Chương  Bảy: TRƯỜNG PHÁI CÁT MINH

Phần Một

P.M de la Croix, ocd.

DẪN NHẬP*

Ḍng  Đức Bà núi Cát Minh từng có nhiều nhà thần bí và nhiều vị thánh, lại có gốc rẽ ngược ḍng thời gian lên đến tận thời Cựu Ước và có một sứ mạng đặc thù thiêng liêng, thế nhưng xem ra ḍng chưa bao giờ t́m cách xác định nền linh đạo của ḿnh. Vậy ta có thể tự hỏi liệu công việc ta đang làm có táo bạo quá chăng ?

Có lẽ những thành viên của “gia đ́nh Cát Minh” đều cảm thấy được hiệp nhất  cách thâm sâu trong cùng “một cách nh́n, một cách cảm nghĩ, một cách ước muốn đặc trưng và thường hằng”[1]. Cũng có lẽ Ḍng Cát Minh có những văn kiện đặc biệt tiêu biểu cho truyền thống và tinh thần của ḿnh, tuy nhiên, đúng hơn  là các bản văn ấy chỉ nhắc lại hay thể hiện những truyền thống và tinh thần ấy, chứ không phải là nguồn gốc phát sinh ra chúng.

Xác định các nét đặc thù của linh đạo Cát Minh lại càng khó khăn hơn nữa, v́ trái với các ḍng tu khác, Ḍng Cát Minh không có một vị sáng lập theo đúng nghĩa chữ đó, nên không có một giáo huấn, một Qui luật nào do người ấy để lại. Thật vậy,
Qui luật  của Ḍng đă được soạn ra theo yêu cầu của các ẩn sĩ núi Cát Minh. Qui luật ấy chỉ định chế hoá lối sống mà họ đă tự phát chọn lựa từ trước.

Thế th́ ta sẽ t́m đâu ra nguồn gốc của tinh thần Cát Minh, và làm sao đạt đến những nguồn đó ?

Thưa để đạt đến đó, ta phải làm hai việc. Trước tiên phải ư thức về cái tinh thần đă được từ trên ban xuống cho những người “con cái  các ngôn sứ” vẫn sống từ  đời nọ qua đời kia trên triền núi thánh. Không có tinh thần ấy th́ Ḍng Cát Minh không thể phát sinh và tồn tại. Thứ hai là phải nắm vững các cách thể hiện đặc biệt của tinh thần nơi ấy những người đă có nó và đă sống nó cách sung măn.

Như ta thấy đó, nguồn gốc của linh đạo Cát Minh chỉ phần nào nằm trong các văn kiện. Trước tiên,  linh đạo ấy là tinh thần và sự sống. Vậy ta chỉ hiểu được tâm hồn của Ḍng Cát Minh, và nhờ đó, hiểu được nền linh đạo Cát Minh, bằng cách xét kỹ nguồn gốc của Ḍng, rồi t́m hiểu Qui luật, đời sống và các bút  tích của những vị đại thánh trong Ḍng.

1. Các nguồn.

Ngôn Sứ Ê-li-a :

Nếu chắc có những “trường  phái ngôn sứ” được htiết lập trên núi Cát Minh  theo gót Ê-li-a và Elisê, th́ không thể biết được các trường phái ấy tồn  tại như thế nào và cho đến lúc nào. Tuy nhiên , Ḍng Cát Minh lúc nào cũng dựa vào uy thế của Ê-li-a và xem ông như người thiết lập lối sống đặc trưng của Ḍng : ẩn tu và ngôn sứ.

Nói thế không có nghĩa là Ê-li-a đă đưa vào trong khung cảnh tôn giáo Cựu Ước một tinh thần riêng, một học thuyết mới, một đường lối cá biệt. Trái lại, Ê-li-a luôn ở trong đường lối các chính nhân và ngôn sứ Cựu Ước. Nhưng các môn đệ của ông đă giữ lại nét đặc trưng này của ông : Ê-li-a là người được Thần Khí Giavê nắm lấy, nên đă đi vào cô tịch đă uống nơi “suối Carith”, nơi ḍng nước sống và trong chiêm niệm đă nếm hưởng niềm hoan lạc thần linh. Vậy nếu ta nhất định t́m cho bằng được tinh thần Ḍng Cát Minh trong các văn bản th́ có lẽ phải đọc các tŕnh thuật về vị ngôn sứ ấy trong sách các Vua. Thật  thế, nơi đó vang lên âm thanh mà sẽ c̣n vang dội qua các thế kỷ về sau, không những trên ngọn núi Cát Minh vắng vẻ cheo leo, mà c̣n trong cả lịch sử của Ḍng. Nơi ngôn sứ Ê-li-a, Ḍng Cát Minh thấy ḿnh như trong một tấm gương, v́ thấy đời sống ẩn tu và ngôn sứ của ông thể hiện lư tưởng thâm sâu ḿnh hằng ấp ủ. Chính khi nh́n vào đời sống của Ê-li-a, người tu sĩ  Cát Minh cảm thấy sự khát khao chiêm niệm bừng dậy mạnh mẽ hơn nơi ḿnh. Người ấy cảm nhận được mối quan hệ thân tộc thâm sâu nối kết ḿnh với “Người  đă đứng trước nhan Thiên Chúa hằng sống”. Nếu người ấy chia sẻ sự yếu đuối và những nổi lo âu của Ê-li-a, th́ cũng thông hiệp với ḷng tin và ḷng nhiệt thành của ông đối với “Giavê các đạo binh”, và linh cảm thấy những dịu ngọt của đời sống tiềm ẩn trong Thiên Chúa mà vị ngôn sứ đă cảm nghiệm. Và khi  nhờ bản văn được linh hứng, người ấy khám phá ra rằng “nhờ sức mạnh do lương thực (Thần linh) đem lại, Êlia đă đi bốn  mươi ngày và bốn mươi đêm đến núi của Thiên Chúa là Horeb”, th́ người ấy chẳng lấy làm ngạc nhiên về việc ấy. Thật vậy, làm sao mà vị ngôn sứ chẳng bị hấp dẫn đến nơi mà trước đó nhiều thế kỷ đă xẩy ra một sự kiện quan trọng bậc nhất đối với lịch sử  tôn  giáo  của  nhân  loại :  mạc khải  của Thiên  Chúa  cho  Môsê.

Sách Xuất hành thuật lại rằng chính tại nơi đó, trong Sa mạc khô cháy xứ Sinai, mà Môsê trong thinh lặng và cô tịch đă cảm nghiệm sự hiện diện nhiệm mầu của Giavê nhờ ngọn lửa “cháy trong bụi gai nhưng không thiêu huỷ bụi gai ấy”[2]. Tại đó Thiên Chúa mạc khải cho ông danh hiệu “bất khả thông đạt” của Người, cùng với tính cách siêu việt và ḷng nhân lành của Thiên Chúa. Sau cùng, cũng chính tại đó mà Môsê hiểu rằng ông phải truyền lại cho những kẻ được giao phó cho ông, điều ông phải truyền đă được chiêm ngắm : “hăy đi đến với con cái Israel và nói với họ rằng : Đấng hiện hữu sai tôi đến với anh em” [3].

Thật thế, làm sao mà vị tổ phụ của đời sống chiêm niệm lại bị hấp dẫn đến ngọn núi, nơi Thiên Chúa đă tṛ chuyện với Môsê “như một người tṛ chuyện với bạn ḿnh”[4], nơi mà người phàm dám cầu xin Thiên Chúa : “Xin cho con được thấy vinh quang Ngài” [5]. Làm sao ông cảm thấy rằng quang cảnh diễn ra trên núi Horeb ấy đă chứa đựng các yếu tố chính của sự chiêm niệm ? Vậy có thể nói rằng người tu sĩ Cát Minh, v́ xem Ê-li-a như gương mẫu của ḿnh, nên cùng ông hướng đến chính nguồn gốc của mọi đời sống chiêm niệm. Hoặc đúng hơn, có thể nói rằng v́ thấy kinh nghiệm về sự chiêm ngắm nguyên thuỷ được đưa đến đỉnh cao tinh tuyền, giản lược và triển nở nơi Ê-li-a, nên người tu sĩ Cát Minh cảm thấy phải làm lại kinh nghiệm ấy nơi ḿnh, phải tái lập nơi ḿnh khung cảnh trong đó xưa kia đời sống ấy đă phát triển, nghĩa là sa mạc, với sự cô tịch thiêng liêng và sự thinh lặng của nó, và đến lượt ḿnh, người ấy phải kiên tŕ làm lại cuộc hành tŕnh đến núi của Thiên Chúa, nơi ngọn lửa luôn cháy sáng mà không hề tàn lụi.

Để được sinh động măi qua nhiều thế kỷ, linh đạo Cát Minh luôn cần đến ngọn gió của những nơi cao và cần một lối sống khá tĩnh mạc để tâm hồn có thể cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong “ngọn gió nhẹ thoảng qua”[6]. Đối với một tu sĩ Cát Minh, việc không ngừng trở về với sự cô tịch và hồi tâm, và niềm khao khát thôi thúc trở nên thanh thoát vẫn là chính linh hồn của ơn gọi họ. “Ta sẽ lôi kéo nó vào sa mạc và sẽ ngỏ lời với ḷng dạ nó” [7].

V́ thế, người ấy coi những ai đă tiến xa trên con đường kết hiệp với Thiên Chúa và đă nếm biết vị dịu ngọt của nhữ ng sự trên trời, như là người hướng dẫn ḿnh. Cùng với E-li-sê, người tu sĩ Cát Minh cầu xin Cha thánh Ê-li-a ban cho họ “gấp đôi tinh thần của người”[8]. Tinh thần ấy, chúng ta có thể nêu lên những nét đặc thù được không?

Mặc dù nguồn gốc có bí mật, nhưng chúng ta không ngần ngại làm việc đó. Điểm chính yếu của tinh thần ấy là sự khát khao kết hiệp với Thiên Chúa.

Nhưng chúng ta sẽ nói rằng một niềm khát khao như vậy là điểm chung của mọi đời sống thiêng liêng.

Quả thật là như vậy. Tuy nhiên, nơi Ḍng Cát -minh, niềm khao khát ấy mang một sắc thái  cấp thiết, một nhu cầu thực hiện, và đó là nét đặc thù của Ḍng[9]. Ḍng Cát Minh coi chiêm niệm là chính mục tiêu của ḿnh, và để đạt đến đó, ḍng thực thi một sự thanh thoát tuyệt đối với những sự vật không tất yếu. Qui hướng về Thiên Chúa đến cực độ, Ḍng Cát Minh hoàn toàn trông vào Thiên Chúa hằng sống : “Giavê  là Đấng hằng sống, là Thiên Chúa của Israel, Đấng tôi phụng sự” [10].

Từ thời xa xưa nhất, sự kết hiệp với Thiên Chúa đă là lẽ sống và linh hồn của Ḍng. Có lẽ được như vậy là nhờ “những tia sáng đi trước của ơn cứu chuộc”[11] của Chúa Kitô. Cũng có lẽ Ḍng đă được hưởng nhờ những tiến bộ và phát triển của mạc khải qua các thời đại. Dù sao th́ trong Ḍng Cát Minh, ngay từ thời đầu, sự kết hiệp với Thiên Chúa vẫn là sự kiện trung tâm.

Nét đặc thù của tinh thần Cát Minh là ư thức sự hiện diện của chính thực hữu Thiên Chúa ngay chính trong con người, và điều đó đưa tới cảm thức về sự thánh thiêng và khao khát những ǵ thuộc về Thiên Chúa. Các tiến bộ trong cảm nghiệm về Thiên Chúa chỉ đào sâu và mở rộng yếu tố căn bản thật sự chủ yếu này mà thôi. Không có nó, th́ cả người thông thái lẫn kẻ đơn sơ đều chẳng thể có những  tương quan với Thiên Chúa hay củng cố những mối tương quan ấy được.

Tinh thần ấy dù rất đặc biệt và khó phân tích, nhưng lại là nền thần bí đích thực nhất. Trong Ḍng Cát Minh, ta không t́m thấy một dầu vết nào của những lối khai tâm, những phương pháp bí truyền, v́ truyền thống Cát Minh đặc biệt thận trọng về nội dung của một cảm nghiệm thiêng liêng mà nơi khác thường nhắc đến. Chỉ khách quan chứng nhận rằng có thể có và có thật một sự tiếp xúc trực tiếp với Thiên Chúa, và nếu muốn đạt đến đó th́ phải sống lối sống ẩn tu.

Truyền thống Ḍng Cát Minh không nói rơ lối sống ấy được thực hiện lần đầu tiên vào lúc nào, nhưng chỉ khẳng định mạnh mẽ rằng con người có thể sống cách đích thực sự sống thần linh, với một vài điều kiện. Muốn thế, người ấy chỉ cần thực hiện nơi ḿnh bầu khí sa mạc nguyên thuỷ và lui vào chốn cô tịch nội tâm ấy mà “hiện diện trước nhan Thiên Chúa hằng sống”. Khi đó, ánh sáng chân lư sẽ đến thanh tẩy, chiếu soi và đốt cháy tâm hồn họ.

Từ nay đă có những căn bản cho một cảm nghiệm cá biệt về Thiên Chúa và những tương quan mật thiết mà thụ tạo có thể có với Người. Ngược ḍng thời gian, Ḍng Cát Minh sẽ không bao giờ ngần ngại nhận ra chính ḿnh nơi vị ẩn sĩ đầu tiên được Thánh Kinh miêu tả, và uốn nắn đời sống ḿnh theo khuôn mẫu của những con người sống trong thinh lặng và cô tịch để chiêm ngắn những sự thuộc về Thiên Chúa.

 

2. Các đặc tính của ḍng Cát Minh

Ưu tiên cho tinh thần chiêm niệm.

Căn bản  của linh đạo Ḍng Cát Minh là miột cảm nghiệm trực tiếp và thâm sâu về Thiên Chúa. V́ thế, trước khi có Qui luật và trước khi có thể sống Qui luật ấy một khi nó đă được soạn thảo, tất cả những ai muốn sống đời sống Ḍng Cát Minh đều đă phải có một tinh thần chiêm niệm và một cảm thức sâu xa về Thiên Chúa.

Người muốn “hiện diện trước nhan Thiên Chúa” không cần có một hoạt động đặc biệt,một tài năng chuyên biệt nào, nhưng trái lại, cảm thức về Thiên Chúa,sự khát khao hiện diện với Người là những điều mà không một Qui luật hay một kỹ thuật nào có thể làm nẩy sinh hay phát triển mạnh được. Những điều ấy phải có từ trước khi người ấy sống đời tu chiêm niệm. Chính Thiên Chúa đă đặt chúng vào trong ḷng người và không ngừng nuôi dưỡng chúng nhờ ân sủng và Thánh Thần.

Điều này cho phép ta hiểu làm thế nào mà Ḍng Cát Minh đă có thể tồn tại trong một thời gian dài dưới dạng thức tự do, tự phát, đơn giản và có thể sống c̣n chỉ nhờ vào sức mạnh “tinh thần”, dù không phải là một định chế theo nghĩa của Tây phương, mà chỉ là môi trường ưu tuyển của một thực tại thiêng liêng.

Ưu vị của tinh thần là điều cần thiết cho mọi ḍng tu, th́ lại cần thiết hơn nữa đối với Ḍng Cát Minh.

Trong Ḍng Cát Minh, không bao giờ một hoạt động bên ngoài nào, hoặc ngay cả một sự trung thành tuân giữ Qui luật, dù cho giữ kỹ đến đâu đi nữa có thể thay thế cho cái phải là linh hồn của Ḍng, tức là mạch nước thần linh rỉ ra từ thẩm sâu của hữu thể, v́ thúc đẩy người tu sĩ Cát Minh không ngừng trở về cái trung tâm của ḿnh.

Việc t́m kiếm Thiên Chúa, rất thiết yếu và rất kín đáo, tự nó hướng về sự đơn giản và khó nghèo thiêng liêng. Tự bản năng, người t́m kiếm Thiên Chúa khát mong được giải thoát khỏi mọi vướng mắc vật chất bên ngoài, để chỉ lo việc Thiên Chúa, được giải thoát khỏi cái xác thịt, để đạt đến sự sống theo Thần Khí, để hoàn trở nên con cái theo Thần Khí.

Một lư tưởng như thế nhất thiết đưa đến một quan niệm về đời tu theo Thần Khí. Thật vậy, có lẽ không đâu bằng trong Ḍng Cát Minh, đời sống và luật lệ đ̣i phải được Thần Khí linh hoạt.

V́ thế, một tu sĩ quan tâm đến nguồn gốc Ḍng Cát Minh như Joan de St-Samson đă viết : “Trước tiên, tôi xin nói rằng vào thời các tổ phụ và các vị lập luật tiên khởi, đời tu (của Ḍng Cát Minh) là một thân thể được linh hoạt cách mạnh mẽ và tuyệt diệu bởi tinh thần, hay đúng hơn nó là thuần tuư tinh thần, và tinh thần sốt sắng”[12].

Thật vậy, cũng theo tác giả đó, lư tưởng của Ḍng Cát Minh bao giờ cũng là “sống trong t́nh trạng rất tinh tuyền... và hết sức hướng về Thiên Chúa[13].

Rơ ràng ở đây Jean de St-Samson dựa vào tác phẩm “Thể chế của các đan sĩ tiên khởi”, một bản văn rất tiêu biểu cho tinh thần Ḍng Cát Minh và truyền thống thần bí cổ kính nhất, tinh tuyền nhất của Ḍng. Ta đọc thấy trong đó những ḍng này, qua đó tác phẩm muốn mô tả những nét chính của đời sống các ẩn sĩ Cát Minh tiên khởi : “ đời sống ấy nhắm hai mục đích: chúng ta sẽ đạt đến mục đích thứ nhất nhờ chuyên cần và cố gắng tập các nhân đức, với ơn  trợ giúp của Thiên Chúa. Mục đích đó là dâng lên Thiên Chúa một tấm ḷng thánh thiện, không vết nhơ tội lỗi. Chúng ta làm được điều này khi ta sống hoàn thiện và ẩn ḿnh trong ḷng mến...c̣n mục đích thứ hai là  hoàn toàn do ơn Thiên Chúa ban : đó là ngay trong đời này, chứ không chỉ sau khi chết, được nếm hưởng cách nào đó trong ḷng và được cảm nghiệm trong trí sự hiện diện mạnh mẽ của Thiên Chúa và vinh quang êm dịu trên trời. Người ta  gọi đó là uống tận nguồn hoan lạc thần linh.

Thật vậy, tu sĩ Ḍng Cát Minh không nên tách rời ḷng tinh sạch khởi việc nếm hưởng các sự vật thần linh. Nguy cơ ảo tưởng nghiêm trọng nhất luôn là khát vọng những ơn cao siêu nhất mà lại coi khinh hay không biết đến sự thanh luyện phải chịu. Vả lại, có một cạm bẫy khác cũng đáng sợ không kém, là thực hiện một sự hoàn thiện cao siêu v́ chính nó, mà không khao khát sự sống thần linh do Thiên Chúa thông ban. Linh đạo Ḍng Cát Minh có một thế quân b́nh siêu nhiên mà chỉ có thể có được nếu thường xuyên dựa vào Thần Khí với một tấm ḷng khiêm nhượng. Nếu Ḍng Cát Minh không ngạc nhiên cũng  chẳng bi quan trước sự yếu đuối của con cái ḿnh v́ Ḍng bạo dạn dựa vào ḷng thương xót bao la của Thiên Chúa, th́ Ḍng không dung túng một bóng mờ nào trong tâm hồn. Ai cố t́nh nuôi dưỡng một quyến luyến phù phiếm nơi ḷng ḿnh th́ không phải là con cái Thần Khí : nhưng trong sạch là ǵ, nếu không đem lại hoa trái thiêng liêng, từ  bỏ là ǵ nếu không có ḷng mến ? Trong thực tế, ưu vị dành cho các nhân đức đối thần giúp cho tinh thần Ḍng Cát Minh không đi lạc đường trong khi theo đuổi hai mục đích của ḿnh. Sở dĩ người tu sĩ Cát Minh khao khát mến yêu bằng chính t́nh yêu Thiên Chúa, là v́ người ấy có ḷng trông cậy vững vàng, ḷng tin kiên quyết và luôn đáp ứng tiếng gọi của Thánh Thần trong mọi sự, v́ người ấy chỉ tuỳ thuộc một ḿnh Thiên Chúa mà thôi.

Hiện diện  với  Thiên Chúa và  nhiệt  thành đối với  các linh hồn.

Không ai ngạc nhiên khi thấy trong một bầu khí như thế tự phát triển nở dạng thức hoạt động đi liền với nó, tức là sự nguyện gẫm, được quan niệm không phải như một việc đạo đức, nhưng như một sự hiện diện với Thiên Chúa, sự hiện diện này vừa khách quan vừa nội tại, âm thầm và liên lỉ, đơn giản và thiêng liêng.

Theo quan niệm của Ḍng Cát Minh, th́ không có giới hạn cho sự nguyện gẫm, cũng như không có giới hạn cho kết quả của nguyện gẫm, tức là phẩm chất của sự thinh lặng nội tâm và của những tương quan mà nguyện gẫm tạo nên giữa con người với Thiên Chúa của ḿnh. Tuỳ theo mức độ của sự quảng đại nơi tâm hồn của ơn thánh, Thiên Chúa hằng sống lấp đầy và linh hoạt sự cô đơn này.

Tại Ḍng Cát Minh, việc nguyện gẫm chỉ cần đến một số điều kiện vật chất tối thiểu mà thôi. Nguyện gẫm không theo những phương pháp chặt chẽ, nhưng để triển nở chỉ đ̣i sự  tự do và trung thành của một tâm hồn không ngừng được Thần Khí viếng thăm và linh hoạt.

Qui luật cũng phản ảnh cách trung thực quan niệm trên về đời sống với Thiên Chúa. Bổn phận chủ yếu được ghi lại trong đó là “ngày đêm suy niệm Luật Chúa”.

Nhưng gương của Ê-li-a, cũng như một đ̣i hỏi nột tại, sẽ luôn thúc đẩy các ẩn sĩ tạo nên nơi ḿnh và quanh ḿnh bầu khí thinh lặng và cô tịch rất thuận lợi cho nguyện gẫm, mà  dạng thức tốt nhất chính là sa mạc.

Thật vậy, sa mạc kêu mời Thần Khí và Thần Khí đ̣i phải có sa mạc. Có một tương quan sinh tử giữa tinh thần Cát Minh với sa mạc. Sự nguyện gẫm của Ḍng Cát Minh, chính là sa mạc với Thần Khí cư ngụ trong đó.

Nhưng sa mạc cũng làm ta khát, và nguyện gẫm chỉ giải khát cho tâm hồn, để đào thêm nơi đó những khả năng đón nhận vô biên. “Họ sẽ uống và sẽ c̣n khát nữa”[14].

Nếu sự kiện Lời Thiên Chúa đă vang lên trong sa mạc không phải là không quan trọng, th́ việc dân Chúa chỉ chiếm được Đất Hứa sau một cuộc di tản qua sa mạc ấy cũng đầy ư nghĩa. Trong nguyện gẫm, tâm hồn chỉ gặp được Thiên Chúa sau một cuộc xuất hành đớn đau cho giác quan và trí tuệ,nhưng khi ấy nó sẽ hiểu biết giá trị vô biên của những mầu nhiệm thuộc về Thiên Chúa và được nếm hưởng sự tự do của con cái Thiên Chúa. Sự tự do này là dấu ấn của linh đạo Ḍng Cát Minh. T́m kiếm Thiên Chúa trong th́nh lặng và cô tịch, không cần phải theo một dạng thức nào cho việc nguyện gẫm, v́ đó là một cuộc đối thoại tự do, đúng là một cuộc tâm sự chân thành, tại nơi “đỉnh ước” là sa mạc, đó là những đặc điểm của linh đạo Ḍng Cát Minh ngay từ đầu.

Sự sống của Thiên Chúa và sa mạc là những thực tại không tuỳ thuộc thời gian mà Cựu Ước cũng như Tân Ước chẳng khi nào tách biệt. Sa mạc của tâm hồn chính là nơi để gặp gỡ Thiên Chúa.

“Sa mạc và đất khô sẽ vui mừng

Thảo nguyên sẽ hân hoan và nở hoa như khóm huệ.[15]

V́ những trực giác này ăn rễ sâu trong tâm hồn của người tu sĩ Cát Minh, nên đôi khi có thể xem ra khó hiểu. Tuy nhiên, những trực giác này rất sống động. Dù ư thức hay không tâm hồn luôn luôn trở về đó, cố gắng sống các trực giác ấy cách sung măn và trực tiếp.

Người tu sĩ Cát Minh xác tín rằng truyền thống rất phong phú và hữu ích nên hết ḷng yêu mến và trung thành, nhưng đồng thời người ấy cũng xác tín rằng ḿnh phải sống cách thiết thân và cảm nghiệm cách trực tiếp mầu nhiệm Thiên Chúa. Truyền thống có thể giúp ta có cảm thức và ḷng yêu mến những thực tại thần linh mà ta nếm hưởng trong nguyện gẫm, nhưng không cho ta sự hiểu biết siêu vời không thể thông chia, vốn là hoa trái của đức khôn ngoan Thiên Chúa. Sự hiểu biết này chỉ được ban cho người nào đă chịu đau khổ v́ Thiên Chúa trong tâm hồn và trong đời sống của ḿnh.

Để vẫn có hiệu quả và sức tác sinh, mạc khải vể tính siêu việt và ḷng thương xót của Thiên Chúa phải luôn được tái diễn nơi mọi người chúng ta. Nhưng ngay khi mạc khải của Thiên Chúa vừa ùa vào trong nội tâm của chúng ta, th́ như thể một b́nh minh vừa ló dạng, thời gian bị xoá nhoà. Tâm hồn được đưa về trước một khởi điểm tuyệt đối, thấy ḿnh như đâm chồi nẩy lộc trong một mùa xuân vĩnh cửu. Tên của Ê-li-a há chẳng phải là “người xanh tươi” đó sao ?

Chính Thiên Chúa hiện diện và ngỏ lời với tâm hồn. Và tâm hồn mượn lời của vị ngôn sứ để đáp lại : “Người là Đấng hằng sống, tôi hằng chầu hầu trước nhan Người” -  “Giavê là Đấng hằng sống và tâm hồn Thầy cũng đang sống[16]

Tinh thần của Ḍng Cát Minh không khác ǵ hơn là sức mạnh và sự sống trào vọt từ  Lời Thiên Chúa, vốn đến gơ cửa hồn ta, là sự hiện diện thần linh đang chờ đợi ta đón nhận Người và hiệp thông trong một sự tận hiến của cả đôi bên. Ngày nay cũng như xưa, lời ấy không thể đợi đến ngày hôm sau để thành sự.

Giả như bỗng chốc mọi quá khứ, mọi truyền thống đều bị xoá bỏ đi và lần đầu tiên tiếng gọi của Thiên Chúa hằng sống vang dội trong một tâm hồn, th́ tiếng gọi  ấy vẫn mang tinh thần Cát Minh với tất cả sự tươi mát, mới mẻ và phong phú đời đời của nó.

V́ tinh thần ấy phát xuất từ Thiên Chúa và hoàn toàn qui hướng về Thiên Chúa, nên nó tuyệt đối trong sáng và đơn giản. Nó không cần đến những kỹ thuật, và nó sợ nhất sự bề bộn về vật chất cũng như tinh thần, với quá nhiều những phương thế, những việc sùng bái và những việc đạo đức. Nó chỉ t́m kiếm và khát khao chính Thiên Chúa: Đấng là mầu nhiệm đôi với trí tuệ, nhưng lại là ánh sáng và kiến thức ngọt ngào cho tâm hồn.

Tinh thần Cát Minh là một tinh thần trẻ thơ, nguyên sơ, kề bên nguồn mạch phát xuất sự sống thần linh. Nó uống ngay “ḍng thác”, không cần múc, không cần quỳ xuống nhưng trong tư thế đứng thẳng, sẵn sàng. Nó phát xuất từ thẳm sâu của Thiên Chúa và khi đến với con người, th́ đổ mới họ và có thể nói là tạo thành họ nữa. Chính v́ thế nó rất trực tiếp, không qua trung gian, không thoả hiệp; nó cứng cỏi như đời sống Cựu Ước, nên nó cũng thật là thiết yếu. V́ mang một sức mạnh vượt trên mọi phương thế phàm nhân và xuyên suốt cái tương đối, dù vẫn biết đến cái tương đối ấy, nó gắn bó vơí mục tiêu và đi thẳng đến mục tiêu, cùng đ̣i hỏi cách chuyên chế con người phải biến đổi để kết hiệp với Thiên Chúa. Tóm lại, tinh thần Cát Minh đi đến mục tiêu với một niềm khao khát cái tuyệt đối, mà một khi đă cảm thấy khát rồi th́ sẽ không bao giờ được thoả măn.

Dù không mảy may bi quan, không mảy may khinh chê trần gian, nhưng tâm hồn người tu sĩ Cát Minh cảm thấy cách sâu sắc khoảng vô biên vốn phân cách hữu hạn và vô hạn, phân cách Thiên Chúa với thụ tạo của Người. Nguyện gẫm giúp họ hiểu được, và hơn thế nữa, giúp họ cảm nghiệm được phần nào cái tuyệt đối. Cũng nhờ nguyện gẫm mà người tu sĩ Cát Minh 
“nếm hưởng trong tâm và cảm nghiệm trong hồn ḿnh sự hiện diện mạnh  mẽ của Thiên Chúa và vinh quang êm dịu trên trời”[17]

Cảm nghiệm ấy về Thiên Chúa không làm cho tinh thần
Cát Minh xa rời các tạo vật và những ai sống cùng tiến hóa trong trần gian và trong tương đối ; trái lại, nó là nguồn mạch tích cực nhất làm cho có ḷng nhiệt thành đối với các tâm hồn. Ḷng nhiệt thành này là đặc tính của hành động và con người ngôn sứ Ê-li-a.

Thật vậy, Ḍng Cát Minh không bao giờ phân rẽ nơi tổ phụ ḿnh đời sống tông đồ với đời sống chiêm niệm. Gương mẫu của con người đă từng “cháy lửa nhiệt thành v́ Thiên Chúa các đạo binh” và cương quyết giữ dân Israel trong ḷng tin vào Thiên Chúa thật [18]vẫn không ngừng chỉ lối cho Ḍng, vốn dựa vào uy thế của người. Năm 1275, Nicolas người Pháp, vị tổng quyền thứ bảy của Ḍng đă nhắc lại điều đó trong văn kiện Ignea Sagitta : “v́ ư thức sự bất toàn của ḿnh, nên rất lâu các ẩn sĩ núi Cát Minh vẫn ở trong cô tịch. Nhưng họ cũng muốn mưu ích cho tha nhân để khỏi lỗi đạo với chính ḿnh, nên thỉnh thoảng họ cũng xuống núi, dù ít thôi. Lúa họ đă gặt hái được trong sa mạc nhờ lưỡi liềm chiêm niệm, th́ giờ đây họ đem ra đạp trên sân rao giảng và rộng tay gieo văi”. Như thế, ngay từ buổi đầu, sự nguyện gẫm của Ḍng Cát Minh đă mang gương mạo tông đồ và triển nở nên ḷng nhiệt thành truyền giáo.

Mặc dù đă có từ thời tiền sử xa xưa của Ḍng, các thực tại thiêng liêng từ muôn đời ấy luôn luôn sẽ vẫn là những nét đặc trưng của Ḍng Cát Minh . Kho tàng bất khả di nhượng ấy đă được các ẩn sĩ truyền lại cho chúng ta qua nhiều thế kỷ. Ngày nay, nó vẫn rực rỡ đẹp tươi như một món đồ trang sức cổ xưa, xuất hiện nguyên vẹn từ dưới lớp cát vùng sa mạc.

3. Qui luật và tinh thần của Qui luật

Nhiều thế kỷ trôi qua trước khi có những văn kiện minh chứng sự hiện diện của các ẩn sĩ trên núi Cát Minh . Bản văn rơ rệt đầu tiên có từ năm 1177 do đan sĩ Jean Phocas người Hy lạp viết. Vậy ta không thể xác định được lối sống của ẩn sĩ trên núi của Ê-li-a trước năm đó.

Nhưng năm 1209 có những ẩn sĩ Cát Minh cư ngụ gần El - Chader (nghĩa là “trường các ngôn sứ”) và gần Wadi-Es-Siah (ḍng nước Ê-li-a). Dường như họ đă định cư tại những nơi đó từ năm 1150, và chỉ sống theo một số qui tắc mượn từ truyền thống đan tu. Năm 1209, họ xin Albert Avogadro, Thượng phụ Giêrusalem cho họ một Qui luật giúp họ “sống lối sống tu tŕ mà họ đă chọn, để đực tuỳ thuộc vào Chúa Giêsu Kitô và trung thành phụng sự Người với một tâm hồn trong sạch và một lương tâm ngay lành[19].

Như vậy, ta đă có bằng chứng về một sự liên tục thiêng liêng giữa các ẩn sĩ  núi Cát Minh  và những người “con cái các ngôn sứ”, đồng thời thấy rơ ràng Qui luật (mà sau này sẽ được gọi là Qui luật Ḍng Đức Bà Maria núi Cát Minh ) không mảy may chối bỏ quá khứ. Qui luật ấy sẽ giúp các đan sĩ định cư trên núi Cát Minh , triển nở đời sống theo tinh thần của Ê-li-a trong một bầu khí Kitô giáo.

Tân Ước hoàn tất Cựu Ước. Qui luật Cát Minh hoàn tất trường phái các ngôn sứ . V́ thế linh đạo Cát Minh dễ dàng khai triển các yếu tố căn bẳn thừa hưởng từ nguồn gốc Thánh Kinh, trong một đời sống hoàn thiện theo Tin mừng. Từ nay, đời sống của Ḍng Cát Minh  sẽ được hướng dẫn bởi một Qui luật  thắm nhuần ánh sáng Chúa Kitô và tuỳ thuộc Người. Chúng ta cũng phải xem xét linh đạo  Cát Minh  theo tinh thần ấy.

Thật vậy, từ đây người tu sĩ Cát Minh  hướng cái nh́n, lớ cầu nguyện, t́nh yêu của ḿnh về Đức Kitô ; “được Người hướng dẫn”,họ sẽ bước đi với tâm hồn trong sạch và một lương tâm ngay lành[20].

Tất cả những ǵ hấp dẫn Ê-li-a và các môn đệ của ông đến với Thiên Chúa , tất cả những ǵ giúp họ gặp gỡ Người (thinh lặng, cô tịch, sa mạc, cảm thức về sự tuyệt đối của Thiên Chúa, khao khát sự tiếp xúc trực tiếp và nóng bỏng với Người trong cầu nguyện) th́ người tu sĩ Cát Minh dùng những điều ấy như là đường dẫn đến Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.

Linh đạo của Qui luật .

Chúng ta rất cần t́m hiểu Qui luật , v́ Qui luật ấy chuẩn y hoá một lối sống mà các ẩn sĩ đă tự phát chọn lựa, đồng thời nó cũng cho ta thấy những nguyên tắc thiêng liêng từng hướng dẫn các ngài. Nó không chỉ cho phép ta thoáng thấy tinh thần Ḍng Cát Minh  mà thôi, nhưng c̣n giúp những người theo tinh thần  ấy có thể khám phá nó thêm. Jean de St-Samson đă nói : “Qui luật nguyên thuỷ của chúng ta vô cùng thiết yếu và xúc tích, nằm bên trong tinh thần hơn là bên ngoài chữ viết[21].

Tinh thần của một Ḍng nào khi theo đuổi các mục tiêu cá biệt của ḿnh, cũng như các việc làm bên ngoài của Ḍng ấy là điều rất quan trọng cần phải biết. Tuy nhiên, thường th́ tinh thần ấy chỉ là một trong những yếu tố cấu thành Ḍng, một trong số các đặc điểm của Ḍng mà thôi. Nhưng khi một Ḍng tu không làm một công việc nào khác, ngoài việc thiêng liêng và không nhằm một mục đích nào khác, ngoài mục đích thăng tiến và bảo toàn đớ sống thiêng liêng, th́ tinh thần ấy trở nên tất cả trong Ḍng.

 Văn bản Qui luật Ḍng Cát Minh  làm cho ư thức điều ấy “Qui luật cho thấy tính cách đơn giản của những bản văn linh đạo quan trọng, cái nhẹ nhàng của những sự trên trời. Nó đă cởi bỏ những chi tiết phụ thuộc, trong không gian cũng như trong thời gian. Bay bỏng bên trên các sự vật không tất yếu, nó cũng không dừng lại những vấn đề liên hệ đến việc tổ chức cuộc sống. Nó chỉ nhằm đến cái bên trong và nổ lực đánh thức những tiềm năng thần linh c̣n đang say ngủ trong tâm hồn chiêm niệm. Đó là lời mời gọi sống, hơn là thể thức sống[22].

Nhưng làm sao khám  phá được tinh thần của một Qui luật nội tâm, nếu chính ḿnh không có một tinh thần hướng về nội tâm ? Ngay từ đầu, Ḍng Cát Minh  đă coi sự khát khao cô tịch và thinh lặng, sự ưa thích sa mạc như là môi trường ưu đẳng cho việc gặp gỡ Thiên Chúa và chiêm niệm. Qui luật sẽ lấy lại khung cảnh ấy, nhưng trên b́nh diện thiêng liêng, sẽ nội tâm hoá nó. Căn pḥng trở thành sa mạc, nơi mà tâm hồn gặp gỡ Thiên Chúa  và nguyện gẫm là tṛ chuyện với Thiên Chúa , là công việc “ngày đêm, là đời sống nội tâm của người ấy”. “Mỗi người hăy ở một ḿnh trong pḥng hay gần pḥng, để đêm ngày  suy niệm luật Chúa và tỉnh thức cầu nguyện”[23].

Xuyên qua Qui luật, chúng ta có thể nhận thức được bầu khí của đời sống nội tâm và cầu nguyện ấy chăng ? Và Qui luật có giúp ta nêu rơ các đặc tính của linh đạo Cát Minh  chăng ?

Thoạt nh́n, th́ dường như không, v́ bản văn rất đơn giản và rất ngắn. Nhưng nh́n từ bên trong, th́ bản văn cho biết nhiều điều hơn.

Trước tiên, chính sự đơn giản ấy cũng là nét cực kỳ đặc trưng của tinh thần chủ trương của sự đơn giản ấy. Nó đưa ta ngay vào một linh đạo không c̣n lệ thuộc chữ viết và vô cùng đơn giản. Tâm hồn hiểu rằng, để được kho tàng giấu ẩn, th́ phải bán hết đi; rằng chỉ có Nước Thiên Chúa là quan trọng, những thứ c̣n lại sẽ được ban thêm.

Đi đôi với sự đơn giản đó, là một sự giải phóng khỏi bất cứ tinh thần bè phái nào. “Các anh em ẩn sĩ sống trên núi Cát Minh”
đă chạy đến Thượng phụ Giêrusalem như là người đại diện Giáo Hội, để xin ngài ban cho họ một Qui luật. Ba thế kỷ rưỡi sau, nhà cải tổ vĩ đại của Ḍng Cát Minh, vào giờ chết chỉ  có một nỗi vui mừng : Đó là được làm “con của Giáo Hội. Và trong việc đọc
kinh thần vụ, các tu sĩ Cát Minh cũng sẵn ḷng tuân theo ‘qui định của các Thánh phụ và tập quán đă được Giáo Hội phê chuẩn’[24].

Những con người ấy rất say mê sự tự do thiêng liêng và quen với luồng gió từ biển cả hay sa mạc thổi đến như thế, đâu có cần ǵ dạng thức đặc biệt, những kiểu cách phức tạp. Tự bản năng, họ bám lấy những ǵ giản dị nhất, b́nh thường nhất, như những phương tiện thuận lợi nhất giúp họ được an tâm mà lo đến “điều duy nhất cần thiết”.

Đành rằng có khẳng định nguyên tắc quyền bính, có đ̣i hỏi sự tuân phục, cũng như sự thinh lặng, lao động, từ bỏ mọi sở hữu, nhưng là trong bầu khí của Tin mừng. Đó chỉ là những phương thế nhắm đến một mục đích duy nhất, một điều duy nhất cần thiết : sự kết hiệp với Thiên Chúa .

Nhờ đó, Qui luật có được nét vô cùng đơn giản và uyển chuyển, chẳng những v́ mọi sự đều qui hướng về một mục đích duy nhất, mà c̣n v́ Qui luật  không ngần ngại sử dụng hết mọi phương thế ấy, theo cách thức dịu dàng và mềm mỏng của Thần Khí. “Anh em có thể...nếu bề trên xét là thích hợp... khi điều ấy có thể thực hiện được cách thuận tiện...trừ phi người ấy bận ǵ khác chính đáng...tuỳ theo tuổi tác và nhu cầu của mỗi người...khi cần...trong mức độ cần thiết...trừ phi v́ đau yếu hay một lư do chính đáng nào khác mà phải ngưng ăn chay, v́ sự cần thiết không tuân theo một luật nào...[25].

Không có ǵ khô khan, quá câu nệ mặt chữ, nhưng cách thức đơn giản và thực sự thiêng liêng, vốn tự nhiên làm cho các tâm hồn tiến lên trên con đường dẫn đến tuyệt đối. Đó là bầu khí Tin Mừng : “Nếu người muốn...”

Qui luật vẫn biết rằng đời sống kết hiệp với Thiên Chúa dựa trên sự từ bỏ như trên căn bản và trên sự thực hiện từ bỏ cách quảng đại. Nhưng Qui luật muốn một sự từ bỏ “không bóp nghẹt tâm hồn, nhưng lại giúp nó ư thức sự nghèo nàn của ḿnh, để không ngừng hướng về Thiên Chúa”[26]. Chắc chắn muốn tiến bộ phải có cố gắng và Qui luật, toát ra một tinh thần cương nghị. Theo sau ông Gióp, Qui luật nhắc lại rằng : “đời người ở trần gian là một cuộc cám dỗ, và ai muốn sống đạo đức trong Chúa Giêsu Kitô đều bị bách hại, phải khổ đau”. “Vậy anh em phải nhiệt thành mặc lấy giáp trụ của Thiên Chúa . Khi thấy Qui luật bắt chước Thánh Phaolô tả lại chi tiết bộ giáp trụ thiêng liêng mà người chiến binh của Thiên Chúa cần mặc lấy, ta không khỏi nghĩ rằng nó đă được viết ra cho các chiến sĩ thập tự quân đang muốn phụng sự Chúa ḿnh là Đức Giêsu Kitô và trung thành với tổ tiên ḿnh là những vị ẩn sĩ vĩ đại đă anh dũng chiến đấu chống lại xác thịt và quỷ ma.

Nhưng trong Qui luật, khía cạnh khổ hạnh được giảm nhẹ đi, nhờ một khía cạnh khác: Cố gắng, từ bỏ, lao động, thinh lặng được xem trước tiên như là những phương thế để giúp tâm hồn lột bỏ tính vị kỷ, giải thoát nó, để nó được nhẹ nhàng tiến bước cách vững chắc hơn trên con đường kết hiệp với Thiên Chúa.

Tất cả các khía cạnh đó của Qui luật đều xuất phát trực tiếp từ giáo huấn của Tin mừng, và vẫn c̣n giữ nguyên hương vị của Tin Mừng. Tuy nhiên, chúng vẫn hội nhập hoàn toàn vào trong cái tổng thể đă lănh nhận từ nguồn... nó bổ túc và đào sâu cái tổng thể ấy, vạch lên trong sa mạc con đường tiến tới mà không sợ đi lạc :  “Nếu ai muốn làm môn đệ Ta, th́ hăy từ bỏ chính ḿnh mà theo Ta”.

Ḍng Cát Minh bao giờ cũng hướng về Thiên Chúa. Qui luật chỉ đường cho Ḍng tiến lên. Con đường ấy nằm trong một mớ giáo huấn, công thức, kỹ thuật, nhưng là nh́n thẳng vào con đường sống động là Đức Giêsu Kitô.

Tuỳ Thuộc Chúa Giêsu Kitô.

Từ nay, người tu sĩ Cát Minh dán mắt vào Chúa Giêsu và muốn sống tuỳ thuộc Người. Ḍng Cát Minh t́m kiếm Thiên Chúa, t́m sự kết hiệp với Người. Và đây Con Thiên Chúa đă đến, chính Thiên Chúa đă đến. Qui hướng về Chúa Giêsu là người tu sĩ Cát Minh đi đúng đường của ḿnh. Vậy chính do sự liên tục thẳm sâu và thiết yếu đó mà Ḍng Cát Minh vốn mang tính cách Thánh Kinh, trở nên một Ḍng có tính cách Tin Mừng.

Thật vậy, được khai sinh trong Cựu Ước, được Lời Chúa đào tạo, Ḍng Cát Minh ngóng trông việc thực hiện Lời Chúa. Cùng với Ê-li-a và các ngôn sứ, Ḍng Cát Minh mong chờ “Đấng sẽ đến” và ngóng đợi Người. Ḍng được chuẩn bị sẵn sàng để nắm giữ các sấm ngôn, mong đợi Chúa đến, làm cho triều đại Người mau đến hơn.

Ḷng đầy ắp sự chuẩn bị từ sách thánh, Ḍng Cát Minh hướng đến Chúa Kitô, với niềm xác tín sẽ nh́n thấy nơi Người những ǵ ḿnh t́m kiếm.

Thậy vậy, Ḍng Cát Minh t́m Thiên Chúa như đối tượng để hiểu biết và yêu mến, nó c̣n t́m đâu được hơn nơi Đấng đă thành xác phàm và đă được ban cho chúng ta. Ḍng Cát Minh gắn bó với Lời Thiên Chúa. Nhưng “Thiên Chúa chỉ nói có một lời và đó là Con của Người”[27].

Ḍng Cát Minh đă thừa hưởng cảm thức về sự vĩ đại của Thiên Chúa, sự hư không nhưng đồng thời cả ơn gọi thần linh của thụ tạo. Vậy là m sao nó không đặt tất cả hy vọng nơi một Đấng trung gian và Cứu thế, nơi Chúa Kitô chịu đau khổ và chịu chết v́ yêu thương chúng ta ?

Tuy nhiên,trong Qui luật, vai tṛ của Chúa Kitô tương đối ít nổi bật. Đây là một trong những mầu nhiệm không dễ ǵ hiểu được của Ḍng Cát Minh : mầu nhiệm về một thực tại thiêng liêng rất kín ẩn, chỉ hơi được nói ra, nhưng thực sự lại là chủ yếu và có sức tác động sâu xa.

Quả thật, có những linh đạo nêu rơ hơn vai tṛ của Chúa Kitô. Người là gương mẫu cho ta bắt chước. Nhưng linh đạo của một Ḍng chiêm niệm th́ không thể hoàn toàn như thế được. Nếu phải luôn ngắm nh́n Chúa Kitô, th́ c̣n phải kết hiệp với Người, sống với Người, sống  nhờ Người   nữa. Do đó, Chúa Kitô  vốn là đường dẫn đến Chúa Cha, trở thành môi trường trong đó sự chiêm niệm phát triển, và đừng đi của sự chiêm niệm này. Dường như Qui luật Cát Minh được tháp vào Chúa Kitô và sự nguyện gẫm của Ḍng được phát triển ngay trong ḷng sự sống mà Chúa Kitô thông ban cho tâm hồn.

Đành rằng Qui luật Cát Minh  cũng biết cần có một sự chuẩn bị, nhưng dường như những người xin viết Qui luật ấy ra đă vượt quá những giai đoạn đầu của đời sống thiêng liêng rồi. Đó là v́ họ đă sống từ lâu một đời sống cô tịch nội tâm và khổ hạnh, họ đă có “một tấm ḷng trong sạch và một lương tâm ngay lành”. V́ thế, Qui luật quan tâm trước tiên đến việc nêu rơ những nét đặc trưng của đời sống chiêm niệm : sự cầu nguyện liên lỉ của các ẩn sĩ, “những giờ canh thức liên miên bất tận để nguyện gẫm, việc này biến các tu sĩ ấy thành những người bạn thân của Chúa và biến t́nh yêu thành một tâm trạng[28].

Qui luật không định nghĩa bản chất của sự chiêm niệm mà nó chỉ dẫn, nhưng qua tác phẩm “thể chế các đan sĩ tiên khởi”, ta dễ dàng ư thức được điều đó. V́ văn kiện ấy lâu năm đă được tôn kính ngang hàng với Qui luật nguyên thuỷ, nên cho hiểu rằng sự cầu nguyện liên lỉ phải giúp người tu sĩ Cát Minh “nếm hưởng cách nào đó trong ḷng ḿnh và cảm nghiệm trong tâm trí sự hiện diện của Thiên Chúa  mạnh mẽ như thế nào, và vinh quang trên trời êm dịu như thế nào, tức là uống tận ḍng thác hoan lạc thần linh”.

Như ta thấy, đây là một cảm nghiệm thần bí về Thiên Chúa. Thật vậy, đó là mục tiêu Ḍng hướng đến. Đành rằng không phải ai cũng đạt đến đó, nhưng ít ra, Đức Kitô sẽ là con đường dẫn đưa tất cả mọi người đi đến đó. V́ thế, mọi người đều phải sống “tuỳ thuộc Chúa Giêsu Kitô”, ở yên trong pḥng... ngày đêm suy niệm Luật Chúa và canh thức cầu nguyện.

Anh em Đức Bà.

Ḍng Cát Minh sống hướng về Đức Kitô như mẫu gương th́ cũng sống hướng về Đức Maria như vậy, Trải qua nhiều thế kỷ, các tác giả Ḍng Cát Minh ưa thích nhắc đi nhắc lại câu “totus marianus est”, và con cái Ê-li-a không thích một danh xưng nào hơn là danh hiệu ‘anh em Đức Bà’.

Theo lịch sử, chắc chắn các ẩn sĩ đầu tiên sống trên núi
Cát Minh  năm 1150 đă tụ họp quanh một nguyện đường dâng kính Đức Mẹ, và ngay từ thời thánh Brocard, vị Tổng quyền đầu tiên, các tu sĩ Cát Minh đă có tên là ‘anh em  Đức Bà núi Cát Minh’. Ḷng tôn sùng Đức Mẹ rơ ràng là một trong những nét đặc thù của Ḍng. Dù có những chi tiết không chính xác về mặt lịch sử, cuốn “thể chế các đan sĩ đầu tiên” cũng cho thấy Ḍng chịu ảnh hưởng rất lớn của hai khuôn mặt biểu tượng cho lư tưởng của ḿnh : Ê-li-a và Đức Mẹ[29].

Chắc hẳn ta không cần t́m những điểm tương đồng tỉ mỉ và nhiều khi guợng ép giữa Ê-li-a va Đức Mẹ  như các tác giả Cát Minh thời trung cổ, và cách riêng Bostius đă làm. Người ta thường giải thích theo nghĩa thần bí đoạn sách các Vua, thuật lại rằng nhờ lời cầu nguyện của vị ngôn sứ trên đỉnh núi Cát Minh , từ dưới biển bổng bay lên “một đám mây nhỏ bằng bàn tay người”[30], rồi đám mây ấy biến thành mưa, tưới nhuận đất đai khô cằn : đó là h́nh ảnh Đức Trinh Nữ sẽ ban cho chúng ta Đấng Cứu Thế.

Chúng ta không cần phải làm như Bacon thorp (khoản 1330) là t́m kiếm những tương quan chặt chẽ giữa đời sống của một tu sĩ Cát Minh với đời Đức Mẹ. Ông nói : “chúng tôi đă chọn một Qui luật có nhiều điểm giống với đời sống của Đức Trinh Nữ Maria”.

Nếu quả thật là như thế, th́ tại sao Qui luật không một lần nào nhắc đến tên Đức Mẹ, cũng khônghề nhắc đến  Ê-li-a (thật vậy, chữ ‘nguồn nước Ê-li-a’ không có trong bản nguyên thuỷ). Thế nhưng chắc chắn Ḍng Cát Minh  sống theo tinh thần của Ê-li-a và Maria như các tác giả và các văn kiện của Ḍng vẫn thường nhắc đi nhắc lại.

Đó là v́ Đức Mẹ đối với Ḍng Cát Minh cũng giống như Chúa Kitô  với ḍng vậy. Đời sống chiêm niệm tiến hành bằng sự đồng hoá và kết hiệp, hơnlà những h́nh ảnh và gương mẫu. Những ǵ đă nói về Đức Kitô có thể được áp dụng cho Đức Mẹ , dĩ nhiên theo một mức độ khác. Người tu sĩ Cát Minh không cố ư bắt chước Đức Mẹ, nhưng tâm hồn người ấy tự nhiên có sự hài hoà thẳm sâu với tâm hồn Đức Trinh Nữ. Chính theo nghĩa đó mà ta có thể nói rằng đời sống của họ giống đời sống Đức Mẹ.

Thật vậy, đối với người tu sĩ Cát Minh, Đức Maria không chỉ là Mẹ của Chúa Kitô và Mẹ của họ. Người c̣n thể hiện thái độ thiết yếu mà tâm hồn phải có  trước Thiên Chúa . Đức Mẹ không chỉ tóm kết Cựu Ước, người c̣n tượng trưng cho toàn thể nhân loại. Mẹ là tâm hồn của nhân loại đang khát khao chờ đợi, hy vọng Thiên Chúa , hướng tất cả mọi sức lực và khả năng của ḿnh về Thiên Chúa  để đón nhận Người và được sống sung măn nhờ Người. Nơi Mẹ, nhân loại ư thức được ư muốn hoàn toàn hữu hiệu của Thiên Chúa  là tự thông ban cho con người. Maria nơi xẩy ra cuộc gặp gỡ ; hơn thế nữa, Mẹ là Đền thờ, nơi cử hành hôn lễ giữa Thiên Chúa với loài người, là thánh điện ẩn khuất nơi tân lang kết hiệp với tân nương, là vùng sa mạc đang nở hoa dưới luồng gió của Thiên Chúa .

Đức Trinh Nữ hoàn toàn hướng về Thiên Chúa và về sự sống của Thiên Chúa theo nghĩa như Elisê đă nói với Ê-li-a : “Giavê là
Đấng hằng sống và linh hồn Thầy cũng đang sống”. Từ khi được ơn Vô nhiễm , nguyên tội, tâm Maria không có một sự sống nào khác ngoài Thiên Chúa, không có mục đích nào khác hơn là yêu mến Người bằng một t́nh yêu tinh tuyền không pha trộn và để cho kế hoạch yêu thương của Người được hoàn tất nơi ḿnh. Ḍng Cát Minh gặp thấy nơi Đức Mẹ sự sung măn của tinh thần ḿnh, vẻ đẹp không t́ vết, sự tinh tuyền tuyệt đối của ḿnh : “sẽ ban cho Người vẻ đẹp của núi Cát Minh”[31] Ngược lại, tâm hồn Đức Mẹ cũng đâm rễ sâu trong tinh thần Cát Minh. Người là con cái Đavít, là con cái các ngôn sứ và là con của Ê-li-a theo tinh thần.

Thời Cựu Ước đă từng nỗ lực vươn tới lời đáp hoàn hảo mà Maria sẽ thưa với Lời Thiên Chúa, Lời mà Mẹ “giữ kỹ trong ḷng[32], ‘ngày đêm suy niệm’, và củng cố vươn tới ḷng nhiệt thành nóng bỏng nơi Mẹ dưới tác động của Thánh Thần.Nhưng vệc Người làm Mẹ vẫn trinh nguyên đă biến đứa con được tiền định ấy của núi Cát Minh  thành một vị nữ hoàng, đưa Người lên địa vị tối cao. Do đó, Ḍng Cát Minh sống Đức Mẹ , hít thở Đức Mẹ  bằng một tác động tự nhiên, tự phát mà đồng thời vẫn ư thức và tự nguyện.

Để tiến bộ trên con đường của ḿnh, người tu sĩ Cát Minh  chỉ cần khuyếch trương thêm thái độ của Đức Mẹ nơi họ, sự đơn sơ trong trắng, hoàn toàn qui hướng về Thiên Chúa. Đối tượng của Ḍng Cát Minh là Thiên Chúa, nhưng tâm hồn th́ ngày càng là Maria.

Do đó, dễ hiểu rằng Qui luật không dành một chỗ riêng cho Đức Mẹ . Là v́ Ḍng Cát Minh khoa khát chiêm ngắm và yêu mến Thiên Chúa  bằng cả tâm trí của Đức Mẹ . Đức Mẹ là chính tâm hồn của Ḍng. Ḍng kết hiệp cùng Chúa Kitô và ẩn ḿnh trong Đức Mẹ . Đức Maria là người Mẹ vô cùng đáng phục và đáng yêu của Ḍng, người Mẹ đầy t́nh thương xót, nhưng ở một mức độ sâu xa hơn, Mẹ c̣n là người được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế, là biểu hiện tinh tuyền và cao vời, hoàn hảo nhất của một tâm hồn mở ra với tác động của Thiên Chúa  và được hoàn tất trong ánh sáng và t́nh yêu của Người. Mẹ là tâm hồn chiêm niệm ưu việt.

Các thế kỷ đă kiểm chứng thực giác thần bí và thảo hiếu này.Trong một lúc nguy biến, chính Đức Mẹ đă đáp lại lời cầu nguyện tin tưởng và khẩn thiết của thánh Simon Stock. Mẹ hiện ra với Ngài, tay cầm tấm áo của Ḍng mà nói : “Đây là đặc ân Mẹ dành cho con và mọi con cái Ḍng Cát Minh . Ai chết lúc đang mặc áo này sẽ được cứu[33]. Như thế là Mẹ đă biểu lộ cách hữu h́nh sự che chở đặc biệt của ḿnh đối với Ḍng vốn luôn nhận ḿnh thuộc về Người. Mẹ cũng can thiệp vào trong đời của các thánh Ḍng Cát Minh. Thánh Albert de Sicile, Andre Corsini, Pierre Thomas, Têrêsa Avila, Gioan Thánh Giá và trong thời đại chúng ta, thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu đều đă được Đức Mẹ che chở cách rơ rệt. Dường như không có một tôi tớ vĩ đại nào của Thiên Chúa thuộc Ḍng Cát Minh  mà chẳng được Đức Mẹ nâng đỡ và hướng dẫn. Đồng thời, các tác giả Cát Minh  đă viết nhiều sách nhằm thiết lập tương quan ngày càng chặt chẽ hơn giữa Ḍng Cát Minh và Đức Mẹ. Ḍng đă được thành lập để tôn kính  Đức Trinh Nữ Maria. Qui luật đă được soạn dựa theo đời sống các nhân đức của Đức Mẹ[34]. Không quan trọng lắm, tính khách quan và giá trị của các sự so sánh ấy. Quả thật, từ khi
Qui luật được viết ra cho đến thời cải tổ, “tư tưởng coi Đức Mẹ là gương mẫu đă được xác định rơ thêm nhiều”... và người ta thấy rơ ràng Ḍng Cát Minh được thành lập để tôn kính Người. Việc Ḍng Cát Minh biểu lộ phần nào ḷng tôn sùng bên trong của ḿnh đối với Đức Mẹ, phải là việc b́nh thường để bày tỏ một tinh thần rất hiếu thảo ? “đối với ẩn sĩ tiên khởi núi Cát Minh , đời sống Cát Minh được hiểu như là đời sống được hiến dâng để đồng thời phụng sự Chúa là Thiên Chúa  và Mẹ của Người là Đức Maria. Hơn mọi truyền thuyết, cách diễn tả này giúp ta hiểu được sự triển nở của ḷng tôn sùng Đức Mẹ trong Ḍng Cát Minh
và ư nghĩa thật của các bản văn chính thức sau này khẳng định rằng ngay từ đầu, Ḍng Cát Minh  đă chuyên lo tôn kính Đức Mẹ[35].

Chiêm niệm có sắc thái tông đồ.

Qui luật vốn giữ linh đạo  Cát Minh trong đường hướng nội tâm chiêm niệm, và cho linh đạo ấy có được tinh thần của Tin Mừng và của Đức Maria, đồng thời cũng xác định chiều hướng tông đồ thừa hưởng của chính tổ phụ Ê-li-a. Nếu Ê-li-a đă thốt ra lời căn bản của tinh thần chiêm niệm : “Tôi đứng hầu trước nhan Đấng hằng sống”, th́ Người cũng đă kêu lên : ‘Tôi cháy lửa nhiệt thành đối với Giavê các đạo binh ‘. Qui luật  đă trung thành duy tŕ sắc thái tông đồ ấy trong linh đạo Cát Minh, mặc dầu theo mức độ riêng của Ḍng. Nguyên nhân duy nhất cho phép người tu sĩ Cát Minh gián đoạn “việc suy niệm Luật Chúa”, và tạm thời ra khỏi sự cô tịch và thinh lặng thuận lợi cho việc hồi tâm nơi căn pḥng của ḿnh, ấy là phần rỗi của các linh hồn. Chiều hướng này đuợc ghi rơ trong Qui luật và giúp ta hiểu tại sao Ḍng Cát Minh  đă xếp vào loại ḍng hành khất, tức là những ḍng, theo nguyên tắc phải chăm sóc các linh hồn. Ḍng Cát Minh thuộc loại Ḍng được gọi là ‘hỗn hợp’, v́ vừa chiêm niệm vừa hoạt động.

Tất nhiên không phải là ta đồng thời hướng đến chiêm niệm và hoạt động như hai mục tiêu trọn vẹn và hoàn toàn không phụ thuộc nhau, v́ điều đó không thể hiểu được. Cũng không phải là trước tiên chuyên lo rao giảng : chiêm niệm vốn là nguồn của rao giảng, cho nên rao giảng mà tách rời khởi chiêm niệm, th́ chỉ là việc của đời sống hoạt động, chứ không phải là đời sống của Tông đồ. Cũng không phải xem chiêm niệm như một phương thế cần thiết để hoàn thành tốt sứ vụ của ḿnh đối với tha nhân, v́ không có đời tu, hoạt động nào mà không dạy một việc nguyện gẫm nào đó để đạt đến mục đích ấy. Nhưng những Ḍng ấy được gọi “hỗn hợp” v́ họ để hoạt động tuỳ thuộc chiêm niệm, thành ra theo cách nói mạnh mẽ của Thánh Tôma, hoạt động của họ, như hoạt động của Chúa và  của các Tông đồ xưa, xuất phát từ sự chiêm niệm sung măn. Theo nghĩa đó, đời sống Tông đồ đầy đủ hơn đời sống thuần tuư chiêm niệm. Lư do của địa vị ưu việt này là v́ “soi sáng th́ hơn là chỉ loé sáng”[36]. Vậy điểm đặc thù của Ḍng Cát Minh  là kết hợp chặt chẽ đời sống ẩn tu với đời sống Tông đồ... khẩu hiệu của họ có thể là “contemplari et contemplationem aliis tradere” (Ḍng Cát Minh , do một tu sĩ Cát Minh  chân không[37].

Do đó, cho dù hoạt động Tông đồ có những quyến rũ và nguy hiểm lớn lao đến đâu đi chăng nữa, linh đạo Cát Minh cũng không bao giờ là linh đạo của một Ḍng thuần tuư chiêm niệm. Khi các Đức Giáo Hoàng kêu gọi các tu sĩ Cát Minh đi truyền giáo, rao giảng, làm việc bác ái, th́ họ sẽ không bao giờ có thể từ chối, viện lẽ một ơn gọi thuần tuư chiêm niệm.

Nhưng, ngược lại, cũng có biết bao lời khiển trách của các bậc thầy linh đạo ,biết bao cố gắng của các bề trên để ngăn Ḍng Cát Minh đừng lần hồi trở nên một Ḍng hoạt động. Chiêm niệm  là trái tim của Ḍng Cát Minh, là lẽ sống, là đặc điểm,
là sự sống c̣n của Ḍng. Nếu phải gián đoạn chiêm niệm, th́ phải là v́ “nhu cầu và trong một thời gian ngắn”, sau khi xong công tác, th́ các tu sĩ phải gấp rút trở về với đối tượng đầu tiên và trực tiếp của ơn gọi ḿnh. Trong cuốn “mũi tên lửa, Ignea sagitta”, Nicolas người Pháp, đau đớn nhắc lại cách mạnh mẽ truyền thống chiêm niệm của Ḍng, mà ông thấy đang bị đe doạ. Và để việc làm đi đôi với lời nói, ông đă lui vào một ẩn viện. Người kế nghiệp ông là Raoul là người Đức, cũng bắt chước ông. Tổng Công Hội tại Montpellier (1287) đă có nhiều biện pháp để giữ lại trong Ḍng “thành tŕ chiêm niệm”. Tất cả các bản văn Hiến pháp đều khuyến cáo sự cô tịch và ẩn dật. V́ thế, một ngày kia sẽ có các ‘sa mạc’ và nếu không có chúng th́ không có một tỉnh Ḍng đầy đủ, bởi lẽ thiếu chúng th́ dung mạo Ḍng Cát Minh sẽ thiếu đi một nét thiết yếu. V́ lo cho tha nhân, người tu sĩ Cát Minh  có thể đi lo việc tông đồ, nhưng vẫn có một cái ǵ đó mạnh hơn lôi kéo họ trở về sự cô tịch ; chính nơi đó, trong việc tâm sự với Thiên Chúa , mà người tu sĩ Cát Minh sẽ sinh nhiều hoa trái tông đồ nhất, bởi v́ lợi ích của đời sống họ được đo lường theo mức độ t́nh yêu tinh tuyền của họ đối với Thiên Chúa.

Cho đến thời cải tổ của Thánh Têrêsa, việc chiêm niệm vốn là phần tốt nhất của Ḍng Cát Minh sẽ không ngừng bị đe doạ. Ḍng được du nhập sang Tây phương vào thế kỷ XIII, và ngày can dự vào đời sống tri thức và xă hội của thời ḿnh,nên cũng chịu nhiều ảnh hưởng sắp đưa Ḍng đến t́nh trạng suy thoái như phần lớn các ḍng khác. Đối với Ḍng, sự suy thoái này là do lần hồi bỏ bê đời sống chiêm  niệm, “sự nguyện gẫm liên lỉ, kiên tŕ và không gián đoạn” mà Jean Soreth đa nói tới”,”sự kết hiệp thường xuyên và hiện tại với Thiên Chúa “, mà cha Rubéo de Ravenne đă nhắc nhở ngay trước khi có cuộc cải tổ của Thánh Têrêsa.

Nếu quả thật Ḍng Cát Minh đă một mực trung thành với qui tắc chính yếu là nguyện gẫm, hồi tâm sống kết hiệp với Thiên Chúa , mà đồng thời vẫn không từ bỏ việc tông đồ, th́ có lẽ cuộc cải tổ của Thánh Têrêsa đă chẳng cần thiết. Cuộc cải tổ ấy đă cho thấy thật rơ điểm vô cùng chính yếu trong linh đạo Cát Minh, là phải giữ vững ưu vị của chiêm niệm đối với hoạt động th́ mới có thể duy tŕ nguyên vẹn lư tưởng thật của ḿnh. Để phục hồi lư tưởng này, Thánh Têrêsa sẽ sống “một ḿnh với Đấng duy nhất”, đặt nội qui chặt chẽ cho con cái ḿnh ; Thánh Gioan Thánh Giá, vị tiến sĩ lỗi lạc về đời sống kín ẩn trong Thiên Chúa, sẽ hy sinh đời ḿnh cho lư tưởng ấy. Phải cần đến cả thiên tài, các cố gắng và đau khổ của hai vị đại thánh ấy, để tinh thần nguyên tuyền của thuở ban đầu được tươi nở trở lại trong Đức Bà núi Cát Minh .


 

[1]

[2]

[3] Xh 3,14

[4] Xh 33,11

[5] Xh 33,18

[6] 1V 19,12

[7] Os 11,14

[8]

[9]

[10] 1V 17,1

[11]

[12] Về sự hoàn thiện và suy thoái của đời tu

[13]

[14] Hc 24,20

[15] Is 35,1

[16] 1V 17,1 ; 2V 2,6.

[17] Thể chế của các đan sĩ tiên khởi ch. 2

[18] 1V 19,10.18

[19] Qui luật Cát Minh

[20] Qui luật Cát Minh

[21] Tinh thần đaích thực của Ḍng Cát Minh  1658

[22] Francois de St-Marie : Qui luật Ḍng Cát Minh và tinh thần của  Qui luật  ấy -NXB. le Seuil 1949, tr 33

[23] Qui luật Cát Minh

[24] Qui luật Cát Minh

[25] Qui luật Cát Minh

[26] P. Francois de St-Marie, nt, tr 88

[27]  St. Jean de la Croix

[28] Hiến pháp đầu tiên ở Ư

[29] P. Francois de Ste-Marie- nt- tr 112

[30] 1V 18,44

[31] Is 35,2

[32] Lc 2,19

[33] Vididarium trong ‘Speculum Carm’ số 599

[34] J. Bacon thorp

[35] R. Elisée de la Trinité ocd : Đời sống tôn sùng Đức Maria, trong Ḍng Cát Minh, trong ‘Maria’ tập 2,tr. 839, NXB .Beauchesne

[36] Thánh Thomas IIa IIae.188, a,6

[37] P. Bruno de J.M. tr. 5-8