Chương Bảy: TRƯỜNG PHÁI CÁT MINH
Phần Bốn
Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu.
Những ai lưu ư đến đời sống và học thuyết của đứa con Ḍng Cát Minh chết năm hai mươi bốn tuổi này đều phải ngỡ ngàng thán phục. Thật vậy, họ thấy sự đóng góp của ngài vào trong nền linh đạo vừa độc đáo lại vừa đúng truyền thống cách sâu xa. Họ cũng khám phá ra rằng sứ điệp của ngài, tuy mang tính đơn sơ của Tin mừng, nhưng có một cấu trúc thiêng liêng vừa vững chắc, vừa rất quân b́nh về mặt thần học.
Đành rằng cấu trúc ấy sử dụng các yếu tố chân chính nhất của Ḍng Cát Minh, nhưng Têrêsa đă sắp xếp chúng theo thiên tài riêng của ḿnh. Hơn thế nữa, với một bản năng rất chắc chắn do Thánh linh ban cho, ngài đă biện biệt và đôi khi c̣n t́m lại được cách tài t́nh tinh thần Cát Minh tinh ṛng nhất.
Thánh Têrêsa đă thực sự thể hiện cái tinh thần vừa nội tâm vừa đầy sức chiếu tỏa ấy. Ngài đă yêu mến sự tuyệt đối và sự sống tuyệt đối của t́nh yêu, nên đời sống ấy có một cường độ và một sự sung măn lạ lùng. Hơn thế nữa, đời sống c̣n được sắp xếp theo một số nguyên tắc thiêng liêng rất mạch lạc vốn làm nên một học thuyết thật sự : đó “là con đường thơ ấu” mà ta phải thử nêu ra các đặc điểm.
Học thuyết này là kết quả của một sự tái khám phá sứ điệp trung tâm của Tin mừng, mà ta có thể phát biểu như sau, “Trong Chúa Kitô, chúng ta là con cái Thiên Chúa và chúng ta phải yêu mến Cha chúng ta trên trời với một t́nh con thảo đầy tin cậy và phó thác”.
Chúa Kitô đă dạy rằng Thiên Chúa là Cha chúng ta, Thánh nữ Têrêsa hết sức xác tín về giáo huấn đó và muốn sống giáo huấn đó với tất cả tầm quan trọng của nó.
Với sự sâu sắc của ngài, Têrêsa hiểu rằng giáo huấn ấy bao gồm hai mặt bổ túc cho nhau : ư thức sắc bén về t́nh phụ tử của Thiên Chúa đối với chúng ta, và sự cần thiết phải phát triển nơi ta một thái độ con thảo và một sự tin tưởng tuyệt đối với Thiên Chúa là Cha chúng ta.
Sở dĩ Têrêsa tin tưởng tuyệt đối vào ḷng nhân từ của Cha trên trời, chính v́ Thiên Chúa là Cha và người Cha ấy là Thiên Chúa. Ngài đi đến khẳng định thiết yếu này : “Người ta không bao giờ tin cậy đủ vào Thiên Chúa, Đấng thật quyền năng và giàu ḷng thương xót”.
Do dó, ta hiểu rằng nơi miệng ngài, cầu “Thiên Chúa nhân từ là Bố” chẳng có ǵ là trẻ con. Trái lại, nó cho thấy sự đơn sơ của ngài và sự thân mật của ngài với Thiên Chúa, một ḷng tin cậy tuyệt đối đến mức ngài dám nói : “con biết rất rơ về ḷng thương xót của Người”[1].
Người ta có thể tưởng rằng sở dĩ Têrêsa có ḷng tin cậy như thế là v́ ngài đă được biết ḿnh “không hề phạm tội trọng bao giờ”. Nhưng ngài vội cải chính ngay : “Thưa mẹ, xin Mẹ biết cho rằng dù con có phạm hết các tội ác có thể phạm th́ con người vẫn tin cậy như vậy. Con cảm thấy rằng vô số sự xúc phạm của con chỉ như một giọt nước rơi vào ḷ lửa đang cháy[2]. “Làm sao ḷng tin cậy của con có thể có giới hạn được ?[3].
Chắc chắn Thánh Têrêsa không thể đạt đến mức độ đó, nếu chính ngài không cảm nghiệm cách sâu xa t́nh yêu của Thiên Chúa. Dù ngài luôn luôn phủ nhận rằng ḿnh đă đi qua những đường lối phi thường, và không bao giờ nhấn mạnh đến các ơn được ban cho ḿnh, nhưng ta không thể nghi ngờ rằng ngài đă đạt đến một đời sống thần bí rất cao, trong đêm tối đau khổ nhất của ḷng tin.
Nhưng điều đó có thể khiến ta tưởng lầm, đó là đời sống thần bí ấy đă diễn ra dưới dáng vẻ cố ư không vẻ vang và đơn sơ của con đường thơ ấu thiêng liêng. Thánh Têrêsa chủ trương không làm một điều ǵ mà các “tâm hồn bé nhỏ” không thể bắt chước được. Như thế nghĩa là ǵ ?
Thánh Têrêsa vốn có những ước vọng bao la, nhưng không bao giờ chịu nhận ḿnh có thể được xếp vào loại các tâm hồn lớn, hay có đủ sức thực hiện những việc vĩ đại như các thánh mà người ta nêu gương cho ngài. Thế nên ngài phải t́m ra một phương thế xứng hợp với sự nhỏ bé, yếu đuối mà ngài luôn ư thức cách sâu xa đó. Và hơn thế nữa, c̣n dựa trên chính sự yếu đuối đó. Há thánh tông đồ chẳng nói : “Chính khi tôi yếu là lúc tôi mạnh” đó sao ?[4]. Bấy giờ ngài t́m trong sách Tin mừng và gặp được lời của Thầy ḿnh: “Nước Trời thuộc về các tre thơ và những ai giống như chúng”[5].
Một lời khẳng định như vậy rất phù hợp với sự hiểu biết của ngài chẳng những về sự yếu đuối của ḿnh, mà c̣n về t́nh phụ tử của Thiên Chúa, nên đó là một tia sáng cho ngài, làm cho ngài liên kết tinh thần thơ ấu với niềm tin cậy vào t́nh phụ tử của Thiên Chúa: Những cuốn sách hay ho mà con không thể hiểu được, và lại càng không thể đem ra thực hành, th́ con xin để cho các tâm hồn lớn, những trí óc lớn, con vui mừng v́ ḿnh bé nhỏ, bởi v́ các trẻ thơ và những ai giống như chúng mới được nhận vào bàn tiệc trên trời; con rất sung sướng v́ trong Nước Thiên Chúa có nhiều chỗ ở, v́ nếu chỉ có những chỗ mà con không thể hiểu nó như thế nào và phải theo con đường nào để tới đó, th́ chắc là con chẳng vào được đó”[6].
Con đường của Têrêsa là như thế, chính Thiên Chúa đă chỉ cho ngài con đường ấy và quả quyết nó hữu hiệu. Têrêsa sẽ tiến bước không chao đảo, và mạnh dạn rút ra tất cả các hệ quả.
Chắc chắn điểm đặc thù của trẻ thơ là sự yếu ớt của chúng. Nhưng sự yếu ớt ấy lại là một bảo đảm vững chắc nhất đối với những ai săn sóc và yêu thưong chúng. Têrêsa luôn nhớ một đoạn của ngôn sứ Isaia mà ngài đă chép vào sổ tay: “Các ngươi sẽ được cho bú sữa, được bồng ẵm trên ḷng, nâng niu trên đầu gối, như người mẹ an ủi con, Ta cũng sẽ an ủi các ngươi”[7].
V́ đă cảm nghiệm cho chính ḿnh t́nh “mẫu tử” của Thiên Chúa, và biết rằng đứa con càng bé nhỏ th́ nó càng có thể tin vào một sự trợ giúp nhân lành và chăm sóc ân cần, nên Têrêsa cố giữ ḿnh bé nhỏ,nghĩa là không lo lắng về sự bất lực của ḿnh, nhưng trái lại, lấy làm vui sướng về điều ấy: “Con hạnh phúc biết bao khi thấy ḿnh bé nhỏ và yếu đuối. Con sung sướng biết bao khi thấy ḿnh bất toàn”. Ngài sẽ không dựa vào công lao của ḿnh, sẽ không “dự trữ” và cũng sẽ không nản ḷng v́ sa ngă.
“Phải giữ ḿnh bé nhỏ trước Thiên Chúa, nghĩa là nhận biết sự hư vô của ḿnh, chờ đợi mọi sự từ nơi Thiên Chúa nhân từ như một đứa trẻ thơ chờ đợi tất cả từ nơi cha nó; là không lo lắng về điều ǵ, không làm giàu. Ngay trong giới nhà nghèo, cha mẹ cũng lo cho con được đầy đủ khi nó c̣n nhỏ, nhưng khi nó đă lớn, cha nó không muốn nuôi nó nữa; ông nói: “Hăy làm việc đi, v́ giờ đây con có thể tự túc được”. Để đừng bao giờ phải nghe câu ấy, con không muốn lớn lên, v́ cảm thấy ḿnh không thể t́m được sinh kế để được sống đời đời. Thế nên con cứ nhỏ bé măi, không làm ǵ khác hơn là hái những bông hoa yêu thương và hy sinh, dâng cho Thiên Chúa để làm vui ḷng Ngài”.
Bé nhỏ c̣n có nghĩa là không bao giờ tự gán cho ḿnh những nhân đức ḿnh đang tập v́ tưởng ḿnh có thể làm được ǵ, nhưng nhận rằng Thiên Chúa đă đặt các kho tàng ấy vào tay đứa con nhỏ của Người để nó sử dụng khi cần, nhưng đó vẫn luôn là kho tàng của Thiên Chúa.
Sau cùng, có nghĩa là không nản ḷng v́ các lỗi lầm của ḿnh, bởi v́ trẻ con hay té, nhưng nó c̣n quá nhỏ để có thể gây nhiều đau đớn cho ḿnh”[8].
Đó là một trực giác tài t́nh, đưa đến nhiều áp dụng phong phú cho đời sống thiêng liêng.
Cách riêng, trực giác này sẽ giúp
Têrêsa tiến trên con đường tin cậy: sự tin cậy này không chỉ là một nhân đức,
nhưng thực sự là đức cậy đối thần đang sống động trong ta. Ngài đă
dạn dĩ đi đến cùng niềm hy vọng đó và không muốn đặt một giới hạn nào cho ḷng
thương xót của Thiên Chúa đối với những ai thảo hiếu tin tưởng nơi Người. Têrêsa
viết cho một chị khác:“Chị chưa tin cậy đủ, chị quá sợ Thiên Chúa. Em khẳng định
với chị rằng như thế đă làm cho Người buồn. Chị đừng sợ luyện ngục v́ ở đó người
ta phải đau đớn, nhưng nên ước muốn ḿnh không phải đến đó để làm vui ḷng Thiên
Chúa, v́ Người rất cực ḷng khi phải xử dụng đến h́nh phạt này. Nếu trong mọi sự
chị t́m cách làm vui ḷng Người, nếu chị tin tưởng vững chắc rằng Người hằng
thanh luyện chị trong t́nh thương của Người và Người không để lại nơi chị một
dấu vết tội lỗi nào cả, th́ chị có thể tin chắc ḿnh không phải xuống luyện
ngục”[9].
Ngài c̣n viết :“Ôi
chị làm em
buồn biết bao, chi xúc phạm đến Thiên Chúa khi nghĩ ḿnh phải xuống luyện ngục.
Khi ta yêu th́ không thể có luyện ngục”[10].
“Đối với những lễ vật của t́nh yêu th́ dường như không có phán xét, hay đúng hơn, Thiên Chúa vội vàng dùng những hạnh phúc đời đời để ban thưởng chính T́nh yêu của Người đang bừng cháy trong ḷng họ”.
Sự tin cậy của Têrêsa vào ḷng nhân từ vô biên của Thiên Chúa đưa ngài đến một xác tín khác, cũng có căn bản thần học vững vàng như xác tín trên; rằng dù Thiên Chúa phân phát ân huệ của Người một cách không đồng đều, nhưng đó là do cùng một t́nh yêu”. Rất lâu, con đă tự hỏi tại sao các tâm hồn không được lănh nhận cùng một mức độ ân sủng. Chúa Giêsu đă không giải thích cho con mầu nhiệm này. Người đă đặt trước mặt con cuốn sách thiên nhiên và con hiểu rằng mọi loài hoa Người dựng nên đều đẹp cả, rằng nếu các loài hoa nhỏ đều muốn trở thành hoa hồng cả,th́ thiên nhiên sẽ mất đi vẻ đẹp mùa xuân. Trong thế giới các linh hồn là mảnh vườn sống động của Chúa, cũng thế”[11]. “T́nh yêu của Thiên Chúa cũng được tỏ lộ trong một tâm hồn đơn sơ nhất, không chống lại ơn Chúa cũng như trong một tâm hồn cao cả nhất vậy”[12].
Sau cùng, sự tin cậy vào Thiên Chúa dẫn Têrêsa, qua con đường nghèo khó về tinh thần và con đường quên ḿnh, đến một đời sống thiêng liêng ngày càng được đơn giản hóa cách lạ lùng. Thật vậy, làm sao Ngài chẳng thấy rằng Nước Trời không những ban cho trẻ thơ, mà c̣n cho những ai khó nghèo về tinh thần nữa: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, v́ Nước Trời là của họ”[13]. “Nếu anh em không trở nên giống như trẻ nhỏ, anh em sẽ không được vào Nước Trời”[14]. “Hăy để trẻ nhỏ đến với tôi, v́ Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng”[15].
Têrêsa đă sống sự thơ ấu thiêng liêng thế nào, ngài cũng sống tinh thần khó nghèo như vậy... Ngài ước muốn chỉ là một đứa con nghèo, chờ đợi mọi sự từ nơi cha nó, và chính v́ nghèo mà được cha ban cho mọi sự. Ngài sẽ vun trồng sự nghèo khó ấy, không muốn có ǵ riêng tư, ngay cả những công lao nữa. “Chỉ có một cách để bắt buộc Thiên Chúa đừng phán xét thôi, là đến với Người hai bàn tay trắng”. “Khi con nghĩ đến câu này: 'Ta sắp đến thưởng công cho mọi người theo việc họ làm, con tự nhủ : hẳn Người sẽ lúng túng v́ con lắm, bởi con chẳng có công ǵ. Thế nên Người sẽ ban thưởng con theo chính công việc của Người”.
Quên ḿnh, không cậy dựa vào điều ǵ, nghèo thật :” Phải bằng ḷng nghèo nàn và bất lực luôn luôn. Đó là điều khó. “Con luôn mong đừng được ai biết đến, con say mê sự quên lăng” “đừng dựa vào điều ǵ cả”. Têrêsa đă đạt đến mức từ bỏ tột cùng, nhưng bằng con đường bé nhỏ riêng của Ngài, khiêm tốn và kín đáo: “Con cảm thấy rằng không phải những ước muốn lớn lao của con là điều đẹp ḷng Thiên Chúa nơi linh hồn bé nhỏ của con đâu; điều đẹp ḷng Người chính là thấy con yêu mến sự nhỏ bé và nghèo nàn của ḿnh, là ḷng trông cậy mù quáng của con vào ḷng thương xót của Người, đó là kho tàng duy nhất của con. Ta càng yếu đuối, không ước muốn, không nhân đức th́ càng dễ đón nhận tác động của t́nh yêu thiêu đốt và biến đổi” “Thiên Chúa vui ḷng về điều Người làm được nơi một tâm hồn khiêm tốn chấp nhận sự nghèo nàn của ḿnh, hơn là về việc tạo dựng hàng triệu mặt trời và vũ trụ bao la”.
Têrêsa vui sướng vào sâu trong sự khó
nghèo triệt để ấy. “Chỉ cần ta nhận ra sự hư vô của ḿnh và phó thác như trẻ thơ
trong tay Thiên Chúa”[16].
Têrêsa tự do đối với chính ḿnh cách tuyệt vời nên cũng tư do tuyệt vời cho
Thiên Chúa. Tâm hồn ngài rộng mở không giới hạn để đón nhận t́nh yêu Thiên Chúa.
Thật vậy, điều ngăn cản Thiên Chúa đến với ta là để “những đợt sóng yêu thương
của Người vào trong tâm hồn chúng ta”, chính là việc chúng ta không dành cho
Người chỗ Người muốn có. Chỉ sự nghèo khó cộng với ḷng tin cậy mới cho phép
Người thực hiện nơi ta những ước muốn do t́nh thương của Người. Thánh Têrêsa đă
yêu đến một mức khó thực hiện và càng khó diễn tả hơn nữa. Ngài muốn “yêu mến và
làm cho t́nh yêu được yêu”, nhưng có lẽ Ngài c̣n muốn được t́nh yêu vô biên ấy
yêu thương hơn nữa”. Ta sẽ hiểu lư do sâu xa khi nhớ lại câu sau đây của ngài
:“Công lao không hệ tại ở chỗ làm nhiều hay cho đi nhiều, nhưng ở chỗ đón nhận
nhiều và yêu mến nhiều. Thật đúng là cho th́ êm ái hơn nhận đấy, nhưng nếu Chúa
Giêsu muốn dành cho Người sự êm ái của việc cho đi th́ ta không nên từ chối. Hăy
để cho Người lấy đi và ban tặng những ǵ Người muốn “lấy đi và ban tặng, trong
cả hai trường hợp, Têrêsa vẫn nghèo để có thể đón nhận t́nh yêu mà Thiên Chúa
khát khao tuôn đổ vào ḷng ngài. “Con nài xin Chúa để cho những đợt sóng yêu
thương vô biên đang bị giam hăm nơi Ngài được tràn lan trong tâm hồn con, và như
thế con được chết cho t́nh yêu Chúa” và chính bởi Têrêsa không giữ lấy, nhưng
luôn gieo văi t́nh yêu ấy trên những người khác “phần con, dù con có sống đến 80
tuổi, con vẫn nghèo như vậy,
con không biết để dành, tất cả những ǵ con có, con đều tiêu ngay để mua lấy các
linh hồn”[17].
Thánh Têrêsa đă thật sự được t́nh yêu Thiên Chúa xâm chiếm, v́ thế đời sống ngài mang lại nhiều hoa trái. Ḷng bác ái nơi Ngài mặc lấy hai đặc tính luôn luôn đi đôi với nhau : yêu mến Thiên Chúa và yêu mến anh em. Khi thấy t́nh bác ái huynh đệ thật thực tiễn, tế nhị và anh hùng của Ngài, kết quả của t́nh yêu đối với Thiên Chúa, trung thành dâng hết cho Người, “không từ chối Người điều ǵ từ khi lên ba tuổi” và âm thầm chịu mọi đau khổ v́ yêu mến Người và yêu mến các linh hồn, không ai c̣n có thể đối chọi chiêm niệm với hoạt động, cầu nguyện với việc tông đồ, phụng sự Thiên Chúa với phụng sự Giáo Hội nữa.
Tuy nhiên đă sống hết mức sự tin cậy và phó thác, Têrêsa vẫn luôn có những cố gắng cụ thể nhất và quảng đại nhất.
Chính bằng con đường tin cậy và trung thành ấy mà Thiên Chúa đă có thể ban cho ngài cách sung măn sự sống của chính Người để biến đổi tâm hồn Têrêsa và mở rộng nó ra theo chiều kích của t́nh yêu vô biên của Thiên Chúa.
Têrêsa quả thật là con cái của Êlia, nên ngay từ đầu đời tu, ngài đă có tinh thần tông đồ rất nhiệt thành. Há chẳng phải v́ yêu mến các linh hồn, cách riêng linh hồn các linh mục mà ngài đă vào Ḍng Cát Minh đó sao ? Để cứu họ, ngài đă muốn thực hiện đủ các ơn gọi : rao giảng, tông đồ, truyền giáo, tử đạo.
Tuy nhiên, chỉ sau khi đă dâng ḿnh cho Thiên Chúa chiếm hữu và cho t́nh yêu thương xót của Người, Têrêsa mới khám phá ra ơn gọi Thiên Chúa dành cho ḿnh.
“Con đă hiểu rằng t́nh yêu bao gồm tất cả mọi ơn gọi. Con cảm thấy mọi ước muốn của ḿnh đều được thực hiện. Ơn gọi của con, con đă t́m ra rồi. Trong ḷng Giáo Hội, Mẹ con, con sẽ là t́nh yêu”.
Và cũng chỉ từ lúc đó mà ơn gọi của Têrêsa mới đạt hết mức tông đồ và chứng tỏ sự phong phú vô hạn của nó. Thật vậy, từ đây Têrêsa chỉ c̣n nghĩ và nói bằng từ phổ quát : “Khi ở trên thiên đàng, con sẽ làm ích cho trần gian”. Vâng, cho đến khi nào đủ số người được chọn, con mới có thể nghỉ ngơi”.
Như ḍng máu trào vọt từ tim và chảy khắp toàn thân để làm cho toàn thân được sống, tinh thần tông đồ ấy cũng trào vọt từ t́nh yêu đă xâm chiếm Têrêsa và lan ra khắp Giáo Hội. Từ căn pḥng nhỏ của Têrêsa, như một máy phát tuyến, ngày đêm tuôn ra những làn sóng diệu kỳ. Những tâm hồn được chúng chạm đến không hiểu chúng từ đâu tới. Họ chỉ thầm th́ “Có một ai đó đă cầu nguyện cho chúng tôi”[18].
Têrêsa đă cho ta biết bí quyết của sự lan toả t́nh yêu và sự phong phú về mặt tông đồ đó : t́nh yêu của ngài là một t́nh yêu bị đóng đinh vào Thập giá. Khi dâng ḿnh cho t́nh yêu thương xót, ngài đă chấp nhận hết mọi khổ đau, thử thách. Từ nay chúng sẽ ghi dấu trên cuộc đời ngài. Từ khi “t́nh yêu đă tràn vào xâm chiếm ngài”, th́ khổ đau cũng vồ lấy ngài như một con mồi. Của lễ toàn thiêu đă được chấp nhận. T́nh yêu sẽ thiêu đốt thân xác ngài bằng một thử thách kinh khủng về đức tin : “Một bức tường dâng cao đến tận trời và che khuất Thiên Chúa đối với con”. “Mẹ ôi, con không ngờ có thể đau đớn tới mức ấy. Con chỉ có thể giải thích điều đó bằng ước muốn cứu các linh hồn của con.
Nhưng biết rằng Thiên Chúa chưa bao giờ chứng tỏ t́nh yêu của Người đối với ḿnh đến mức đó, và biết rằng các thử thách như vậy cũng cho phép ḿnh chứng tỏ t́nh yêu đối với Người, nên Têrêsa anh dũng, quảng đại và vui sướng đón nhận chúng. “Con không muốn đau khổ ít hơn”. Têrêsa sẽ dâng các đau khổ ấy cho các linh hồn, cho đến khi kiệt sức. “Con chấp nhận... cho một vị thừa sai”.
Khi từ giă chúng ta, Têrêsa không chỉ cam kết sẽ giúp ta cách hữu hiệu tuyệt vời... “V́ ở dưới đất này, con đă không hề làm theo ư ḿnh, nên ở trên trời Thiên Chúa sẽ làm theo ư con mọi sự”, ngài cũng dạy ta phương thế đă giúp ngài thực hiện cách sung măn ơn gọi chiêm niẹm và tông đồ của ḿnh: “Con không hối hận v́ đă dâng ḿnh cho t́nh yêu”.
Khi nh́n ngắm cuộc đời Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, người ta phải ngạc nhiên v́ sự đơn giản và trong sáng diệu kỳ của nó. Người ta bị thu hút khi t́m lại trong đó không những giáo huấn tinh ṛng nhất của Tin mừng, mà c̣n chính Chúa Kitô nữa. Người ta cũng nhận thấy Têrêsa có một sự thống nhất về mặt thiêng liêng rất mạnh mẽ và sâu sắc. Thật vậy, nơi Têrêsa, lời nói, hành động , đau khổ, sống và chết đều nằm trong cùng một đường hướng, có một sự sung măn như nhau. Theo gương Thầy ḿnh, Têrêsa rất “thực”, con người và sứ điệp của ngài đồng nhất với nhau. V́ thế bản năng của người Kitô hữu đă không lầm, khi hướng về Thánh Têrêsa để t́m một linh đạo đi sát và làm một với đời sống. Nét độc đáo của Chị nữ tu Ḍng Kín chết năm hai mươi bốn tuổi ấy là đă để lại cho người thời đại chúng ta một học thuyết linh đạo vừa nhập thể vừa siêu nhiên nhất. Siêu việt và nội tại. Đời sống của Têrêsa nối dài sứ điệp Tin mừng giữa chúng ta. Có lẽ v́ thế mà ḷng sùng kính ngài đă vượt ra ngoài biên giới nước Pháp, trở nên phổ quát khắp thế giới, v́ tinh thần của Têrêsa là tinh thần thật sự phổ quát.
Thánh Têrêsa đă đem lại cho đời sống thiêng liêng một cường độ và hiệu quả siêu nhiên tối đa. Với một số phương tiện tối thiểu, ngài đă sống cả đời chiêm niệm lẫn tông đồ. Ngài thành công trong cả hai lănh vực đó một cách “thuần tuư và đơn giản”.
Không phải chỉ có thời đại chúng ta, một thời đại ưa hướng đến hiệu năng, ngay cả trong lănh vực thiên liêng, mới lưu ư đến thành công đó, nhưng tất cả đời sống Kitô hữu nói chung đă được phong phú thêm nhờ có một con đường mới, vừa nhanh chóng, vững vàng, vừa đúng Tin mừng, để đi đến sự thánh thiện.
Thánh Têrêsa đă lănh nhận từ linh đạo của Ḍng Cát Minh phần lớn những vốn liếng ngài đă sử dụng, và ai không nối kết ngài với gia đ́nh tu của ngài hay giảm thiểu phần ngài lănh nhận từ đó, là đă thiếu sót, nhưng ngài cũng đă làm giàu cho gia sản này. Ngài đem đến cho chúng ta một lối sống thiêng liêng rất đơn giản, rất tóm gọn vào cái thiết yếu, rất uyển chuyển, trong sự phó thác tuyệt đối cho t́nh yêu, rất quảng đại trong sự hiến dâng cho Giáo Hội và cho anh em ḿn ; ngài đă biến đời sống ḿnh thành một thực tại vừa gần gũi chúng ta, vừa đắm ch́m trong Thiên Chúa, đến mức khi ngửi mùi hương của bông hoa Ḍng Cát Minh ấy, là người ta được ngửi hương thơm của sự sống đời đời.
[1] Chuyện một tâm hồn, ch.10.
[2] Novissima Verba, tr.60.
[3] Thư ngày 14/9/1896
[4] 1Cr 12,10.
[5] Mt 19,14.
[6] Thư ngày 15/5/1897 gửi cha Roulland.
[7] Is 66,12.
[8] Nivissima verba, 125 s.
[9] Trích trong một thư luân lưu Ḍng Cát Minh, kư tên mẹ Agnès, ngày 17-02-1924.
[10] Trích thư chị Marie de l'Eucharistie gửi M. Guérin ngày 8/7/1897.
[11] Chuyện một tâm hồn, ch. 1.
[12] Chuyện một tâm hồn ch.5.
[13] Mt 5,3.
[14] Mt 18,3.
[15] Mc 10,14.
[16] Thư ngày 9/5/1897.
[17] Chuyện một tâm hồn, Huấn dụ và ghi niệm.
[18] Lm Thellier de Poncheville.