SỐNG ĐỜI HOÁN CẢI

 

 

Khi ra đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời, Chúa Giêsu đă bắt đầu kêu gọi: “Hăy hoán cải, v́ Nước Trời đă gần bên” (Mt 4,7; x. 3,2).

Chúng ta thường nói tới việc ăn năn đền tội, tức là hối hận về một lỗi phạm và chấp nhận một h́nh phạt để đền bù. Nhưng danh từ đền tội có ư nghĩa căn bản là hoán cải (tiếng hy lạp: metanoia), la thay đổi hướng ḷng, thay đổi con đường.

Cha thánh Phanxicô sau khi trở lại đă rao giảng sự hoán cải cho mọi người (1 Cel 23).  Những anh em đầu tiên đến chia sẻ lối sống của ngài đă mang tên là “Nhóm người sống đời đền tội thành Assisi” (Ba Người Bạn (Bnb), số 17). Nhóm Ḍng Ba tiên khởi được gọi là “Ḍng Đền Tội” (Ordo de Pœnitentia) hoặc “Anh chị em ăn năn đền tội”. Sự chọn lựa đó gây nên một tiếng vang không nhỏ, v́ đối với con người thời đó, con đường đền tội vẫn c̣n là một cái ǵ hoàn toàn xa lạ, và bị coi như một chuyện điên rồ (x. Bnb, 39).

Đức giáo hoàng Innôxenxio III, sau khi chấp nhận Bản Luật Phúc Am của anh em, đă nói: “Anh em hăy ra đi, và xin Chúa ở cùng anh em! Anh em hăy rao giảng sự hoán cai cho mọi người như Chúa sẽ đoái thương soi sáng cho anh em. . .” (1 Cel 33). Và chính Phanxicô cũng đă bảo anh em đi rao giảng sự hoán cải cho mọi người (Luật không sắc dụ (Lksd) 21,3-9; Thư gửi các Anh Phục vụ (TcPv), c. 6).

Chúng ta sẽ xem cha thánh sống đời hoán cải như thế nào, và học hỏi quan niệm của ngài về sự hoán cải.

 

I.- Cha thánh Phanxicô sống đời hoán cải

A.- Hoán cải là một ân huệ

            Đối với cha thánh Phanxicô, hoán cải là một ơn Chúa ban. Ngài viết trong Di chúc (DC): “Chúa đă ban cho tôi, tu sĩ Phanxicô, ơn bắt đầu cuộc đời hoán cải như thế này. . .” (c. 1).  Đối với ngài, tất cả là ân huệ: hoán cải là một ơn, cũng như ơn tin vào các nhà thờ (DC, 4), ơn tin vào các linh mục (c. 6), ơn được có những anh em tới chia sẻ lư tưởng của ḿnh (c. 14). . .

            Theo thánh nhân, chính Chúa đóng vai chủ động và khởi xướng trong cuộc hoán cải cũng như trong mọi khía cạnh khác của đời sống ngài: Chúa đă dẫn ngài đến với người cùi (DC, 2), đă mạc khải cho ngài biết phải sống theo Phúc Am (c. 14), đă mạc khải cho ngài biết phải chào người ta bằng lời này: “Xin Chúa ban b́nh an cho quí vị” (c. 23).

 

B.- Hoán cải là bỏ đường tội lỗi

Cha thánh viết tiếp trong Di chúc: Trước khi được ơn bất đầu hoán cải, ngài đă “sống trong tội lỗi” (c. 1).

Điều mà ngài gọi là “tội lỗi”, thường chỉ là việc chạy theo danh vọng, giàu sang, t́m kiếm một nếp sống tiện nghi, xa xỉ, tiêu xài tiền bạc hoang phí, để mua vui với bạn bè. Quả thật, đối với một vị thánh đă đạt tới đỉnh cao của sự thánh thiện, về cuối đời, nh́n lại quá khứ xa xưa, th́ thời gian trước khi được ơn trở lại với Chúa quả là một giai đoạn “sống trong tội lỗi”: chỉ mải miết t́m kiếm bản thân và những sự phù vân thế gian. Thật vậy, bản chất sâu xa của tội lỗi nằm ở xu hướng ích kỷ, qui về ḿnh, thay v́ qui hướng về Thiên Chúa và qui hướng về người khác với ḷng mến Chúa.

 

C.- Hoán cải là từ bỏ thế gian

            Nhưng ơn Chúa đă can thiệp vào trong đoạn đời thanh niên của Phanxicô để đưa chàng đến quyết định rời bỏ thế gian.

 

1) Một cơn bệnh

            Chúa đă gửi tới cho chàng một cơn bệnh. Nhờ cơ hội này, Phanxicô thay đổi cái nh́n về ngoại cảnh. Chàng bắt đầu chán ngán những cuộc vui chơi, yến tiệc ồn ào (x. 1 Cel 3-4).

 

2) Vỡ mộng công danh

            Tuy nhiên, sau cơn bệnh đó, Phanxicô vẫn nuôi mộng công danh, vẫn muốn làm hiệp sĩ đi lập chiến công và chiếm được trái tim của một người đẹp. Chính Chúa sẽ dùng tham vọng đó để biến chàng thành một hiẹp sĩ của Người.

            a) Trong một giấc chiêm bao, Phanxicô thấy một lầu đài đầy vũ khí có ghi dấu thánh giá, và trong lâu đài ấy lại có một thiếu nữ rất đẹp. Chàng được Chúa cho biết là tất cả những thứ đó sẽ thuộc về chàng và các hiệp sĩ của chàng, nếu chàng dám chấp nhận chiến đấu dưới lá cờ của Chúa Kitô (x. 1 Cel 5; Đại Truyện[1] 1,3; Bnb 5).

            b) Tại Spôlêtô, Phanxicô nghe tiếng Chúa truyền lệnh cho chàng rời bỏ binh nghiệp, trở về Assisi, để sẵn sàng theo Chúa, v́ Chúa cao trọng và giàu sang hơn loài người (x. 2 Cel 6; Đại Truyện 1,3; Bnb 6).

            c) Khi trở lại Assisi, sau bữa tiệc linh đ́nh cuối cùng với bạn bè, Phanxicô được ơn Chúa tác động mạnh mẽ trong ḷng, làm cho chàng trầm tư, đến nỗi bạn bè chế riễu chàng rằng chàng đang mơ tới người vợ tương lai (x. 1 Cel 7; Bnb 7).

 

3) Cuộc gặp gỡ người cùi

            Sau những gợi ư gián tiếp và xa xa của Chúa trong tiềm thức và ư thức của Phanxicô, ơn  Chúa sẽ biến đổi con người chàng một cách rơ rệt và cụ thể hơn bằng những hành động và những trung gian hữu h́nh. Sự kiện lịch sử quan trọng và nổi bật nhất đánh dấu cuộc hoán cải của Phanxicô, chính là cuộc gặp gỡ với người cùi, như ngài đă ghi lại trong Di chúc: “Chúa đă dẫn tôi đến với người phung và tôi đă tỏ ḷng thương xót họ” (c. 2). Các Truyện kư có kể rơ chi tiết: Phanxicô đă ôm hôn một người cùi dọc đường (x. 1 Cel 17; Đại Truyện 1,5; Bnb 11). Đây là một bước nhảy vọt trong đức ái. Thật vậy, các Truyện kư cho ta biết rằng Phanxicô được Chúa phú bẩm cho tính quảng đại và ḷng nhân ái. Nhưng sống theo tính quảng đại bẩm sinh, th́ chỉ ở mức độ tầm thường của ḷng bác ái. Với cái hôn trao tặng một người cùi, Phanxicô đă vượt từ mức bác ái tầm thường và thông thường qua mức bác ái phi thường mang tính anh hùng, v́ ḷng mến Chúa. Đó là dấu chỉ lẫy lừng nhất của ơn hoán cải đă làm cho Phanxicô thắng vượt được xu hướng ích kỷ để đến với tha nhân, nhất là những tha nhân nghèo khổ hơn cả, và là hiện thân ưu tiên của Chúa Kitô[2].

            Chính hành động bác ái phi thường đó đánh dấu một biến đổi sâu sắc trong tâm hồn và trong cảm giác của Phanxicô, đến nỗi sau này thánh nhân có thể viết: “Điều đối với tôi trước kia là ghê tởm, đă trở thành dịu ngọt cho tôi trong tâm hồn cũng như ngoài thể xác” (DC 3). Sự dịu ngọt cho tâm hồn đó chắc chắn phát xuất từ Thiên Chúa, là Đấng có bản chất là T́nh Yêu (1 Ga 4,16; Thư gửi các tín hữu bản II (TTh II), c. 87).    

 

4) Gặp gỡ Chúa Kitô chịa đóng đinh

            Hành vi bác ái phi thường đối với người cùi đă đánh dấu một bước tiến quyết liệt trong cuộc hoán cải của Phanxicô: đem ngài trở lại trực tiếp với tha nhân, và gián tiếp với Chúa Kitô đau khổ và khiêm hạ. Nhưng Chúa Thánh Thần c̣n tiếp tục tác động để đẩy Phanxicô tiến xa hơn nữa: Phanxicô sẽ được gặp Chúa Kitô một cách gần gũi, trực tiếp hơn.

a) Trong nơi cô tịch: Theo thánh Bônaventura, Phanxicô, sau khi hôn người cùi, đă thích t́m vào nơi cô tịch để cầu nguyện. Chính trong một lúc cầu nguyện như thế, ngài được thấy Chúa Kitô-chịu-đóng-đinh hiện ra với ngài. Từ đó, h́nh ảnh Đấng chịu nạn được in sâu vào ḷng ngài cho đến chết (Đại Truyện 1,5).  

            b) Trong nhà thờ Thánh Đamianô: Cuộc gặp gỡ này đă làm sáng tỏ sứ mệnh của Phanxicô là phải trùng tu Nhà Chúa, nghĩa là cuối cùng, trùng tu Giáo hội (x. 2 Cel 11; 204;  Đại Truyện 2,1; Bnb 13).

 

5) Gặp Chúa Kitô trong các linh mục và trong lời Phúc Am

            Mục đích của hoán cải là để bước theo Chúa Kitô, một Chúa Kitô nghèo khó, và hạ ḿnh phục vụ mọi người. Để biết và theo Chúa Kitô cách chắc chắn, Phanxicô phải t́m gặp Người trong Giáo hôi, cụ thể hơn, trong các bí tích (Bí tích Thánh Thể: Huấn ngôn 1), trong Lời Chúa (DC 14-16), và trong các thừa tác viên có phận sự ban phát các bí tích và hướng dẫn Dân Chúa (DC 8-9.13).

 

D.-Kết luận

            Nh́n vào gương cha thánh Phanxicô, chúng ta thấy rằng:

- Sự hoán cải của ngài không phải là một hành động riêng rẽ và mau lẹ, nhưng là cả một quá tŕnh.

- Ơn hoán cải Chúa ban cho ngài không phải chỉ là một hiện sủng, nhưng c̣n là một thường sủng.

-Viẹc ngài từ bỏ thế gian (DC 3) không phải chỉ là hành động rời bỏ cha mẹ, anh em và bạn bè vui chơi trước đây, và từ bỏ của cải, danh vọng, để bước vào một nếp sống mới. Nhưng ngài đă được Chúa dẫn đưa dần dà qua một quá tŕnh gồm nhiều biến cố khác nhau, làm cho ngài thấm thía kinh nghiệm đời và khám phá ra các khía cạnh phong phú của sứ mạng và của lư tưởng. Nh́n theo một phương diện hữu h́nh nào đó, ngài đă rời bỏ thế gian, nhưng ngài vẫn hoạt động trong thế gian, để cứu thế gian. Nhưng dù ở trong thế gian, ngài vẫn không thuộc về thế gian (x. Ga 17,14-18), v́ đă từ khước tinh thần thế gian, và ngài vẫn phải chiến đấu liên lỉ chống lại tinh thần ấy, bằng những cố gắng tích cực để sống theo Phúc An. Chính ngài sẽ viết trong Bản Luật 1221 của Anh Em Hèn Mọn: “Bây giờ, sau khi đă từ bỏ thế gian, chúng ta chỉ có một việc phải làm là tuân theo thánh ư Chúa và làm đẹp ḷng Người” (Lksd 22,9).

 

II.- Quan niệm của cha thánh Phanxicô về sự hoán cải

A.- Cái nh́n của Phanxicô về thân phận con người

1) Chương tŕnh tạo dựng

            Con người được Thiên Chúa tạo dựng cách rất cao quí: theo h́nh ảnh Con yêu dấu của Người (x. Hn 5,1).

 

2) Sự sa ngă

            Nhưng con người đă sa ngă v́ tội lỗi ḿnh. Tuy nh́n nhận có sự xúi giục của Satan (x. Hn 2,4), cha thánh vẫn nhấn mạnh đến trách nhiệm của con người: chính xác thịt chủ động chống lại Thiên Chúa (Hn 10).

 

3) T́nh trạng sa đọa

            Sau khi phạm tội, loài người đă trở thành nô lệ của tội lỗi (x. Ga 8,34) và ra khốn nạn (Lksd 22,6). Cha thánh khẳng định: “Chúng ta hăy biết chắc chắn rằng chúng ta chỉ có nết xấu và tội lỗi” (Lksd 17,8; x. Rm 7,18).

 

4) Ơn cứu độ

            Con người bị nô lệ tội lỗi, không thể làm được điều ǵ lành (x. Hn 8,2) và không thể tự giải thoát được (x. Rm 7,24). Bởi vậy cần có sự can thiệp của Thiên Chúa. Sự can thiệp đó đă xảy ra trong việc Ngôi Lời nhập thể để mạc khải Chúa Cha (TTh II 4-5; Hn 1; Lksd 23,5-6), và nhất là trong việc Người chết trên thập giá để cứu chuộc chúng ta (Hn 6,1; TTh II 6-15; Lksd 23,6).

 

5) Tác dụng của ơn cứu độ

            Chúa Kitô đă thực hiện việc cứu độ, để giải thoát chúng ta khỏi ách thống trị của “luật sự tội và sự chết” (Rm 8,2) và khỏi ách thống trị của “tinh thần xác thịt”. Nhưng sự cứu độ này c̣n phải được Chúa Thánh Thần ứng dụng vào trong  đời sống mỗi người.

            Dựa theo Hn 8,1-2, cha thánh cho ta hiểu: Chính Chúa Thánh Thần hoán cải ḷng chúng ta bằng cách làm cho chúng ta tin vào Đức Giêsu là Chúa cứu thế và làm cho chúng ta có khả năng làm sự lành và sống thánh thiện.

 

B.- Quan niệm của cha thánh về sự hoán cải

1) Tại sao phải hoán cải?

            Tại v́, sau khi Ađam nghe theo ma quỉ xúi giục mà phạm tội bất tuân (x. Hn 2), th́ mọi người chỉ có nết xấu và tội lỗi (x. Lksd 17,7), mọi người đều bị chi phối bởi “tinh thần xác thịt” (x. Lksd 17,11-12), “coi phạm tội là điều êm dịu, c̣n phụng sự Thiên Chúa th́ thật khó nhọc” (T ThII 69). Con người xác thịt đă trở nên bất lực, đă không làm được điều ǵ lành (Hn 8,2), mà lại c̣n luôn luôn chống nghịch với mọi điều lành (x. Hn 12,2). V́ có tinh thần xác thịt ngự trị, nên cơi ḷng con người trở nên tối tăm và chai đá (Hn 1,14-15), từ đó phát xuất ra mọi thứ tội lỗi và đam mê (T Th II 37.69) làm cho con người thành nô lệ thế gian, xác thịt và ma quỉ (T Th II 65-66). Chính cơi ḷng xấu xa đó phải thay đổi tận gốc rễ.

 

2) Nhờ đâu mà hoán cải?

            Câu trả lời của cha thánh Phanxicô rất đơn giản: Nhờ sức mạnh của Tinh Thần Chúa, con người mới có thể hoán cải được tâm hồn.

            Do đó, thánh nhân đă khuyên anh em: “Trên hết mọi sự, anh em phải ao ước được Tinh Thần Chúa và tác động thánh của Người” (L 10,9), v́ chính Chúa Thánh Thần hoán cải ḷng chúng ta, bằng cách thanh luyện, soi sáng nung nấu nội tâm chúng ta (x. Kinh “Lạy Thiên Chúa toàn năng vĩnh cửu” trong Thư gửi toàn Ḍng (T TD) 50-52). Người giúp chúng ta từ bỏ tội lỗi và thế gian (x. DC 1-3) để bước theo vết chân Đức Giêsu Kitô. 

            Cha thánh gọicách tổng quát đời sống hoán cải đó của người Phan sinh là cuộc “bước đi trong Thần Khí” (Lksd 5,4-5) hay là “phục tùng Thần Khí” (x. Kinh “Kinh mừng các Nhân đức” (K Nđ), 15). 

 

3) Ư nghĩa phượng tự của hoán cải

            Như vậy, theo cha thánh Phanxicô, hoán cải là chế ngự xác thịt (x. Lksd 17,14) để bắt thân xác vâng lời Thần Khí và vâng lời anh em (x. K Nđ 15). Và v́ cần có Thần Khí giúp ta trong việc này, nên cha thánh khuyên chúng ta phải ước ao, nghĩa là cầu nguyện, cho có được Tinh Thần Chúa và tác động thánh của Người (L 10,9; x. Lc 11,13). Liền trước và sau lời khuyên trọng tâm đó của Luật Ḍng Anh Em Hèn Mọn, cha thánh đề cập đến hai khía cạnh của đời sống hoán cải:

            - Khía cạnh tiêu cực: “Anh em hẵy tránh mọi h́nh thức kiêu ngạo, huênh hoang, ganh tị, tham lam, bận tâm và lo lắng việc đời, nói xấu và cằn nhằn” (L 10,7). Đó là khổ chế, tự chế và từ bỏ trong đời sống hoán cải: Phải từ bỏ tất cả mọi trở ngại cho suy tư và hành động mới:

                        * thế gian (gia đ́nh, danh vọng: mộng hiệp sĩ. . .),

                        * tội lỗi, đam mê dục vọng (x. Hn 5,3),

                        * nhất là ư riêng (x. Hn 2).

            - Khía cạnh tích cực: Nhờ tác động thánh của Thần Linh Chúa, anh em sẽ cầu nguyện cùng Chúa luôn luôn với tâm hồn trong sạch”, sẽ có ḷng “khiêm nhường, nhẫn nhục trong khi bị bách hại và đau ốm”, sẽ “yêu mến những kẻ bách hại, khiển trách và buộc tội” anh em (L 10,9-10).

 

Tóm lại, chương tŕnh hành động cụ thể của đời sống hoán cải gồm hai việc chính:

(1) chế ngự xác thịt,

(2) và cầu nguyện cho được Tinh Thần Chúa.

Trong Luật Ḍng cũng như trong chính đời sống của ngài, cha thánh Phanxicô đă kết hợp hài ḥa hai mặt ấy lại với nhau thành như việc phượng tự mà người Phan sinh phải dâng lên Thiên Chúa (x. L 3; Lksd 3). Thật vậy, phượng tự ki-tô giáo không phải chỉ có cầu nguyện, nhưng gồm mọi sinh hoạt của con người, với linh hồn và thân xác trong sự duy nhất của ngôi vị, khi các sinh hoạt đó xảy ra dưới tác động của Tinh Thần Chúa. Do đó, thân xác phải ăn khớp hài ḥa với linh hồn trong quyết tâm hoán cải, nghĩa là toàn diện con người phải vâng lời Thần Linh Chúa.

Thánh Phaolô cũng hiểu phượng tự theo nghĩa bao quát đó khi ngài khuyên: “Anh em hăy dâng hiến thân ḿnh anh em làm lễ tế sống động, thánh thiện, đẹp ḷng Thiên Chúa. Đó là sự thờ phượng thiêng liêng của anh em” (Rm 12,1).

Để trở nên hy tế thiêng liêng, than xác chúng ta phải qua lửa thanh luyện của khổ chế, gồm những việc ăn chay, hăm ḿnh, nhằm làm cho con người chúng ta trở nên thuấn thục, dễ dạy đối với tác động của Thần Khí, thấm nhuần và chan ḥa Tinh Thần Chúa, đến nỗi chính thân xác chúng ta thực sự trở nên “đền thờ của Chúa Thánh Thần” (1 Cr 6,19-20).

 

C.- Kết luận

            Sống hoán cải như thế, người Phan sinh sẽ đi đến chỗ yêu Chúa trên hết mọi sự, nhận Chúa làm nguồn hạnh phúc độc nhất của ḿnh. Cứ xem các Kinh mà thánh Phanxicô đă dùng, th́ ta thấy thật sự đă nhận Chúa làm nguồn hạnh phúc duy nhất: Kinh Tung hô đọc vào mọi Giờ Kinh; Lời mời gọi ngợi khen Thiên Chúa; nhất là Kinh Ngợi khen Thiên Chúa tối cao. Cũng v́ thế, truyền thống dân gian đă gán cho ngài một lời kinh rất đẹp: “Lạy Thiên Chúa, xin thu hút ḷng con” (Absorbeat):

            Lạy Chúa,

            xin thu hút ḷng con

            khỏi đam mê mọi sự trên đời,

            thu hút bằng t́nh yêu nóng bỏng

            và ngọt ngào của Chúa,

            để con chết v́ say mê mối t́nh của Chúa,

            như chính Chúa đă vui ḷng chết

            v́ say mê mối t́nh của con.

T

Chúng ta ghi nhận là Phanxicô sống hết sức khổ hạnh với ḿnh, nhưng lại rất mềm giẻo với anh em: ngài đă ân cần khuyến cáo thánh Clara và các bạn đầu tiên của ḿnh không được thái quá trong việc hành xác (2 Cel 21, 22). Ngài thường xuyên dạy anh em phải cung ứng đầy đủ nhu cầu thể xác, sao cho nó khỏi viện cớ để nổi loạn hay bất măn. C̣n ngài, ngài đă lao ḿnh vào cuộc chiến với bản thân bằng một ư chí quyết liệt, đến nỗi vào cuối đời, ngài cảm thấy cần phải xin lỗi “Anh Lừa” (thể xác) v́ đă quá mạnh tay với anh. Anh Tôma Xêlanô ghi nhận đây là trường hợp duy nhất mà “hành động và lời nói của cha thánh đă không ăn khớp với nhau” (2 Cel 129).

Qua cuộc sống đền tội bên trong lẫn bên ngoài, Phanxicô đă thực thi hầu như trọn vẹn những yêu sách của “các Mối Phúc chí ái” chính ngài đă công bố theo sau Phúc Am (x. Hn 13,26.28), ngài đă dâng hiến mạng sống ḿnh để cứu độ các tội nhân, là đối tượng vẫn làm cho ngài phải băn khoăn thao thức. Kết quả là thánh nhân đă khắc phục được bản thân và thực hiện được một sự duy nhất nội tâm tuyệt hảo (E. Longpré).

                                                                                                FX Long, ofm

 


 

[1] Quyn Legenda Major ca thánh Bônaventura.

[2] Xem C. Dukker, Umkehr des Herzens (Werl 1956) 76-79.