SỐNG THEO TIN MỪNG
FX Long, ofm
I.- Hoàn cảnh lịch sử
Tất cả các ki-tô hữu đều được mời gọi sống theo Tin Mừng, mỗi người trong hoàn cảnh riêng của ḿnh. Đại gia đ́nh phan sinh cũng sống Tin Mừng theo gương thánh Phanxicô Assisi.
Vào thế kỷ XII và XIII, nhiều ki-tô hữu đă tự chọn cho ḿnh lư tưởng “sống theo Tin Mừng”, nghĩa là :
- sống nghèo : + bằng lao động hoặc bằng của bố thí,
+ ăn mặc đơn sơ,
- đi rao giảng Nước Trời và phổ biến Lời Chúa cho giới b́nh dân.
Mục đích của họ là canh tân đời sống Giáo hội, v́ họ nhận thấy phần lớn hàng giáo sĩ có một nếp sống trái với tinh thần Phúc Am. Thật vậy, trong một xă hội xây trên chế độ phong kiến :
- Nhiều giáo sĩ đă bị lôi cuốn chạy theo của cải giàu sang và quyền thế, trong lúc đám dân đen sống nghèo nàn khốn khổ ;
- Các giáo sĩ ấy bỏ bê việc phụng tự : họ đă không chăm sóc nhà thờ, nhà nguyện, cho cẩn thận đủ, có lúc họ c̣n dùng những nơi ấy để tổ chức lễ lạc theo thói đời ;
-Thêm vào đó, họ chẳng coi trọng luật độc thân bao nhiêu.
Như thế, ư hướng của các nhóm canh tân thật tốt đẹp. Nhưng đáng tiếc là khi thực hiện lư tưởng đó, một số người trong họ lại đă phê b́nh, chỉ trích và chống đối Giáo hội phẩm trật đến nỗi ly khai với Giáo hội. Nghĩa là :
- Họ có thái độ kiêu căng, không muốn phục tùng giáo quyền ;
- Họ có một cách giải thích Tin Mừng rất chủ quan ;
- Và họ thiếu bác ái, v́ khi muốn diệt trừ một tệ đoan hoặc một sai lầm, họ lại t́m cách diệt trừ chính kẻ gây ra tệ đoan hoặc phạm sự sai lầm đó. Đây là trường hợp của các lạc giáo Vaudois. Cathares.
II.- Phanxicô khám phá ra luật sống Phúc Am
A.- Đọc tiểu sử thánh Phanxicô, chúng ta thấy ngài đă vất vả đi t́m ư Chúa:
- 1202 : bị người Pêrugia bắt giam trong trận đánh tại Cầu thánh Gioan,
- 1203 : đi tù về,
- 1205 : đi Puglia hụt,
- cuối 1205 hoặc đầu 1206 : Thánh Giá Đamianô; trở lại.
-1208, ngày 24/2 : Bài Tin Mừng tại Nhà thờ Đức Bà Thiên Thần Portiuncula.
Trong thời gian này, ngài đă mệt mỏi, khổ sở, trải qua nhiều biến cố đau đớn, chua cay (người cùi, bạn bè khinh bỉ bỏ rơi, gia đ́nh hất hủi, hành khất tại Rôma. . .). Nhưng đến ngày 24/8/1208 (2 năm sau khi đă trở lại), ngài đă khám phá ra luật sống Phúc Am trong bài Đức Giêsu giảng để sai các môn đệ ra đi : đây là một luật Chúa ban cho cac Tông đồ để đạt tới sự trọn lành (x. 1 Cel 22; ĐT 3,1; Bnb 25). Khi đó, chính cha thánh đă reo lên, coi như là một khám phá mới và tức tốc thực hiện điều đoạn Tin Mừng trên dạy bảo.
Ngài đă hiểu rằng Chúa dạy phải nhận lấy chữ “không” : bỏ mọi bảo đảm vật chất, và cả mọi thứ bảo đảm tinh thần như quyền thế, uy lực trần gian, ngay cả lẽ sống của ḿnh, những điều thâm sâu nhất như t́nh gia đ́nh. Khi đó, ngài mới có khả năng đi loan báo về Nước Thiên Chúa, sứ hoán cải và ḥa b́nh.
B.- Nhờ công nghiệp của Mẹ Maria
Ở bên cạnh Đức Mẹ và nhờ công nghiệp của Mẹ, Phanxicô đă khám phá ra đời sống Phúc Am và cách thực hiện nếp sống đó. “Phanxicô cư ngụ một thời gian trong nhà thờ của Đức Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa, bởi v́ ḷng ngài rất sùng mộ Mẹ rất nhân lành, không ngớt khẩn khoản nài xin Mẹ bảo hộ ngài, và nhờ công nghcệp của Mẹ đầy từ bi thương xót, chính ở cạnh Đấng đă cưu mang Ngôi Lời đầy ánh sáng và chân lư, mà ngài cũng đă cưu mang vàb sinh hạ tinh thần chân lư Phúc Am” (ĐT 3,1; x. 1 Cel 21).
C.- Kết quả
Phanxicô đă tức khắc chấp nhận Phúc Am, nghĩa là đời sống của Đức Giêsu và các Tông đồ, làm luật sống một cách cụ thể cho riêng ḿnh.
Trong gần 4 năm trời, Phanxicô đă có thái độ chờ đợi và t́m kiếm. Thế rồi, khi nghe Phúc Am, ngài rất khiêm nhường, không muốn hiểu như ḿnh hiểu, mà lại muốn hiểu một cách khách quan : ngài hỏi một vị linh mục, là người có thẩm quyền giảng dạy. Hiểu rồi, ngài tức khắc nhận lấy luật sống ấy cho riêng ngài, và một cách cụ thể, thực hành ngay (x. 1 Cel 22; ĐT 3,1).
III.- Lập trường của cha thánh Phanxicô
Cha thánh Phanxicô cũng đă đi vào trào lưu “sống theo Tin Mừng”.
1) Sau khi được ơn trở lại và được Chúa ban cho một số anh em, ngài đă viết ra một bản luật ngắn gọn và đơn sơ, mà nội dung là “sống theo mẫu mực thánh Phúc Am” (DC c. 14).
2) Trong bản Luật 1223 của Ḍng AEHM, ngài đă khẳng định : “Luật và đời sống AEHM là tuân giữ thánh Phúc Am Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. . .” (L 1,1; x. 1 Cel 84; 115; ĐT 14; 2 Cel 112). Nhưng cha thánh hiểu Phúc Am đó là ǵ ? Sống theo Phúc Am là sống như thế nào ? Va chúng ta phải có những thái độ nào đối với Phúc Am ?
A.- Cha thánh Phanxicô hiểu Phúc Am
1. là các lời thơm tho của Đức Giêsu Kitô (T Th II, 2-3), các lời đầy tinh thần
2. là đạo lư và vết chân (nghĩa là lối sống) của Đức Giêsu Kitô mà chúng ta phải theo (so sánh L 1,1 với Lksd 1,1).
3. là chính Chúa Giêsu Kitô (T Gs 1-3).
Để hiểu những tư tưởng trên đây của cha thánh Phanxicô, chúng ta hăy qui chiếu vào Chúa Kitô :
1. Khi đến trần gian, Đức Giêsu đă rao giảng Tin Mừng về Nước Thiên Chúa : “Thời kỳ đă măn và Nước Thiên Chúa đă đến gần” (Mc 1,15). Đó là nội dung chính yếu của sứ điệp. Nhưng chính Đức Giêsu lại là trung tâm của Tin Mừng, hơn nữa là chính Tin Mừng đó, bởi v́ Người chính là Lời Nói của Chúa Cha (T Th II, 3), Lời Nói mạc khăi và cứu độ (Ga 1,1; Dt 1,1-2).
2. Trong cuộc sống ở trần gian, Đức Giêsu đă nói những lời đầy “Thần Khí và sự sống” (Ga 6,63). Đó là đạo lư Người dạy để chúng ta tuân giữ.
3.Và Người đă làm những việc để cứu giúp người ta hoặc để nêu gương cho người ta bắt chước.
Chính v́ thế, thánh Luca có thể viết trong lời mở đầu quyển Công vụ tông đồ (1,1) rằng : “Trong quyển thứ nhất (nghĩa là quyển Tin Mừng của ngài), tôi đă bàn về mọi điều Đức Giêsu đă làm và đă dạy”. Ngoài ra, thánh Gioan cũng ghi lại những câu Đức Giêsu trả lời cho người Do thái muốn biết Người là ai : “Tôi la điều Tôi nói với các ông” (Ga 8,25) và “Chính các việc Tôi làm chứng thực cho tôi. . .” (Ga 5,36; x. Ga 2,11).
Như vậy, lời nói và việc làm của Đức Giêsu biểu lộ bản chất và xác định danh tánh của Người.
B.- Sống theo Tin Mừng
Để đáp lại Tin Mừng và sống theo Tin Mừng, phải hoán cải và tin vào Chúa Giêsu (Mc 1,15; x. 10,29). Cha thánh Phanxicô đă diễn tả một cách cụ thể hơn : sống theo Tin Mừng là “bước theo vết chân Chúa Giêsu Kitô”, nghĩa la tuân giữ các lời Người dạy và bắt chước các việc Người làm.
1. Chúa Giêsu đă bước đi như thế nào ?
- Người luôn bước đi trong Thần Khí, v́ được trán đầy Thần Khí và được Thần Khí thúc đẩy (x. Lc 4,1.14.17; 10,21. . .).
V́ vậy, cha thánh dạy chúng ta : “Trên hết mọi sự, anh em hăy ao ước được Thần Linh Chúa hiện diện và tác động nơi ḿnh” (L 10,8), và “Anh em phải bước đi trong Thần Khí” (Lksd 5,4-5).
2. Chúa Giêsu đă sống như thế nào ?
- Chúa Giêsu đă sống vâng lời, nghèo khó và khiết tịnh trọn hảo.
V́ thế, cha thánh dạy : “Luật và đời sống AEHM là tuân giữ thánh Phúc Am Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta bằng cách sống vâng phục, không có của riêng và khiết tịnh” (L 1,1). Và :
+ “Chúng ta cũng phải từ bỏ chính ḿnh và đặt ḿnh dưới ách của thánh đức vâng lời (T Th II, 40),
+ biết bố thí (T Th II, 31), ăn ở hèn mọn, dâng trả mọi điều lành về cho Chúa (T Th II, 42-43), đừng lo lắng bận bịu với sự đời (T Th II, 65) và biết tích trữ của cải trên trời (T Th II, 70-85).
+ “Đức Chúa Cha cũng muốn tất cả chúng ta được cứu độ bởi Đức Chúa Con và đón nhận Đức Chúa Con với tấm ḷng trong trắng và thể xác khiết tịnh” (T Th II, 14.19.45.53).
3. Chúa Giêsu luôn hướng ḷng về Chúa Cha để cầu nguyện với Người và làm theo thánh ư Người (Ga 4,34).
V́ vậy, cha thánh dạy chúng ta : hăy để cho Thần Linh Chúa tác động trong nội tâm, để chúng ta có thể cầu nguyện liên lỉ cùng Chúa Cha, với tấm ḷng trong sạch (L 10,8-9), luôn t́m hiểu, ước muốn và thi hành những điều đẹp ḷng Chúa Cha và đến với Người (Kinh Lạy Thiên Chúa toàn năng vĩnh cửu : T TD, 50-52).
4. Chúa Giêsu đă qui tụ các tông đồ và môn đệ quanh Người thành một cộng đoàn. Sau khi sống lại và lên trời, Người đă gửi Thánh Thần xuống trên cộng đoàn ấy để biến nó thành Giáo hội thánh thiện, duy nhất, công giáo và tông truyền.
V́ vậy, cha thánh dạy chúng ta hăy trung thành với đức tin công giáo (T Th II, 32) và bày tỏ ḷng trung thành với Giáo hội, tuân phục Ṭa thánh bằng cách viếng nhà thờ và kính trọng các giáo sĩ (T Th II, 33).
5. Chúa Giêsu đă được thánh hiến và xức dầu Thánh Thần để đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó và nâng đỡ kẻ đau khổ. . .(x. Lc 4,17-19).
V́ vậy, cha thánh đă khuyên chúng ta biết “ghi tạc vào ḷng và thể hiện ra bằng hành vi thánh thiện” “những lời thơm tho này của Chúa Giêsu Kitô” (T Th I, 21.19) và yêu mến bằng việc làm (T Th II, 26.27.38.53).
Đức Piô XI, trong Huấn thị Rite expiatis, đă nhận định : “Dường như không có vị thánh nào mà nơi ḿnh lại chiếu sáng h́nh ảnh của Đức Giêsu Kitô và phương pháp sống Phúc Am với tất cả những nét tương tự và ư vị cho bằng nơi thánh Phanxicô. Mà chính ngài, đă tự mệnh danh là Người Tiền hô của Đức Đại Vương, cũng đă được gọi là một Kitô khác, bởi v́ ngài đă bày tỏ ra nơi ḿnh ngài, cho những người đương thời và những thế hệ tương lai, thấy ngài như là một mẫu mới về Chúa Kitô. Chính v́ thế, vào ngày hôm nay, ngài vẫn đang sống trước mắt chúng ta và sẽ đi tới với tất cả các thế hệ mai sau”.
IV.- Hệ luận : Thái độ của chúng ta đối với Phúc Am
1. Phúc Am được cha thánh Phanxicô coi là Luật của các anh chị em Phan sinh (x. ĐT 14,5; 2 Cel 216). Như vậy, chúng ta phải sống Phúc Am một cách triệt để : Lấy Phúc Am làm ánh sáng soi dẫn tư tưởng và hành động của chúng ta trong tương giao với Thiên Chúa cũng như với người khác.
2. V́ kính trọng và yêu mến Phúc Am, cha thánh không chấp nhận cách giải thích chủ quan theo sở thích của từng cá nhân và theo kiểu khôn ngoan của người đời; trái lại, ngài muốn hiểu Phúc Am theo “Tinh thần Kinh thánh” (= Tinh thần Chúa trong Kinh thánh) (Hn 7), nghĩa là đúng như điều Chúa Thánh Thần, tác giả Kinh thánh, muốn nói với chúng ta. Và nơi bảo đảm cho chúng ta được nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần là Giáo hội, cụ thể là Giáo huấn của các vị chủ chăn và của các nhà thần học được Giáo hội thừa nhận. Các ngài có thẩm quyền và bổn phận ban phát các lời rất thánh của Chúa, các lời thơm tho, đầy Thần Khí và sự sống của Chúa Kitô và của Chúa Thánh Thần (DC 13; T Th II, 3). Ḷng yêu mến đối với Phúc Am dẫn tới thái độ kính trọng đối với các vị chủ chăn và các nhà thần học. Khi ấy, chúng ta sẽ sống Phúc Am một cách công giáo, nghĩa là sống Phúc Am trong Giáo hội và hiểu Phúc Am như Giáo hội hiểu.
3. V́ luật và đời sống của các anh chị em Phan sinh là tuân giữ Phúc Am, nên chúng ta có bổn phận phải biết và hiểu Lời Chúa. Muốn thế, chúng ta phải thường xuyên đọc và học hỏi Phúc Am, phải tiếp nhận ánh sáng mới của khoa chú giải Kinh thánh theo sự chỉ dẫn của Giáo hội. Chúng ta phải thèm khát Lời Chúa, thích lắng nghe và suy niệm Lời Chúa, tin vào sự thât và sức mạnh của Lời Chúa là “Thần Khí và sự sống “ (Ga 6,63). Khi đó, chúng ta sẽ thực hiện được hai việc :
- “đi từ Phúc Am đến đời sống”, nghĩa là đem Phúc Am ra thực hành (T TD, 34; T Th II, 18) trong đời sống cụ thể, và
- “đi từ đời sống đến Phúc Am”, nghĩa là đem đời sống hằng ngày của ḿnh đối chiếu với Phúc Am để biết phải suy nghĩ, phải hành động thế nào cho phù hợp với Lời Chúa dạy.
Tin Mừng thuậ lại các lời nói và việc làm của Chúa Giêsu. Hơn nữa, Tin Mừng chính là Chúa Giêsu. v́ thế, cha thánh Phanxicô kính trọng và yêu mến Tin Mừng như là kính trọng và yêu mến Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể (x. T Gs, 3.12; T TD, 35-36).
Đời sống Phan sinh sẽ chẳng là ǵ cả, nếu nó không phải là một cuộc trở về thường xuyên và thiết thực với Tin Mừng. Và trở về với Tin Mừng chính là chọn lựa bước theo Đức Giêsu Kitô nghèo khó. Như vậy, thánh Phanxicô và tất cả mọi anh chị em Phan sinh sống Tin Mừng là do yêu mến Đức Kitô tràn đầy, chứ không phải v́ muốn phản kháng lại bất cứ ai. Tiểu thuyết gia Pháp, Georges Bernanos, đă thấy rơ điều đó, khi trong tác phẩm Frère Martin, ông so sánh thánh Phanxicô với Luther : “. . . Có thể là thánh Phanxicô thành Assisi so với Luther đă cảm thấy công phẫn không kém khi đứng trước lối sống phóng đăng và tệ đoan buôn thần bán thánh của hàng giáo sĩ. Điều chắc chắn là ngài đă rất đau khổ v́ các tệ đoan ấy, v́ bản tính của ngài rất khác bản tính của vị giáo sĩ thành Weimar (tức ông Luther). Nhưng ngài đă không lên mặt thách thức sự bất công. Ngài đă không tính chuyện đương đầu với nó. Ngài chỉ dấn ḿnh vào nếp sống nghèo, và dấn sâu vào đó hết sức ḿnh cùng với anh em của ngài. Như vào trong nguồn mạch mọi ơn tha thứ, mọi tâm t́nh trong trắng. . . Và dưới bàn tay dịu hiền của người hành khất ấy, đống vàng bạc và nhục dục đă nở hoa như một hàng rào vào tiết tháng tư. . .”
Quả thật, trong tất cả các Bút tích của thánh Phanxicô, không hề có dấu vết một sự phản kháng hay khiêu khích nào với xă hộivà Giáo hội thời ngài cả. Trái lại, chúng ta gặp những đoạn trong đó thánh nhân lưu ư anh em đề pḥng “tinh thần thập tự quân” đo. Chẳng hạn :
- L 2,17 : “Tôi nhắc nhở và khuyến khích anh em, đừng khinh dể và phê phán những người trang phục xa hoa, sặc sỡ, và ăn uống cao lương mỹ vị, nhưng tốt hơn, mỗi người hăy tự phê phán và khinh dể chính ḿnh” (x. Lksd 2,14-15).
-L 3,10-12 : “Tôi khuyên bảo, lưu ư và khuyến khích anh em trong Chúa Giêsu Kitô, khi anh em đi ra giữa đời, thi đừng gây sự và căi cọ, cũng đừng xét đón ai; nhưng hăy tỏ ra dịu dàng, hiền ḥa và từ tốn, khả ái và khiêm nhương, nói năng tử tế với hết mọi người sao cho thích hợp”