CHƯƠNG NĂM : TRƯỜNG PHÁI PHAN SINH
Lm. Valentin Breton, OFM
II. GIÁO THUYẾT CỦA NHỮNG VỊ BẬC THẦY TRONG D̉NG :
Về vị trí được Thiên Chúa Ba Ngôi ban cho Đức Giêsu Kitô trong công tŕnh của ḿnh, và do đó trong định mệnh của loài người, th́ Phanxicô quan niệm nhờ một trực giác, có lẽ do thiên tài, đúng hơn là do đặc sủng. Và những nhà tư tưởng thuộc hậu duệ của ngài đă hệ thống hóa tầm mức quan trọng và những hệ quả của quan niệm ấy, bằng cách áp dụng vào những dữ kiện của Mạc khải, những kỹ thuật giáo khoa truyền thống. Từ những suy niệm của các vị ấy, đă h́nh thành điều mà ngày nay chúng ta gọi là linh đạo Phan sinh.
Có thể nhận ra tinh thần của thánh Phanxicô trong sự suy tư của những nhà thần học của ḍng ngài, cũng như trong những tác phẩm của các thánh thuộc ḍng. Chúng tôi chỉ nêu lên những vị lớn nhất và được lắng nghe nhiều nhất, v́ không phải là lúc trưng bày những bản văn, nhưng là tŕnh bày những nguyên lư và những sinh hoạt của một tư tưởng sống động. Danh tánh của các ngài không được đọc kỹ càng : thánh Bonaventura và chân phước Jean Duns Scot.
Thánh Bonaventura, ngoài tác phẩm :“Những chú giải Kinh Thánh”, những tác phẩm rộng lớn về thần học và giáo huấn b́nh dân những bài giảng- đă viết nhiều tác phẩm thuần túy về linh đạo; không phải bên lề hay vượt xa các tác phẩm khác, nhưng trong sự liên đới mật thiết và với tính cách là áp dụng sống động. V́ đối với ngài, mọi kiến thức là hư vô, nếu không căn cứ trên Đức Kitô, nếu không qui hướng về việc hiểu biết, mến yêu và phụng sự Thiên Chúa, trong Đức Kitô. Đến nỗi, tác phẩm tóm lược tất cả giáo thuyết của ngài, đáng tiếc là chưa được hoàn tất, là tác phẩm “Collationes in Hexaéméron”, tổng hợp những giáo huấn của sự hiểu biết của nhân loại, kể cả linh đạo.
Về vấn đề chúng ta đang quan tâm lúc này, chúng ta lưu ư “Ba con đường”, tác phẩm chung cuộc và cơ bản, “Cuộc hành tŕnh của linh hồn tiến về Thiên Chúa”, sách được ca ngợi nhiều, hay được bắt chước, được ít hiểu hơn, v́ phải nắm điều này :“Đường này là Chúa Kitô”, “Sáu cánh của Sêraphim”, giải thích việc thực thi quyền bính. Trong số những tác phẩm kém phần quan trọng, có :“Cây sự sống”, “Tâm sự ḿnh với Chúa”, “Cách sinh sống của linh hồn”...
Thánh Bonaventura, tiến sĩ Xêraphim, được thấm nhuần, nhuyền nhuyễn sâu sắc tinh thần của tổ phụ Xêraphim. “Lắm khi chúng ta có cảm tưởng được nghe thánh Phanxicô đang cố vươn lên - hay đang vô ư - mà bàn về triết lư.
Vị thứ hai cho biết tư tưởng, tức là linh đạo Phan sinh, là Jean Duns Scot, chân phước trong ḍng và tại giáo phận Cologne và Nole trong Giáo hội. Duns Scot, ngoại trừ điểm mà chúng ta sắp nêu lên, khác khá nhiều thánh Bonaventura. Do bởi giáo dục , huấn luyện và học hỏi tại Oxford với tính cách là sinh viên và giáo sư, ngài đă củng cố sự ư thức ngài có v́ gia truyền, về “thực tại và cụ thể”, ngược lại với những xu hướng lư thuyết của những tư tưởng gia trên lục địa. Ngài vào “nhà trường”, mà đúng lúc để hưởng những công tŕnh của Alexandre de Halès, Albert le Grand, Bonaventure, Thomas, Roger Bacon, và để gạn lọc giáo huấn của mạc khải, khỏi những xâm nhập tục hóa của triết Aristote bị Hồi giáo hóa. V́ thế ngài cùng quan điểm với vị tiền bối Bonaventura - chính là điểm được nói trên - về sự giải thích chức năng và sứ mạng Chúa Giêsu Kitô, do vị cha chung Phanxicô người ta quên quá dễ dàng, người ta bỏ qua không nói đến một cách dễ dàng về Đức Bà Vô nhiễm : ngày nay đó là một tín điều, nhưng trong học thuyết về Chúa Kitô của Scot, chỉ là hệ quả của ưu vị tuyệt đối và sự trung gian phổ quát của Người Con của Đức Maria, “Homo Christus Jesus”, Giêsu Kitô.
Chính trên ưu vị này mà linh đạo Phan sinh được xây dựng, được hệ thống hóa bởi vị kinh sư thứ hai của ḍng; vị này thực ra không có viết một pho sách linh đạo chứ danh hay được biết nào, nhưng đă cung cấp khá đủ những gợi ư và những bản văn, hầu các môn đệ và những nhà b́nh luận có thể dựa vào ngài.
Đối với thánh Bonaventura và
Jean Duns Scot, cũng như đối với vị tổ phụ, thánh Phanxicô, Đức Kitô là ân huệ
tuyệt đỉnh mà Thiên Chúa ban cho thụ tạo : lời đáp của thụ tạo đối với
ân huệ này định đoạt tất cả thái độ của họ đối với Thiên Chúa, nghĩa là ḷng tôn
sùng , huyền bí, linh đạo của họ.
Trong những điều kiện như vậy,
nên dành chỗ đứng nào cho Đức Giêsu Kitô trong tư tưởng và sinh hoạt của con
người? - Các vị đó trả lời : cũng cùng một chỗ đứng mà ngài giữ trong
tư tưởng và trong công tŕnh của Thiên Chúa.
Vậy chiếu theo Thánh Kinh, các
vị đó lập luận rằng nơi Đấng được gọi là Giêsu Kitô theo tên con người, ta phải
nh́n nhận Đấng được nghĩ đầu tiên, đầu tiên được muốn bởi Thiên Chúa
Ba Ngôi quyết định biểu lộ ra ngoài (ad extra) nghĩa là ngoài sự thâm sâu của Ba
Ngôi, quyền năng, khôn ngoan, ḷng lành của Thiên Chúa.
Đức Kitô là vị được tiền định đầu tiên, được chấp nhận thông phần đời sống và hạnh phúc Thiên Chúa, không v́ lư do nào khác hơn là ư tự do của Thiên Chúa và đi tới sự kết hiệp với ngôi vị Con Thiên Chúa.
Trong sự thông phần sự viên mạn hiển vinh cho một Đấng ưu tú độc nhất, một đàng Thiên Chúa t́m thấy sự tỏ ḿnh đầy đủ, đàng khác, một sự đáp lại đầy đủ của ân huệ Ngài ban, trong sự thờ lạy, trong t́nh mến, trong sự phụng sự của Đấng thụ tạo có phúc này.
Lời đáp của Đức Kitô đối với ân huệ Thiên Chúa Ba Ngôi, thỏa măn “ngang hàng” cân xứng, dự tính t́nh thương thúc đẩy Thiên Chúa ra sự cô lập hiển vinh của Ngài. Thiên Chúa có thể ngừng tại đấy, công tŕnh Ngài đă hoàn hảo sự xác quyết này là chủ yếu trong huyền bí Phan sinh. Không được bỏ quên điều này.
Thiên Chúa đi xa hơn, Ngài thông phần đời sống Ngài, sinh hoạt Ngài, hạnh phúc Ngài đến một mức thái quá: Thiên Chúa kết hợp với Con đầu ḷng của Ngài những bạn thân, những anh em. Nhưng sự thông phần này dường như tỏ thêm ḷng ưu ái, được thưởng trước, đền bù dồi dào cân xứng nhờ giá trị tuyệt đối của những triều bái dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi bởi Đức Kitô, Ngôi Lời nhập thể đáp lại ân huệ tiên khởi. Không một sự vong ân nào nếu có thể xảy ra giữa những kẻ thụ lănh ân huệ dư đầy ấy, có thể tổn thương hiến tế tạ ơn tiên khởi này.
Mà chính v́ Đức Giêsu Kitô,
nhờ lời cầu bầu của Ngài, nhờ uy tín của Ngài, chiếu theo ư Ngài: trong Ngài,
cho Ngài, bởi Ngài mà tất cả các thụ tạo đến lượt chúng lănh nhận hữu thể:
thụ tạo trên trời, dưới đất, bất động và hữu cơ, câm lặng, thông minh, tự do;
Đức Kitô là nguyên ủy của công tŕnh tạo dựng nên tất cả các thụ tạo.
Vậy không những Đức Kitô không lệ thuộc vào bất cứ một thụ tạo nào mà ngược lại không có Đức Kitô th́ không một thụ tạo nào có thể hiện hữu
Đức Kitô cũng và trước hết là nguyên do sự tiền định của những thụ tạo có tự do, là thiên thần và loài người. Vậy những thụ tạo có trách nhiệm, thiêng liêng này, ngay từ ban đầu, được thiết lập trong “trật tự của đức ái”, nghĩa là họ được tiền định thông phần đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi; trong Đức Kitô họ được mời gọi hưởng vinh quang; v́ vinh quang này, những ân huệ được chuẩn bị và ban bố giúp họ có khả năng và xứng đáng, và nhờ công nghiệp của Đức Kitô mà họ được những ân huệ này; họ được tạo dựng cho mục đích đó trong một “bản chất” thích nghi với ân huệ và vinh quang này.
Chúng ta nên lưu ư đến bố cục, hay nói đúng hơn, trật tự theo đó được biểu lộ của t́nh yêu Thiên Chúa, của Thiên Chúa - T́nh Yêu: Từ thuở đời đời, t́nh yêu hiện thân triển nở ra Ba Ngôi: sự phát xuất của Chúa Con được muốn chỉ v́ do ư muốn cách tuyệt đối: Mầu nhiệm Nhập thể ban cho Thiên Chúa một vị “T́nh Nhân”; lệ thuộc vào Mầu nhiệm Nhập thể:
1./ Ban bố t́nh nghĩa tử
cho các tinh thần, sự quy hướng ân sủng về vinh quang ân sủng, quy hướng thụ
tạo lănh nhận
ân sủng: sự tiền định, Chúa Con nhập thể là trưởng tử của vô vàn
anh em.
2./ Sự tạo dựng mọi vật chiếu theo bản tính chúng, được quyết định và hoàn tất để thể hiện ân sủng đă tiên khởi được quyết định: Ngôi Con nhập thể là khuôn mẫu và là tác giả việc tạo dựng.
3./ Sự mạc khải dự tính của Thiên Chúa cho những hữu thể thong dong: Chúa Con là h́nh ảnh và là sứ ngôn của Chúa Cha.
Từ chức năng thiết yếu của
Chúa Con nhập thể, Chúa Giêsu Kitô, phát xuất sự cần thiết và sự kiến hiệu của
vai tṛ trung gian của Ngài: Ngài là Đấng trung gian duy nhất giữa
Thiên Chúa và loài người. Cũng như tất cả lệ thuộc vào Ngài, cũng như tất cả
phát xuất từ Ngài, đi qua Ngài từ Thiên Chúa đến thụ tạo, trong hiện hữu, trong
hành động, trong hiểu biết, công đức và phần thưởng, th́ cũng vậy, tất cả trở về
Thiên Chúa qua Ngài. Điều ǵ có giá chỉ có giá nơi Ngài. Thiên Chúa chỉ biết,
Thiên Chúa chỉ muốn, Thiên Chúa chỉ khấng nhậm Đức Kitô hay trong Đức Kitô và v́
Đức Kitô của Ngài mà thôi. Ngược lại không ai biết Thiên Chúa, không ai mến
Thiên Chúa, không ai phụng sự Thiên Chúa cách hữu hiệu, không ai đạt tới Thiên
Chúa, không ai làm hài ḷng Thiên Chúa, nếu không phải là trong Đức Kitô và nhờ
Đức Kitô.
Đức Kitô, nguyên lư những công tŕnh của Thiên Chúa, là trung gian những công tŕnh của tạo vật: Ngài là trung tâm của vũ trụ.
Nhưng tất cả những ǵ sống, suy tư, yêu mến, hành động, phụng sự trong Đức Kitô th́ cũng được bảo đảm những ân huệ của Thiên Chúa; niềm vui vô cùng Chúa Cha có trong Đấng Trưởng Tử làm cho những công tŕnh của tất cả những người con khác của Thiên Chúa có giá trị. Đây là xác quyết chính yếu thứ hai của huyền bí Phan sinh phải nhớ kỹ.
Vậy những dự tính âu yếm của Thiên Chúa Ba Ngôi được diễn tiến như thế. Nếu sau đó, có thụ tạo thong dong và đặc biệt không trung thành với ơn gọi của ḿnh và sa ngă, do tội (nguyên tổ và ḿnh làm):
- th́ sự phản bội không làm suy sụp một trật tự không căn cứ trên con người; sự phản bội không làm con người ra khỏi trật tự đó. Dù là tội nhân, mặc dù đă phản bội, con người vẫn c̣n được hướng về Đức Kitô, lệ thuộc vào Đức Kitô trong bản tính, trong đời sống và trong cứu cánh của nó;
- và nếu, v́ ḷng nhân hậu, Đức Kitô có muốn đền bù tội lỗi con người, Ngài không cần tạo một trật tự mới, không cần áp đặt trật tự ấy, nhưng chỉ cần khôi phục trật tự nguyên thủy bị vi phạm, nhưng vẫn là thường sẵn có, hầu tội nhân biết sám hối trở lại trật tự đó.
- như vậy, trong linh đạo Phan
sinh, được biểu lộ
mầu nhiệm cứu chuộc với nội dung riêng biệt, khác nội dung của mầu nhiệm nhập
thể, không kể thêm vai tṛ của đau khổ, của khổ nạn và sự đồng khổ. Thiên Chúa
không phải là vị quan ṭa gay gắt phạt đền tội lỗi phạm đến Ngài, nhưng là một
người Cha đầy t́nh thương, cho phép trưởng tử của Ngài, người Con yêu dấu hy
sinh để cứu độ những anh em phản bội, và Thiên Chúa ban cho Ngài phương tiện, đó
là có thể đau đớn v́ lựa chọn, một cách
tự nguyện và nhiệm mầu.
Chúa Kitô không phải là nạn nhân của một sự trả thù đẫm máu được thỏa măn bằng cách tra tấn một kẻ vô tội thay cho những kẻ có tội, nhưng là người bạn t́nh nguyện, v́ ḷng mến Đức Chúa Cha và các người con của Ngài, hy sinh để kéo những tội nhân vẫn được thương mến, khỏi vực sâu mà chúng đă nhào ḿnh xuống, và dầu phải trả giá chuộc như thế nào. Ở nơi những người đă được cứu chuộc với một giá cao như vậy, sự đồng khổ là ư muốn bắt chước hơn là một món nợ đă mắc, nay phải trả; sự đau đớn được chấp nhận, kể cả được cố ư t́m kiếm trong việc đền tội, là một cử chỉ đáp lại t́nh yêu hơn là một biện pháp kỷ luật. “Đức Kitô đă yêu thương tôi và đă phó ḿnh v́ tôi” !
Từ sự ưu tiên tuyệt đối của sự tiền định của Chúa Giêsu Kitô, từ ưu vị phổ quát của Ngài trên tất cả những tạo vật, từ sự lệ thuộc của mọi số phận khác vào số phận của Ngài, từ sự trung gian cần thiết của Ngài, phát xuất những hệ quả giúp chỉ rơ, xác định, điều khiển tất cả linh đạo Phan sinh.
1. Công tŕnh của Thiên
Chúa được thể hiện trong sự
thống nhất: công tŕnh ấy không gồm những thành phần tạp nham và hỗn tạp; cuộc
đời toàn diện của con người cũng tương tự như vậy.
V́ tất cả những thụ tạo nhờ
Đức Kitô mới có và được hướng về Ngài như là cứu cánh, trong sinh hoạt và trong
sứ mạng của ḿnh, cho nên trật tự thế giới qui về Đức Kitô : không bao giờ có
cái ǵ đang, đă, sẽ hoặc là “ngoại đạo”, nghĩa là ở ngoài
ảnh hưởng của Thiên Chúa hay chống lại Thiên Chúa hoặc là tự nó xấu, hay nguy
hiểm. Sự phản loạn của những kẻ tội lỗi, sự mất trật tự do tội (nguyên tổ và tội
ḿnh làm) được đền bù bởi ân huệ được hứa hay được ban, chỉ có thể làm thiệt hại
cho những ai chủ tâm và hữu trách gây ra chúng; c̣n đối với kẻ khác, đó chỉ là
một cơ hội chung để nỗ lực hay để lập công.
Dưới những khía cạnh khác nhau về thí nghiệm tạm thời hay về thực hiện trường tồn, về sinh hoạt cá nhân, gia đ́nh, xă hội (dân sự và Giáo hội), về ḷng tôn sùng riêng tư hay phụng vụ, về lao động của con người, về việc trau dồi khoa học hay đạo đức, đời sống của con người vẫn thuần nhất và trước sau như một.
Tất cả mọi sự, trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, được thống nhất và qui về ḷng mến, ḷng mến của Thiên Chúa đối với loài người và ḷng mến của loài người đối với Thiên Chúa, đối với Chúa và đối với nhau, việc cứu độ con người và vinh dự của Thiên Chúa.
2. Những thụ tạo thong dong, thiên thần và loài người (loài người đáng chúng ta lưu ư đặc biệt), được đặt ngay từ đầu trong trật tự mà chúng ta gọi là siêu nhiên; “bản tính”, cứu cánh, hành động của họ được siêu nhiên hóa, dù họ có biết hay không, có muốn hay khước từ; để sống trong chân lư, trong thực tế có tính cách khách quan và hữu thể của tâm lư và lịch sử của họ, không bao giờ được quên sinh hoạt nội giới luôn hiện diện bí mật của yếu tố không có tính cách luận lư nhưng sinh tử này; nhà khổ hạnh người tông đồ phải dựa vào yếu tố đó, phải luôn nghĩ rằng người công chính sống cách siêu nhiên như là trong trạng thái b́nh thường của ḿnh, không phải do một nỗ lực cá nhân, nhưng là do sự dự phần vào đời sống của Chúa Kitô. Kẻ có tội và kẻ vô tín ngưỡng (mô thức) không sống, nhưng do sự kiện này, họ ở trong một t́nh trạng gay cấn, mà trật tự của Thiên Chúa hết sức cố gắng kéo họ ra, giống như luật trọng lượng, th́ người có tội không bị loại khỏi trật tự mà họ vi phạm, trái lại người ấy luôn được mời trở lại. Đó là sức mạnh lớn đối với những vị giảng sám hối.
3. Tất cả công tŕnh cứu độ loài người đă được hoàn tất trên nguyên tắc do Chúa Kitô, không chỉ với tính cách là Đấng Cứu chuộc, tính cách này có thể nói là phụ, nhưng với tính cách căn bản hơn, thiết yếu hơn, là nguyên lư của sự tiền định và sự tạo dựng: trong cụ thể, mỗi người phải thể hiện công tŕnh này cho ḿnh, bằng cách tự nguyện hợp tác như Đức Kitô đ̣i hỏi nhân danh Ngài và nhân danh những kẻ đồng thừa tự của Ngài, v́ sự “cứu rỗi là một công tŕnh bản thân, nhưng không phải là cá nhân”. Tuy nhiên không ai phải làm việc để có một kết quả may rủi và bấp bênh. Không, kết quả đă có rồi, thành công được bảo đảm. V́ nỗ lực bản thân của người tín hữu đang chu toàn việc cứu rỗi, nỗ lực theo chức năng (hay thừa tác vụ) của người tông đồ đang lo việc cứu độ anh em, thực ra là nỗ lực của chính Đức Kitô, chắc chắn đi đến kết quả và làm đẹp ḷng Thiên Chúa.
4. Vậy công thức của linh đạo Phan sinh là :“Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà Chúa Kitô sống trong tôi”. Những nỗ lực linh đạo này đ̣i hỏi, những thực hành linh đạo này đề nghị, những việc đạo đức để cung dưỡng linh đạo này, dĩ nhiên cũng là những thứ như trong những linh đạo khác. Sự khác biệt là :
- Ở đây, những nỗ lực, những thực hành, những việc đạo đức không c̣n là của sinh hoạt loài người, dù là được ơn Chúa nâng đỡ, đang dùng chúng như phương tiện để đạt được Chúa Kitô, nhưng là sự biểu lộ một sinh hoạt đă được thấm nhuần, được linh hoạt do Thần trí Chúa Kitô, như là động lực và một yếu tố điều chỉnh thâm sâu.
- Chúng được thống nhất với nhau, đồng hóa với sự sống mà chúng là sự triển nở, v́ thực ra chúng là sinh hoạt của Đấng Thủ lănh trong những chi thể, của gốc nho trong các ngành nho.
- Trong số những việc đạo đức khác nhau, những cử hành phụng vụ và bí tích có giá trị hơn là những thực hành cá nhân, xét ḿnh, suy niệm bởi v́ là do Thiên Chúa và Giáo hội thiết lập, có tính cách đích thực và kiến hiệu được Thiên Chúa bảo đảm.
5. Vậy đức ái linh hoạt
linh đạo này, ngay từ đầu, trong diễn tiến, đến kết liễu : những lư do gây
sợ hăi, làm hy vọng không bị lăng quên, không bị hạ giá, nhưng chúng vẫn giữ vai
tṛ bổ trợ; tuy nhiên chúng được linh hoạt bởi đức tin, vốn đề nghị những đối
tượng, bởi đức ái vốn nới rộng tầm mức những mục tiêu. “Đức Kitô đă thương tôi
và Ngài đă phó ḿnh cho tôi v́ tôi”, đó là động lực của sự trở về, của sự vững
bền, của sự hoàn tất. Lư do vượt trổi của đức ái, thể hiện thật sự sự thống nhất
đời sống,
sinh hoạt và hoa quả, giữa Đức Kitô và người tín hữu, không phải do một sự bắt
chước bên ngoài, nhưng bởi một sự biến đổi từ bên trong, công tŕnh của phép
Thánh Thể, lư do ấy trước tiên được biết nhờ đức tin, được chấp nhận do ư chí,
được thể hiện trong mọi lănh vực; nhưng cuối cùng th́ có thể kiểm điểm được một
cách có ư thức. Và sự ư thức này có thể được coi như là cao đỉnh của sự kết hợp
huyền bí, mở màn cho sự kết hợp đời đời, trong đó
Đức Kitô sẽ là tất cả cho tất cả mọi người trong Thiên Chúa, chiếu theo lời Ngài
hứa : Ta sẽ tỏ ḿnh cho nó.
6. Trong huyền bí Phan sinh, theo nghĩa hiện đại và hẹp của từ ngữ, về những mối quan hệ mới mật thiết có ư thức với Thiên Chúa, th́ vị trí được nh́n nhận của Đức Kitô, Ngài vừa là đối tượng, vừa là trung gian của chiêm niệm, chiếu theo con người toàn diện của Ngài, được ấn định theo cùng những nguyên tắc.
V́ Đức Kitô do bản tính (chúng ta có thể nói không phải do một ư định thứ yếu và độc đoán của Thiên Chúa), là vị Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, nên không ai đến với Chúa Cha mà không qua Ngài và trong Ngài, ngược lại không ai được Chúa Cha chấp nhận, được Ngài nhậm lời mà không qua Ngài và trong Ngài, và cũng không bao giờ Chúa Cha bỏ qua kẻ nào cầu khẩn nhân danh Chúa Kitô và nhân danh t́nh yêu của Người, Con yêu dấu của Chúa Cha : Chúa Cha đón nhận và nhậm lời kẻ đó, dù kẻ ấy là người như thế nào đi nữa.
Được chỉ bảo như vậy, không
bao giờ linh hồn Phan sinh dám tŕnh diện một ḿnh trước mặt Thiên Chúa, dám t́m
biết Thiên Chúa ngoài h́nh ảnh khả kiến (hữu h́nh) thấy được mà Thiên Chúa đă
vui ḷng cho chúng ta về Ngài. Thấy Chúa Con
tức là thấy Chúa Cha.
Một mặt, linh hồn Phan sinh, trong sự bất xứng, không nghĩ đến một cản trở nào cho những ân huệ của Thiên Chúa, v́ sự bất xứng là cơ bản. Lúng túng v́ sự bất xứng này, phải chăng là ngấm ngầm hiểu rằng những ân huệ ấy có thể xứng đáng với công lao và được ban bố cho một sự tương xứng đắc thủ bằng những phương tiện loài người? Linh hồn Phan sinh khẩn xin và chờ đợi.
Mặt khác, linh hồn Phan sinh cũng không chấp nhận rằng bản tính loài người của Chúa Giêsu có thể là một trở ngại khác cho sự hiểu biết Thiên Chúa: nhưng qua những vết thương của Chúa Giêsu bị đóng đinh, linh hồn cố gắng khiêm tốn đi đến chiêm niệm Chúa Ba Ngôi.
Điểm này cũng đặc sắc nữa: Thiên Chúa của linh hồn Phan sinh quả thật là Thiên Chúa Ba Ngôi. Cha của Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa hằng sống, chớ không phải Thiên Chúa trừu tượng của các triết gia và những nhà thông thái.
7. Đối với người khổ tu Phan sinh, không có vấn đề đem siêu nhiên vào hành động và đời sống, như là từ bên ngoài và từ trên cao, kể cả qua bạo lực và áp đặt: “chúng ta không muốn bị tước đoạt, nhưng được mặc thêm, hầu điều ǵ là hay chết nơi chúng ta được thu hút bởi sự sống. Nhà khổ tu Phan sinh chỉ cần:
- Nh́n nhận chiếu theo giáo huấn mạc khải là tất cả cuộc đời và sinh hoạt của ḿnh được siêu nhiên hóa trên nguyên tắc và trong thực tế do sự lệ thuộc cơ bản vào Chúa Kitô và do ảnh hưởng sinh tử của Ngài.
- Thực hiện huấn giáo này, bằng cách chủ ư và dễ bảo đối với ư muốn của Chúa Kitô, được biểu lộ, từng giây từng phút, qua những giới răn thông thường và những bổn phận của đấng bậc ḿnh, những biến cố, những hứng khởi hay tác động của Thần trí Chúa Giêsu, dưới sự kiểm tra của Giáo hội.
- Thể hiện ư muốn của Chúa Giêsu một cách vui vẻ, trông cậy, vâng phục, quảng đại, và xin đừng sợ rằng thái độ cơ bản kính trọng đối với vị thủ lănh thần thánh làm tê liệt những