Chương  Bảy: TRƯỜNG PHÁI CÁT MINH

Phần Năm

 

5. CẦU NGUYỆN VÀ CHIÊM NIỆM

                            TRONG D̉NG CÁT MINH

 Hơn tất cả mọi lư thuyết, đời sống và kinh nghiệm của những vị đại thánh Ḍng Cát Minh cho phép nắm được linh đạo của Ḍng. Thế nên chúng ta có thể ngừng tại đây. Tuy nhiên làm thế có thể khiến cho những nét đặc thù của linh đạo ấy, như sự nguyện gẫm và chiêm niệm, chưa được nêu rơ. Một kinh nghiệm nguyện gẫm lâu năm đă khiến Ḍng Cát Minh đưa ra được cả một học thuyết, chứ không phải là một phương pháp, về điểm này. Những cách thức nguyện gẫm, bản chất của chiêm niệm và đời sống thần bí, những vấn đề nó đặt ra, đă được sáng tỏ lần hồi trước tiên nhờ các tác phẩm của thánh Têrêsa và thánh Gioan Thánh giá. Chúng đă góp nhiều vào linh đạo của Ḍng. Do đó cũng nên nhắc qua, trước khi nêu lên trong phần kết luận, một vài đặc điểm của linh đạo Cát Minh.

Nguyện gẫm:

Những đoạn Kinh thánh liên quan đến ngôn sứ Êlia: “ Giavê là Đấng hằng sống, Tôi hằng đứng hầu trước nhan Người”.”Hăy ẩn ḿnh nơi ḍng thác Carith”. “Khi Êlia nghe tiếng ŕ rào nhè nhẹ , ông lấy áo choàng phủ lên ḿnh và bước ra đứng ở cửa hang”, từ lâu đời đă biểu tượng cho đời sống chiêm niệm và thần bí. Như ta đă thấy tác phẩm Thể chế của chúng chứng tỏ điều ấy. Bên cạnh sự t́m kiếm hoàn thiện, tức là mục tiêu thứ nhất của Ḍng Cát Minh, tác phẩm ấy c̣n cho thấy mục tiêu thứ hai không kém thiết yếu: đó là sự chiêm niệm. “Mục tiêu này được ban cho ta nhờ một ơn thuần túy của Thiên Chúa”.

“Nếm hưởng một cách nào đó, ngay từ đời này, trong ḷng ḿnh, và cảm nghiệm trong trí sự hiện diện mạnh mẽ của Thiên Chúa và vinh quang êm dịu trên trời. Điều đó được gọi là uống nơi ḍng thác hoan lạc của Thiên Chúa”. Vậy chiêm niệm cũng là mục tiêu của Ḍng Cát Minh. Vả chăng, huấn lệnh trung tâm của Quy luật: “Ngày đêm suy niệm luật Chúa” không thể hiểu theo nghiă mà ngày nay chúng ta gán cho khái niệm “suy gẫm”, đối chọi  với “chiêm niệm”. Điều Qui Luật dạy là một đời sống chiêm niệm, trong đó suy gẫm và chiêm niệm đều có chỗ đứng của riêng nó. Chúng phải giúp người tu sĩ Cát Minh luôn sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa.

Ḍng Cát Minh không những đă đóng góp cho học thuyết về nguyện gẫm những phong phú cho một kinh nghiệm lâu dài và sâu rộng. Qua các tác phẩm của những bậc linh sư như thánh Têrêsa và thánh Gioan Thánh giá, Ḍng Cát Minh c̣n cung cấp cho ta cả một tổng luận về các cách thức nguyện gẫm.

Suy niệm

Ḍng Cát Minh có lưu ư và dành một chỗ cho suy niệm. Trong cuốn”Đường lên núi”, thánh Gioan Thánh giá gọi đó là một hành động suy luận nhờ các h́nh ảnh do giác quan tạo nên: chẳng hạn như “h́nh dung Chúa Kitô bị đóng đinh, bị đánh đ̣n, hay một giai đoạn nào khác,[1]. Những suy nghĩ này  cần thiết cho người khởi sự.

Thánh Têrêsa cũng có nói đến, nhưng ca tụng ít hơn. Ngài nói: “Đó là một khởi điểm tốt”[2]. Nhưng ngài e sợ việc suy niệm sẽ giữ chặt các tâm hồn trong hoạt động trí thức. Điều ngài khuyến khích hơn là nguyện gẫm trong sự hồi tâm chủ động.” Sử dụng lư luận trong môt lúc th́ tốt, nhưng sau đó ta hăy bắt nó im lặng và ta hăy ở lại bên Chúa”[3], nguyện gẫm trong sự hồi tâm v́ ngài đ̣i tâm hồn “ tập trung mọi khả năng lại và rút vào trong chính ḿnh với Thiên Chúa”[4].” Giác quan rời khỏi các sự vật bên ngoài, và khinh chê chúng đến mức cặp mắt của thân xác tự động đóng lại để khỏi nh́n các tạo vật và cái nh́n của tâm hồn được thức tỉnh hơn[5]. Nguyện gẫm “chủ động”, v́ nó tùy thuộc ư chí chúng ta và ta có thể làm được nhờ ơn Chúa trợ giúp. Ở đây, tôi không nói đến sự im lặng của các khả năng nhưng là việc các khả năng ấy rút lui  vào nội tâm”. Khi ấy tâm hồn có thể
“suy niệm cuộc thương khó, h́nh dung Chúa Con, dâng Người cho Cha trên trời mà không phải mệt óc t́m kiếm Người trên Núi Sọ, trong vườn hay nơi cột trụ (chỗ người bị trói[6]. “Nếu cứ tiếp tục như thế trong vài ngày, và nếu chúng ta cố gắng nghiêm túc, th́ ta sẽ thấy ḿnh được lợi ích thế nào. Ngay khi  tâm hồn vừa bắt đầu cầu nguyện, nó đă thấy các giác quan tập trung lại như bầy ong trở về tổ để làm mật[7]. Việc các khả năng rút vào bên trong ấy cho phép ta sống thân mật với Thầy chí thánh và tṛ chuyện âu yếm với Người, đó là điều  thiết yếu của nguyện gẫm trong sự hồi tâm. “Hăy đối xử với Người  như với một người cha, một người anh, một người thầy và một người chồng”[8].

Đối với Thánh Gioan Thánh giá cũng như thánh Têrêsa, việc suy niệm phải ngày càng trở nên đơn giản hơn, đưa đến thinh lặng nội tâm. Tâm hồn phải tập lắng nghe lời Thiên Chúa nói với họ. Nó phải hồi tâm. Và  như  thế  là nó  đang  đi  trên  con  đường  dẫn  tới  chiêm  niệm.

Chiêm niệm

Đối với Thánh Gioan Thánh giá, chiêm niệm là sự  lưu tâm  khát khao và âu yếm đến Thiên Chúa, có quan hệ  với trí tuệ và ư chí, nhưng trước tiên phải dựa trên một sự đồng bản tính (connaturalité) thật sự với Thiên Chúa. Chiêm niệm vừa là hoạt động tối cao của tâm hồn, vừa là một sự thụ động dưới tác động của Thánh Thần. Để sẵn sàng chiêm niệm , tâm hồn phải tập dừng lại cách an b́nh trong Thiên Chúa, lưu tâm đến Người và âu yếm ngắm nh́n Người, không quan tâm đến  trí tưởng tượng và các hoạt động của nó, bởi v́ các khả năng nghỉ ngơi không làm việc cách chủ động, nhưng cách thụ động, đón nhận việc Thiên Chúa làm nơi chúng, và nếu thỉnh thoảng chúng có làm việc chút ít, th́ chẳng phải với những cố gắng hay diễn từ gượng gạo, nhưng với t́nh yêu dịu dàng do Thiên Chúa huy động hơn là do tài sức của tâm hồn”[9]. Vậy chiêm niệm là một tác động hiểu biết an b́nh và thanh thản, là cái nh́n khái quát và yêu thương hướng về Thiên Chúa. Và theo vị tiến sĩ thần bí th́ cái nh́n và hiểu biết như thể có được ở nơi tâm hồn là do ánh sáng
đức tin. Khi đă thoát khỏi những sự hiểu biết khả giác và suy lư,
tâm hồn bắt đầu chiêm ngưỡng Thiên Chúa trong đức tin và kết hợp với Người.

Từ suy niệm sang chiêm niệm

Để dẫn đưa từ suy niệm sang chiêm niệm, “Thiên Chúa phải hành động cách nhẹ nhàng khởi từ mức độ thấp nhất và từ các giác quan, để đưa tâm hồn theo cách của Người đến mục đích khác của sự khôn ngoan thiêng liêng, không nằm trong các giác quan[10]. Sự chuyển biến này xảy ra khi có” sự gặp gỡ giữa một hoạt động đă trở nên đơn giản, kết quả của suy niệm,
với ánh sáng mà Thiên Chúa ban cho”[11]. Sự  đơn giản hoá hoạt đông một  phần lớn là do tập quán: “Mục đích của suy niệm và nghiền ngẫm các sự thuộc về Thiên Chúa là để rút ra một vài hiểu biết  và t́nh yêu đối với Thiên Chúa. Mỗi lần nhờ suy niệm mà tâm hồn làm  như vậy, th́ đó là một hành động, và nhiều hành động sẽ đưa đến một thói quen[12]. “Khi ấy tâm hồn bước vào nguyện gẫm... được uống cách thoả thích, cách nhẹ nhàng, mà không phải kéo nước lên từ ống dẫn là những suy nghĩ những h́nh ảnh như trước nữa”[13]. Về phía Người, Thiên Chúa đổ vào tâm hồn ánh sáng của Người; nhưng điều đó đ̣i ta phải dập tắt những ngọn đèn của trí tưởng tượng và sự êm dịu mà chúng vẫn được nếm hưởng nơi Người theo ư chúng. Người để chúng ở trong tối tăm[14]. Chính khi ấy, Thiên Chúa chuyển sức lực của giác quan sang cho tinh thần. Tinh thần được vui hưởng, c̣n xác thịt th́ không được ǵ và thôi hoạt động, nhưng tinh thần được nuôi dưỡng, trở nên mạnh mẽ và tỉnh thức hơn, và cẩn thận hơn trước v́ sợ bội bạc với Thiên Chúa, tuy nhiên nó chưa cảm thấy ngay hương vị và sự khoan khoái thiêng liêng, nhưng chỉ thấy khô khan chán ngán do thay đổi c̣n mới mẻ”[15].

Khi nào th́ việc chuyển từ suy niệm sang chiêm niệm có thể xảy đến và phải xảy đến với tất cả sự thận trọng?
Thánh Gioan Thánh giá khách quan đưa ra ba dấu hiệu phải đồng thời xảy đến cho tâm hồn: -không thể suy niệm được nữa- không ưa thích một điều ǵ đặc biệt ngoài Thiên Chúa- Và thứ ba, dấu hiệu chắc chắn nhất, là tâm hồn ưa thích ở một ḿnh và
quan tâm đến Thiên Chúa một cách tŕu mến, không nghĩ ngợi ǵ khác, với sự b́nh an nội tâm, nghỉ ngơi, các khả năng không làm việc”[16].

Như mọi chuyển biến thâm sâu, việc chuyển từ suy niệm sang chiêm niệm này không xảy ra chớp nhoáng. Tâm hồn c̣n lưu lại ít lâu trong trạng thái mù mờ, trong đó chủ động gặp gỡ thụ động, ơn Chúa gặp gỡ sự tập luyện, hơn nữa, tâm hồn c̣n phải khiêm tốn chấp nhận trở về với sự suy niệm mỗi khi cần.Tuy nhiên sẽ đến một lúc, “điều mà trước kia  thỉnh thoảng tâm hồn rút tỉa ra bằng cách suy niệm một số quan niệm đặc biệt, từ nay trở thành thói quen để làm thành chất liệu cho một quan niệm âu yếm tổng quát  không từng phần như trước nữa... Hiệu quả là khi ra trước Thiên Chúa, tâm hồn liền có được một sự hiểu biết mù mờ, âu yếm và b́nh an, trong đó nó uống lấy sự khôn ngoan, t́nh thương và hương vị[17].

Như ta thấy , vị tiến sĩ thần bí miêu tả một cách hết sức tâm lư, các sắc thái của sự nguyện gẫm này, trong đó ơn Chúa và sự luyện tập gặp nhau . Trường phái của thánh Têrêsa cũng đă bênh vực sự nguyện gẫm này dưới tên gọi “ chiêm niệm đắc thủ”, một từ ngữ đă từng gây ra nhiều lẫn lộn lúc đầu. Thật ra, tâm hồn phải có một số chuẩn bị nếu nó muốn lợi dụng tối đa sự chiêm niệm vừa nhen nhúm, và chuẩn bị đó phải được dạy cho nó. Đó là việc thánh Gioan Thánh giá đă làm, cùng với các tác giả theo trường phái thánh Têrêsa, với học thuyết về sự chiêm niệm chủ động hay đắc thủ. Có lẽ nếu muốn rơ ràng, chúng ta nên dùng thuật  ngữ của vị tiến sĩ thần bí; ngài dạy rằng có một sự chiêm niệm nằm nơi biên giới của cảm nghiệm thần bí, rất thường được ban cho tâm hồn. Ánh sáng Thiên Chúa ban gặp gỡ hoạt động đă được đơn giản hoá. Nhưng ánh sáng người ấy lănh nhận chưa đủ mạnh để thu hút chặt tâm hồn. V́ thế nó phải chủ động hợp tác, nếu không sẽ rơi vào t́nh trạng duy thụ động. Đây là sự chiêm niệm vừa chủ động vừa thụ động, tùy thuộc Thiên Chúa lẫn tâm hồn, trong khi sự chiêm niệm đúng nghĩa th́ chỉ tùy thuộc Thiên Chúa mà thôi.

Chiêm niệm được ban cho và kết hiệp thần bí

Khi thánh Gioan Thánh giá và thánh Têrêsa nói đến “ chiêm niệm”, th́ luôn luôn là nói đến chiêm niệm được ban cho. Các ngài không biết đến một thứ chiêm niệm nào khác.

Đối với thánh Têrêsa, chiêm niệm là một trạng thái mà “chúng ta tự ḿnh không thể có được. Trong đó tâm hồn cảm thấy ḿnh thụ động”. Đối với thánh Gioan Thánh giá, chiêm niệm là “một sự hiểu biết yêu thương do Thiên Chúa ban, qua đó Người soi sáng tâm hồn và làm cho nó yêu, để nâng nó lên từng bậc cho đến Đấng tạo dựng nên nó”[18]. Sự phân biệt giữa chiêm niệm do tập luyện với chiêm niệm được ban cho (Thiên phú) chỉ được khai triển sau này.

 Thánh Têrêsa đặc biệt nhạy bén đối với sự thụ động đi kèm, theo sự hồi tâm siêu nhiên,và cảm nghiệm thần bí và ngài mô tả sự hồi tâm ấy như là việc Thiên Chúa lần hồi làm chủ mọi khả năng. Một tác động xuất phát từ trung tâm của tâm hồn, nơi Thiên Chúa ngự, xâm chiếm ư chí, (nguyện gẫm an tĩnh), rồi trí tuệ và trí tưởng tượng (giấc ngủ của các khả năng), ngày càng trở nên sâu xa và đưa đến sự thụ động hoàn toàn (nguyện gẫm kết hiệp). Khi ấy, tâm hồn đạt đến các cư  sở thứ sáu, và cùng với sự xuất thần th́ đạt đến sự đính ước thiêng liêng. Đến các cư sở thứ bảy, trong hôn lễ thiêng liêng , nó được nếm hưởng hoa trái của sự kết hiệp. Trong giai đoạn đính ước, sự sống thần linh thỉnh thoảng mới thay thế sự sống tự nhiên của tâm hồn (cư sở thứ năm), sự xâm chiếm ấy ngày càng thường xuyên hơn (cư sở thứ sáu) và sau cùng (cư sở thứ bảy), sự kết hiệp trở nên thường hằng. Sự kết hiệp được cảm nhận khi th́ chỉ ở tận đáy tâm hồn, khi th́ một cách mạnh mẽ trong toàn bộ tâm hồn, khiến tâm hồn đắm ch́m trong chiêm ngưỡng vị Hôn phu thần linh. Sự thụ động trong các cư sở cuối cùng ấy khiến tâm hồn chỉ c̣n có thể thưa vâng với Thiên Chúa .

Trong mức độ tân hồn chết đi đối với chính ḿnh, nó được sinh ra trong một đời sống thần linh vô cùng cao hơn trước. Nếu nó chấp nhận chết đi hoàn toàn, nó sẽ sống lại trong Thiên Chúa. “Chính v́ sự dâng hiến của ta chưa trọn vẹn nên ta chưa lănh nhận được ngay kho tàng của t́nh yêu Thiên Chúa”[19]. Thánh Têrêsa hiểu rằng cái chết và sự sống ấy chủ yếu được thực hiện sự kết hiệp với các ư muốn, c̣n kết hiệp xuất thần chỉ là một biểu hiện đặc biệt mà thôi. Các sự kiện thần bí ngoại thường, dù được thánh nữ mô tả rất nhiều và rất hay, vẫn không làm cho ngài quên rằng chúng chỉ là những phương tiện để làm cho công việc thanh luyện được tiến nhanh hơn, giật tâm hồn ra khỏi chính nó để ném nó vào trong Thiên Chúa . “Khi chị em đă được kết hiệp với Thiên Chúa nhờ đă từ  bỏ ư riêng để theo ư  Chúa , th́ chị em đă  được ơn kết hiệp rồi. Chị em đừng quan tâm đến cách thức kết hiệp êm dịu[20]. “Việc ư muốn chúng ta tuân phục Thiên Chúa... Đó là sự kết hiệp mà tôi đă ước muốn suốt đời và không ngừng xin Chúa ban cho”[21] .

Giáo huấn của thánh Têrêsa  cần được thánh Gioan bổ túc và xác định. Cách riêng, qua việc ngài mô tả đêm tối của giác quan, phân biệt suy niệm với chiêm niệm, và đêm tối của tinh thần, đau đớn hơn nhiều, đi trước sự nguyện gẫm kết hiệp, vị tiến sĩ thần bí đă rọi lên đời sống chiêm niệm một ánh sáng chói chan và đem đến cho nó một chiều sâu mới. Sự bất lực, cái trống rỗng mà tâm hồn cảm thấy, sự nhận biết nỗi khốn cùng của ḿnh, cảm tưởng bị Thiên Chúa  vĩnh viễn bỏ rơi, càng làm cho công việc lột trần và thanh luyện này được nhanh chóng và mạnh mẽ hơn. Chính sự thanh luyện ấy là điều kiện để con người được đổi mới và ơn Chúa được ban xuống cho nó.

Thánh Gioan Thánh giá quan tâm đến việc đưa ra ánh sáng những nguyên tắc biến đổi tâm hồn hơn là sự nối tiếp nhau của các trạng thái chiêm niệm (chung chung trùng hợp với cách tŕnh bày của thánh Têrêsa). Đối với thánh Gioan Thánh giá, sự tiến bộ trong đời sống chiêm niệm đ̣i hỏi một đời sống đối thần mạnh mẽ. Được ơn Chúa Thánh Thần trợ giúp để đưa tâm hồn từ cách hoạt động của cầu nguyện sang cách hoạt động của Thiên Chúa , đức tin, cậy, mến xuất hiện như những nguyên lư đích thực của sự biến đổi tâm hồn, đưa nó vào đời sống thần bí. Đời sống này chủ yếu là sự thần hoá tâm hồn. Thần hoá toàn bộ con người nhơ ân sủng và các nhân đức được ban cho, thần hóa hoạt động của nó nhờ một sự hiện thực hoá ngày càng sâu xa hơn các ơn Chúa Thánh Thần.

 Tác động thần linh chỉ ảnh hưởng đến các quan năng và hoạt động của chúng, nên để lại một phần nào sự chủ động tự phát cho tâm hồn, nhưng tác động này vốn mang dạng thức của một đụng chạm bản thể và nắm lấy tận đáy tâm hồn, bắt các quan năng của nó trở nên hoàn toàn thụ động. T́nh yêu say đắm là kết quả của một tác động thần linh đặc biệt mạnh mẽ sẽ đặt tâm hồn vào trong cuộc hôn lễ thần bí và sự chiêm niệm hoàn hảo. Ơn chiêm niệm hoàn hảo gồm có t́nh yêu và sự hiểu biết do Thiên Chúa ban; nhưng hai yếu tố ấy không luôn có cùng cường độ. Khi chúng được ban tràn đầy th́ đó là sự  đụng chạm kết hiệp[22]. Đối với vị tiến sĩ thần bí, các nhân đức đối thần và các ơn Chúa Thánh Thần là các nguyên lư căn bản của chiêm niệm và đời sống kết hiệp thần bí. Nhưng sự đụng chạm bản thể mới là đặc điểm của chiêm niệm hoàn hảo. “ Đó là một sự đụng chạm bản thể, nghĩa là giữa bản thể của Thiên Chúa với bản thể của tâm hồn... và cho nó được nếm hưởng phần nào hương vị của đời sống vĩnh cửu”[23]. Thánh Gioan Thánh giá đă mô tả cách vững chắc và tuyệt vời biết bao đời sống kết hiệp, đă nối kết các yếu tố của đời sống thần bí với các nguyên tắc thần học theo một lối tổng hợp tài t́nh. Nơi ngài, ánh sáng không thua kém t́nh yêu. Ngài quả thật là vị tiến sĩ thần bí ưu việt, là người được linh hứng để ca ngợi t́nh yêu Thiên Chúa.

Chiêm niệm và hoàn thiện

Ḍng Cát Minh cũng đă quan tâm đến việc xác định các tương quan giữ đời sống thần bí với sự thánh thiện, hay giữa chiêm niệm và sự hoàn thiện.

Đây là một mối quan tâm tự nhiên, theo đúng đường hướng của “thể chế các đan sĩ tiên khởi”. Như ta đă thấy: “Trong cuộc đời này chúng ta thấy có hai mục tiêu: một do ta đạt đến nhờ khổ công tập luyện các nhân đức với sự trợ giúp của ơn Chúa, đó là dâng lên Thiên Chúa một tấm ḷng thánh thiện sạch mọi vết nhơ tội lỗi; chúng ta làm được điều đó khi ta nên hoàn thiện và ẩn ḿnh trong ḷng mến... C̣n mục tiêu thứ hai được ban cho ta do một ơn nhưng không của Thiên Chúa; mục tiêu này hệ tại ở chỗ nếm hưởng cách nào đó trong ḷng và cảm nghiệm trong trí sự hiện diện mạnh mẽ của Thiên Chúa  và vinh quang êm dịu trên trời, không chỉ sau khi chết, mà ngay ở đời này. Người đan sĩ dấn bước vào đời ẩn tu là để chu toàn hai việc ấy”[24].

Vậy, nếu trong Ḍng Cát Minh cũng như mọi đời sống tu tŕ và mọi đời sống Kitô hữu, sự hoàn thiện do ḷng mến phải đựơc t́m kiếm trước tiên, th́ sự chiêm niệm do Thiên Chúa ban cũng được phải theo đuổi. Hiển nhiên ta không tự ḿnh có được sự chiêm niệm ấy, nhưng ta vẫn phải chuẩn bị để làm việc ấy. Ta có thể ước muốn nó cách chung chung. Hơn thế nữa, ta có thể hướng đến, mà không đ̣i hỏi. Trong Ḍng Cát Minh, bằng con đường hoàn thiện, có thể nói là tâm hồn quảng đại đi đón lấy ḷng quảng đại của Thiên Chúa trong lănh vực chiêm niệm.

V́ thế các tâm hồn cần được hướng dẫn bởi các vị linh hướng khôn ngoan và có kinh nghiệm về chiêm niệm. Thánh Gioan Thánh giá nhiều lần nhấn mạnh đến sự cần thiết ấy và đến trách nhiệm nặng nề của những ai, thay v́ hướng dẫn các tâm hồn trên những đường lối chông gai, th́ lại làm cho họ đi lạc hay ngăn cản bước tiến của họ. “Những người đó không biết Thần Khí là thế nào[25]. Ngài than phiền về sự mù quáng tai hại ấy, “hậu quả của nó không nhỏ và lỗi lầm của nó rất lớn, v́ như thế là họ làm các linh hồn bị thiệt tḥi rất nhiều. Trong vấn đề cao siêu như vấn đề trạng thái của các linh hồn, th́ thành công đem lại lợi ích vô cùng, cũng như trái lại, thất bại  gây ra thiệt tḥi cũng vô cùng,[26].

Hơn là những lời lẽ dài ḍng, các lời này của thánh Gioan Thánh giá cho thấy Ḍng Cát Minh coi trọng việc kết hợp với Thiên Chúa tới mức nào. Đúng là viên ngọc quí mà để có được, ta phải hy sinh mọi cái khác. Nó quí chỉ đối với linh hồn đó mà thôi, nhưng c̣n đối với tất cả mọi linh hồn, v́ theo sự thông hiệp của các thánh, mọi linh hồn đều được hưởng nhờ sự tiến bộ ấy trong ḷng mến. “Bậc thấp nhất trong ḷng mến tinh tuyền sẽ đem lại lợi ích cho Giáo hội nhiều hơn là tất cả mọi việc làm mà không có ḷng mến”[27].

KẾT LUẬN

Những đặc điểm của linh đạo Ḍng Cát Minh :

Guillaume de Sanvie, trong tác phẩm kư sự, cuối thế kỷXIII, đă viết :“Thể theo ước muốn của họ, họ được phép sống cuộc đời phụng sự Thầy chí Thánh và Đức Trinh Nữ Mẹ Người. Những lời ấy đă nêu rơ các đặc điểm và mục tiêu của Ḍng Cát Minh. Nhưng ta c̣n phải xem mục tiêu ấy, phụng sự Thiên Chúa trong cầu nguyện và tôn sùng Đức Maria, có được thực hiện trong một tinh thần vừa rất phổ quát lại vừa chuyên biệt không.

Chiêm niệm là một thực tại thuộc một lănh vực rơ rệt. Như Ḍng Cát Minh vẫn luôn luôn cảm thức. Nó đ̣i một số điều kiện về thinh lặng, cô tịch, hồi tâm. Nó cũng giả thiết một sự trần trụi nội tâm sâu thẳm. Trong khi thánh Têrêsa nhắc nhở rằng :” Ai có Thiên Chúa là có tất cả, chỉ ḿnh Thiên Chúa là đủ ”,th́ thánh Gioan Thánh giá lôi kéo chúng ta đi lên tận đỉnh núi, ngang qua một dăy những cái “không ǵ cả” và đi lên núi không ǵ cả đ̣i hỏi nơi tâm hồn một sự khó nghèo thiêng liêng trọn vẹn, cần thiết đối với những ai muốn có được Đấng là tất cả. Jean de
St Samson cũng nhấn mạnh rằng ai muốn sống theo “đúng tinh thần Cát Minh” th́ phải sống một t́nh trạng tinh tuyền. Bà Acarie cũng thường nhắc lại: “Ai chưa thấy Thiên Chúa là đủ th́ quá tham lam. Gần chúng ta nhất chị Elizabeth de la Trinité viết: “Sứ mạng của con trên trời sẽ là lôi kéo các tâm hồn và trong sự hồi tâm bằng cách giúp họ ra khỏi chính ḿnh để gắn bó với Thiên Chúa bằng một tác động rất đơn giản và êm ái: là giữ họ trong sự thinh lặng bên trong để Thiên Chúa có thể in dấu trên họ, biến đổi họ trong Ngài”.

Trần trụi, từ bỏ, khó nghèo, không ǵ cả, tinh tuyền, đơn giản... xuyên qua tất cả những chữ tự nhiên đến dưới ng̣i viết của các tác giả và các thánh Ḍng Cát Minh, có một thực tại tâm sâu đang t́m cách tự diễn tả; thực tại mà người tu Cát Minh cảm thấy tận đáy sâu tâm hồn cần phải có, cảm thấy ước muốn một sự trong suốt toàn diện, linh cảm hay kinh nghiệm rằng đó là điều kiện để Thiên Chúa chiếm hữu ḿnh. Tâm hồn giống như tấm cửa kính, ánh sáng Thiên Chúa luôn rọi vào... Vậy tâm hồn nhường chỗ (nghĩa là lột đi mọi tấm màn và mọi dấu vết của các thụ tạo bằng cách giữ ư ḿnh luôn kết hiệp với ư Thiên Chúa, bởi v́ yêu mến là nỗ lực lột bỏ v́ Chúa tất cả những ǵ không phải là Ngài) và nó liền được chiếu sáng và biến đổi trong Thiên Chúa (145). Vậy sự thanh luyện tâm hồn và sự khó nghèo thiêng liêng luôn được Ḍng Cát Minh coi như là điều kiện để tâm hồn có được một ơn trọng như thế, nên được mọi người nhiệt thành theo đuổi. Người ta sẵn sàng áp dụng cho nó những lời mà tác giả Sách Thánh nói về sự khôn ngoan: “Cùng với nó tôi được tất cả mọi của cải” (146) (Kng 7, 11)

Thật vậy điều đáng lưu ư là ở trong Ḍng Cát Minh, tất cả mọi sự, kể cả tinh thần tông đồ, đều là hiệu quả của việc Thiên Chúa xâm chiếm tâm hồn.

Một khi được tự do, hết mọi cản trở, được trở nên đơn giản, không c̣n quay lại với chính ḿnh và được thu hút bởi “điều duy nhất cần thiết”, tâm hồn sẽ mở ra cho t́nh yêu.” “Từ nay, công việc duy nhất của nó là yêu mến” (147) (Ca khúc thiêng liêng). Mọi cái c̣n lại đều chỉ là hậu quả.

Được dâng hiến cho Thiên Chúa, tâm hồn phó thác hoàn toàn nơi Người, tin tưởng Người trọn vẹn. Nơi nó, ḷng nhiệt thành tông đồ, ḷng yêu mến các linh hồn là bằng chứng ưu việt về sự hiện diện của Thiên Chúa đang thiêu đốt nó.

Ḷng mến trào vọt từ đời sống ẩn tu như ḍng nước trong vọt từ ốc đảo giữa sa mạc :” Tôi cháy bừng lửa nhiệt thành đối với Giavê các đạo binh ”.

Linh đạo Ḍng Cát Minh không phải vừa mang tính cách chiêm niệm vừa mang tính cách tông đồ, nhưng nó mang tính cách tông đồ v́ nó có tính chiêm niệm

Sở dĩ như vậy là v́ linh đạo Cát Minh hoàn toàn được đặt dưới tác động của Thánh Thần hoạt động ở mọi mức độ của đời sống thiêng liêng. Người như là nguồn mạch bên trong tâm hồn, như là nguyên lư mọi sự kết hiệp với Thiên Chúa, Người thanh luyện, soi sáng, hợp nhất, biến đổi. Người là Thần khí t́nh yêu.

Được đặt dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, tâm hồn nhờ đó trở nên hoàn toàn đơn giản trong thái độ phó thác cho hoạt động của Thiên Chúa, cảm nghiệm được sự liên tục thiêng liêng sống động, cũng như một đà vươn lên không ngừng được đổi mới.

Thánh Thần là nguồn mạch của cả đời sống chiêm niệm lẫn đời sống tông đồ. Người là Đấng lôi kéo con người hồi tâm để cầu nguyện, và là Đấng sai họ đi chinh phục thế giới. Thần khí của buổi Tiệc ly cũng là Thần khí của ngày Hiện xuống.

Xin ngự đến lạy Thánh Thần sáng tạo

và xin đổi mới mặt địa cầu.

Ḍng Cát Minh cũng nh́n Đức Mẹ trong cùng một viễn ảnh đơn giản, trần trụi và thống nhất đó. Coi đức Mẹ như h́nh ảnh của tâm hồn sống trước Thiên chúa. Sự tinh tuyền và đơn sơ của Đức Mẹ thu hút Ḍng Cát Minh. V́ Đức Mẹ là tâm hồn được Thiên Chúa đưa vào một sự thống nhất hoàn hảo và tuyệt đối. Nơi Mẹ, sự toàn năng của Thánh Thần được thể hiện cách đáng khâm phục, như nguồn mạch chiêm niệm và nguồn mạch tông đồ.

Nơi Đức Mẹ, Ḍng Cát Minh cảm nhận được lư tưởng ḿnh hướng tới và đang mời gọi ḿnh. Lư tưởng về một đời sống kết hiệp trong Thiên Chúa, kết hiệp với Chúa Kitô, bác ái hữu hiệu góp phần cứu độ nhân loại.

Đành rằng đối với Ḍng Cát Minh cũng như đối với mọi tâm hồn Kitô hữu, Đức Maria là người Mẹ. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu quả quyết :“Người là Mẹ hơn là Nữ Vương”. Nhưng c̣n hơn thế nữa, Người là “vẻ đẹp của Cát Minh”. Thế nghĩa là ǵ ? Qua danh hiệu bí nhiệm đó, Ḍng Cát Minh cố gắng diễn tả đức Mẹ là ǵ đối với ḿnh, Người là một phản ánh của ánh sáng vĩnh cửu ; nơi Mẹ, Thiên Chúa để cho ta chiêm ngưỡng và yêu mến Người; nơi Mẹ, ánh sáng thần linh không có bóng tối.

Nhờ đó ta hiểu tại sao trong Ḍng Cát Minh, hay ít ra là đối với một số người, Đức Maria được liên kết mật thiết với chính sự chiêm niệm. Nơi Mẹ, Chúa đă làm những việc vĩ đại. Tâm hồn tinh tuyền và trong sáng của Mẹ cho phép ta nh́n thấy Thiên Chúa hoạt động nơi Mẹ, và cho phép ta chiêm ngưỡng nơi Mẹ một phản ánh của vẻ đẹp thần linh.

Ta đă biết rằng tâm hồn trong suốt ấy là tâm hồn của Mẹ chúng ta. Người có sứ mạng đào tạo ta để sống kết hiệp với Thiên Chúa như Người đă sống. Làm sao đường ta đến với Thiên Chúa lại không qua Mẹ được ? V́ thế trong Ḍng Cát Minh luôn có một lối chiêm niệm, trong đó sự kết hiệp với đức Maria là một điều kiện thiết yếu để đạt tới đời sống nhiệm giao cao nhất, chứ không phải là một sự cản trở hay tŕ trệ.

“Nhờ chiêm ngưỡng Đức Maria... tâm hồn không v́ thế mà kéo ra khỏi sự gắn bó hay kết hiệp tức thời với sự Thiện tối thượng và chính yếu tính của Thiên Chúa, trái lại , tâm hồn được thu hút đến với Thiên Chúa cách dễ dàng hơn, và vững vàng hơn trong sự hiện diện với Người. Tất cả điều đó được thực hiện trong tâm hồn bởi cùng một Thánh Thần, là tác giả của đời sống với Mẹ Maria đó, và đời sống này sau cùng sẽ đưa đến đời sống nhiệm giao hoàn toàn” (148) (Michel de St Augustin : Đời sống theo gương mẫu của Đức Maria. Chúng ta biết cha Marie de St Augustin là vị linh hướng của người nữ tu Cát Minh nhiệm giao Marie de SteThérèse ( chết năm 1677 ) và các tác phẩm của ngài chịu ảnh hưởng người nữ tu ḍng kín này rất nhiều.)

Đó là các nét của linh đạo Ḍng Cát Minh , say mê khoảng trống và cô tịch, tự do nội tâm, đơn giản, thống nhất, dưới tác động của Thần khí T́nh yêu.

Một linh đạo như thế đ̣i phải có nền tảng là cảm thức về tuyệt đối để nâng tâm hồn vượt lên trên chính ḿnh và loi kéo nó lên tít trên cao.

Tuyệt đối của Thiên Chúa siêu việt khiến ta phải thờ lạy và khiến cho Ḍng Cát Minh hoàn toàn qui hướng về Người :” Con sẽ giữ mọi sức lực của ḿnh cho Chúa (Tv 58/10.thánh Gioan Thánh giá đă ba lần nhắc lại câu Thánh vịnh này). tuyệt đối của t́nh yêu bắt phải hy sinh mọi sự và biến mọi sự thành t́nh yêu :“Nơi nào không có t́nh yêu, bạn hăy đặt t́nh yêu vào đó và bạn sẽ rút ra được t́nh yêu”.

Khi hiến ḿnh phụng sự Thiên Chúa t́nh yêu, tâm hồn không chỉ yêu suông, nhưng c̣n cảm nghiệm, đau khổ v́ t́nh yêu ấy, và cuối cùng được biến đổi thành t́nh yêu.

Nhưng linh đạo Ḍng Cát Minh, khi đặt tâm hồn vào trong sự tự do và đơn sơ của con cái Thiên Chúa và dẫn nó đi lên các đỉnh cao, cũng đ̣i nó xem xét mọi sự dưới ánh sáng của các nguyên tắc khôn ngoan, tâm lư vững chắc nhất và điều độ. Sau cùng, linh đạo ấy, đánh giá chính sự nhiệm giao trên bàn cân Phúc âm với một óc thực tế vừa lành mạnh vừa siêu nhiên. ” Ai có giới răn của Ta và giữ lấy, chính là kẻ yêu mến Ta”. “Ai yêu mến Ta th́ Cha Ta sẽ yêu mến người ấy, chúng ta sẽ đến với người ấy và ngự nơi họ.”

Vậy linh đạo Ḍng Cát Minh vừa nội tại, vừa siêu việt, kết hiệp việc vươn lên đỉnh cao với một cảm thức sâu xa về tâm lư và một óc thực tế sắc bén. Chính v́ thế, trải qua các thế kỷ, linh đạo ấy đă tỏ ra có khả năng dẫn đưa các tâm hồn lên đỉnh núi thánh. Dù họ khác biệt nhau, nhưng linh đạo ấy đă giúp họ thực hiện được ơn gọi cần thiết và cao cả nhất của họ : “Vivere Deo”.


 

[1] Đường lên núi,II,12.

[2] Con đường hoàn thiện, ch.21.

[3] Tiểu sử, 13.

[4] Con đường, 30.

[5] Con đường, 30.

[6] Con đường 30.

[7] Con đường 30.

[8] Con đường 30.

[9] Đường lên núi, II, 12.

[10]  Đường lên núi, II, 17.

[11] P. Gabriel de Ste Marie Madeleine- Tự điển linh đạo, từ Cát   Minh”, col 182.

[12] Đường lên núi, II, 14.

[13] Đường lên núi,I, 14.

[14] Đêm tối, I,8.

[15] Đêm tối, I, 9.

[16] Đường lên núi II, 13.

[17] Đường lên núi II, 14.

[18] Đêm tối, II, 18.

[19] Tiểu sử XI.

[20] Lâu đài, cư sở 5, ch.3.

[21] Lâu đài, cư sở 5, ch.3.

[22] Đêm tối II, 12.

[23] Ánh lửa sống động, II, 14.

[24] Thể chế các đan sĩ tiên khởi, ch. 2.

[25] Ánh lửa sống động, II, 3.

[26] Ánh lửa sống động, III, 3.

[27] Thánh Gioan Thánh giá, Huấn dụ