THÁNH PHANXICÔ và GIÁO HỘI
1.- Tình trạng của châu Âu thế kỷ XII- XIII
Thế kỷ XII-XIII ở Âu châu là thế kỷ giao thời:
- Đây là thời vàng son của các thương gia:
“Hòa bình đã trở lại, hệ thống đường xá được cải tạo, sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển, đó là những hoàn cảnh giúp cho ngành thương mại tái sinh... Sự thức tỉnh thương mại này đặc biệt liên hệ đến ngành vải vóc tơ lụa”[1].
- Một tầng lớp mới: các thương gia:
“Trong một thế giới bất động, gắn liền với đất đai, những nhà buôn đầu tiên chỉ là những người lang thang và ở bên lề xã hội... Dần dần, ngành thương mại phát triển, số nhà buôn gia tăng, họ liên kết với nhau, di chuyển thành từng đoàn dể bảo vệ nhau chống lại các băng cướp và cũng để tránh thuế qua đường các lãnh chúa các vùng muốn thu. Dần dà, họ tổ chức thành nghiệp đoàn... đưa tới chỗ làm phát sinh một thế giới mới: thế giới thành thị”[2]. “Cùng với sự phát triển của trao đổi thương mại, tiến bạc cũng bắt đầu được lưu hành... Biểu tượng của giàu có không còn là đất đai nữa, mà là vàng bạc. Sự bành trướng của vàng bạc tạo ra cả một thế giới các chủ ngân hàng”[3].
- Các thành phố tìm giải phóng: chế độ công xã:
“Lúc đầu, các thành phố xây dựng trên lãnh địa của lãnh chúa phong kiến nào thì ở dưới quyền của lãnh chúa ấy. Vì thế, các thành phố có thể là sở hữu của một viện phụ, một giám mục hay một vị bá tước. Các “thị dân” không hơn không kém chỉ là chư hầu của lãnh chúa địa phương. Như thế, họ phải đóng nhiều thứ thuế để có quyền qua lại trên một lãnh địa hay từ lãnh địa này sang lãnh địa khác... Cấu trúc xã hội và chính trị này, hài hòa với một nền kinh tế nông thôn, đã trở thành một trở ngại cho một nền kinh tế thương mại, di chuyển và đô thị hóa... Để có thể đạt được các yêu cầu về tự do điều hành công việc và quyên lợi của họ, các nhà buôn quy tụ lại thành những nghiệp đoàn, gọi là “công xã”. Phong trào công xã phát triển khắp châu Âu nhắm giải phóng các thành phố khỏi quyền các lãnh chúa, đưa đến tự do và tình huynh đệ”[4].
- Sự thống trị của tiền bạc:
“Tiền bạc giúp cho những người giàu nhất trong thành phố giữ độc quyền các chức vụ và như thế nắm giữ quyền lực và làm luật. Các thị dân giàu có này nắm trong tay tất cả việc hành chánh và ngành tư pháp. Họ tách khỏi công xã, và tìm cách duy trì quyền bính cho gia đình mình... Như thế, ông vua của xã hội mới là vàng bạc. Vàng bạc làm hỏng mọi sự. Và nhất là giữa công xã này với công xã khác, chẳng mấy chốc xảy ra những kình địch về quyền lợi, đưa họ đến chỗ đứng lên chống lại nhau”[5].
- Giáo Hội phong kiến:
“Vào đầu thế kỷ XIII, Giáo Hội dường như đang ở trên chóp đỉnh quyền lực. Thật ra Giáo Hội là một thế lực trần thế to lớn. Các tòa giám mục và các đan viện phủ khắp châu Âu, ngự tọa trên những vùng đất bao la. Các giám mục và viện phụ là những lãnh chúa thực thụ”[6].
Trong một lá thư viết năm 1216 sau khi viếng thăm giáo triều lúc đó đang ở Pêrugia, Hồng y Giacôbê đơ Vitry đã ghi nhận: “Mọi người đều quá bận tâm với những chuyện trần tục, trong những vấn đề vua chúa triều đại, trong những vụ tranh cãi kiện tụng, nên thật không mấy khi nói đến những chuyện thiêng liêng”[7].
“Đứng trước Giáo Hội giàu có và quyền lực ấy, dân Kitô giáo và giới giáo sĩ hạ cấp cảm thấy một nỗi khó chịu sâu xa. Dân thành phố và thôn quê cảm thấy không ở trong nhà mình trong một Giáo Hội trong đó các mục tử là những lãnh chúa và cư xử như thế... Trước thế giới trẻ của các công xã, Giáo Hội, với những lãnh địa trần thế, tỏ ra gắn liền với một hệ thống xã hội đã lỗi thời và chuyên áp bức. Đàng khác, các giám mục và viện phụ không giấu giếm thái độ ngờ vực và thù nghịch đối với chế độ mới của các thành thị”[8].
“Như thế, vào lúc xuất hiện một miền đất nhân loại mới có thể gieo hạt, Giáo Hội tỏ ra đang bị giam hãm vì các lãnh địa và các “bổng lộc”, trong hệ thống cũ, không thể có được cái phản xạ hướng về việc phúc-âm-hóa và truyền giáo”[9].
2.- Các nhóm lạc giáo
A.- Những nhóm chính:
Trong bối cảnh xã hội và tôn giáo ấy, đã xuất hiện những nhóm lạc giáo:
1) Nhóm Cathares (từ Đông phương sang)[10]: vùng Nam Pháp, Italia, Flandres, những thành phố công nghiệp. “Nhóm lạc giáo mới khó bị đánh bại, nhất là vì hoàn cảnh lúc ấy, trong các thành phố, nhiều người quen chỉ trích các vị đại diện rực rỡ của Giáo Hội mà có đời sống hình như hoàn toàn trái ngược với tấm gương khiêm nhường vô biên mà Đức Kitô đã đề ra”.
2) Nhóm Vaudois[11], do ông Pierre Valdo hoặc Valdez, giáo dân Lyon, nhắm từ bỏ lòng ham muốn của cải trần gian và lòng kiêu ngạo. “Trong những bài giảng chống sự giàu có và kiêu ngạo, nhiều người đã tấn công thẳng vào các thành phần của hàng giáo sĩ”[12].
3) Nhóm Albigeois[13], do những người Cathares và Vaudois hợp thành, theo tên thành phố Albi trong miền Languedoc. Họ thù hằn tấn công Giáo Hội, đốt các tượng thánh giá...[14].
B.- Những nhóm nhỏ:
1) Nhóm Phêrô đơ Bruys[15]: ông này là một linh mục đã bị truất chức. Giữa các năm 1112 và 1120, ông hoạt động tại Toulouse, Narbonne và Arles, hô hào dân chúng chống lại các linh mục mà ông gọi là những kẻ tiếm quyền, và kéo theo một nhóm đi hành hạ các linh mục và tu sĩ, đôi khi còn ép các ngài lạp gia đình.
2) Nhóm Arnold tại Brescia (+ 1155)[16]: Nhóm này hô hào cải tổ tu phục, sống đời khổ chế phù hợp với Tin Mừng, nhưng họ ra sức chống đối hàng giáo phẩm và các linh mục.
3) Nhóm Pataria[17]: Lúc đầu là một phong trào chính trị pha tôn giáo, khởi đầu ở Milano, nhằm chống lại việc buôn thần bán thánh.
4) Những Người Khiêm Hạ[18]:là một phong trào Phúc Âm nhắm sống đời Kitô hữu hoàn hảo, gồm những người thợ dệt len và nhà buôn ở ngoại ô Lombarđia giữa 1170 và 1178. Họ mặc áo nhặm, tránh nói dối, buôn lậu, tránh làm hư hỏng tính thánh thiện luân lý của kỹ nghệ và thương mãi. Dần dà họ chống lại hàng giáo phẩm.
5) Những Người Công Giáo Nghèo[19]: Lúc đầu họ làm việc với nhóm Vaudois, sau tách ra và trở về với Giáo Hội.
Các nhóm lạc giáo đó tự cho là sống phù hợp với Phúc Âm và vung Phúc Âm lên như một thứ vũ khí, viện cớ là để cải cách Giáo Hội. Đầu tiên họ cũng là những người đầy thiện chí, nóng lòng đứng lên phục hồi đời sống Phúc Âm trong Giáo Hội, hăng say sống Phúc Âm, rao giảng và diệt trừ các tệ đoan. Nhưng vì quá hăng say cách chủ quan, không đủ khiêm nhường, họ đi chống cả giáo quyền. Từ đó thành những nhóm lạc giáo.
Trong một bài thuyết trình, cha Henri de Lubac, sau này là Hồng y, đã nói:
“Khi mỗi người tự gán cho mình sứ mệnh là tự do chỉ trích tất cả mọi sự, khi mỗi người trước tiên chỉ nghĩ đến việc đòi hỏi cho mình, khi mỗi người bắt tay vào việc nắn đúc lại tín điều và nền luân lý theo ý mình, thì Giáo Hội đang tan rã.
“Khi trung tâm của sự hiệp nhất trở thành tấm bia cho những cuộc tấn công hăng say nhất, mỗi người nghĩ rằng, bất cứ khi nào, trước mặt toàn thể thế giới, mình đều có quyền nói với Đấng kế vị thánh Phêrô những lời khiển trách ngạo mạn, thì Giáo Hội, toàn thể Giáo Hội, đã bị đả thương tận tâm can.
“Vào giờ này, những ai đi tới những cực đoan như thế, là những người không hiểu điều họ làm. Dù họ có viện cớ gì đi nữa, họ cũng vẫn đang quay lưng lại với Phúc Âm... Họ vẫn đang tàn phá Giáo Hội, mỗi người một cách” [20].
Những người lạc giáo muốn thuộc về Đức Kitô nhưng không thuộc về Giáo Hội, hay nói đúng hơn, họ cho rằng họ ở trong Giáo Hội, nhưng họ giản lược Giáo Hội vào ý kiến riêng tư của họ. Chẳng hạn, những người Albigeois loại trừ các linh mục tội lỗi và không nhìn nhận những bí tích mà các vị ấy cử hành, và dưới ảnh hưởng của thuyết nhị nguyên Manikê được người Cathares lấy lại, họ loại bỏ cả những dấu hiệu khả giác của các bí tích, phủ nhận giá trị của chức linh mục, sự hiện diện của Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể, và tấn công mọi giáo quyền hay cả thế quyền. Ngay cả những phái như “Những Người Công Giáo Nghèo”, những “Người Khiêm Hạ”, những người Vaudois, có một đời sống nghèo khó và nhặt nhiệm và nghĩ rằng mình được Thiên Chúa linh hứng, cũng phỉ báng hàng giáo sĩ công giáo. Tóm lại, người ta đối lập Phúc Âm với Giáo Hội.
Hơn thế nữa, Giáo Hội lại bị đe dọa từ bên trong còn trầm trọng hơn nữa, bởi vì thật ra các phong trào lạc giáo chỉ khai thác tình trạng bệ rạc của Giáo Hội nơi nhiều phần tử của Giáo Hội mà thôi. Tượng Chúa Kitô chịu đóng đinh tại Nhà thờ Thánh Đamianô đã nói với Phanxicô: “Con thấy đó, Nhà Ta đang sụp đổ”. Như vậy, không phải là Phanxicô không biết đến những tệ trạng của Giáo Hội thời ngài. Hơn nữa, các thánh và ngay cả các vị chức sắc cao cấp trong hàng giáo phẩm, như Hồng y Giacôbê đơ Vitry, cũng đã lên tiếng tố giác những tệ trạng đó. Nhiều giáo sĩ, giám mục và linh mục, thiếu hẳn một nền giáo dục trí thức, chỉ có lười biếng, tham lam, kiêu căng, đầy tinh thần thế tục, tự do phóng túng... Đức Innôcentiô III gọi họ là “những con chó câm”. Dân chúng sống trong mê tín và vô luân. Kẻ Thù mạnh tay vung vãi hạt giống cỏ lùng. Đức Piô XI đã phác họa khung cảnh như sau: “Khắp nơi đều có lạc giáo lẻn vào; khắp nơi đều có nổi loạn chống lại Giáo Hội Rôma; nền tảng của tôn giáo, của quyền tư hữu, của gia đình và thành thị bị lung lay; khắp nơi có sự chia rẽ, có nội chiến, tàn sát lẫn nhau; các giáo sĩ và những người quyền thế làm giàu bằng thuế má, đó là lòng ham muốn vô độ đối với của cải và khoái lạc, đến nỗi tinh thần Phúc Âm hầu như đã biến mất và đức bác ái của Chúa Kitô đã lạnh đi trong xã hội đến độ hình như nó đã tắt mất rồi”.
3.- Phanxicô và mầu nhiệm Giáo Hội
Phanxicô cũng muốn sống lý tưởng Phúc Âm. Ngài ý thức rất mạnh rằng chính Thiên Chúa đặc biệt chỉ cho ngài sống theo Tin Mừng. Nhưng đàng khác, Giáo Hội cũng là đại diện của Thiên Chúa ở dưới đất. Phanxicô hiểu: sống lý tưởng Phúc Âm là một ý tưởng táo bạo và có thể trở nên liều lĩnh nguy hiểm nếu chỉ quay về với Phúc Âm để rồi giải thích Phúc Âm theo ý riêng của mình. Mối nguy hiểm ấy, Phanxicô đã tránh được: nhờ Chúa Thánh Thần dẫn dắt, ngài đã khôn ngoan có sáng kiến là đặt dự tính của ngài dưới sự chuẩn nhận và kiểm soát của Giáo Hội, vì Giáo Hội là người gìn giữ Lời Chúa cách trung thành và người thông ngôn Lời Chúa cách trung thực. Có lẽ vào thời Phanxicô, cũng như bây giờ và mãi mãi về sau, lý tưởng sống trong Giáo Hội vẫn là sống theo Phúc Âm. Phanxicô không thêm nét đặc biệt nào vào lý tưởng chung ấy, nhưng ngài đã sống lý tưởng ấy cách đặc biệt:
Trong phần Mở đầu Bản Luật không sắc dụ, ngài đã kết hợp đời sống theo Tin Mừng với việc vâng phục Giáo Hội, mà biểu tượng là Đức giáo hoàng. Đối với ngài, Tin Mừng chỉ trở thành một quy tắc chắn chắn và nguồn sống khi được Giáo Hội và Đức giáo hoàng giải thích; và theo Bản Di chúc, công cuộc mà Chúa Kitô đã mạc khải cho ngài chỉ có thể được thực hiện và hoàn tất theo ý định và dưới quyền Đức giáo hoàng.
Nếu tìm hiểu vì sao Phanxicô có lòng gắn bó với Giáo Hội như thế, chúng ta thấy là bởi vì Phanxicô gắn bó với Đức Kitô, bởi vì Giáo Hội là Thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô và chính Giáo Hội dẫn chúng ta đến với ơn cứu độ. Chính Đức Kitô là Đấng mà Phanxicô thấy vẫn đang sống và vẫn đang tỏ mình ra trong Giáo Hội: đối với ngài, Phúc Âm và Giáo Hội là một. Chính điều này cho phép ngài có những sáng kiến táo bạo nhất, và theo như thánh Bonaventura nhận xét, điều ấy cho phép Phanxicô “kiên trì say mê theo đuổi dự định” (ĐT 3,9). Ngài ý thức ngài nhận được Phúc Âm này từ Giáo Hội.
Cha Henri de Lubac nhận định: “Dọc theo lịch sử chúng ta, Phúc Âm – là chính Chúa Giêsu – đã tháp nhập vào, Phúc Âm này luôn ở lại, thành Nguồn suối luôn trào vọt giữa lòng cuộc sống hiện tại quá bi đát của chúng ta. Phúc Âm này được trao phó cho Giáo Hội. Và Giáo Hội vào mỗi thời đại lại rút ra điều mới và điều cũ. Đó là việc mà Giáo Hội lại mới vừa làm trong Công đồng mới đây... Luôn luôn chính là Giáo Hội truyền đạt Phúc Âm cho chúng ta, và ngày hôm nay hơn bao giờ hết, bằng giọng điệu có quyền thế nhất, Giáo Hội kêu gọi chúng ta thực hiện một cuộc canh tân theo Phúc Âm; nhưng hơn nữa, dù các trường hợp có cá biệt đến đâu, ngày hôm nay hơn bao giờ hết, rõ ràng là việc chỉ trích được phổ-quát-hóa đang đổ ập xuống trên Giáo Hội, một việc gắn liền với một phong trào đang tách xa Giáo Hội”[21].
Điều Phanxicô lưu tâm nhất, cho chính ngài cũng như cho các môn đệ ngài, là thực hiện, trong một thế quân bình tuyệt hảo:
- đời sống Phúc Âm trọn vẹn,
- trong thái độ phục tùng Giáo Hội công giáo với tâm tình con thảo.
Đây là hai thực tại bất khả phân ly, hai nét trung thành trong cùng một hành vi. Bản Luật đã bắt đầu và kết thúc với Phúc Âm, thì cũng bắt đầu và kết thúc với Giáo Hội (x. ĐT 4).
Chính lòng trung thành hai mặt này sẽ phân biệt Phanxicô và các anh em ngài với những nhóm tương tự đương thời và sẽ đưa anh em đến chỗ phục tùng mọi cấp bậc của hàng giáo phẩm, đồng thời chân thành kính trọng chức linh mục và mọi linh mục.
Lòng hiếu thảo của Phanxicô đối với Giáo Hội như thế được hội tụ vào một điểm rõ rệt, đó là trung tâm của Giáo Hội, Bí tích Thánh Thể.
[1] E. Leclerc, Francesco d’Assisi – Il ritorno al Vangelo (Edizioni Biblioteca Francescana; Milano 1982) 15-16.
[2] Leclerc, Francesco, 16-17; xem thêm J.P. Vivet, Les mémoires de l’Europe, t.1: L’Europe de la Foi 800-1453 (Laffont; Paris 1970) 176.
[3] Leclerc, Francesco, 19-20.
[4] Leclerc, Francesco, 21-23 và 27.
[5] Leclerc, Francesco, 27-28.
[6] Leclerc, Francesco, 61-62.
[7] R.B.C. Huygens, Lettres de Jacques de Vitry (Leiden 1960) 75.
[8] Leclerc, Francesco, 63-65.
[9] Leclerc, Francesco, 66.
[10] R. Pazzelli, St. Francis and the Third Order (Franciscan Herald Press; Illinois 1989) 53-57.
[11] Pazzelli, St. Francis, 57-59.
[12] G. SchnuŠrer, L’Eglise et la civilisation au Moyen Age, II (Bibliothèque Historique; Paris 1935) 483-488.
[13] Pazzelli, St. Francis, 55.
[14] SchnuŠrer, L’Eglise, 509.
[15] Pazzelli, St. Francis, 53.
[16] Pazzelli, St. Francis, 54-55.
[17] Pazzelli, St. Francis, 55.
[18] Pazzelli, St. Francis, 59-61.
[19] Pazzelli, St. Francis, 61.
[20] H. De Lubac, “L’Eglise dans la crise actuelle”, trong Nouvelle Revue Théologique, th. 6-7/1969, tr. 595.
[21] De Lubac, “L’Eglise”, 591.