sự bỏ ḿnh.
Thánh Bênêđictô nhấn mạnh về những nhân đức “tiêu cực” không khác ǵ phần đông các tác giả đan sĩ ngày trước. Đối với họ, h́nh như sự kết hợp vơ1i Thiên Chúa tự nhiên chớm nở trên những đổ nát của ḷng tự phụ. Có lẽ họ sẽ thiếu tin tưởng đối với một nhân đức hay một lối nguyện gẫm mà không căn cứ vào việc xả kỷ triệt để nhất. Tuy nhiên, những “việc thiêng liêng” không xa lạ ǵ đối với họ. Nhưng ở đây cũng vậy, sự đơn giản vẫn ngự trị như chúa tể.
Trước hết, chúng ta hăy tố cáo một công thức đă trở thành cổ điển: ora et labora (cầu nguyện và lao động). Công thức này bỏ qua một vế và đó không phải là vế ít cần thiết nhất của bộ ba truyền thống: cầu nguyện, đọc sách, lao động.
Không phải là lúc bàn rộng đến lao động ở đây. Lao động tay chân - v́ vấn đề là đó - xưa nay vẫn là đề tài tranh luận sôi nổi giữa các đan tu, nhất là từ lúc mà việc học hỏi được coi như là một sinh hoạt tách biệt khỏi đời sống đạo đức. Văn chương đan tu đôi khi đối lập lao động với những “việc thiêng liêng": cầu nguyện và đọc sách; nhưng làm như vậy là sai. Cassien viết: “những đan tu Ai cập xác tín rằng nếu họ càng chứng tỏ nhiều mộ mến và nhiệt thành đối lao động, th́ họ sẽ càng đạt tới một sự trong sạch tâm hồn và một sự chiêm niệm cao đẹp nhất”. Thánh Bênêđictô cũng không nghĩ khác hơn. Rơ ràng là ngài xem mục đích của lao động như có tính các đạo đức; không thể để nó phụ thuộc vào bất cứ một quyền lợi trần thế nào. Nếu đan sĩ không thể khỏi lao động được, có lẽ đó là v́ những nhu cầu của cuộc sống trần thế; đó cũng là, và nhất là, v́ lao động là thành phần trong toàn bộ đời sống nghèo khó và khiêm hạ mà đan sĩ đă chọn, và cũng v́ lao động góp phần vào việc trấn áp những đam mê và tạo quân b́nh tâm lư.
Việc “cầu nguyện” của đan sĩ có tính cách cộng đoàn trước tiên. Đó là “việc Thiên Chúa” (opus Dei), một cách tuyệt vời. Thánh Bênêđictô muốn đặt việc cầu nguyện lên trên tất cả và ngài dành mười chương trong Bản Luật để mô tả cách sắp xếp ấy. Tuy nhiên, h́nh như tầm quan trọng số một và đôi khi có tính cách độc chiếm được những đan sĩ “áo đen” gán cho phụng vụ là đặc biệt do ảnh hưởng của những cộng đoàn kinh sĩ thời Charlemagne. Vả lại, trước Dom Guéranger và Dom Delatte, họ rất ít tŕnh bày lư thuyết về vai tṛ của phụng vụ trong cuộc sống của họ. Dù sao, khi đi vào con đường này, th́ hầu như do bản năng, họ đă làm đúng theo tinh thần của Giáo Hội. Có lẽ là qua Phụng vụ mà họ hiệp thông nhiều hơn với đời sống thâm sâu của Giáo Hội, chính qua phụng vụ mà họ gắn bó với những tư tưởng, những tâm t́nh của Giáo Hội và bênh vực những quyền lợi của Giáo Hội. Chính phụng vụ giữ cách đắc lực nhất tất cả con người của họ quy hướng về Thiên Chúa, lo lắng đến vinh quang của Ngài và lệ thuộc và ân sủng của Ngài.
Tuy nhiên, phải lưu ư rằng linh đạo đan tu cũ không có giam hăm kinh nguyện chính thức và nguyện gẫm riêng tư vào hai ngăn kín mít không thông với nhau. Linh đạo ấy nhằm trước hết duy tŕ sự liên tục của việc cầu nguyện. Những buổi tập họp phụng vụ đáp ứng một bổn phận ít nhiều được nhận thức, đồng thời cũng buộc những kẻ nguội lạnh phải đưa vào đời sống của họ ít nữa là một cái ǵ đó của lư tưởng này. Kinh nguyện riêng tư đi theo lao động, điểm việc đọc sách thiêng liêng bằng những tâm t́nh hứng khởi dâng lên Thiên Chúa và đôi khi cũng được thực hiện, chỉ để cầu nguyện thôi trong nhà nguyện vắng vẻ hay trong căn pḥng cô quạnh. Trong trường hợp sau này, người ta có được “nguyện gẫm thuần túy”, không c̣n vướng víu lời nói hay bất cứ sinh hoạt ngoại lai nào.
Thánh Bênêđictô dành một ít thời giờ cho thứ nguyện gẫm này, sau những giờ kinh phụng vụ (ch. 20), ngài để cho mỗi người được tự do âm thầm kéo dài việc nguyện gẫm ấy , nếu được ơn Chúa thúc đẩy (ch. 52).
Việc đọc sách thiêng liêng tự nó được hoàn toàn hướng về việc cầu nguyện. Thánh Bênêđictô gọi là “lectio divina” (đọc sách thánh), và từ ngữ này nói lên tất cả ư nghĩa quyển sách của đan sĩ, trước tiên là Thánh Kinh. Với Thánh Kinh, đan sĩ gặp được câu trả lời cho nguyện gẫm. Dĩ nhiên, Kinh Thánh đ̣i hỏi một nỗ lực suy tư và hấp thụ; nhưng trước hết, Kinh Thánh ban bố ư Chúa, và do đó, muốn đan sĩ đón nhận nhỉều hơn là vội vă đem ra khỏi cối xay của lư trí, chất bột ít nhiều tinh tuyền của những suy tư cá nhân. Việc chuyên cần đọc Thánh Kinh dần dần làm cho đan sĩ đặt những giáo huấn của Thiên Chúa lên trên mọi tư tưởng con người, dù tư tưởng này có cao siêu đến đâu. Đan sĩ khám phá nơi Thánh Kinh một sự an toàn, một sức mạnh, một sự sâu sắc mà không bao giờ sách của các triết gia sẹ đem lại cho họ. Sự “suy niệm” của đan sĩ, chính là đọc sách “Thánh Kinh, xen kẽ với lời cầu nguyện. Có nên phân biệt việc đọc Thánh Kinh và lao động trí óc không? Có nên lẫn lộn không? Những đan sĩ đă suy nghĩ về ơn gọi của ḿnh th́ luôn luôn có khuynh hướng cho rằng ḿnh không có quyền lưu tâm đến những khoa học đời, đến những “nghệ thuật tự do” như cách nói của người xưa. Do đó, nơi họ, có một sự chống đối lắm khi rất rơ rệt đối với nền van hóa nhân bản, một sự chống đối rất phù hợp với tâm hướng cánh chung của họ. Đối với sự hiểu biết Thiên Chúa và tất cả những ǵ có thể giúp có được sự hiểu biết ấy th́ lại khác hẳn. Mỉễn là môn thần học gắn bó mật thiết với đức tin, khao khát học hỏi giáo huấn của Thiên Chúa hơn là phô trương những suy diễn riêng tư, mộ mến Thánh Kinh và những nguồn mạch khá của Mạc khải, th́ không có lư do ǵ để tách biệt Thần học ra khỏi những ǵ mà người ta xem như đời sống thiêng liêng chính danh. Đời sống thiêng liêng không phải là chuyện thuần túy t́nh cảm; nó phải được nuôi dưỡng nhờ giáo thuyết và đặt nền tảng trên chân lư. Việc học hỏi những môn đạo, kể cả Thánh Kinh, thực ra ngày nay mặc lấy một kiểu cách khác và sử dụng những phương pháp khác với thời thánh Bênêđictô. Có sao đâu, nếu tinh thần đức tin c̣n nguyên vẹn và mục đích cuối cùng vẫn không thay đổi? Việc đọc sách luôn có tính cách thánh, nếu người ta đọc là để t́m biết ư Thiên Chúa và để chỉ hướng về Ngài.
Không nên trông mong sẽ t́m thấy trong linh đạo đan tu một bản phân tích chính xác về những mức độ nguyện gẫm và về tiến bộ của linh hồn vươn lên Thiên Chúa. Khi mô tả sự kết hợp huyền bí, những tác giả Bênêđictô thích sử dụng những h́nh ảnh hầu như luôn luôn trích từ Thánh Kinh: đó là ước muốn, hơn là xác định hiện tượng huyền bí ấy là ǵ. Quan điểm của họ về chiêm niệm, cũng như tất cả nhăn quan của họ về sự vật thường cho thấy một sắc thái cánh chung rơ rệt: họ hiểu chiêm niệm như là một sự ước muốn có được chiêm niệm trọn hảo, nghĩa là được chiêm ngưỡng Thiên Chúa một cách rơ ràng và trọn vẹn, ước muốn này phát sinh từ ḷng mến và được ḷng mến ban cho bước đầu thỏa măn, một tiền vị của Thiên Đàng, một phác họa của sự kết hiệp trọn vẹn. “Chính nhờ ḷng mến mà người ta hiểu biết được Chúa”, Amboise Autpert (+783) thốt lên, và trong t́nh yêu mến của người con hiếu thảo, được thanh luỵện khỏi mọi sự sợ sệt của người nô lệ, thánh Bênêđictô đă từng thấy chóp đỉnh của sự trọn lành (ch. 7 phần cuối).
Nước mắt là dấu chỉ và là hậu quả của việc Chúa thăm viếng: nước mắt, hối tiếc v́ đă làm mất ḷng Thiên Chúa rất nhân lành, nước mắt ngọt ngào và âu yếm được tiếp xúc với t́nh thương của Ngài. Lời cầu nguyện của tội nhân đang sám hối và lời cầu nguyện của linh hồn thánh thiện đang nếm được mạch nước của t́nh yêu vĩnh cửu; cả hai lời cầu nguyện kèm theo những giọt lệ mà chỉ có Thiên Đàng mới lau khô.
“Đúng, Đức khôn ngoan nói, những tôi tớ của Ta đă đi vào con đường mà chính Ta đă vạch ra cho chúng. Chúng đă ĺa bỏ thế gian xấu xa và giả dối, vốn không muốn nghe lời Ta chút nào, và cũng không muốn tuyên xưng quyền năng của Thánh giá Ta. Ta đă đặt chúng như một dấu chỉ cho muôn dân, hầu sự hiện diện âm thầm của chúng loan báo cho nhân loại biết những vương quyền của Cha Ta và tính cách phù du của thế giới hiện tại. Họ tỉnh thức trong khi chờ đợi ngày trở lại của Ta, khi th́ in lặng khao khát lắng nghe Lời Ta, khi th́ xướng hát những bài thánh ca hành hương.
“Chúng có vẻ không quan tâm đến anh em loài người; nhưng ḷng chúng siết chặt tất cả trong một t́nh yêu nóng bỏng, v́ ḷng họ tràn đầy Thiên Chúa”.
“Ta ở giữa chúng như mạch suối vô h́nh của sự sống, v́ chúng tụ tập v́ Danh Ta”.
“Những tôi tớ Ta, Đức khôn ngoan nói, là những người con của sự sống lại: đời sống của chúng đă thuộc thiên quốc, nở hoa trên Thánh Giá.”
[1]Về hiện tượng này, xem D.Fr. Vanderbroucke, Le divorce entre théologie et mystique. Ses origines. Nouvelle Rev.théol. 1950, tr. 372-389. Phong trào mệnh danh là Devotio moderna chủ trương rằng chiêm niệm chỉ là vấn đề ḷng mến, và không cần được nân đỡ bởi một tư tưởng nào khác.
[2]Xem D. Schitz, Histoire de l'Ordre de S. Benoit, t. III, 1. I, ch. I, tr. 5-6.
[3]Traité des Etudes monastiques, Paris, 1691, tr. 139.
[4]Sđd, t. VI, 1926, tr. 97-98.
[5]La vie monastique. Ses principes essentiels. Maredsous, s.d.
[6]Commentaire sur la Règle de S. Benoit, Paris 1913.
[7]Le Christ, idéal du moine, Maredsous, 1922.
[8]Le monachisme bénédictin, Paris 1924.
[9]Sinn und Geist der Benediktinerrgel, Einsiedeln, 1944, S. Benoit, Paris, s.d.
[10]L'ascèse chrétienne, Chevetogne, 1948.
[11]Le moine dans l'Eglise du Christ, Louvain, 1947.
[12]Không cần phải nói rằng khi tôi gán cho người “đan sĩ” nói chung một tâm t́nh hay một tư tưởng nào đó, th́ tôi ngĩ đến một mẫu người đan sĩ lư tưởng, chớ không phải nghĩ đến những ǵ đă được thực hiện cụ thể, bao giờ cũng c̣n thiếu sót.