CHƯƠNG NĂM : TRƯỜNG PHÁI PHAN SINH
Lm. Valentin Breton, OFM
III. THÁI ĐỘ
Ai mà không thấy rằng linh đạo này sinh ra niềm vui, niềm lạc quan, ḷng quảng đại, sự hy sinh, v́ linh đạo được căn cứ trên đức ái, trên niềm cậy trông và khiêm nhường, và phần khác được chứng minh qua sự sống và số đông các thánh của Ḍng.
1/ Đối với Thiên Chúa :
Dầu cho những phản kháng và những phản bội của thụ tạo chung cuộc là ǵ đi nữa, linh hồn Phan sinh biết rằng dự tính đầy yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi không bị thất vọng: dự tính ấy đă được hoàn tất một cách cân xứng và vượt qua mọi khước từ. Hơn nữa, để ngợi khen Thiên Chúa và mừng vui với Ngài, linh hồn không cần phải nhờ đến giả thuyết, ghê gớm cho ai nghĩ đến, là hỏa ngục đối với Thiên Chúa th́ cũng vinh quang bằng thiên đàng: chỉ cần biết là Đức Kitô đă vinh hiển trước mọi triều bái, tất cả niềm mến, tất cả sự phụng thờ mà Chúa phải được có, và qua Đức Kitô và trong Đức Kitô, chính linh hồn có thể cân xứng, thờ lạy, mến yêu và phụng sự Thiên Chúa. Linh hồn có thể kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và hơn chính ḿnh, mà không cần phải mừng thầm và phải lợi dụng- sự bất hạnh của bất kỳ ai.
2/ Đối với các thụ tạo:
Đối với linh hồn Phan sinh, tất cả thụ tạo là tốt, là huynh đệ. Thụ tạo không đặt cạm bẫy, nó giúp tâm hồn vươn lên cùng Thiên Chúa. Chúng ta có quyền tin tưởng vào nó, sử dụng nó, hưởng thụ với ḷng tạ ơn và biết giữ chừng mực, tất cả những thiện hảo nó hiến cho chúng ta trong dự tính và chiếu theo mệnh lệnh của Thiên Chúa.
Đặc biệt những con người là
rất quư báu đối với chúng ta, như là những anh em, được cứu chuộc đồng thừa tự
với Chúa Kitô, con cái của Thiên Chúa như chúng ta. T́nh huynh đệ là một
đặc ân mà chúng ta đă dồi dào thụ hưởng, trước khi là một bổn phận phải khó khăn
chu toàn. Chúng ta không biết ḿnh có kẻ thù nào, nhưng có những kẻ không biết
phải lôi cuốn đến chân lư, những kẻ lầm đường phải đưa về chính lộ, những kẻ
chết phải hướng dẫn đến sự sống. Công tŕnh đem sự sáng và chứng tỏ t́nh thương
này, đối với chúng ta, càng quư hóa, càng khẩn trương, càng dễ thực hiện, chắn
chắn thành công, v́ không phải là công tŕnh của chúng ta mà chính là công tŕnh
của Đức Kitô, và v́ cộng tác vào công tŕnh này, có toàn thể thế giới, tác động
của các tinh thần, những mời gọi của ân sủng. Do đó, những kẻ chống lại công
tŕnh này, có lẽ chỉ chống cự sự bất tài của chúng ta và vẫn c̣n được bao bọc,
bao vây do ḷng mến của Đức Kitô. Do đó chúng ta không xem chân lư, sự sống như
là những ǵ thuộc về chúng ta cũng không xem vinh quang của Thiên Chúa như là sở
hữu của chúng ta mà người ta làm thiệt hại khi làm thiệt hại chúng ta.
3/ Đối với bản thân:
Kỷ luật, trong đó mà người khổ
tu phải duy tŕ những
năng khiếu và giác quan của ḿnh, để giữ chúng luôn luôn dễ bảo và trung tín với
những chỉ dẫn của Thần trí Chúa Giêsu, đối với linh hồn Phan sinh không phải là
một công tŕnh đàn áp và
phá hủy bạo tàn, mà là công tŕnh của trau dồi và làm nên trọn lành. “Con người
cũ”, mà trong những linh đạo khác là kẻ thù số một phải săn đuổi đến chết, th́ ở
đây chỉ là một người anh em bị xiềng xích mà ḿnh phải t́m cách cởi những dây
trói. “Bản tính tự nhiên”, là con cái của Chúa và do đó là tốt, th́ chỉ cần cho
nó vào kỷ luật. Chính “Anh Phanxicô” cũng nh́n nhận “người anh em con lừa” là
một tôi tớ tốt, và ngài tự trách lắm khi đă hành hạ hắn. Như vậy, “chúng ta phải
thực hiện bản chất của chúng ta”, đầy đủ và trọn vẹn, nghĩa là thể hiện “Đức
Kitô”, mỗi người theo phần của ḿnh.
Sự xả kỷ, bắt buộc cho chúng ta cũng như cho mọi kitô hữu, có nghĩa là phải thay thế những tư tưởng, những ư muốn, những tâm t́nh của chúng ta vốn bất toàn và nghiêng về những của cải hữu h́nh bằng những tư tưởng trọn lành của Chúa Kitô, thích hợp với những thiện hảo vô h́nh và siêu việt. Chúng ta đánh vần “xả kỷ”, chúng ta tuyên đọc “sung măn”. Sự đau khổ, đối với chúng ta, không phải là cứu cánh mà là phương tiện để đáp lại Chúa Kitô chịu đóng đinh v́ yêu thương, chứng từ của đức tin và ḷng tri ân của chúng ta.
4. V́ Chúa Kitô và với Chúa Kitô
Đàng khác, v́ biết rằng tự chúng ta, chúng ta không làm được ǵ, nhưng thủ lănh chúng ta, Chúa Giêsu Kitô, có thể và muốn làm tất cả mọi sự trong chúng ta và với chúng ta v́ hơn nữa, biết rằng thực ra Ngài đă chu toàn tất cả và đă thành công tất cả, cho nên niềm vui của chúng ta th́ vô biên và niềm cậy của chúng ta th́ không thể thẹn thùng. Khi mà chúng ta nép ḿnh trước Ngài, gắn bó với Ngài, thay thế sự bất toàn của đường lối và công tŕnh của chúng ta bằng sự sung măn và trọn lành của đường lối và công tŕnh của Ngài, trong niềm phụng thờ Thiên Chúa Ba Ngôi, ḷng mến và việc phục vụ Thiên Chúa và tha nhân, chúng ta lập lại vững chắc, trong niềm mong chờ có cơ sở được lập lại một cách ư thức: “Tôi sống, không phải tôi, nhưng Chúa Kitô sống trong tôi”; v́ đời tôi sống bây giờ trong sự yếu đuối của xác thịt, th́ tôi sống nhờ đức tin, trong sự sung măn của Đấng đă thương tôi và phó ḿnh cho tôi và v́ tôi. Tôi cùng chịu đóng đinh với Chúa Kitô, và sung sướng ngay trên thập giá và nhờ thập giá chúng ta với Ngài ḥa giải mọi sự với Thiên Chúa.
Linh hồn Phan sinh không bao giờ cô đơn, dù khi đứng trước Thiên Chúa, dù khi phục vụ những người anh em, linh hồn biết ḿnh luôn luôn ở trong Chúa Giêsu Kitô, được tác động bởi Thần trí Ngài và nhờ vậy ḿnh tác động.
Nhờ Chúa Kitô và với Ngài, linh hồn thờ lạy, ngợi khen, cầu nguyện. Sự bất xứng, sự bất lực cũng không làm nó tê liệt trong những hứng khởi hướng về Chúa, v́ bản thân, nó th́ trống rỗng và trơ trụi, nhưng nó giàu nhờ những ân sủng và công nghiệp của Đấng Trung gian, hằng sống, để cầu bầu cho nó; nhất là như Đức Kitô và cùng với Ngài, chính cho toàn thể Giáo hội mà linh hồn thờ lạy, tôn vinh, cầu khẩn và đền bù: Đấng Kitô th́ quư hơn là chính linh hồn.
V́ Chúa Kitô và với Chúa Kitô, linh hồn phục vụ; linh hồn không thể thất bại; việc làm của linh hồn là việc làm của Chúa Kitô; linh hồn hành động với ḷng nhiệt thành càng triệt để cũng v́ ḷng nhiệt thành này vô vị lợi đối với ḿnh. Linh hồn không mong đợi sự thành công trần thế nào trong việc chinh phục các linh hồn, hoặc trong việc chinh phục bản thân vốn chậm chạp hơn và khó khăn hơn; v́ Thầy hài ḷng với nỗ lực của nó và tự dành cho Ngài vinh quang của thành công. Thật vậy, không phải là Ngài tác động qua linh hồn, trong linh hồn, với linh hồn sao? Vậy vinh danh Đấng ban ư muốn và hành động !
IV THỰC HÀNH
A. Những Phương thế của Linh Đạo PHAN SINH
Để cho đầy đủ, chúng ta c̣n phải cho thấy những việc tôn sùng, hệ quả của đời sống thiêng liêng, trong bảng tŕnh bày tổng hợp về linh đạo Phan Sinh như thế nào ở vị trí nào và theo trật tự nào.
1/ Phép Thánh Thể, hiến lễ và bí tích, là một sự thực hiện trước kỳ
hạn, vừa tượng trưng, và bóng bảy, vừa hiện thực và hữu hiệu của đời sống chúng
ta trong Đức Kitô, của đời sống
Đức Kitô trong chúng ta, của sự hiệp thông với Thiên Chúa trong Đức Kitô. V́ nắm
chắc trong sự vững tâm của đức tin, thành quả của đức cậy và đối tượng của đức
mến, nên linh hồn Phan Sinh bớt lo sợ tiếp cận với bí tích Thánh Thể trong những
trạng thái
mờ mịt của lương tâm, ít ra cũng không thể kiểm tra được và tuy
vậy (nếu ngược lại không phải là một lư do)
những giờ nguyện gẫm được đà đặc sủng không thiếu ǵ trong những nguyện
gẫm của chúng tôi.
2/ Việc noi gương Chúa Kitô, ở đây không phải là một phương tiện
trong số các phương tiện khác cũng tốt bằng nhau, cũng không phải là phương tiện
tốt nhất :nhưng là phương tiện
duy nhất và thiết yếu của sự phù hợp cần thiết với Chúa Kitô ; v́ sự phù hợp này
cũng không c̣n là một phương tiện bên ngoài, hướng về một sự giống nhau từ bên
ngoài ; đó là một hành động trọng yếu cho sự sống, nhờ sự đồng hóa nội giới mà
họa lại đời sống và hoạt động của Thầy trong cuộc sống của môn sinh,tựa như cha
mẹ được họa lại trong đứa con. Do đó, không c̣n nỗ lực của bản thân nữa, sự hiệp
thông Thánh Thể là phương tiện
chắc chắn của sự đồng hóa này.
3/ Thánh Linh, như đă thấy rơ trong bảng tŕnh bày trên đây, đối với
linh hồn Phan Sinh không phải là đối tượng của một việc tôn sùng dù là tuyệt hảo
; Ngài thực là sự tôn sùng của
linh hồn Phan Sinh, nghĩa là nguyên lư nội giới của đời sống thiêng liêng, động
lực của sinh hoạt, tác giả của biến đổi về
sự sống trong Chúa Kitô. Do đó, có sự tự do của linh hồn được giải toả trong
t́nh nghĩa tử, khỏi văn tự làm chết. Đời sống Đức Kitô vốn là sự sống của linh
hồn, được thể hiện nơi linh hồn bởi Thần Trí Chúa kitô và sự hợp tác của Đức
Maria.
4/ V́ rất thánh Trinh Nữ Maria, đối tượng với Chúa Con của cùng một
quyết định của Thiên Chúa, vị đầu tiên của những kẻ được tiền định trong Chúa
Kitô, vị đồng trung gian với Ngài trong việc tạo dựng, trong việc Cứu độ, trong
sự ban ơn, sự
đón nhận trong vinh hiển, hiển nhiên đứng hàng đầu trong
linh đạo Phan Sinh sinh, sau và với Chúa kitô, v́ do sự tuyển chọn của Thiên
Chúa và sự chấp nhận bản thân, ngài là mẹ của Đấng là đầu, th́ ngài cũng là Mẹ
các chi thể.
5/ Của nhiệm thể, môi trường sinh sống của linh hồn Phan Sinh; nghĩa là Giáo Hội của ba t́nh trạng, chiến thắng trên trời với các Thiên Thần và các thánh, đau khổ trong luyện tội, và chiến đấu trên trần gian, ở đây, vừa hữu h́nh vừa vô h́nh, có phẩm trật và thiêng liêng. Linh hồn lănh từ Giáo Hội, giáo huấn và các nhiện tích, đáp lại bằng ḷng mến và vâng phục.
6/ Việc lănh nhận các bí tích và đời sống phụng vụ
ở đây không phải là để bổ sung hay là thêm vào, nhưng như chúng ta đă lưu ư đặc
biệt về Thánh Thể, linh hồn Phan Sinh nh́n nhận Thánh lễ, kinh nguyện công cộng
và những nghi thức bí tích là những phương tiện vô song để hiệp thông với Chúa
Kitô, những phương tiện chân thật và kiến hiệu do bởi Đấng sáng lập; linh hồn
Phan Sinh quí chuộng những điều ấy hơn nhiều, mặc dầu không khinh miệt và bỏ
qua.
7/ Những việc tu đức, những việc xét ḿnh, suy niệm mà linh hồn không
lẫn với nguyện gẫm; v́ hiến ḿnh cho tác động của Thánh linh, trực nh́n những
hành động và những tâm t́nh của Đức Kitô (những mầu nhiệm và những trạng thái
nội tâm) với những con mắt giác ngộ. Linh hồn Phan Sinh Sinh hầu như
tự nhiên là chiêm niệm, bởi v́ Chúa Kitô đối với các linh hồn là đối tượng và
phương tiện của sự hiểu biết ngọt ngào về Thiên Chúa, về sự khôn ngoan, vốn là
sự sống đời đời. Những chỉ dẫn này tạm đủ, để bổ túc bảng tŕnh bày trên đây với
những hệ quả, và chứng tỏ rằng chúng tôi sẽ không cần phải xuyên tạc những
đề cương, không cần phải đem những yếu tố ngoại lai vào cấu trúc, chỉ cần quảng
diễn chúng theo nghĩa chắc chắn và đầy đủ của chúng. Sự thống nhất của hệ thống
không bị lung lay, sự cấu trúc không trở nên
nặng nề do những phần bổ sung không ḥa hợp.
B. Tinh thần KHÓ NGHÈO TRIỆT ĐỂ
Vậy, những thực hành nhân đức của linh hồn Phan Sinh là những thực hành của bất cứ linh hồn Kitô nào. Tuy nhiên, chúng tôi đă mạn phép quả quyết trong lời tựa của chương này rằng những thực hành này, đương nhiên trùng với những thực hành của các trường phái khác, nhưng được linh hoạt bởi một tinh thần - nếu không phải là khác hẳn, th́ ít nữa và đúng hơn là triệt để mới mẻ (nếu muốn nói cho chính xác hơn).
Tinh thần này là tinh thần phước thật thứ nhất:
“Phúc cho những kẻ ước muốn nghèo khó, v́ nước trời là của họ”. Vậy chúng tôi phải đặc biệt nói đến nhân đức khó nghèo, cho biết đức khó nghèo là đặc thù của linh đạo Phan Sinh như thế nào và thực tại siêu nhiên nào ẩn ḿnh dưới từ ngữ này, bằng không th́ thiếu sót, và c̣n làm độc giả phải thất vọng.
Chính bởi con đường này mà
linh hồn Phan Sinh theo chân Đấng hướng dẫn; hơn nữa và tốt hơn nữa linh hồn vào
sâu,
chấp nhận và thể hiện dự tính cao cả nhất của ngài.
Phanxicô không chỉ nghèo thôi, ngài là con người nghèo, người nghèo bé nhỏ, ngài đă đẩy xa sự khó nghèo, sự trơ trụi, sự từ bỏ tới mức nào th́ khỏi cần nói, v́ điều này được biết quá rơ. Đức khó nghèo của ngài trở nên thần thoại. Người ta gán cho ngài những quá khích, những thái quá, khó có thể biện minh được. Người ta chỉ cho những người giàu vay, theo lời tục ngữ. Như vậy, sự nghèo kho Phan Sinh quá dồi dào, nơi Phanxicô và nơi những môn sinh, được người ta cho mượn thêm những thực hành gần như mê tín dị đoan.
Thánh Ambrôsiô, đồng ư trên điểm này với toàn thể các Giáo phụ và các tiến sĩ, biện hộ sự lựa chọn đức khó nghèo như là nền móng của kiến trúc thiêng liêng, v́ lập luận rằng ngược lại th́ ḷng tham lam và tính hà tiện là cội rễ của mọi điều xấu xa.
Nhưng Phanxicô không có sử dụng lập luận biện chứng. Ngài không theo những lư thuyết về khổ chế, hay về kinh tế xă hội. Ngài được t́nh yêu lôi cuốn. Ngài đă mến Đức Kitô, ngài muốn trở nên giống Chúa Kitô trong mọi sự. Ngài đă thấy Chúa Kitô giảng khó nghèo bằng gương lành và lời nói. Ngài muốn chính ḿnh trở nên nghèo, Ngài đă nhắn nhủ các môn sinh sống trong cảnh nghèo khó và sống nhờ nghèo khó.
Từ giàu có, Chúa Kitô đă trở
nên nghèo v́ chúng ta. Và này đây: đi xa hơn cái thiếu thốn của cải mà Chúa
Giêsu đă muốn chịu trong cuộc sống ở trần gian, Phanxicô đi sâu vào sự khó nghèo
sâu sắc hơn và triệt để hơn, mà cái thiếu thốn vật chất có vẻ như là dấu chỉ:
“Chúa Giêsu đă tự hủy, lấy thân phận của người tôi tớ. Trong sự tự hủy này,
Phanxicô gắn bó với mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể. Ngài nh́n Chúa Giêsu Kitô như
là khước từ nhân vị con người v́ ngôi vị Chúa Con; khước từ thân phận Thiên Chúa
mà Ngài có thể đ̣i hỏi, than phận con người tự do mà Ngài có thể lănh nhận; Chúa
Giêsu trở nên giống như những kẻ
khốn cùng nhất giữa chúng ta, giống những nô lệ không quyền công dân, giống
những tội nhân tỏ tường và bị hành h́nh.
Kẻ trần truồng đi theo người trần truồng, nhưng ai mà không thán phục sự sâu sắc của cảm thức Thần học của người bé mọn không chữ nghĩa này, cảm thức mà sự noi gương Đấng Cứu Thế đă hướng dẫn ngài vào.
Noi gương Cha ḿnh, linh hồn Phan Sinh đặt luật của đời sống ḿnh, h́nh thức của linh đạo ḿnh trong đức khó nghèo của Tin Mừng và sống động hơn nơi Chúa Giêsu Kitô khó nghèo.
Linh hồn Phan Sinh không chỉ
sống trong khó nghèo, như bất cứ môn đệ nào của Chúa Giêsu phải sống để đẹp ḷng
Thiên Chúa, mà c̣n sống nhờ đức khó nghèo; thành ra, đức khó nghèo, mà theo các
trường phái khác, chỉ là nhân đức hàng thứ,
hệ quả của đức tiết độ, th́ đối với linh hồn Phan Sinh , trở thành phương tiện
thống nhất nội tâm và biến đổi trong Thiên Chúa.
Quả thật, mỗi linh đạo làm nổi
bật một khía cạnh của sự sung măn vô tận của sự thánh thiện Chúa Kitô. Mỗi linh
đạo lấy đó là đặc thù, trung tâm của sự thống nhất thiêng liêng, phương pháp
thánh hóa. Thực ra, cứu cánh của tất cả các linh đạo là đức ái và phương tiện
cuối cùng là đức khiêm nhường, nhờ nhân đức này mà đức ái triển nở. V́ đức ái,
nhân đức đối thần, ân sủng được ban nhưng không, không thể đắc thủ được và cũng
không thể lập công để đắc thủ. Đức ái được Thiên Chúa đổ ḥa trong linh hồn, v́
ḷng thương vô biên của Ngài, nhưng trong linh hồn nào? trong linh hồn khiêm
nhu, trống rỗng cái tôi, lột khỏi cái tôi, nói cách khác, đạt đến sự nghèo khó
thiết yếu. Đức khiêm nhường đào sâu ḷng sống đức ái. Đức ái tràn ngập linh hồn
theo mức của đức
khó nghèo.
Trong đức khiêm nhường, làm trống hẳn con người cũ, theo lời thánh Augustinô, Phanxicô thấy một khía cạnh, nhưng chỉ một khía cạnh của đức khó nghèo. Đúng vậy, đức nghèo khó, thánh Ambrôsiô quả quyết, th́ mênh mông hơn đức khiêm nhường, và cũng đầy âu yếm hơn. V́ nếu đức khiêm nhường lột cái tôi khỏi con người, chính là để được một sự sung măn tốt hơn, chính v́ để làm giàu chúng ta mà Đức Kitô, từ giàu có như Ngài đă trở nên nghèo khó.
Chúng ta nên lưu ư rằng trong
thực tế, bất cứ nhân đức nào cũng có thể quy về khó nghèo: tất cả mọi nhân đức
giả thiết hay đ̣i hỏi một khước từ, một xả kỷ. Đức tin khước từ những
chắc chắn của lư trí, đức cậy khước từ những ham muốn trần thế, đức tiết độ, kể
cả đức khiết tịnh, hạn chế những lạc thú của
xác thịt, không nên nói như vậy là nhằm một lợi ích lớn hơn, v́ chính đó là ư
nghĩa của sự khước từ. Đến phiên đức mến, đức mến tước khỏi con người toàn bộ
những ǵ nó tha thiết nhất, điều nó mong ước, nhu cầu muốn làm trung tâm, muốn
bằng Thiên Chúa.
Đối với Phanxicô, quả thật, giá trị cao cả của đức khó nghèo là thế. Đức khó nghèo không khô cạn trong việc sử dụng của cải, dù có sử dụng tới mức cuối cùng của nhu cầu. Đức nghèo khó đ̣i hỏi con người phải chân thành sống toàn diện phù hợp với thân phận thụ tạo của ḿnh.
Trong tu đức Phan Sinh , đức khó nghèo xuất hiện như là nhân đức nguồn, nguồn suối, từ đó nảy sinh những nhân đức khác, dù được thực thi đối với Thiên Chúa và Chúa Kitô, đối với tha nhân, đối với chính ḿnh. Lư tưởng gắt gao của một ḷng mến không ngơi, nhân đức tập trung vào Chúa Kitô, tóm lược tất cả lư thuyết và thực hành. Chúng tôi kết thúc ở điểm chúng tôi đă bắt đầu. Đức khó nghèo hoàn tất chu kỳ. Đức khó nghèo chúng minh do một phương tiện được sử dụng hằng ngày là tất cả có thể và tất cả phải phát xuất từ Chúa Kitô, và quy về Chúa Kitô, vị trưởng tử tiền định, Đấng trung gian phổ quát, nguyên nhân, gương mẫu và cứu cánh của công tŕnh của Thiên Chúa.
C. Danh sach Hiển Thánh theo tinh thần PHAN SINH
Xin cho phép chúng tôi, trước khi kết thức, c̣n được nâng cao hiệu năng của giáo thuyết bằng số đông đảo những ai đă sống theo giáo thuyết đó và đă đáng được Giáo Hội công bố là thánh thiện. Những con số có nhiều ư nghĩa.
Những kinh cầu các thánh được châu phê cho Ḍng kê sáu nhóm tử đạo, tức là ba mươi cộng với thánh Fidèle, ba mươi ba hiển tu, mười bốn đồng trinh hay góa bụa.
Chúng tôi không có ư công bố danh sách các thánh, và thêm vào đó danh sách các chân phước. Mặc dầu danh sách đó có thể làm bỡ ngỡ, hoặc v́ cho biết một số những nhân vật trứ danh hơn thuộc gia đ́nh Phan Sinh , hoặc làm bỡ ngỡ hơn nữa v́ cho thấy các thánh thuộc nhiều địa vị xă hội khác nhau. Có ích lợi hơn nếu nhấn mạnh rằng một vị thánh được Giáo Hội công nhận, không bao giờ là một nhân vật lẻ loi trong đời sống anh dũng của ḿnh. Ngược lại, vị đó là một tâm hồn sôi bỏng chiếu tỏa niềm tin và ḷng sốt mến chung quanh ḿnh.
Đến triều đại Đức Giáo Hoàng
Piô XII, ḍng dơi
Phan Sinh đă hiến cho Giáo Hội một trăm hai mốt thánh, sáu mươi mốt thuộc ḍng
Nhất, sáu thuộc ḍng Nh́, năm mươi tư thuộc ḍng Ba. Ba trăm năm mươi hai chân
phước, trong số đó một trăm mười tám thuộc ḍng Nhất, hai mươi hai thuộc ḍng
Nh́, chín mươi hai thuộc ḍng Ba. Những vị ḍng Ba này, vua, con buôn, tiểu công
nghệ đă trở nên thánh trong thế gian và đă thánh hóa thế gian. Kể từ 1900, chín
mươi mốt tu sĩ Phan Sinh đă được nâng lên hàng chân phước hoặc bậc hiển thánh,
trong đó năm vị do Đức Piô XI.. Đức Piô XII đă tiếp tục. Trong những con cái của
thánh Phanxicô, chúng tôi chỉ nêu lên thánh nữ Jeane de Valois, và trong số hai
mươi chín vị tử đạo chân phước do nhóm “Boxers” giết (1900), hai người Pháp, cha
Théodoric Balat và thày André Bauer.
Trong lối năm trăm năm mươi vụ án được đệ lên giáo triều Roma, một trăm là nữ Phan Sinh , kể như một phần ba. Bốn vị liên hệ đến những người đồng thời chúng ta. Chúa nói: Chúng con xét cây qua hoa trái.
Để kết thúc, phải chăng chúng tôi được phép kết luận rằng chúng tôi, trừ khi đă sai lầm hoàn toàn, và cách mù quáng, đă chứng minh theo dự định rằng linh đạo được gia đ́nh Phan Sinh lựa chọn là:
* Phù hợp với những gương mẫu và những giáo huấn của vị Thủ lănh.
* Rơ rệt trung thành với những nguyên lư giáo thuyết được các vị kinh sư xây dựng từ những dữ kiện của Mạc Khải.
* Những thực hành, dĩ nhiên không thể không giống những thực hành của các trường phái khác - nhưng được linh hoạt bởi một tinh thần, nếu không phải là khác hẳn, th́ ít nữa - và đúng hơn - được triệt để canh tân.
Linh đạo này, quả thật, không pha trộn những yếu tố hỗn tạp, không bỏ rơi một yếu tố mạc khải nào, chỉ có tính cách Tin Mừng. Đức Kitô là tất cả: cơ bản và chóp đỉnh, cửa vào và ch́a khóa, là đường và đích sự thật và sự sống.
Một sự trung thành tuyệt đối với Mạc khải được bảo đảm bởi gốc tích, sự h́nh thành có hệ thống, sự thực thi chân chính, làm cho linh đạo Phan Sinh có một đặc điểm phi thường, dù không nhăn tiền trước con mắt xác thịt, nhưng rất có thực và đặc thù.
Ước chi, sau thánh Tông Đồ Phaolô, cha Phanxicô, những kinh sư, linh hồn Phan Sinh lập lại lời: ước chi không bao giờ tôi tự khoe ǵ ngoài chỉ tự khoe trong Đức Kitô, Chúa tôi bị đóng đinh. Vinh danh Ngài, vinh quang Ngài, ḷng mến Ngài đời đời