Bài 3

 

NGÔN NGỮ CỦA THẬP GIÁ

TRONG CÁC THƯ PHAOLÔ

 

Lm. Gioan Boscô Cao Tấn Phúc

 

(LE LANGAGE DE LA CROIX DANS LES ÉCRITS PAULINIENS par Chantal Reynier)

 

Có bằng tiến sĩ thần học, Chantal Reynier dạy môn chú giải Tân ước tại Centre Sèvres ở Paris. Bà đă xuất bản: Evangile et mystère. Les enjeux théologiques de lEpitre aux Ephésiens (Paris, Cerf, 1992) và l’Evangile du Ressuscité. Une lecture de Paul (Paris, Cerf 1995).

Chúng ta có thể khám phá khuôn mặt nào của Thiên Chúa và khuôn mặt nào của con người trong "ngôn ngữ của thập giá" mà Phaolô nói tới? Hay nói một cách trực tiếp hơn: đau khổ và sự chết có ư nghĩa ǵ đối với kitô hữu? Chantal Reynier mời chúng ta đi sâu hơn vào tư tưởng của Phaolô.

 

............

 

Kiểu nói "ngôn ngữ của Thập Giá" chỉ xuất hiện trong các thư Phaolô và xem ra đó là cả một cương lĩnh (quasiment programmatique). Nói như thế có phải là cho rằng mọi công bố Tin Mừng đều chỉ qui về mỗi một việc là công bố thập giá hay không? thập giá mà người ta rất thường biểu dương nhằm khích lệ các kẻ tin, cũng như rất thường loại bỏ do việc nó đề cao sự đau khổ. Trong trường hợp này, các thư Phaolô không đầy dẫy những mâu thuẩn đó hay sao? Thực vậy, Phaolô khẳng định ngài "đă không muốn biết đến chuyện ǵ khác ngoài Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh" (1 Cr 2,2) và đồng thời, ngài công bố là vô ích một đức tin muốn chối bỏ việc Phục Sinh. Trong thư gởi tín hữu Roma, trong khi công bố ḷng thương xót dạt dào của Thiên Chúa, Phaolô nói đến Đấng đă treo Con của Người trên thập giá làm nơi xá tội (x. Rm 3,25).

Gương mặt nào của Thiên Chúa được tŕnh bày trong câu nói đó? Và gương mặt nào của con người? Có phải là gương mặt của một vị Thiên Chúa, v́ muốn xoa dịu cơn giận do tội lỗi loài người gây ra, đă đi tới chỗ bỏ mặc Con ḿnh trên một cây thập giá? Có phải là gương mặt của một vị Thiên Chúa cho rằng ḿnh đă được phục hồi quyền lợi bởi lẽ một người vô tội đă trả nợ thay cho nhân loại tội lỗi? Có phải là gương mặt của một vị Thiên Chúa bắt con người bước vào chỗ của tội nhân được cứu chuộc? Như thế làm Kitô hữu có phải hệ tại t́m kiếm cách vô vọng để được đúng luật với một vị Thiên Chúa chỉ thấy sự khốn cực của con người? Đó là những hệ luận do kiểu nói "ngôn ngữ của thập giá" của vị Tông đồ đặt ra. Nhưng ngài đă thật sự nói ǵ về thập giá?

 

Thập giá của Đức Giêsu Kitô, Đức Chúa vinh hiển

 

Muốn hiểu bản chất và vai tṛ của thập giá như được biểu lộ trong các bản văn, trước hết cần phải thu thập từ ngữ liên quan đến thập giá là một đồ vật gồm một cọc đứng và một đà ngang. Đó là những tiếng: thập giá, giá treo cổ, và những động từ: đóng đinh vào thập giá, đóng đinh, treo lên. Tuy nhiên những từ này lại vắng bóng trong những thư đầu tiên của Phaolô (1 và 2 Tx), là những bức thư c̣n rất gần với biến cố đóng đinh thập giá, cũng như vắng bóng trong những thư cuối cùng, những thư mục vụ. Nhất là những từ vựng này vắng bóng trong những công thức công bố Tin Mừng (formules kérigmatiques) quan trọng (1 Tx 4,14; 1 Cr 15,3; Rm 8,34); trong những công thức ấy, sự chết chỉ được được nhắc tới như thực tại song đối với sự phục sinh. Sau cùng, những từ đó không xuất hiện trong lănh vực khuyến thiện, đang khi chủ đề thập giá sẽ được đề cập nhiều trên b́nh diện luân lư và tu đức.

Những qui chiếu về thập giá thực ra không nhiều - tổng cộng 23 lần, nếu người ta căn cứ theo ngữ vựng chính xác -; Phaolô không khác ǵ lắm với các tác giả tin mừng là những người nhắc tới thập giá với nhiều dè dặt. Một nhận xét như thế có cho phép ta qui kết rằng diễn từ của Phaolô về thập giá, được thu gọn trong một vài qui chiếu, đă được phóng đại do những lần đọc lại khác nhau đă được thực hiện theo ḍng thời gian?

Thập giá nói ở đây chỉ liên quan đến Đức Giêsu Kitô. Thập giá chỉ đáng quan tâm trong mức độ nó là thập giá của Đức Chúa vinh hiển. Ngay cả trong trường hợp liên quan đến kitô hữu, thập giá này luôn qui chiếu về thập giá của Đức Giêsu Kitô. Như thế, các bản văn gợi lên hai phương diện, một phương diện kitô học và một phương diện nhân loại học; hai phương diện này, nếu đúng như vậy, sẽ cho phép loại bỏ một số hàm hồ.

 

Một biến cố, chướng kỳ và điên rồ

 

Khi Phaolô nói tới thập giá, th́ trước tiên và trên hết ngài nhắm tới một biến cố cụ thể mà các sách tin mừng nhất trí ấn định tại một nơi có tên là Golgotha, và vào một thời điểm, áp ngày sabát, ngày chuẩn bị mừng lễ Vượt Qua, mặc dầu vị Tông Đồ không bao giờ ám chỉ tới thời điểm ấy hay tới nơi chốn ấy. Đó là một biến cố lịch sử, nên ta phải quan tâm tới sự đánh giá của các nền văn hoá đồng thời với nó.

Cây gỗ trên đó Đức Giêsu bị treo là một vật gia h́nh tàn ác và ô nhục. Đối với người Rôma, h́nh phạt ấy bất xứng ngay cả với công dân đáng khinh bỉ nhất của họ; nó dành cho những tên nô lệ. Người ta có thể hiểu dễ dàng tại sao kẻ bị treo trên thập giá dầu thế nào đi nữa cũng không thể là một vị thần, cũng không thể là một trong những vị thần ẩn tàng thỉnh thoảng ghé thăm trái đất, càng không thể là một vị anh hùng biết cách biến h́nh đổi dạng. Dám coi kẻ chịu đóng đinh thập giá là một vị thần, đó thật là một sự điên rồ. Đối với người Do Thái, kẻ bị treo là một người bị Thiên Chúa chúc dữ theo khẳng định của Đnl 21,22: chướng kỳ này được nhân đôi nếu kẻ bị treo nầy tự xưng là đấng Mêsia muôn dân trông đợi. Đối với những kẻ này, ngôn ngữ của thập giá là điên rồ, một sự vô nghĩa tuyệt đối, một sự phi lư; đối với những kẻ khác, đó là một chướng kỳ, một cớ vấp phạm (1 Cr 1,23). Như thế, thập giá là cái lật đổ các nền văn hoá ngay chính tại điểm các nền văn hoá ấy đang trông chờ (trông chờ sự khôn ngoan hay trông chờ đấng Mêsia).

Bởi v́ thập giá luôn là thập giá của Đức Giêsu Kitô, Đức Chúa vinh hiển, nên thập giá qui chiếu về Phục Sinh. Thập giá với tư cách là thập giá không thay đổi ǵ cho ḍng lịch sử. Đức Giêsu với tư cách kẻ chịu đóng đinh thập giá ở vào số tất cả những kẻ chịu đóng đinh thập giá mà không ai nhớ đến tên họ. Hăy nghĩ tới hai ngàn người Do Thái bị đóng đinh thập giá dưới triều vua Áckêlaô hay là tới vô số kẻ trộm cướp bị treo trên thập giá thời quan Phêlíc, tổng trấn xứ Giuđê. Thập giá chỉ có ư nghĩa dưới ánh sáng của phục sinh. Bởi v́ đấng bị đóng đinh thập giá là đấng phục sinh, nên lịch sử thay đổi chiều hướng. Bởi đó, do tính cách đặc biệt của đấng bị đóng đinh vào đó, thập giá hạ bệ tất cả những đường lối khôn ngoan. Không ư thức hệ nào, không nền văn hoá nào có thể giam hăm thập giá và đồng thời, các ư thức hệ và các nền văn hoá có thể hoàn toàn bị thập giá khống chế do quyền năng của sự phục sinh. Bởi v́ Thiên Chúa ở đó hành động cho mọi người, lịch sử không những thay đổi chiều hướng, mà nhân loại c̣n khám phá ra gương mặt của Thiên Chúa ḿnh cũng như gương mặt của chính ḿnh.

 

Dâng hiến cho đến tận cùng (?)

 

Bởi v́ đấng chịu đóng đinh thập giá là đấng phục sinh, Người mặc khải cho chúng ta một điều ǵ thuộc căn tính đặc biệt của Người ngay trong phong cách (modalité) chết của Người. Người là kẻ "vốn dĩ là Thiên Chúa nhưng đă trở nên giống phàm nhân" (Pl 2,6) và chấp nhận lănh cái chết của ḿnh từ tay con người. Trong sự chấp nhận bị đóng đinh này, người ta thấy để lộ ra nội tâm (intériorité) của kẻ chịu đóng đinh. Người không coi việc từ bỏ địa vị thần linh của ḿnh là đủ (tức là khước từ tất cả những ǵ trong việc mặc khải thần tính có thể là một ngăn trở để kết hiệp với nhân tính), Người không cho việc mặc lấy điều kiện nhân loại đến nỗi chấp nhận sự kết thúc cuối cùng bằng cái chết là đủ, nhưng Người, Đức Chúa vinh hiển (1 Cr 2,8) sẽ để ḿnh bị đóng đinh vào thập giá như một kẻ rốt hết trong các nô lệ chịu án tử.

Khi nhấn mạnh đến phong cách chết "và chết trên thập giá", Pl 2,8 nêu lên tính cách đặc thù của cái chết đó; cái chết này là một cái chết ô nhục người Con nhận lănh v́ t́nh yêu đối với Cha của Người và đối với chúng ta. Như vậy cái chết đó là cái chết hiến dâng (mort doblativité) nhờ đó tỏ bày t́nh yêu của Con đối với Cha và đối với chúng ta. Đức Giêsu chấp nhận làm một người bị chúc dữ (trước mắt những người Do Thái), làm một kẻ ngu dại (trước mắt những người Rôma), đang khi Người là kẻ được Thiên Chúa chúc phúc, là đấng Mêsia, là người Con, kẻ cho ta hưởng muôn vàn ân phúc (Ep 1,3). Khi dùng cái chết trên thập giá để mặc khải một sự dâng hiến đi tới chỗ tột cùng của nhục nhă và đau khổ, Người lật đổ mọi tiên thức (précompréhension) về Thiên Chúa và về con người.

Hơn nữa, qua nội tâm của Người hoàn toàn phó dâng, Người hoà giải mỗi ngườivà mọi người không trừ ai với Thiên Chúa và với nhau. Người cũng hoà giải các hữu thể trên trái đất và trên trời. Đấng đă hoà giải tất cả là Đấng đă dựng nên tất cả: lịch sử gởi trả chúng ta về nguồn cội, về cuộc sáng tạo. Biến cố thập giá có một tầm mức vũ trụ: tất cả tạo thành đều được hành động của Đức Kitô trên thập giá đụng chạm đến. Như vậy không chỉ có một sự đi xuống của Thiên Chúa với nhân loại, nhưng cũng có một sự đi lên trong đó Đức Kitô cho chúng ta tham dự từ bên trong vào cuộc đi lên của Người với Cha. 

 

T́nh yêu của Cha được tỏ bày

 

Gương mặt của Thiên Chúa cũng được mặc khải nơi đấng bị đóng đinh. Thực vậy, vị Thiên Chúa tỏ ḿnh ra không phải là Thiên Chúa của giận dữ, nhưng là Đấng dấn thân trong thân phận con người đến nỗi chấp nhận cái chết, chết trong người Con của Người. Thiên Chúa đă chọn đi qua con đường thập giá và lệ thuộc vào lịch sử thế giới để tỏ ḿnh ra (1 Cr 1,21). Thập giá được trồng rất cụ thể và vững chắc trên mặt đất. Đó là một nơi tỏ bày sự dâng hiến của Con mà cũng là của Cha. Do đó thập giá là một cuộc thần hiển (théophanie) thực sự với tất cả mức độ Con làm hiển thị t́nh yêu của Cha,t́nh yêu được tỏ bày nhờ hy tế Cha thực hiện nơi Con.

Đặc tính lạ lùng này trong ư định của Thiên Chúa chỉ có thể hiểu được trong biến cố thập giá nhờ ánh sáng phục sinh. Không những thập giá nói lên sự hoàn tất của Kinh Thánh mà c̣n mặc khải ư nghĩa của Kinh Thánh. Thập giá chẳng là chữ "tau" đó hay sao, mà chữ "tau" là chữ cuối cùng trong bảng chữ cái Do thái và như vậy cũng là kết thúc của nó? Tất cả đă được nói ra, tất cả mọi lời tiên tri về ḷng thương xót của Thiên Chúa đă được ứng nghiệm. Chắc chắn, sự ứng nghiệm được thực hiện cách bất ngờ. Nhưng khía cạnh này rất thường bị xem nhẹ và những khẳng định liên quan đến sự giận dữ, món nợ, sự công chính hoá đă trở nên quan trọng đến mức chúng đă che khuất mất ư định lạ lùng của Thiên Chúa, cho dù Phaolô đă nói rơ điều này bằng cách sử dụng từ ngữ "mầu nhiệm". Ngôn ngữ của thập giá mặc khải cách độc đáo và đặc biệt sự hy sinh của Con và của Cha. Mọi kitô hữu đều được mời gọi thể hiện hai sắc thái này trong cuộc sống của ḿnh.

 

Loan báo đấng chịu đóng đinh

 

Người tín hữu là người tiếp nhận lời loan báo về đấng chịu đóng đinh, chấp nhận và làm chứng cho sự việc này. Phaolô tuyên bố ngài "không muốn biết ǵ khác ngoài Đức Giêsu Kitô bị đóng đinh" và ngài lănh trách nhiệm đi loan báo trước cả việc ban phép rửa tội (1 Cr 1,17). Một sự loan báo như thế phải không ngừng được đổi mới bởi v́ nó có nguy cơ bị lăng quên, có khi bị loại bỏ nữa. Tín hữu Corintô không chia rẽ sao khi công bố ḿnh thuộc về người này hay người khác trong số các thủ lănh của ḿnh (1 Cr 1,10-16) và tín hữu Galát đă chẳng chạy theo một Tin Mừng thứ hai sao, cho dù họ "thấy h́nh ảnh Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá phơi bày ra trước mắt" (Gl 1,6; 3,1)?

Điều thập giá nhắc nhở th́ thuộc phạm vi kinh nghiệm chứ không thuộc trật tự suy tư hay ư thức hệ. Niềm tin vào Đức Kitô đi ngang qua việc chấp nhận cuộc Vượt Qua của Người và sẽ luôn là chướng kỳ và điên rồ cho tất cả các nền văn hoá cũng như niềm tin ấy đă là chướng kỳ và điên rồ cho thế giới Hy Lạp v́ một nền tảng như thế thật bất lực và phi lư. Khía cạnh gai chướng của ư định Thiên Chúa là yếu tố cơ bản trong việc đưa thập giá vào lịch sử. Nếu thập giá chỉ có ư nghĩa bởi v́ đấng chịu đóng đinh thập giá là đấng đă sống lại, - v́ không có sự sống lại Đức Giêsu chỉ là một kẻ chết treo được ghi vào danh sách hàng ngàn người đă bị đóng đinh trong thời Cổ đại -, th́ theo sự khôn ngoan của thế gian, thập giá vẫn là khổ h́nh mà một Thiên Chúa thánh thiện không thể nào phải chịu. Khía cạnh này của lời loan báo là tuyệt đối đến mức tạo thành động lực cho mọi việc truyền giáo: "Đức Kitô đăchẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng" (1 Cr 17). Nội dung của việc truyền giáo nằm nơi ngôn ngữ của thập giá; ngôn ngữ này hoàn toàn tùy thuộc vào Đức Giêsu Kitô trong khía cạnh khách quan và ư nghĩa của việc Người mặc khải.

 

Biết Người

 

Việc loan báo đấng chịu đóng đinh được liên kết với một sự hiểu biết không theo kiểu khai tâm hay ma thuật. Nó lật đổ những con đường đi tới Thiên Chúa mà từ nay được mở ra cho mọi người. Sự hiểu biết không c̣n là sở hữu mà lần hồi những người Do Thái và Hy Lạp tự tạo ra cho họ (1 Cr 1,21-25), như vậy là bắt Thiên Chúa phải đi qua các lối đường của họ. Thập giá có một nhiệm vụ mặc khải bởi v́ thập giá mở ra một sự hiểu biết mới về Thiên Chúa. Bằng cách làm nổ tung những nền văn hoá khi chúng mưu đồ nắm chắc sự hiểu biết của ḿnh và áp đặt nó, thập giá giới thiệu một ngôn ngữ mới, nghịch với mọi hệ thống và mọi khôn ngoan.

Bởi đó cho nên làm chứng về thập giá không phải là cười nhạo các nền văn hoá, nhưng đó là vượt qua chúng trên cây gỗ thập giá: cây gỗ này được trồng xuống đất nhưng sự cao cả của nó sẽ vươn cao hơn chúng. Sự làm chứng đạt được mức độ của nó trong biến cố Đức Giêsu Kitô bị đóng đinh thập giá chứ không phải trong kinh nghiệm của thế gian, bởi v́ kinh nghiệm của thế gian, do đă chất đầy ư nghĩa, chỉ có giá trị qua kinh nghiệm của thập giá. Thiên Chúa có khinh chê các nền văn hoá không? Chắc chắn là không, bởi Thiên Chúa đáp ứng sự t́m kiếm của chúng, nhưng một cách bất ngờ. Đối với những người Do Thái t́m kiếm những dấu chỉ, th́ họ được thấy một kẻ bị treo. Đối với những người Hy Lạp quan niệm sự khôn ngoan theo h́nh ảnh của một lư trí xơ cứng, Thiên Chúa sẽ tỏ ḿnh ra, nơi thế giới này, trong sự nghịch thường của siêu việt tính của Người. 

 

Chịu đóng đinh với Đức Kitô

 

Trong Rm 6,6, Phaolô công bố rằng "con người cũ đă bị đóng đinh thập giá với" Đức Kitô. Thập giá là một điều khó hiểu đến nỗi phải có sự táo bạo của ngôn ngữ để diễn tả. Phaolô luôn mô tả đời sống kitô hữu bằng những từ ngữ sự sống, ân ban, ân sủng, sự dồi dào, sự kết hợp với Đức Kitô (Rm 5-8) hơn là bằng những từ ngữ phán xét mà người ta đă gán cho một tầm quan trọng quá lớn khi tách những từ ngữ ấy ra khỏi bối cảnh của sự nhưng không và của sự sống, trong bối cảnh này chúng như thể là bị ch́m ngập. Người kitô hữu là kẻ nhận lănh ân huệ được ban cho họ trong sự chết của Đức Kitô, một lần cho tất cả và măi măi.

Như vậy người Kitô hữu nhận ra căn tính cá nhân (identité personnelle) của ḿnh trong Đức Kitô, bởi v́ với tư cách là con người mà Người là Con. "Bị đóng đinh thập giá với" không có nghĩa là hành hạ thân xác để đạt tới một lư tưởng - bởi trong trường hợp này, người ta trở lại với lề luật - nhưng đây là sống trong một tương quan kết hiệp với đấng chịu đóng đinh, bởi v́ đấng chịu đóng đinh "đă hủy diệt thân xác tội lỗi" (Rm 6,6) một lần cho tất cả. Những từ ngữ này không diễn tả cái ǵ khác hơn là t́nh yêu được Đức Chúa bày tỏ trên thập giá mà người tín hữu được mời đáp trả trong cùng một đà yêu thương và dâng hiến.

 

Vác thánh giá của ḿnh hay "mang những thương tích của Đức Giêsu"?

 

Không có văn bản nào của Phaolô đ̣i hỏi người kitô hữu phải vác thập giá ḿnh như những lời của Đức Giêsu được các sách Tin Mừng thuật lại (Mc 8,34; Mt 10,38). Ngược lại, Phaolô mời các tín hữu "đóng đinh vào thập giá xác thịt và những ham muốn xác thịt của ḿnh" (Gl 5,24), "mang những thương tích của Đức Giêsu" (Gl 6,17). Phải chăng điều đó có nghĩa là xác thịt tự nó là xấu xa phải quăng đi để cứu vớt tinh thần? Thực ra, t́nh yêu đối với Đức Kitô phải in sâu trong xác thịt (chair),trong xác thể tính (corporéité), nếu không đó là thứ t́nh yêu ư thức hệ và mất đi sự qui chiếu về ngôn ngữ của thập giá. Có một cách loan báo Tin Mừng và sống Tin Mừng biến thập giá của Đức Kitô thành hư vô (1 Cr 1,17); đó là cách tách riêng lời nói và hành động. Bởi đó cho nên sự qui chiếu về xác thịt là chủ yếu.

Trong khi ngày trước phép cắt b́ là dấu giao ước th́ ngày nay toàn bộ xác thịt được kêu gọi nhận lănh "dấu" của Đức Chúa để bày tỏ Người. Trong Đức Kitô, có sự mặc khải về Thiên Chúa mà t́nh yêu là vô cùng, trong người kitô hữu, có sự hiển linh (épiphanie) của Đức Kitô: "Tôi bị đóng đinh vào thập giá, không phải tôi sống, chính Đức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20). Và đó không phải là những từ ngữ: Phaolô tŕnh bày cho các kitô hữu bắt chước, không phải do kiêu căng, nhưng bởi v́ ngài cảm thấy cần thiết phải loan báo Tin Mừng và một sự loan báo như thế chỉ mặc lấy đầy đủ chiều kích rộng lớn mà nó phải có trong sự mạch lạc (cohérence) giữa một lời được định h́nh bởi dấu thập giá của Đức Kitô với một sự sống được đánh dấu bởi tính nghịch thường của Đức Kitô đấng là sự sống qua cái chết. (x. 1 và 2 Cr).

Người Kitô hữu chiếm hữu một sự tự do đích thực đối với thế gian. Tuy vẫn ở trong thế gian, người kitô hữu làm cho thế gian đi vào trong chuyển động dâng hiến (mouvement doblativité) của Đức Kitô. Do đó, đối với Phaolô, người kitô hữu có thể nói rằng những gian nan thử thách Đức Kitô c̣n phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức (Cl 1,24). Không c̣n thiếu ǵ trong cuộc thương khó của Đức Kitô và tất cả các bản văn của vị Tông đồ đều minh chứng điều này. Nhưng trong người tín hữu, tất cả không phải là sự trong sáng tinh ṛng của t́nh yêu mà họ được yêu. Chính sự ao ước cho hoàn thành này thúc đẩy Phaolô nói rằng những thử thách liên kết với thân phận làm người - kể cả thử thách lớn nhất là sự chết - cho phép ngài ghi trong xác thịt ḿnh sự sống của Đức Kitô.

 

Giáo Hội

 

Điều ǵ đúng cho trường hợp cá nhân th́ cũng đúng cho trường hợp cộng đoàn. Thập giá có một vai tṛ giáo hội bởi v́ thập giá hoà giải những nhóm đối nghịch, Do Thái và Lương Dân, thành một khối duy nhất, triệt để mới mẻ, đó là Giáo Hội (Ep 2,16). Muốn làm điều này, cần phải hủy diệt hận thù là bức tường chia rẽ. Đó cũng là công tŕnh của Đức Kitô trên thập giá bởi v́ thập giá hủy diệt tham vọng của lề luật hay của sự khôn ngoan là đối chọi người Do Thái và Hy Lạp trong một ngoại giới tính (b́nh đẳng trước mặt Thiên Chúa. Cộng đoàn những kẻ tin là một cộng đoàn những người được kêu gọi (église= ek kalein=kêu gọi), theo h́nh ảnh của đấng kêu gọi (1 Cr 1,26). Cũng như cá nhân, cộng đoàn phải phản chiếu sứ điệp mà cộng đoàn có trách nhiệm loan báo; nếu không, diễn từ của ḿnh sẽ thành vô ích và bất nhất.

 

Ngôn ngữ của thập giá

 

Ngôn ngữ của thập giá là ngôn ngữ của Thánh Thần về nội dung cũng như về các phương cách. Ngôn ngữ này phê b́nh tất cả mọi nền văn hoá đi t́m kiếm một sự khôn ngoan chủ trương không cần đến Thiên Chúa. Với tư cách là ngôn ngữ của Thánh Thần, ngôn ngữ của thập giá chỉ có thể diễn tả qua những nghịch lư, như những nghịch lư của sức mạnh và yếu đuối hay là qua những cách diễn tả có thể xem ra đối nghịch nhau.

Ngôn ngữ của thập giá là một ngôn ngữ mặc khải, vừa của Con vừa của Cha, bởi v́ thập giá là nội tại đối với biến cố phục sinh và là thập giá của Đức Chúa vinh hiển. Thập giá có tính thần hiển (théophanique) đối với Cha, có tính hiện sinh (existentielle) đối với Con và có tính tâm linh (spirituelle) đối với kitô hữu. Phaolô không có ư định đề cao cái chết hay sống trong ảo tưởng nhưng chỉ muốn rút ra những hệ lụy của biến cố phục sinh trong lịch sử, trong lịch sử của mỗi người, những hệ lụy đi ngang qua cuộc Vượt Qua một cách tất yếu. Đó là sức mạnh trọng yếu và sinh động của ngôn ngữ thập giá được hiểu dưới ánh sáng của cuộc phục sinh, ngoài nó ra th́ ngôn ngữ của thập giá không có nghĩa ǵ cả.

 

Chantal Reynier

 

Câu hỏi thảo luận:

"Ngôn ngữ của thập giá" biểu lộ gương mặt nào của Thiên Chúa và gương mặt nào của con người ?