Chương Sáu : TRƯỜNG PHÁI ĐAMINH
Do Cha Régamey O.P
Trước đây không lâu, mỗi gia đ́nh thiêng liêng đều ưa
xác định linh đạo riêng của ḿnh. Ngày nay trong nhiều gia đ́nh đó, nhiều người
phủ nhận rằng gia đ́nh họ có một linh đạo riêng. Đây là một phản ứng lành mạnh,
v́ cho thấy người ta khước từ những hệ thống khả dĩ làm cho các linh hồn có
những thái độ giả tạo, và người ta muốn sống theo tinh thần thuần túy Kitô,
thuộc về Giáo Hội một cách vô hạn. Nhưng điều chính yếu là nhận thấy rơ ràng mỗi
người hiểu linh đạo là ǵ, và đấy hẳn là chuyện khác, và nhận thấy những gia
đ́nh thiêng liêng khác nhau có thể nghĩ họ không có linh đạo riêng theo những ư
nghĩa khác nhau như thế nào. Những lư lẽ nêu ra th́ khác nhau về cường độ, về
phần
sâu sắc, về tầm quan trọng.
Về trường hợp Đa Minh th́ những ư kiến khác nhau hơn là về bất cứ
trường hợp nào khác , v́ điều mà chúng tôi ưa gọi là tính cách phổ quát thiết
yếu của ḍng các anh em thuyết giáo. Ngay trong nội bộ của ḍng người ta cũng
không luôn có một ư thức khá rơ rệt và khá hữu hiệu về đặc tính này: Do đó,
“tinh thần
Đa Minh" (phương chi quan niệm mà người ta có từ bên ngoài về tinh thần này)
biến thiên từ một tinh thần phổ cút, mà không một ḍng nào khác có thể có, theo
một trương đồ rộng lớn như thế, đến một năo trạng riêng tư khá hẹp ḥi. Chúng
tôi xin giải thích.
Ḍng các anh em thuyết giáo (Ordo praedicatorum) là việc tổ chức
một chức năng tông đồ của Giáo Hội thành một
cơ chế tu tŕ. Chức năng này, tự bản chất, là chức năng của Giám Mục Đoàn, v́
tập đoàn này chính là tông đồ đoàn, tồn tại với chính chân tính riêng của ḿnh
và đổi mới qua các thế kỷ theo truyền thống, tập đoàn này, trước Thánh ĐaMinh,
ưa xưng ḿnh là tập đoàn các nhà thuyết giáo, v́ quan niệm việc rao giảng
Tin Mừng như là nhiệm vụ hàng đầu của ḿnh. nhiều hoàn cảnh lịch sử đă buộc Ṭa
Thánh uỷ thác cho ḍng được Thánh Đaminh sáng lập, nhiệm vụ hỗ trợ hàng giám mục
trong chức năng này. Việc ḍng được đặc biệt uỷ thác nhiệm vụ ấy,th́ ngay danh
xưng cũng nói lên ư nghĩa cách dứt khoát.
Trong vấn đề này, chiếu theo một quy luật thường xuyên trong đời
sống Giáo Hội, những hoàn cảnh lịch sử đă minh khai nhiều năng lực c̣n tiềm tàng
tới lúc bấy giờ, và do đó phải
phân biệt trong cơ chế vốn đă xuất hiện vào một thời gian đă chấm dứt, những ǵ
không đáng được tồn tại và những ǵ c̣n có giá trị cho mọi thời, kể cả một số
dấu vết mà thời gian đó để lại, cũng duy tŕ một giá trị như thế. Mà những
phương hại đến đặc nhiệm tông đồ của ḍng các anh em thuyết giáo có thể đến và
thực sự đă đến từ mọi phía: từ hàng giám mục, từ những cơ chế tông đồ khác, và
nhất là từ chính ḿnh.
Hàng giám mục, vào lúc ḍng này khai sinh, đang quá vướng mắc
trong hệ thống phong kiến, để có thể rao giảng
Tin mừng thật đoàng hoàng. hàng giám mục cũng không được giúp sức bởi một hàng
giáo sĩ có học thức và nhiệt thành với việc mở mang nước Chúa. Nhưng ngày nay,
khi mà những lạm dụng ấy đă được chỉnh đốn, th́ lư do tồn tại trong Giáo Hội của
một ḍng đặc trách việc cứu rỗi các linh hồn qua việc rao giảng Tin Mừng, không
c̣n tính cách khẩn trương nữa. Ḍng không có vẻ cần thiết hơn là trong suốt 12
thế kỷ mà Giáo Hội đă không có nhờ đến nó. Vả lại, số những ḍng và tu hội
chuyên trách việc tông đồ đă gia tăng: Ḍng anh em thuyết giáo chỉ là một trong
số những ḍng khác và không có vẻ ǵ là có tư cách nhất, có tài năng nhất để đảm
trách tất cả mọi nhiệm vụ tông đồ: cấu trúc đan tu và kinh sĩ của ḍng cũng như
tinh thần kinh viện h́nh như làm cho ḍng khó thích nghi hơn. Khi thử thích
nghi, phải chăng là
phương hại đến tính chất truyền thống của ḍng ? chính ḍng chỉ tỏ ra suất sắc
trong đặc nhiệm tông đồ ở lúc đầu thôi. Ngay từ cuối thế kỷ đầu tiên, tinh thần
của ḍng đă mất phần nào tính cách
cởi mở và mềm dẻo, cùng một lúc với khả năng sáng tạo và niềm phấn khởi. không
phải là ngẫu nhiên mà ḍng đă hiến cho
Giáo hội vị “thày chung”, nhưng, trong chiều hướng giáo thuyết này cũng như
trong các chiều hướng khác, đă thấy ḍng do dự giữa thái độ co rút để trung
thành thật sát với quá khứ, và mạo hiểm chạy theo những “mốt” nhất thời về tư
tưởng và cuộc sống. Sáu hay bảy thế kỷ đầu của những cảnh huống lịch sử rất
khác biệt với thuở ban đầu, đă từ lúc ấy để dấu vết trên bộ mặt của ḍng. Chắc
chắn những điều trên không thuận lợi, nếu ngày nay ḍng c̣n dám có hoài vọng
thực thi đặc nhiệm tông đồ trong Giáo Hội.
Những khó khăn mà chúng tôi vừa tóm thật gọn, nhưng với những nét
nghiêm trọng nhất của chúng, báo cho chúng ta biết những điều kiện, mà nếu không
có th́ mơ tưởng đến những tính cách phổ quát của ḍng là lỗi thời và rất ngây
ngô. Chúng giúp ta xác định vị trí mầu nhiệm của ḍng, ấn định giới hạn của
mầu nhiệm ấy và đưa chúng ta vào đó. Chính là mầu nhiệm của sự “sung măn” tông
đồ. Thật ra trong toàn bộ ḍng đă chỉ
thể hiện sự sung măn đó ở thế kỷ đầu của ḿnh cho tới thời đại chúng ta (và ngày
nay, h́nh như ngày càng có thêm trường hợp đó), một số tu sĩ xuất sắc như cha
Lacordaire, hoặc ẩn danh trong những nhiệm vụ khiêm tốn, đă đạt được sự sung măn
đó dưới
rất nhiều cách. Lát nữa, chúng tôi sẽ cố gắng nhận ra những thành tố lớn của sự
sung măn đó, những thành tố bất biến dưới những h́nh thức khác nhau. Sự sung măn
này, khi nào có thừa nhận cách tuyệt hảo rằng ḍng hay một số thành phần nào đó,
có tư cách đảm trách việc tông đồ. Thay v́ khoe khoang sự sung măn đó, các tu sĩ
Đaminh phải hạ ḿnh về điểm này, v́ rất thường khi họ thiếu sót, đành rằng cơ
chế Đaminh có khả năng giúp đạt tới sự sung măn đó cách chắc chắn hơn là các cơ
chế của các bộ phận hỗ trợ hàng giáo phẩm: Giáo sĩ địa phận hay các hội ḍng, và
đó là một cơ chế khá uyển chuyển để đảm bảo sự thành công này trong những thời
đại khác nhau nhất. Nhưng về điều đó, chúng ta cũng phải chỉ nói một cách hết
sức dè dặt mà thôi, v́ cơ chế Đaminh chỉ mang kết quả trong những điều kiện mà
nhiều lúc lại không có: những hoàn cảnh lịch sử không được làm xáo trộn cách
nghiêm trọng hoạt động của cơ chế, trí tuệ và ḷng quảng đại của các tu sĩ phải
đáp ứng những đ̣i hỏi phức tạp và cao độ của
cơ chế này. Vậy người ta thoáng thấy rằng, trong trường hợp Đaminh, những mức độ
khác nhau trong việc thực hiện th́
quan trọng hơn là trong các trường hợp khác: ở trạng thái sung măn, tinh thần
Đaminh, cá tính Đaminh, chính là tinh thần, là
cá tính công giáo; và càng thuần túy Đaminh, th́ linh đạo càng ít thuộc riêng
một gia đ́nh tu nào: Bất cứ vị tông đồ chân chính nào cũng sẽ t́m lại được linh
đạo ấy. Ngược lại, theo mức độ mà
tinh thần này suy sụp, tương ứng với nhiều t́nh trạng trong thực tế khác nhau mà
đủ mọi hoàn cảnh ấy đă đẩy ḍng vào tùy theo
thời gian và không gian, th́ người ta hệ thống hóa một loạt nhiều linh đạo
Đaminh rất rời rạc với nhau. Một cách ngây ngô, tất cả các linh đạo này đều cho
rằng ḿnh có tính cách giáo thuyết. nhưng mỗi thứ là một sự thoái hóa, ít nhiều
nặng t́nh cảm hay thông thái rởm, hoặc là cả hai, của một khía cạnh nào đó mà
thôi của sự sung măn tông đồ, cũng như ḍng Đaminh, hầu như ở
khắp mọi nơi chỉ có vẻ là một ḍng tu riêng biệt, vả lại, bộ mặt ấy rất khác tùy
theo nơi chốn. Thực ra, ḍng có một bản chất, một số phận như thế nào, mà nếu
ḍng không biến đổi những tu sĩ của ḿnh thành những tông đồ trọn vẹn, th́ những
cá tính của họ sẽ đối lập với nhau, và thực sự kết thân với cá tính của mọi thứ
tu sĩ tông đồ khác, nhiều hơn là với những anh em của họ trong ḍng. Trong mọi
cảnh huống, họ chỉ có thể tự biện minh như là Đaminh do những hoài vọng phiến
diện.
Vậy chúng ta hăy thử ấn định đặc tính của sự sung măn tông đồ này. Chúng ta không được ấn định cách tiên quyết, nhưng bằng cách tóm lược những kết luận xuất phát từ việc suy nghĩ về những dữ kiện cụ thể và đặc biệt về những nguồn gốc. Cách hay nhất để hiểu biết một bản chất là t́m xem nó phát sinh thế nào. Ba con đường dẫn tới mầu nhiệm Đaminh, tới tinh thần Đaminh, giúp chúng ta đi sâu vào đó cách chắc chắn nhất.
Sự phát triển những ḍng tu trong lịch sử.
Ḍng Đaminh và mỗi tu sĩ của ḍng, thực hiện nơi ḿnh những giai
đoạn lớn kế tiếp của sự phát triển này.Mỗi một
giai đoạn đă để lại như một lớp phù sa . Lớp này được những lớp tiếp theo sửa
lại, rồi những lớp kế tiếp sau nữa đem lại một
ư nghĩa mới, nhưng lớp đầu luôn nhận diện được và luôn cần thiết cho toàn bộ.
Đời tu ẩn dật, chắc chắn, th́ ít nhận ra được đối với một cái nh́n hời hợt. đời tu ẩn dật là cơ bản trong cấu trúc đan tu. Một tâm hồn Đaminh càng ư thức rơ và mạnh về nền tảng đời tu của ḿnh, th́ càng thấy nếp sống ẩn tu nguyên thủy là thiết yếu và cần thiết. Than ôi ! sự lo âu về những thích nghi tông đồ nhất thời làm cho người ta mù quáng về phương diện này.
Nhưng t́m lại được tính cách cấp bách của nguồn gốc ẩn tu là một trong những kinh nghiệm hay đẹp của sự trưởng thành tông đồ, trong một đời sống thâm thúy hơn, toàn vẹn hơn, ít ảo tưởng hơn. [1]
Những lớp phù sa thứ hai, rất phức tạp: đan tu, kinh sĩ là thành
phần ở giữa của những thứ địa chất này, nơi đây tất cả hướng về và h́nh thành,
từ đây mọi hành động tông đồ chiếu tỏa, mang tính cách tu tŕ truyền thống
nhất: chúng ta nên cân nhắc kỹ tới những chữ tôi gạch ở dưới. Chính một cấu
trúc đan tu đem lại một một thực thể có tính cách tu tŕ nhất và truyền thống
nhất cho nếp sống “ẩn dấu trong Thiên Chúa với Đức Giêsu Kitô cho nếp
sống ẩn tu: Nếp sống ẩn tu nhờ đó mà có h́nh thức quy củ và huynh đệ. Hành động
bên ngoài nhờ đó mà đắc thủ hai đức tính, là tiếng nói qua sự thinh lặng nội vi,
là lời công bố về mầu nhiệm được sống trong cử hành phụng vụ. Luôn có một cái ǵ
thiếu xót trong lời giảng của các vị tông đồ, nếu không được tập luyện trong
thánh điện, trong ca triều và trong nội cấm. Bộ phận này: thánh điện, ca triều,
nội cấm đối với lời giảng của Giáo Hội th́ tương tự như việc tâm hồn cởi mở
trong tiềm thức để hiệp thông với đời sống càn khôn và với kư ức tập thể của
loài người đối với thi phú nhân loại. Dĩ nhiên, miễn là nếp sống trong nội cấm,
phụng vụ phải được sống cách sung măn, có phẩm chất cao, và nhờ sự cởi mở đích
thực là chiêm niệm, nếp sống ấy không ngớt làm tiêu tan năo trạng thầy tu và
giáo sĩ mà thế nào nó cũng tạo ra
[2].
Cuối cùng, lớp phù sa đặc thù Đaminh là lớp biến đổi người đan tu và kinh sĩ
thành người tông đồ, và điều này đ̣i hỏi chúng ta bây giờ phải chú ư một cách
chính xác hơn.
Những biến đổi mới riêng của thánh Đaminh trong lịch sử các ḍng tu.
Trong lịch sử đời tu, thánh Đaminh đem tới không dưới sáu đổi mới lớn, tất cả đều đầy ư nghĩa.
1. Ngài đă tổ chức, một chức năng tông đồ, tập đoàn các nhà thuyết giáo thành một ḍng tu.
2. Làm thế, ngài đă tách việc tông đồ ra khỏi trách nhiệm mục vụ. Trước ngài người ta không thể quan niệm việc rao giảng không phải là bổn phận chính của người “chăn chiên”, của vị hướng dẫn và của vị nhờ các bí tích mà thánh hóa một thành phần nhất định của dân Chúa.những vị rao giảng lưu động thế kỷ XII đă thực hiện việc phân tách này, nhưng chỉ tùy cơ hội, với những tu sĩ Đaminh, sự tách biệt đi vào cơ chế. những chủ chăn bị quá bề bộn công việc. Chính thừa tác vụ của họ cũng kêu mời sụ giúp đỡ của những vị tông đồ thoát ly gánh nặng mục vụ đó để chuyên lo một công tŕnh rao giảng được chuẩn bị sâu sắc hơn, chuyên cần hơn, và được chu toàn với một trí óc thảnh thơi hơn.
3. Thánh Đaminh đă hội nhập việc “chuyên cần học hỏi chân lư của Thiên Chúa” vào những quy luật của ḍng, thay thế lao động chân tay. Ngài coi việc học hỏi đó là một trong ba phương tiện, trong ḍng Đaminh, không bao giờ được hủy bỏ hay thay đổi cách quan trọng; hai việc kia là việc cử hành long trọng phụng vụ thánh và các lời khấn với những nếp sống đan tu.
4. Ngài đă biến phép chuẩn luật, được các bề trên ban cho theo muôn ngàn phương cách, thành một phương tiện b́nh thường và cần thiết để hành động. Phép chuẩn bù đắp sự cực kỳ phức tạp của những yếu tố mà đời tu theo quan niệm ngài, phải hội nhập.Phép chuẩn giúp đời tu thích nghi với các hoàn cảnh và những đ̣i hỏi của sinh hoạt tông đồ. Chính nhờ phép chuẩn mà ḍng tu c̣ thể cùng một lúc duy tŕ những cơ cấu và những tục lệ tu tŕ, mà vẫn làm các công việc tông đồ [3], kể cả thời nay “thả dù” các tu sĩ vào những điều kiện tạm thời không thể sống với đan tu, ví dụ, để trở thành những linh mục thợ thuyền.
5. Cũng chính thánh Đaminh đưa vào
trong các ḍng tu cái điều lệ đă trở thành thông thường này, là những vi phạm
luật ḍng, với tính cách là vi phạm luật ḍng, không phải là tội. Đành rằng phải
coi đó là một biện pháp để trấn an một số lương tâm nhút nhát và trong lịch sử
tiến bộ củalương tâm Kitô giáo, đó cũng là lúc mà lương tâm nhận ra một cách
sáng suốt và rơ rệt, sự phân biệt, từ lâu bị lẫn lộn, của ṭa ngoài (for
externe) và ṭa trong
(for interne). nhưng chưa hết. Đó c̣n là những ư thức rất sắc bén về những đ̣i
hỏi của hoạt động tông đồ, với những cái bất ngờ, những xung khắc giữa những bổn
phận. Hoạt động tông đồ có thể buộc đi xa hơn các phép chuẩn của bề trên, vậy
người tu sĩ, khi cần phải được hoàn toàn thoải mái, đặt đức ái lên trên việc giữ
luật ḍng.
6. Đức khó nghèo hành khất có tính
cách đặc thù Đaminh hơn là phan sinh, v́ theo thánh Phanxico, chỉ khi nào lao
động không đủ nuôi sống th́ mới nhờ đến việc hành khất. Thánh Đaminh đă tŕnh
bày ít nhất là bốn lần, những lối khác nhau để thể hiện khó nghèo chung. Ngài đă
làn gương để cùng một lúc in sâu vào tâm trí các đệ tử một huyền bí về đức khó
nghèo, cũng tuyệt đối, cũng hăng say bằng đức khó nghèo nơi thánh Phanxicô mà
ngài không c̣ mượn của vị này, v́ huyền bí đó triển nở ngay trước khi thành lập
hội ḍng ở những mầm mống đầu tiên (từ lúc đi rao giảng tại Narbonne) và ư thức
về tính cách tương đối rất lớn của thực hành cụ thể. Tương đối, nhưng với cái ǵ
? với hành động tông đồ và về điểm này, có lẽ có nhiều điều phải nói. Điều
thiết yếu, điều này thời nào cũng vậy và c̣n tồn tại sau khi Giáo Hội đă hủy bỏ
việc cấm đoán có những tài sản chung với quy chế hành khất, chính là những nhân
viên tông đồ trông cậy vào những phương tiện cần thiết để sinh sống và sinh
hoạt, như là phần tặng thêm mà Chúa đă hứa cho những kẻ mở nước Chúa trong thế
gian. Họ phải rũ bỏ những lo âu về phương tiện sinh sống, c̣n hơn là đối với
trách nhiệm mục vụ nữa, và phải tin rằng nếu họ phục vụ Giáo Hội, th́ dân Chúa
sẽ bảo đảm đời sống cho họ.
Có lẽ tính cách dân chủ của lối quản trị ḍng Đaminh có thể được coi như là việc canh tân thứ bẩy của thánh Đaminh mặc dầu những yếu tố của cơ chế đă có nơi ḍng trước đó. Sự phối hợp các yếu tố ấy và tinh thần hướng dẫn việc ấy, có tính cách mới mẻ đến nỗi vào thế kỷ XIII nhiều công xă đă chọn hiến chương của các anh em thuyết giáo làm mẫu mực cho hiến chương của họ hơn là hiến chương của các công xă khác.
Những yếu tố lớn của đặc tính Đaminh.
Nếu trong lịch sử, chúng ta nh́n ḍng Đaminh phát sinh
[4],
chúng ta thấy trong đó như là những sức sống phát xuất từ thâm sâu của tâm hồn
Kitô và thể hiện một thứ cá tính tôn giáo. được đổi mới từ thời này tới thời
kia, những sức sống ấy vẫn tái tạo cá tính ấy. Sau khi cân nhắc kỹ phải gom góp
những sức sống ấy lại làm ba khuynh hướng, có thể gọi là tinh thần Tin Mừng hay
tông đồ, tinh thần sống theo quy luật và đặc tính của mỗi thời đại lịch sử.
Kết hợp cả ba yếu tố đó lại là điều khá đáng sợ. kết quả sẽ là
một thứ hỗn hợp vang như sấm, là sứ điệp tiên tri. Tiếng vang lên chính là lời
rao giảng. chỉ có thể duy tŕ cả ba yếu tố đó cùng một lúc, nếu ta sống khá cao,
khá sâu và khá rộng. bằng không th́ thật là mạo hiểm. Đúng vậy, nguy cơ nghiêm
trọng đến mức bắt buộc ta phải sống đời cao sâu như thế. Khi các tu sĩ Đaminh
bỏ bê nếp sống đó th́ ta thấy ǵ ? kẻ th́ tỏ ra lộn xộn với những mâu thuẫn nội
tâm, kẻ th́ tỏ ra tầm thường do thói quen dùng những thỏa hiệp thấp kém và dễ
dăi, thay thế những thứ tổng hợp cao siêu; một số v́ trung thành với khuynh
hướng thứ hai nên
sốt sắng giữ một thứ quy luật chết, trong khi ngược lại ta thấy một số khác cư
xử như những khối chất nổ nguy hiểm; biết bao kẻ, v́ muốn theo thời đại của ḿnh
mà tục hóa, tan biến ra mây khói... Tuy nhiên, phải chấp nhận thực tế. Ngay từ
lúc sáng lập ḍng Đaminh, ba khuynh hướng ấy gặp nhau hoà hợp với nhau. cả ba
cùng thiết yếu.
Chúng tôi đă từng nhấn mạnh đến tinh thần đan tu và kinh sĩ.
chúng ta nên lưu ư, vào thời thánh Đaminh, chất men mà ta
có thể gọi là tinh thần Tin Mừng hay tinh thần tông đồ mănh liệt như thế nào.
Chất men ấy ảnh hưởng đến đời sống kinh sĩ.Mới đây các sử gia đă lưu ư đến
“phong trào tông đồ”. Phong trào này là một sự “trở về nguồn”. Nó cố t́m lại sự
trọn hảo của Giáo Hội sơ khai. Những ḍng tu thế kỷ XII, đặc biệt ḍng
Prémontre, không đủ sức để thu hút và hướng dẫn phong trào đó. Đây là một trào
lưu cốt yếu của Giáo đân. Trong một xă hội tràn đầy
lạm dụng, trào lưu ấy trở thành phản xă hội, phản giáo sĩ. Trào lưu ấy nhận thấy
ḿnh có một sức mạnh để lôi cuốn nhiều người khác: đó là nhu cầu phóng hỏa đốt
cái thế giới mà đối với chúng ta, từ ngữ “tông đồ” hàm chứa một cách chính
đáng.Dưới quyền các chủ chăn chỉ biết lo cho ḿnh mập béo, người nghèo, người
nhỏ bé những kẻ được Đức Kitô ưu đăi, giống như là những con chiên không chủ
chăn. họ trở nên những con mồi của đám
cuồng tín. Tu sĩ Đaminh và Phan Sinh đă phát sinh từ cuộc
khủng hoảng này. Ít nhất là trễ một thế kỷ, cho nên họ chỉ có thể sửa chữa tai
họa một phần nào thôi. Thánh Phanxico là người
hèn mọn, đơn sơ, người nghèo theo Tin Mừng, người đă đưa
tinh thần nghèo khó đáng sợ này đến mức giống Chúa Kitô cao nhất, đến nỗi ngài
t́m lại được quân b́nh trong Giáo Hội. Thánh Đaminh là người học giả,nhờ trung
tín với Giáo Hội, mà t́m lại được nơi Giáo Hội tinh thần Tin Mừng trường cửu.
Ngài có tinh thần của Giáo Hội một cách sung măn và mănh liệt ,đến nỗi thay v́
nấp ẩn trong một pháo đài giáo sĩ, ngài thông cảm hết ḿnh với hứng khởi sâu xa
của những kẻ lạc đường, bất kể những lệch lạc phản giáo sĩ.
Nghèo khó và ḷng nhiệt thành truyền bá ,đó là hai đặc điểm rơ
nhất của phong trào tông đồ. Về điểm thừ hai này, sự đối lập giữa thánh Phanxico
và thánh Đaminh th́ cũng
rơ rệt như điểm thứ nhất. Đối lập cũng là bổ sung cho nhau. Ư hướng của Thánh
Phanxico không phải là nhiệt thành truyền bá. Đối với ngài, một cách rất đơn sơ
và sống theo Tin Mừng, không b́nh luận, v́ một ḷng mến đi tới điên rồ. Từ đó
tất nhiên ngài đi tới việc rao giảng, nhưng dưới h́nh thức của lời khuyên nhủ
bộc phát, thân mật, xứng hợp với một người không phải là linh mục
[5].
Nơi thánh Đaminh ngược lại ḷng nhiệt thành cứu các linh hồn là ưu tiên, đến nỗi
ḍng Đaminh phát sinh từ đó. Mà thánh nhân đ̣i hỏi phải trở nên giống Chúa Kitô,
đặc biệt là đời sống nghèo khó.
Dù đáng phục đến đâu, linh đạo đan tu thế kỷ XII không phát ra âm
vang độc đáo nhất của Tin Mừng. Cái thiếu xót của linh đạo ấy là đă không hiểu
vai tṛ số 1, thực sự có tính cách cấu trúc của giới răn mới .
[6]
Trong tất cả nhiệm cuộc Kitô Giáo; đă không hiểu hướng đi và đặc thù mà giới
luật này truyền cho tất cả các nhân đức; sau hết đă không hiểu giới luật ấy đă
bắt buộc biến đổi thực sự thế giới. Lương tâm đă bừng dậy khắp nơi trong dân tín
hữu từ t́nh trạng đó nơi thời thánh Đaminh và thánh Phanxico. Để có điều đó, có
lẽ các trí óc đă nhờ ảnh hưởng của sự tiến bộ kinh tế mà mở mắt trước những thực
tại xă hội, không c̣n chịu đựng sự t́nh dưới những ách bảo hộ phong kiến, hay
trốn tránh cảnh trạng đó dưới ách bảo hộ của các đan viện. Dù sao cái đầu mũi
nhọn sắc bén, xây dựng, cách mạng của yếu tố có tính cách Tin Mừng nhất trong
Tin Mừng, th́ chính lúc đó, người ta mới bắt đầu thấy lại, cũng như vào thời sơ
khai của Giáo Hội, cái đầu mũi nhọn đó sắc bén như thế nào. Nói rằng ở nguồn của
hai ḍng anh em Đaminh và phan sinh, chính nguồn Tin Mừng th́ vẫn chưa đủ: phải
chính nguồn Tin Mừng nhưng đang vọt lên, trong cái tia mạnh nhất, và người ta
lănh đủ vào mặt, thật mạnh, thật mạnh.
A ! đón nhận, đón nhận những đ̣i hỏi của ân sủng Kitô, không phải bằng lời nói
nhưng trong thực tế, đến tận cuộc sống hằng ngày. Tin tưởng vào tinh thần Kitô,
kể cả lúc nó có vẻ ương ngạnh, kể cả khi người ta thấy rơ cũng như ai, nó có
nguy cơ lâm vào những h́nh thức sai lạc. Tin tưởng vào tinh thần Kitô, khi người
ta thấy quả thật nó lệch lạc nhiều kiểu. Đổi mới các b́nh chứa, khi rượu mới
đang sôi sục. Nếu chúng ta không chỉ nói suông, th́ phải thú nhận đó là một phép
lạ cả thể; phép lạ xảy ra ở nguồn mạch Đaminh. Phép lạ c̣n tái diễn ở những giai
đoạn
quan trọng của lịch sử Đaminh, mỗi lần mà ḍng Đaminh nói người con này, hay
người con nọ, không chỉ lo như là xử lư
thường vụ, mà đă đáp lại những nhu cầu cấp thiết nhất của Giáo Hội. Một
Barthelmy de las casas, một Savanarole, một Lacordaire không phải ngẫu nhiên mà
họ là tu sĩ Đaminh.
Người ta có cảm tưởng rằng tinh thần Tin Mừng, nếu thật sự là thế, cần nhờ đến đặc tính của một thời đại, và đặc tính này phải hội nhập như là một thành phần thiết yếu của cá tính tông đồ. Muốn làm tông đồ phải trở nên Hylạp với người Hylạp, Do Thái với người Do Thái... Chính ở đó là nguy cơ lớn: chính nguy cơ này làm cho tinh thần Tin Mừng rất nguy hiểm.
Đức nghèo khó lúc đó, xuất hiện như là “bí tích” (dấu chỉ) của
một sự từ bỏ sâu xa hơn, từ bỏ những tiền kiến mà người tông đồ đă lănh nhận từ
môi trường riêng của ḿnh, để thực sự chia sẻ những lối suy tư và cảm nghiệm của
những người mà ḿnh phải mở cơi ḷng để đón nhận chân lư Thiên Chúa. Trong chân
lư
trọn hảo này, họ phải nhận thấy lư riêng của họ được thể hiện. Tính cách phổ
quát (công giáo)của đức tin, cụ thể là khả năng thể hiện cách trọn hảo những
tiềm năng của con người, dù chúng có đa dạng thế nào đi nữa. Ḍng Đaminh mà
phương châm của mỗi tu sĩ là “chân lư” phải giúp người ta cảm nghiệm ḿnh được
“biến đổi ra chính ḿnh”, nhờ cố gắng vượt thắng con người
tầm thường của ḿnh trong chân lư Kitô.
Việc tinh thần của nhiều thời đại lịch sử liên tiếp phải hội nhập
như là một thành tố thiết yếu trong cá tính tông đồ, đấy là đặt ra những vấn đề
đáng sợ. Vấn đề nghiêm trọng nhất hiệnra trước mắt, và những tu sĩ Đaminh điển
h́nh nổi tiếng nhất minh họa điều đó: Thánh Tôma Aquinô đă khai thác điều găng
nhất, dễ nổ nhất trong tư tưởng mới mẻ của thời đại ngài, cha Lacordaire tin
tưởng vào một vài chân lư hiện đại mà đa số những kitô hữu lúc đó chỉ cảm thấy
ghê tởm, cha Lagrange, trong lối chú giải những văn kiện chứa đựng Lời Chúa, đă
thẳng thắn đóng vai tṛ phê b́nh sắc bén nhất. Trong mức độ mà cái được xem là
“chân lư” của một thời đại bị lẫn lộn, đối lập với “chân lư
mạc khải” th́ có nguy cơ nhiễm độc lớn lao là dường nào; là những con người
không thể tự phụ là có những thiên khải dành cho các vị tiên tri, trong nhiều
vấn đề khó khăn như thế, không thể
tự phụ có đặc ân vô ngộ mà chỉ người đại diện Chúa Giêsu Kitô chắc có thôi, và
vị này cũng chỉ sử dụng đặc ân ấy trong những trường hợp ngoại lệ, họ phải trải
qua những xung khắc nội tâm bi đát biết dường nào! những xáo trộn nghiêm trọng
biết bao được gợi lên trong ḷng Giáo Hội!
Trả lời rằng các vị ấy chỉ cần ở yên trong các giới hạn của sứ mạng uỷ nhiệm: là công bố chân lư trường cửu th́ vẫn chưa đủ: có điều là sứ mạng bao gồm việc họ phải hấp thụ chân lư trường cửu theo tinh thần các thời đại qua đi, hay đúng hơn là phải đồng hóa cách sinh động tinh thần thời đại với chân lư Thiên Chúa cho chính họ, hầu làm cho chân lư ấy được sáng tỏ và kiến hiệu trong thời đại họ.
Cũng vẫn chưa đủ, nếu trả lời rằng các vị đó chỉ cần truyền bá
giáo huấn của Giáo Hội, mà huấn quyền thực hành việc đồng hóa này. Dĩ nhiên,
những tông đồ chỉ là tông đồ ở mức họ tuân theo luật lệ của huấn quyền và truyền
bá những giáo huấn. Nhưng có điều là Giáo Hội không xem họ như là những người
truyền bá mà thôi. Giáo Hội muốn họ là một tập thể có thể nói là cao nhất trong
các bậc “tôn sư”. Tập thể các nhà thuyết giáo hay các
tôn sư, những vị tôn sư thuộc rất nhiều cấp, dĩ nhiên theo rất nhiều lối, dưới
muôn h́nh thức ít nhiều được chấp thuận và ít nhiều thong dong, ít nhiều có tính
cách lư thuyết và ít nhiều pha trộn với “chất bột con người”, các vị đó, tại
nhiệm sở của ḿnh, mỗi người theo sở trường của ḿnh, suy tư về những mối quan
hệ giữa chân lư trường cửu và những chân lư rải rác trong xă hội loài người. Nhờ
vậy một sinh hoạt tinh thần rộng lớn nâng đỡ chính
huấn quyền, chuẩn bị thích nghi huấn quyền để giải quyết những vấn đề cụ thể tùy
theo nhu cầu của mỗi thời đại đ̣i hỏi. Thành công sẽ chỉ được bảo đảm những nguy
cơ chỉ sẽ được xa tránh, là nhờ một cấu trúc tư tưởng và cả một quy chế đời
sống, vậy là một nền đào tạo, cả ba thành phần được sắp xếp cách tuyệt hảo, mà
sự hài hào là đặc điểm của ḍng Đaminh.
Tóm lại, chúng tôi nghĩ rằng tinh thần của một người con thánh
Đaminh là một thái độ cởi mở đón nhận toàn bộ chân lư Thiên Chúa, tất cả những
ǵ thuộc về con người, tất cả những ǵ thuộc về Giáo Hội, tất cả mọi phương tiện
tông đồ, một
khuynh hướng đạt đến sung măn tông đồ. Dĩ nhiên trong cụ thể mỗi tu sĩ, hay mỗi
cộng đoàn Đaminh hay mỗi thời đại lịch sử nữa đều có những giới hạn của ḿnh, và
trước tiên trong chính cái nhăn quan của ḿnh, nhưng khuynh hướng, nhưng thái độ
cởi mở th́ vô hạn, cũng không có nhấn mạnh về một điểm nào cúa chân
lư, về một khu vực nào của cánh đồng tông
đồ, về một phương diện nào. Một số nhà tông đồ trong Giáo Hội có ơn gọi
nhấm mạnh về một điểm: Tu sĩ Cát Minh nhấn mạnh về đời sống ẩn tu, tu sĩ Phan
Sinh về đức khó nghèo. Tu sĩ Đaminh nhấn mạnh về cả ngàn điểm, tùy theo những ơn
gọi riêng biệt của họ và tùy theo những hoàn cảnh kh6ác nhau, cũng như (dĩ
nhiên) tùy theo sự yếu đuối của họ. nhưng không thể xem đó là nguyên tắc và quy
luật tinh thần của thánh Đaminh về quan điểm đặc biệt này.
Từ bên ngoài, ba lư do khác nhau có thể làm người ta cho là có một linh đạo Đaminh, từ linh đạo ở đây không có nghĩa là một cung cách quy định mà bất cứ người nào thuộc gia đ́nh Đaminh cũng phải rập theo, nhưng là một tinh thần và một lối sống, tự nhiên được ơn gọi hướng dẫn, được phát triển, được xác định bởi những tục lệ tự nhiên của gia đ́nh ḿnh.
1. Theo chiều hướng này người ta tưởng khám phá được một linh đạo Đaminh, khi nhận thấy có nhiều tu sĩ Đaminh ở mọi thời đại đă nhấn mạnh, và nhấn mạnh một cách có suy nghĩ kỹ càng về một diện khoe khoang tŕnh độ trí thức của họ: về điểm này, có lẽ có nhiều điều phải nói, nhiều chi tiết phải xác định rơ ràng, nhiều ngộ nhận phải đánh tan. Nhưng tất cả những ǵ chúng tôi có thể nói, rốt cuộc đi tới kết luận: tiếc thay cho những tu sĩ Đaminh đó ! tiếc thay, trong mức độ mà họ đă khoe khoang như là khuynh hướng duy trí thức, chỉ là sự thiếu thận trọng của một “animus” nói nhảm ngoài những tri giác của “anima” và những trực giác của “spiritus”. Trong mức độ một khuynh hướng duy trí thức như thế, dựa vào những tư tưởng đă trở thành ngu xuẩn, càng ngu xuẩn v́ chúng càng đúng về mặt luận lư,trong mức độ của những tác hại của nó, nếp sống các tâm hồn đă bị giam hăm trong một linh đạo riêng tư.
2. Nhiều người nghĩ rằng : tinh thần tông đồ, dù hướng về sự sung măn, vẫn c̣n là một thứ tinh thần trong số những tinh thần khác. Ngược lại, chúng tôi xác tín rằng, tinh thần tông đồ là sự sung măn của tinh thần Kitô.
3. Sau cùng một số người nghĩ rằng tinh thần sống theo qui luật,
cấu trúc đan tu và sự gắn bó với giáo thuyết của thánh Tôma xác định một mẫu đời
sống tông đồ đặc biệt trong số các mẫu khác. Chúng tôi trả lời rằng đúng là như
vậy, trong mức độ mà tính cách đan tu và giáo thuyết của thánh Tôma là một văn
tự bị rút mất hết tinh thần, nhưng ngược lại nếu cởi mở và không khép kín, th́
hai yếu tố trên cần thiết cho sự sung măn, và nếu không có hai yếu tố đó, th́
các tông đồ trong Giáo Hội thiếu mất một cái ǵ cựu kỳ quư báu. Tuy nhiên một
xác quyết như thế không thể chứng minh dựa vào khái niệm; xác quyết đó là một
kết luận rút ra từ một kinh nghiệm sống động. Rủi thay đó là kinh nghiệm về một
lời hứa, về một đ̣i hỏi thâm sâu. Nhưng c̣n phải giữ
lời hứa, c̣n phải thể hiện sự đ̣i hỏi ấy một cách hiển nhiên. Tu sĩ Đaminh chúng
tôi luôn thiếu xót các nào đó trong hai việc ấy. Vậy chúng tôi đáng được người
ta gán cho một linh đạo riêng biệt. Nhưng khi chúng tôi đọc bản tŕnh bày linh
đạo ấy, dù được một người anh em chúng tôi soạn, chúng tôi cũng tưởng ḿnh đang
soi mặt trong một tấm gương làm méo mó h́nh ảnh.
II. SẮC THÁI ĐAMINH CỦa vài thỮc tẠi thiêng liêng [7]
Bây giờ chúng ta hăy xem xét một số cung cách đặc thù của những
đệ tử của thánh Đam4inh. Những cung cách đó có
phác họa một chân dung thiêng liêng độc đáo đi ngược lại lối nh́n của chúng tôi
không ?
“Chân lư đời sống”
Mỗi tu sĩ Đaminh đều hy vọng một ngày nào đó xứng đáng lănh lời khen mà Bossuet tặng cho vĩ nhân Condé: “một con người chân thật”. Có người căi: nhấn mạnh về chân lư th́ cũng là nhấn mạnh. nhưng chân lư th́ phổ quát. Tuy nhiên “chân lư” là một châm ngôn riêng, vốn xác định một gia đ́nh thiêng liêng khác hẳn với “đức ái"(caritas). Có thể như vậy, và chúng ta thấy rơ người ta có thể hệ thống hóa trong hai đường hướng này, hai linh đạo khác nhau. Cho dù người ta hiểu thực sự -không phải luôn như vậy - rằng chân lư Đaminh trổi vượt hơn chân lư của Aristote, v́ là chân lư của thánh Gioan, cho dù chúng ta sống theo chân lư mạc khải vĩ đại trong sách của Gioan. Chân lư là ḷng mến th́ ngay cả lúc đó người ta có thể thấy hai gia đ́nh khác biệt: gia đ́nh Đaminh sống theo ḷng tin, gia đ́nh Phan sinh sống theo ḷng mến. Mặc dù ḷng tin được hiểu và sống cách sung măn, theo thánh Phaolo như là lời đáp trả của toàn thể con người có ḷng mến đối với “Chúa Con Thiên Chúa”, “Đấng đă thương tôi và phó ḿnh v́ tôi”, mặc dù ḷng mến có bao hàm linh cảm, những biệt phân sự trung chính, soi sáng tinh thần bằng nhựng ân huệ, mặc dù ḷng mến ẩn giấu ḷng tin nơi ḿnh như một cái cốt, tuy nhiên, người ta vẫn thấy hai mẫu Kitô hữu, hai mẫu tu sĩ, hai mẫu tông đồ. khi mà họ trở thành chuyên gia về tư tưởng, các tu sĩ Đaminh tỏ ra thiên về duy trí thuyết, các tu sĩ Phan Sinh tỏ ra thiên về duy chí thuyết. Đúng thế: và chúng tôi thực sự nhắc đến hai thế giới đă có, đang có, trong lịch sử loài người. Theo chiều hướng này giả sử có một linh đạo Đaminh đi (vượt hẳn ḍng được thánh Đaminh sáng lập). Nhưng chúng tôi vừa khước từ xu hướng duy trí thức, v́ xu hướng đó sẽ giam hăm đời sống các linh hồn đến với ánh sáng và làm sự thật trong một linh đạo làm khô khan. Ngược lại, chúng tôi đệ tử thánh Tôma, chúng tôi không thể xem xu hướng “duy ư chí” khác hơn là một sự hiểu lầm. C̣n lại cái ǵ? Một đàng tất cả những ǵ là tích cực và chính trực trong các linh đạo thiên về ư chí, th́ chúng tôi thấy quen thuộc như khí hậu nơi quê quán chúng tôi và được hoàn tất trong tổng hợp của thánh Tôma. Đàng khác xu hướng duy trí thức Đaminh khi nó không phải là gàn, th́ đối với chúng tôi, chỉ là cung cách đúng đắn và hết sức đ̣i hỏi của tinh thần (cung cách trực giác và thuần lư)
“Nơi chúng ta, cha Gardeil nói, nếu không phải là cha Lemonyer
cái trí thức ǵn giữ cái thiêng liêng”. Cái trí thức c̣n làm nhiều hơn là ǵn
giữ cái thiêng liêng. Chúa biết đó là
công trạng lớn và nhiều phong trào đạo đức đi lệch đường
nghiêm trọng như thế nào, v́ không đến xỉa ǵ đến sự ǵn giữ ấy. Tinh thần đ̣i
hỏi ḷng mến thâm sâu và cực độ phải ngay thẳng. Tính ngay thẳng là đức tính đệ
nhất của nhân đức hàng đầu, của đức tin, đức tính chủ tŕ các đức tính khác (Tại
sao đức tính này lại không c̣n thấy trong số những đức tính khác của đức tin
trong sách giáo lư ?) sự ngay thẳng này là đức tính của một tinh thần và của
ḷng mến đi đến chính Thiên Chúa, chính Ngài, không hơn không kém, và không cần
những công thức, mà ở trạng thái
trần thế khi cần thiết cho sự ngay thẳng ấy. Coi trọng tính cách siêu việt của
Thiên Chúa, coi trọng Đấng hữu thể, Đấng khôn ngoan, Đấng t́nh thương, đời sống
vô biên, coi trọng sự mạc khải và thông phần của Ngài, những điều đó tạo những
“kẻ khôn ngoan”
Tu sĩ Đaminh là người tin vào chân lư, tin vào khả năng của tinh thần để nhận ra chân lư: nhận ra những chân lư tự nhiên, và khi nào được thấm nhuần ân sủng, th́ biết nh́n nhận chân lư Thiên Chúa, nếu chân lư này tự tỏ ḿnh cho tinh thần. Con mắt mở ra, và khi b́nh minh chiếu, nó nhận ra ánh sáng”. sự trong sáng của ánh sáng vinh cửu; phản ánh của nguồn sáng này đem lại cho tinh thần sự tươi mát, sự nghiêm túc trọn hảo của những trẻ em, và không một kinh nghiệm nào về những ǵ tàng ẩn trong ḷng con người có thể làm hư hỏng sự tươi mát và nghiêm túc đó.
Một ư thức sắc bén về cái tương đối, nhưng nhiệt thành tôn trọng
những giá trị của nó và quư chuộng những nét đa dạng của nó, được kích thích bởi
sự dâng hiến cho tuyệt đối. Sự gắn bó của đức tin siêu nhiên phát động sự t́m
kiếm không ngừng của
tinh thần, v́ đức tin hướng tinh thần về vô biên, về vô h́nh và về cái không thể
hiểu được. Ngày nay, những ǵ là uyên bác
phát xuất từ những kiến thức của con người, nêu ra nhiều câu hỏi và nhiều bí
nhiệm hơn là những điều chắc chắn, và c̣n ít hơn nữa một giáo thuyết có hệ
thống, th́ tinh thần điều tra, tinh thần
cực kỳ dè dặt, tinh thần phê b́nh phù hợp với tinh thần chính xác. Tinh thần này
tin tưởng vào bất cứ chân lư nào. Nó đă luôn dung ḥa những cực đoan. Sự khôn
ngoan của nó luôn bị giằng xé quá mức theo tất cả những chiều kích của Đức Kitô
trên thập giá.
Tinh thần con ngưới cảm thấy sung sướng, v́ trong những kiến thức
loài người, nó không c̣n có sự ngây thơ của thời đại tiền khoa học ,bởi v́ hiện
giờ, rất may là óc phê b́nh, tuy làm việc nghiêm túc trên sự vật, nhưng đă không
làm phương hại ǵ đến phần thiết yếu của trật tự của chúng
[8].
Hơn bao giờ tinh thần tin vào một trật tự các sự vật. Trong sự hỗn loạn của các
tâm hồn ngay thật, nó có thể hướng về chân lư đời sống. Chân lư này như có hai
cấp: trước hết (chân lư) là phù hợp giữa những phán đoán điều khiển hành
động với trật tự của Thiên Chúa và với trật tự các sự vật; kế đó (chân lư)là
sự phù hợp của hành động với phán đoán ấy. “trước hết”, “kế đó”, là những thời
của một thứ biện chứng liên lỷ, phức tạp và tiệm tiến, mà trong quá tŕnh của
biện chứng ấy, cấp hai không ngớt giao thoa: sự phán quán về hành động luôn chịu
ảng hưởng của phẩm hạnh thực sự của kẻ phán đoán. Phải nói thêm rằng bản chất
của chủ thể phán đoán cũng được bao gồm trong trật tự các sự vật, mà phán đoán
phải phù hợp với. Cũng như trong triết học, thuyết duy thực của thánh Tôma không
phải được hiểu cách ngu xuẩn như là thứ duy thức của sự vật tự tại, cũng vậy
trong nếp sống thiêng liêng, cái phản ứng cá nhân của chủ thể đối với ḿnh th́
quan trọng nhất, nghĩa là tính thành thật của nó theo cái nh́n riêng của nó, vị
trí hiện sinh của nó, rốt cuộc, theo ơn gọi và ân sủng của nó. Nhưng sự thành
thực thường thường có thể lầm. Nó chỉ là một chuyện đột phá vô trật tự, điều có
vẻ trổi vượt là một hỗn hợp rất khả nghi của những mệnh lệnh của
“siêu ngă”, của giận hờn mà
“siêu ngă” làm chua cay và những cơn nổi
dậy của một yềm thức đầy mặc cảm ("tôi là như thế đó”, người
"thành thực” nói và như thế, và quả thực chính là “cái ấy” của những nhà phân
tâm học mà đương sự phóng ra trong hành động). Trong một thế giới như vậy,
con người của chân lư có vẻ kỳ lạ. Người đó duy tŕ sự trung tín với trật tự của
Thiên Chúa và với trật tự các sự vật, cách sống động, người đó là xác quyết của
một chân lư khách quan
[9].
Người đó khước từ sự phân biệt giữa giáo thuyết thiêng liêng và
luân lư. Nghệ thuật sống chỉ có một. Và nghệ thật này chỉ là một áp dụng trược
tiếp kiến thức về Thiên Chúa vào việc thể hiện một định mệnh. Sự giao thoa giữa
định mệnh bản thân này với nhiệm cuộc cứu độ chung như thánh Phaolo tŕnh bày
cho
tín hữu Côlosê và Êphesô, th́ cũng thực tiễn bằng hay thực tiễn hơn là những
luật lệ chi tiết về hành động. Là lời nói về
Thiên Chúa, biểu lộ trung thực lời nói của Thiên Chúa, thần học vẫn là một, qua
ba trạng thái: Suy tư về những chân lư thuộc về Thiên Chúa, cảm nghiệm trong vui
sướng những chân lư ấy
(thần bí) và làm cho nếp sống của con người phù hợp với trật tự các chân
lư ấy.
Ba từ ngữ phát xuất cách tự nhiên từ các ng̣i bút Đaminh và rất
có ư nghĩa toàn vẹn, cấu trúc mô thể. Chúng tôi rất ngại viết từ ngữ chót này,
đặc thù nhất trong ba từ ngữ. Một đệ tử của thánh Tôma không thể sử dụng nó mà
không giải thích.Từ ngữ này làm độc giả hôm nay nghĩ đến một một h́nh thức bên
ngoài và có lẽ là vơ đoán. Ngược lại nó có nghĩa là đi xa hơn những vẻ bên ngoài
và những cảm giác để luôn đạt tới, như Littré thẳng thắn nói: ” điều làm cho một
vật nó là thế” và mối lo âu đạt tới “mô thể” đi đến mối lo âu đạt được những
“cấu trúc": các sự vật từ bên trong, theo những nguyên lư của chúng, do những
quan hệ thiết yếu được phối trí như thế nào và làm thế nào chúng ta sắp xây dựng
những tư tưởng và những phương pháp của chúng ta, phù hợp với sự vật ? Trọn vẹn,
nói đến sự đ̣i hỏi tính cách sung măn mà chúng ta đă nhấn mạnh khá nhiều ? Ở đây
chúng ta nên lưu ư rằng từ ngữ này bao hàm ư nghĩa “hội nhập”. Đó là điều mà sự
khôn ngoan đ̣i hỏi, tu sĩ Đaminh sử trí theo lối các sinh vật cao đẳng, vốn phát
triển cùng một lúc về mặt phức tạo,đa dạng hóa đến cực độ những cơ quan của
chúng và nơi chúng những cơ quan có vẻ kém nhất lại đóng một vai tṛ thiết yếu.
Một trong những nỗi khổ tâm nhất của tu sĩ Đaminh trên trần gian này là thấy
không ngớt hoặc là đối lập hoặc là lẫn lộn trong hỗn độn, hoặc là tránh né bằng
những giải pháp nửa vời, những ǵ phải phân biệt để kết hợp, theo từ ngữ tuyệt
diệu của Maritain. Tu sĩ Đaminh giải quyết một cách nhẹ dạ, không giản lược
thành những sơ đồ quá đơn giản, không thâu tóm những vấn đề vô cùng phong phú và
vượt khả năng hiểu biết vào một trong nhiều diện của chúng. Tu sĩ Đaminh nắm
toàn bộ dữ kiện. Như thế, trước tiên là trật tự ân sủng và trật tự tự nhiên, đặc
biệt mầu nhiệm tiền định, cũng như tác động của Thiên Chúa, và sự tự do của con
người. Thay v́ thấy giữa hai vế một sự đối lập hay một sự cạnh tranh, hay cả một
sự điều hợp nào của những lực lượng ngang hàng với nhau, tu sĩ Đaminh nói với
Thánh Âu Tinh: “được cấu thành là hữu thể tự do, bởi
sức thúc đẩy của ân sủng”. Như vậy tu sĩ Đaminh chủ trương cùng
một lúc, một Kitô Giáo vinh quang và có chiều kích toàn vũ, trong đó chiều theo
những ư định của
Thiên Chúa, Đức Kitô là chóp đỉnh của toàn thể tạo vật, và một Kitô Giáo bị tổn
thương sâu xa theo đó, chính tội lỗi là
nguyên nhân quyết định mầu nhiệm nhập thể. Như thế cái nh́n lạc quan của tu sĩ
Đaminh cân xứng với một cái nh́n bi quan triệt để vốn thấy được với tất cả cái
thảm trạng bi đát của nó, tính cách khốn cùng của tội lỗi, của đau khổ, của cái
chết và của hỏa ngục, v́ cảm thức về Thiên Chúa làm tăng thêm sự ghê tởm đó,
thay v́ làm giảm bớt, chỉ có mầu nhiệm cứu chuộc mới lập lại được nước cờ. Cũng
như thế, nhưng những tỉ dụ về sự có mặt cùng một lúc ở hai cực có thể được nhân
lên, ḷng sùng mộ Đaminh kết hợp sắc thái giản dị b́nh thản, cao siêu và thanh
lọc của phụng vụ, với sự ưa thích những lối sùng mộ giàu tưởng tượng hơn và b́nh
dân hơn, mà chuỗi mân côi là biểu trưng, một sở thích của cuối thời Trung cổ.
Sự đ̣i hỏi tính cách trọn vẹn và vẹn toàn của tinh thần Đaminh
xuất hiện rơ rệt nhất khi người ta tự hỏi tinh thần đó quy về Thiên Chúa, quy về
Chúa Kitô, hay qui về con người ?
Một câu hỏi vô ích ! Khi nh́n nhận một sinh vật, người ta cũng không thể nói cái
ǵ là số một, bộ óc hay trái tim. những tổng hợp giáo thuyết về đời sống thiêng
liêng chỉ có giá trị, nếu bao hàm những những thay đổi về quan điểm và như vậy,
bao hàm sự di chuyển những chủ điểm. Một giáo thuyết mà chỉ có một chủ điểm th́
phải đáng nghi ngờ. “Tất cả thuộc về anh em, mà anh em thuộc về Đức Kitô và Đức
Kitô lại thuộc về Thiên Chúa”. Đó là thuyết quy về Thiên Chúa, bởi v́ Thiên Chúa
có ưu vị tuyệt đối và tất cả giáo thuyết về linh đạo, theo thánh Tôma là việc
con người ư thức ḿnh phải trở về với Thiên Chúa như một thọ sinh tự do, phải
thực hiện cách tự do giữa tập thể các thọ sinh. Nhưng
Đức Kitô , Đấng trung gian duy nhất, ở đúng vào trung tâm.
Dù sao,thánh Tôma phải lănh những lời chỉ trích của một số người tố cáo ngài quá
đề cao con người đă làm cho giáo thuyết thánh rơi vào một thứ thuyết duy tự
nhiên, duy nhân bản giữa tư tưởng đan tu và ngài dường như có sai biệt y như
giữa bảng h́nh tại nhà thờ Vezelay và những bức tượng của nhà thờ chánh ṭa
thành Reim. nhưng sau khi ấn định vị trí của con người đủ mọi kiểu, th́ con
người thực là chủ điểm trong thời gian người ta suy nghĩ về nó, và về nếp sống
của nó. Con người phải tự ḿnh thể hiện chính ḿnh. Chúng ta nên nhấn mạnh: sự
chú ư đến con người, sự chú ư mà người ta đ̣i hỏi con người phải có trong tất cả
mọi hành vi của nó, phẩm chất tinh thần nó phải đặt vào đấy, niềm tin tưởng
người ta đặt nơi nó, niềm phấn khởi nhiệt thành và sáng suốt được gợi lên để nó
mến sự tự do của nó, về các điểm ấy, những đệ tử của các nhà thuần túy nhân bản,
miễn là những đệ tử ấy trung thành với giáo huấn của tôn sư. Phải coi trọng sự
trọn hảo của đức ái, và điều đó đ̣i hỏi phải quan tâm thực sự đến những điều
kiện của những hành động của con người.
“Chiêm niệm và chia sẻ cho kẻ khác những ǵ đă được chiêm niệm.”
Tổng hợp trứ danh nhất bao gồm những cực đoan mà tu sĩ Đaminh hướng về, là điều mà thánh Tôma gọi là “đời sống hỗn hợp”. Người ta thường hiểu như là một pha trộn, hoặc như là một sự luân phiên: giản dị là dành một phần cho chiêm niệm, và một phần cho hành động [10]. Điều đó không thể nói lên đặc điểm của đời sống hỗn hợp: bất cứ đời sống nào cũng phải có những thời để linh hồn nh́n lại và vui sướng dừng lại những mầu nhiệm của Thiên Chúa, và những thời để chu toàn những phận sự dưới thế. Thật ra đó là một bậc sống chịu sự chi phối của tinh thần, được tổ chức thành một hệ thống chế định và có những tục lệ. Những cơ chế và tục lệ có thể khác nhau tùy theo những quy định thiêng liêng, nhưng vẫn phải bàn đến, khi người ta cụ thể hóa nếp sống gắt gao ấy trong các cộng đoàn. Nguyên lư biểu thị đặc tính của nếp sống ấy là một thứ quan hệ giữa chiêm niệm và hành động; một công thức cổ điển diễn tả mối quan hệ này: ” hành động do sự sung măn chứa chan của chiêm niệm”. Trong cụ thể có nghĩa ǵ ?
Như bất cứ một h́nh ảnh nào, công thức ấy có thể dẫn đến sai lầm.
Nhiều Kitô hữu, kể cả những linh mục và tu sĩ, rất sẵn sàng hành động theo sự
tràn đầy tự phát của t́nh trạng sung sức của họ, mà không lưu tân ǵ đến những
nhu cầu thiết yếu nhất của những kẻ họ có trách nhiệm. Khi người ta nhận thấy
thật sự những nhu cầu cứu độ, vốn phải làm nảy sinh hành động của người tông đồ,
và đàng khác, những đ̣i hỏi của đời sống chiêm niệm tràn đầy chứa chan th́ sự
dung ḥa hai sự kiện đặt ra một vấn đề khó khăn, khó khăn đến mức thực sự nan
giải. Người tông đồ bị hao ṃn và bị giằng co trong vấn đề ấy. Đặc thù của mỗi
đời sống là ư hướng, và phải “sạc”, chữ này ngày nay đă yếu đi như
từ ngữ
“ư hướng ngay lành”, với tất cả mănh
lực của một hứng khởi sáng tạo. Một ư hướng chính là nguyên lư năng động, tác
động trong
tất cả các ư riêng rẽ và liên kết chúng. Trong cùng một cuộc đời, không thể có
hai ư hướng chính
[11],
nhất là có khả năng quyến rũ như ư hướng chuyên tâm chiêm ngưỡng những mầu nhiệm
của Thiên Chúa và trở nên thật sự hữu ích cho các linh hồn. Nhất là bởi v́ chiêm
niệm và hành động bắt ta sống trong hai thế giới, trong đó có thể nói ta không
thở theo cùng một áp suất, và cũng không theo một nhịp, và chiêm niệm và hành
động đ̣i hỏi những khả năng tương phản: tất cả đều khác nhau, nào là sự thích
nghi cái nh́n, nào là sự diễn tiến của trí tưởng tượng, những suy luận của cái
trí và những hứng khởi của cái tâm ,cái trạng thái huyền nhiệm và quyết định của
những vùng tiềm thức sâu thẳm,nơi mà luôn rút lấy thực chất và phẩm chất, phần
tốt nhất của hành động chúng ta.
Muốn thống nhất hai hướng khác nhau như vậy của đời sống, để rồi trong những lượt luân phiên cần thiết, có một yếu tố trổi vượt rơ rệt, vừa đơn thuần,vừa phức tạp, th́ cần phải có ba điều kiện: chiêm niệm phải đạt tới một mức độ nào đó, hành động phải có một phẩm chất nào đó, chiêm niệm phải có một ưu vị nào đó.
Nhà chiêm niệm, theo quan niệm người Hylạp, th́ cố xuất thế và
không quan tâm đến trần thế. người đó là một ông quan, đứng ngoài cảnh huyên
náo. chiêm niệm có tính cách Kitô, trong mức độ không chủ trương quên ḿnh trong
“bản thể Thiên Chúa”, nhưng sống trong ḷng kính mến Thiên Chúa của Đức Giêsu
Kitô. Kính mến Ba Ngôi Thiên Chúa, trong ư thức về nhiệm cục cứu độ. Trong những
đêm một ḿnh với Thiên Chúa, những lời
kêu than mà thánh Đaminh thốt ra là: Lạy Chúa xin nhân từ đối với con ! “Những
kẻ tội lỗi sẽ ra như thế nào ? ” chứng từ đẹp nhất mà chúng ta có về Ngài là do
ngưới kế vị Ngài, đứng đầu hội ḍng, chân phước Jourdain de Saxe : Linh hồn ngài
là “cung thánh của ḷng trắc ẩn”,
nơi đó ngài hiến dâng cho Thiên Chúa tất cả những khốn khổ của loài người”.
Đàng khác, đối tượng của hành động phải là chính những mầu nhiệm
thuộc Thiên Chúa, mà người chiêm niệm phải đồng hóa. Không thể là bất cứ hành
động từ thiện nào, nhưng phải là hành động đích thực tông đồ “chia sẻ cho
kẻ khác những điều đă được chiêm niệm” , được diễn tả hay hơn như sau:
đến lượt phải dẫn đưa kiểu khác vào sự chiêm niệm những mầu nhiệm thuộc về Thiên
Chúa. Trong lúc hành động, tất cả mọi mối bận tâm đến những con người và tất cả
những hành vi cử chỉ cần phải có để gặp gỡ họ đều có nguy cơ làm người tông đồ
lăng quên
Thiên Chúa. Nhưng lúc đó, người tông đồ vẫn có thể nh́n
Thiên Chúa và cùng một lúc hoàn toàn thuộc về họ mà không sợ tật “lác mắt”
[12],
nếu muốn biết nh́n họ như là những người hưởng nhờ ơn cứu độ. Thật cũng là lạ
trong Giáo Hội của Chúa Kitô ít thấy dạy mệnh lệnh trọng đại mà Chúa ban bố cho
các môn đệ : “Khi chúng con vào nhà nào, chúng con hăy nói:
B́nh an cho nhà này”, Thật không phải chỉ là một nghi thức cho xong chuyện,
nhưng chính là luật quan trọng dạy những cử chỉ huynh đệ, những cử chỉ này phải
được tái diễn suốt thời gian
xảy đến, trong niềm mong muốn giúp kẻ khác đạt được b́nh an của Thiên Chúa. Ở
đây chúng ta động đến một trong vô số những điểm cho thấy rơ nhất sự trở về
nguồn Tin Mừng và tông đồ giúp gặp lại trong sức mănh liệt nguyên thủy những
trực giác chính yếu của Đaminh biết chừng nào. Đời sống hỗn hợp trong đó hành
động huynh đệ, thay v́ làm tổn thương đến chiêm niệm, lại phải theo nguyên tắc
làm lợi cho chiêm niệm, th́ đ̣i hỏi phải có giá trị của một nhân đức đối thần
của đức ái huynh đệ, và chính đó là trung tâm điểm của Tin Mừng. “Ai thấy kẻ
khác th́ đă thấy Thiên Chúa”, theo một “agraphon”
[13]chắc
chắn đích thật. Nhưng phải thật sự nh́n kẻ khác, nh́n họ với một cái nh́n Kitô,
thay v́ chỉ nh́n thoáng qua, trong đầu óc bận bịu với những phương tiện hành
động, phải nh́n chính họ, thực sự họ, chứ không phải một vai phụ của vở hài kịch
của chúng ta, và nh́n họ người con của Thiên Chúa đấy.
Sự quan tâm thực sự này chỉ có thể được duy tŕ, hay đúng hơn,
được tái diễn trong Thiên Chúa mà thôi. Chỉ có Thiên Chúa mới ban được điều này,
và Ngài chỉ ban cho những tôi tớ biết
tái diễn cái nh́n lên Ngài. Tính cách vô vị lợi của hành động chỉ là diện tiêu
cực của sự quan tâm tối hậu, tuyệt đối, hiến cho
Thiên Chúa, điều này được biểu lộ cụ thể bởi “cái nh́n liên tục kéo dài, tổng
quát, âu yếm về những mầu nhiệm thuộc
Thiên Chúa”, nói cách khác, bởi sự chiêm niệm . Ưu vị của
chiêm niệm được cảm nghiệm như là một yêu cầu sinh tử trong hành động tông đồ,
không những v́ việc Thiên Chúa thông ban ơn soi sáng, nhiệt tâm và nghị lực, mà
chúng ta biết kẻ khác được thừa hưởng ở mức độ chúng ta sống kết hợp với Thiên
Chúa một cách vô vị lợi, có thể nói người tông đồ c̣n bắt buộc phải xem chiêm
niện là ưu tiên , v́ phải kêu cầu Chúa đến trợ giúp. Quá kinh khủng sự chênh
lệch giữa những nhu cầu của thế giới và những phương tiện loài người của người
tông đồ. Lời cầu xin không đủ để sửa chữa lại sự chênh lệch ấy, lời cầu nguyện
cũng phải được thấm đượm ánh sáng chiêm niệm. thế gian là thế, mà loan báo Tin
Mừng vào tai họ th́ là một sự điên rồ quá to lớn. Vậy cũng điên rồ, một sinh
hoạt tông đồ muốn chấn khởi ư thức về tính cách siêu việt của Thiên Chúa, chấn
khởi nhu cầu thanh luyện bản thân, và niềm ao ước kết hợp sinh động với Thiên
Chúa. Người tông đồ mà không thoái hóa trạng huống duy sinh hoạt th́ thế nào
cũng hổng chân, cũng nhào té trong Thiên Chúa, cũng thu lượm những khả năng của
ḿnh, tôi muốn nói sự yếu hèn của ḿnh. Tác động này diễn đi diễn lại, biến
người tông thành một người chiêm niệm: tác động ấy làm người tông đồ trở nên con
người thống nhất, đơn giản và giúp người tông đồ hết sức quư mến đời sống ẩn dật
nơi Thiên Chúa như một vấn đề sinh tử vậy. Chúng ta hăy hiểu rằng đây không phải
như nơi người tông đồ hoạt động, chỉ là nhu cầu cần được Thiên Chúa trợ giúp
trong công việc mà họ cảm thấy vượt quá sức họ. Đây chính là nhu cầu bản thân
được cảm nghiệm về những mầu nhiệm thuộc Thiên Chúa mà người tông đồ muốn làm
chứng nhân. Hành động tông đồ chỉ có hiệu lực ở mức độ mà người tông đồ vừa hành
động - lời nói của họ là một hành động- vừa chiêm niệm điều họ làm chứng nhân,
hay ít nữa là đánh thức kư ức c̣n nóng hổi về điều ấy. Tiêu chuẩn của đời hỗn
hợp là hành động không chỉ phát xuất từ một chiêm niệm trước đó, mà c̣n hoàn tất
ngay trong chiêm niệm.
Một cái nh́n đúng đắn về việc bố trí chiêm niệm và hành động
trong đời hỗn hợp, có một tầm quan trọng rất lớn đối với người tông đồ. Cái nh́n
này không kém quan trọng đối với một Kitô hữu, v́ mỗi Kitô hữu phải nỗ lực thực
hiện cái ǵ ḿnh có thể làm được trong việc dung ḥa chiêm niệm và hành động.
Quả thật mối liên hệ truyền thống giữa chiêm niệm và hành động th́ chặt chẽ hơn
là người ta thường nghĩ. Hành động là sinh hoạt của những nhân đức luân lư, nó
giống như là thân xác của đời sống thiêng liêng, mà sinh hoạt của các nhân đức
đối thần như là linh hồn. Hành động thanh luyện con người trần tục của chúng ta,
đặt nó vào nền nếp và hoàn tất nó, c̣n chiêm niệm nếu chỉ là một phần của đời
sống đối thần, th́ ít nữa cũng là một phần cốt yếu cần thiết, v́ phận sự của
chúng ta dưới thế là tập sống làm con Thiên Chúa, làm người đồng hương với các
thánh trong ánh sáng, và đời sống vĩnh cửu,b ắt đầu trong đức tin, là “biết”
Thiên Chúa chân thật duy nhất. Chỉ có Chúa mới có thể ban cảm thức thân sâu về
mầu nhiệm của Ngài, b́nh thường, Ngài thể hiện điều ấy qua việc làm cho đức tin
chúng ta sáng tỏ hơn và ḷng mến của chúng ta đậm đà hơn, cân xứng với những
hành động yêu mến của chúng ta. Những ân của Chúa Thánh Thần không phải là một
xa xỉ phẩm, nhưng là cần thiết cho đời sống của mỗi Kitô hữu. Những ơn ấy không
chỉ được biết đến nhờ một hoạt động vẻ vang, trong sự trở lại và sự thánh thiện
cao độ, trong đời sống thông thường, những ơn ấy cũng có một lưu lượng b́nh
thường, thường xuyên hầu như lén lút, giống như một mạch nước vô h́nh rỉ ra và
nhờ nó mà đồng cỏ luôn xanh tươi. Giáo thuyết về sự cần thiết của các ân Chúa
Thánh Thần th́ cực kỳ quan trọng để quan niệm cho quân bằng đời sống siêu nhiên:
có nghĩa là trạng thái thông thường của người Kitô hữu không phải là tŕ trệ, và
một thứ “thiên tài phi thường” hay không đáng kể nhưng luôn được lănh nhưng
không, không thể ngụy tạo nhờ khôn khéo, là bí quyết tiên khởi của bất cứ giá
trị nào trong cuộc sống như trong nghệ thuật. “ Ảnh hưởng bí nhiệm từ trời !”.
Trong cảm nghiệm - mà tâm lư học hiện đại đă xác định nó cần thiết như thế nào
cho đời sống - lại có yếu tố tương đương với ân sủng, thâm trầm hơn kinh nghiện
bí ẩn nhất: một sáng kiến của Thiên Chúa, ân huệ của Ngài hoàn toàn được ban
nhưng không
[14].
Cảm thức về con người
[15].
Ở đây không thể bỏ qua cái hay mà giáo thuyết về “cơ cấu con người” - hồn và
xác, hồn là “mô thể” của xác, là “hiện thể” của xác - mang lại cho toàn thể
kỷ luật thiêng liêng. Không thể chủ trương sống tinh khiết như thiên thần, và
càng không thể có bất cứ mối oán hận nào đối với những sự thật khả giác. Quân
b́nh, sức khỏe tinh thần,
khôn ngoan, khiêm tốn của kẻ không thể nghĩ đến một thứ độc tài nào của tinh
thần - như những người thuộc phái khắc kỷ và phái Descartes chủ trương - nhưng
làm tiến triển một “chính thể” trong thế giới nội tâm. Thân xác, những đam mê,
óc tưởng tượng đều hoàn toàn nhập cuộc. Phụng vụ và những tục lệ đan tu Kitô hóa
chúng và đổi lại, được hoàn tất tốt đẹp. Việc đền tội không trừng trị một kẻ
thù, nhưng là kết hợp cái phần lộn xộn của bản thân vào tế lễ của t́nh yêu.
Những đam mê, hầu như là những nguyên liệu của nhân đức, các nhân đức chỉnh đốn
những đam mê nhưng không phải chỉ chống đối những lệch lạc của chúng mà thôi,
nhân đức c̣n thu hút sức mạnh và sự hăng hái và bản năng của đam mê để hoàn tất
những hành động tốt. Các nhân đức là cố gắng của tinh thần chế ngự những vùng
c̣n nặng thú t́nh trong con người chúng ta. Càng hay, nếu những đam mê đem sức
bồi dưỡng cho nhân đức là mạnh. Đam mê hiến nhiều sinh lực hơn để phục vụ cái
tốt.
Lạc quan như thế này không phải là ngây ngô. Những khám phá không thể chối căi được của tâm lư học hiện đại, đặc biệt của ngành tâm lư chiều sâu, không mảy may làm nao núng, v́ họ đă được đề pḥng. Không bao giờ những đệ tử thánh Tôma đă nhượng bộ trước sự lôi cuốn của những nhà luân lư của thời hiện đại, họ tự hào làm sáng tỏ mọi vấn đề, đem vào kế toán những tội lỗi và những hành động nhân đức, tuyên bố tính nặng nhẹ hay là mức công đức. Cảm thức với mầu nhiệm siêu nhiên đồng ư với cảm thức về mầu nhiệm con người để chận đứng cái tự hào hiểu biết những trạng thái thực tế, và để đi xa hơn là nghi rằng tự do bị đàn áp tứ phía, chúng ta bao giờ cũng chỉ được tự do với điều kiện. Trước những khám phá mới đây, những nhà luân lư “hiện đại” phải thay đổi lối suy tư [16]. Những ai sống theo những truyền thống thượng cổ và trung cổ (đặc biệt của thánh Âutinh và Grêgôriô) giống như những người dân của một xứ đă kinh nghiệm từ thiếu thời: mưa, gió, mặt trời, thế rồi những nhà bác học về khí tượng đến để xác định những thí nghiệm nhờ những dụng cụ đo lường [17].
Nhưng từ thời thánh Đaminh và thánh Tôma, con người đă thay đổi
nhiều. Sự yếu đuối thể chất, t́nh trạng tinh thần yếu kém, sinh lực tâm lư giảm
sút buộc phải đảo lộn chế độ khổ hạnh. Có lẽ ngày nay một số tục lệ đan tu sẽ
chẳng được tự nhiên phát minh như chúng có hiện giờ, mặc dù chúng mau lẹ trở
nên, đối với ai thực thi, tự nhiên hơn là những luật lệ đi đường đối với người
lái xe, nhưng vẫn có một cái ǵ khó chịu về chúng. Óc tưởng tượng đă thay đổi
nhiều hơn nữa, đă mất sự linh hoạt kỳ diệu, vốn khiến thường xuyên có những mơ
mộng và thị kiến, khiến lầm tưởng chúng là thực tế, theo lối những kẻ bán khai,
và nâng đỡ sinh hoạt tinh thần nhờ những h́nh ảnh sâu sắc và rơ rệt. Do đó ngày
nay tâm trí sổ lồng nhiều hơn. Tất cả những điều ấy tạo nên những điều kiện rất
khác xa với thời xưa cho những việc đạo đức thiêng liêng. Chúng ta không luôn
luôn thấy những thích nghi cần thiết. Nhưng những khó khăn ấy chỉ ảnh hưởng đến
những thể thức
thứ yếu của việc thực hành. Những khó khăn ấy phải góp phần giảm nhiều đi sự
quan tâm mà v́ thói quen, trong sách vở đạo đức, người ta bày tỏ đối với những
nét đặc thù nơi những nhân vật thánh thiện ngày xưa, những nét về t́nh cảm,
những việc tu đức, những thị kiến, những lời nói, những phán đoán, bị ảnh hưởng
của những năo trạng hoàn toàn lỗi thời. A ! trong tất cả những điều đó, chúng ta
chỉ c̣n thấy nhờ quá nhiều thích nghi, mà cách chung, chúng ta không đủ tin
tưởng những quy tắc của linh đạo Đaminh! Đó là thức ăn cho tính hiếu kỳ lịch sử
hơn là giúp cho ḷng sốt sắng. Đặc biệt chúng ta đừng mong có một sự ngây thơ,
mà xưa kia là đích thực, trước khi trong thời hiện đại, tâm thức đă trở thành
“tư duy” hơn là cái ngây thơ mà đă quyến rũ rất nhiều, tỉ dụ cha Clérissac,
không thể là điều thiết yếu của linh đạo Đaminh, v́ cái ngây thơ ấy đă quá gắn
liền với một thời đại của nhân loại vô phương: chúng ta có tính cách “tư
duy”. Chúng ta sẽ không lùi lại giai đoạn trước. Điều có thật, đó là sự
kiện tác dụng của ánh sáng trường cửu, sự tiếp xúc thường xuyên với những nguyên
lư cao cả nhất, việc trở về nguồn liên lỉ, phải là nguồn tươi trẻ, đối với những
người biện hộ của chân lư.
Cấu trúc của đời tu hỗn hợp làm cho đức khó nghèo, đức khiết tịnh và đức vâng phục có một phong cách khá đáng lưu ư. Cấu trúc này làm cho những phương tiện này không thể trở thành trực tiếp những phương tiện tông đồ, theo lối mà một phương tiện tự nhiên, tỉ dụ việc sử dụng một dụng cụ được trực tiếp hướng về cứu cánh của nó.Luật quan trọng của Tin Mừng về “sự thêm cho” được áp dụng đối với chúng với một sự đ̣i hỏi gắt gao: “Hăy t́m Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài, c̣n các thứ kia, Ngài sẽ thêm cho”. Đúng là luật của mọi thứ khó nghèo. Tôi đă nói ở nơi khác [18], đức khó nghèo là thiết yếu thế nào cho người tông đồ. Niềm cậy trông của chiêm niệm khiến người tông đồ dứt bỏ một cách rất gắt gao theo bốn chiều hướng của nền thần bí Kitô Giáo về đức khó nghèo: thọ sinh và thọ sinh tội lỗi, là hư không và càng không có ǵ cả, trước Đấng tạo hóa và vị thẩm phán của họ; con cái của Thiên Chúa chăm chú làm theo ư muốn của Cha trên trời, người Kitô hữu sống phù hợp với Đức Kitô chịu đóng đinh trên thập tự giá, người nhân hậu, dứt bỏ của cải để cung cấp cho nhu cầu vô hạn của những con người khốn khổ. Ư hướng chiêm niệm nhấn mạnh đến những chiều kích sâu sắc của đức khó nghèo, vốn luôn có nguy cơ chỉ c̣n là một thứ tiết kiệm hoàn toàn theo chiều ngang, duy lợi ích. Người tông đồ càng nhấn mạnh trong thực hành bên ngoài đến tính cách tương đối của của cải- tương đối với những bó buộc của hành động-th́ càng khơi lại nơi ḿnh cảm thức về tuyệt đối, về sự điên rồ được bốn nhận xét trên chi phối, người tông đồ chứng tỏ tính cách thực hành bằng cách tự hỏi trong mỗi một trường hợp: có tuyệt đối cần thiết không.
Đức khiết tịnh bất cứ là của ai cũng là một trường hợp đặc biệt
của đời sống trong sạch nói chung, của cuộc đời ngay thẳng và toàn vẹn, không
chịu bị cắt xén, cũng không chịu thỏa hiệp. Đức khiết tịnh là chứng từ tuyệt hảo
của ḷng trung tín đối với
phu quân của linh hồn. Đức khiết tịnh là người chiêm niệm và người tông đồ là
một đức tính cần thiết của đức tin, của cái nh́n đi sâu vào mầu nhiệm của sự
trong sạch. Đức khiết tịnh cũng là niềm cậy trông khiêm nhu mong được sự sung
măn thiêng liêng.
C̣n đức vâng phục Đaminh th́ được chi phối bởi việc người tông đồ thích nhất chiêm niệm Thiên Chúa như là đức khôn ngoan tuyệt đỉnh. Đức khôn ngoan an bài mọi sự. Đức vâng phục này, dĩ nhiên là việc ư muốn của con người tuân phục ư muốn của Thiên Chúa được nh́n nhận trong ư muốn của bề trên. Nhưng đức vâng phục này không ngớt xem xét trật tự của sự vật, không bao giờ một tu sĩ Đaminh sẽ làm cho đức vâng phục trở thành mối tương quan của một ư muốn cấp dưới với ư muốn của quyền bính: Đối với mỗi h́nh thức trật tự có một thứ vâng phục tương ứng, v́ mỗi trật tự đều có một thiện hảo chúng mà một quyền bính có trách nhiệm cung cấp và để làm việc đó, quyền bính phải có sự cộng tác của những người phụ tá. V́ xem xét trật tự liên hệ như vậy, nên người ta không thể đi đến chỗ cho rằng cấp trên có lư trong những hoàn cảnh mà, nhờ được thông tin rơ hơn, người ta hoàn toàn chắc chắn rằng cấp trên sai lầm; như vậy chung quanh việc tuân phục những mệnh lệnh rơ rệt, được giới hạn vào cái tối thiểu cần thiết, th́ có sự nới rộng việc tuân theo bản chất của sự vật: Các quy luật của đức ái, những đ̣i hỏi của ơn gọi, những đ̣i hỏi của những phận sự khác nhau, trong đó ngay quyền bính cũng khuyên nên có nhiều sáng kiến. Cũng v́ xem xét trật tự như thế, nên quyền b́nh mong thấy nơi cấp dưới một sự tuân phục mà lư tưởng sẽ không phải là tuân phục một cách mù quáng, nhưng là tuân phục cách thông minh hết sức. Làm như vậy th́ tránh được cùng một lúc thái độ “duy viện phụ” của đời đan tu và thái độ độc tài của những hội ḍng phát sinh trong bầu khí của những chế độ chuyên chế: Quyền bính Đaminh không chỉ huy những vị thành niên, nhưng những người trưởng thành, chỉ huy một đạo binh tông đồ có tổ chức (cách dân chủ)để đem tặng chân lư cho mọi người, chân lư giải phóng họ.
Về vấn đề này chúng ta nên lưu ư đến sự ngộ nhậm nghiêm trọng mà những đệ tử của thánh Đaminh và thánh Tôma lâm vào khi sự ghét bỏ lành mạnh của họ đối với bất cứ chủ trương “duy luật pháp” nào lại biến thành một thứ khinh miệt các luật lệ. Hơn ai hết, họ phải hăng say bênh vực và củng cố luật pháp v́ luật lệ bày tỏ và củng cố “trật tự” các “sự vật”.
Để kết luận, chúng tôi thấy không có ǵ thích hợp hơn là nhắc lại những điểm của một bảng tóm lược ngắn gọn về “linh đạo Đaminh”, mà cha Mandonnet đă soạn cho những hội viên ḍng Ba ở Thụy Sĩ [19]. Một đệ tử của thánh Đaminh nhận ra lư tưởng của ḿnh trong bảng tóm lược đó. Và những tâm hồn, ngoài gia đ́nh Đaminh cũng nhận thấy đó là lư tưởng của ḿnh th́ vô số kể. Và cha Mandonnet cũng phải sử dụng đến tám tính từ để nêu lên những đặc tính của lư tưởng ấy v́ lư tưởng ấy rất phức tạp, theo lời ngài, “linh đạo Đaminh” (độc giả hiểu tại sao chúng tôi rất muốn giữ các dấu ngoặc), th́ sáng suốt, có tính thần học, chiêm niệm, cá nhân, ngày nay có lẽ chúng ta sẽ nói “có tính nhân vị” siêu nhiên, tông đồ, phụng vụ và tu đức.
* Sáng suốt: theo thánh Tôma, con người phải đi đến lănh vực siêu nhiên với tất cả những năng khiếu của lư trí. Chính như thế mà ngài hiểu từ ngữ “rationale obsequium” của thánh Phaolô.
* Tính thần học xác định từ ngữ “sáng suốt”, có nghĩa là đ̣i hỏi hướng về một thứ khôn ngoan được phối trí dựa trên những nguyên lư cao cả nhất và được h́nh thành qua một suy tư đúng đắn của trí thông minh. Theo danh nghĩa này, linh đạo Đa minh thật chính thống, đích xác trong những điều tra, ít nghiêng về những điều mới mẻ và những hứng khởi riêng tư. Nhất là linh đạo ấy xem các sự vật chỉ có giá trị tương đối: Thiên Chúa duy nhất và Ba Ngôi là trên hết tất cả và Đức Kitô cứu độ như phương tiện duy nhất để đến với Thiên Chúa. Do đó, linh đạo này có vẻ rất thống nhất với nhO