BÀI GIẢNG CHÚA NHẬT LỄ LÁ
![]()
CN LỄ LÁ - A
Matthêu Mt 21, 1-11; 26,14-27,66; (27,11-54)
16-3-2008
CN Lễ Lá Lm PX. Vũ Phan Long, ofm 02
CN Lễ Lá Lm Carolô Hồ Bạc Xái 09
CN Lễ Lá Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR 16
CN Lễ Lá Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR 19
CN Lễ Lá Lm Trần Thanh Sơn 22
CN Lễ Lá Lm Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh 27
CN Lễ Lá Lm Augustine, SJ 37
CN Lễ Lá Lm Jos Phạm Ngọc Ngôn, Csjb 42
CN Lễ Lá Lm Phêrô Nguyễn Hữu Duy 45
CN Lễ Lá Lm Trần B́nh Trọng 52
CN Lễ Lá Lm An Phong, OP 54
CN Lễ Lá Lm Giuse nguyễn Cao Luật, OP 56
CN Lễ Lá Jude Siciliano, OP 59
CN Lễ Lá Lm Giuse Như Hạ, OP 64
CN Lễ Lá Lm Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP 69
CN Lễ Lá Lm Minh Vận, CMC 71
CN Lễ Lá Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường 77
CN Lễ Lá Manna 81
CN Lễ Lá Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm 84
CN Lễ Lá UBKT-HĐGM VIỆT NAM 93
ĐỨc Giêsu vào thành Giêrusalem
(Mátthêu 21,1-11) – A
Khi tưởng niệm cuộc khải hoàn của Đức Giêsu, là tín hữu, chúng ta có thể dựa vào các nhân vật trong bài tường thuật mà thấy ḿnh theo Đức Giêsu trong tâm trạng nào, ḿnh chờ đợi ǵ nơi Người, c̣n chính Người đang chờ đợi ǵ nơi chúng ta.
Lm PX Vũ Phan Long, ofm
1.- NgỮ cẢnh
Theo bố cục của Tin Mừng Mt, sự cố được tường thuật lại đây là mở đầu cho tuần lễ cuối cùng của cuộc sống Đức Giêsu trên trần thế. Kể từ biến cố Đức Giêsu vào Giêrusalem cho đến bữa tối cuối cùng rồi Người bị bắt, bị xử, bị đóng đinh, và sống lại, Mt theo chính xác thứ tự của TM Mc, ngoại trừ truyện cây vả được sắp xếp lại một chút (x. 21,18-22 = Mc 11,22-26). Trong Mt, cuộc tiến vào “khải hoàn” và việc “thanh tẩy” Đền Thờ xảy ra trong cùng một ngày, đó là ngày thứ nhất Đức Giêsu ở lại Giêrusalem; trong Mc, các sự việc ấy được tách ra đặt vào hai ngày khác nhau. Mt giữ lại tất cả chất liệu của Mc ngoại trừ bài học từ câu truyện đồng xu của bà goá (x. Mc 12,41-44).
Cuộc tiến vào Giêrusalem trong bầu khí khải hoàn trên một con lừa là h́nh
ảnh đối lại với cuộc tiến lên Núi Sọ, dưới khối nặng của thập giá. Họi Thánh
đang nhớ lại cuộc Thương Khó của Chúa, nhưng cũng báo trước vinh quang (hôsanna)
Phục Sinh. Đây là cuộc tỏ ḿnh công khai của Đức Giêsu cho quốc gia nên hẳn cũng
là một đề nghị mà Họi Thánh sơ khai một lần nữa ngỏ với các thành
viên Hội đường để họ chấp nhận Đấng Mêsia thuộc ḍng dơi vua Đavít (x.
23,37-39).
2.- BỐ cỤc
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Đức Giêsu tổ chức cuộc diễu hành (21,1-7);
2) Đức Giêsu tỏ ḿnh (21,8-11).
3.- Vài điỂm chú giẢi
- Giêrusalem (1): Đây là kinh đô của miền Giuđê,
cũng là Sion, trung tâm tôn giáo của dân Do-Thái, v́ có Đền Thờ.
- Chúa (3): Sự hiểu biết và quyền chúa tể của Đức Giêsu được Mt nhấn
mạnh đặc biệt ở đây
- Đức Giêsu cưỡi lên (7): dịch sát là “cưỡi lên chúng (= hai con lừa)”; đây
là một h́nh ảnh khó mà h́nh dung được. Người ta có thể tránh khó khăn này
bằng cách coi “chúng” đây là các “áo choàng”. Bản dịch CGKPV Bốn sách Tin
Mừng (tr, 95) cho một lời giải thích hợp lư: “Đơn giản nhất có lẽ là
Mát-thêu muốn đưa lời Da-ca-ri-a (thật sự chỉ nhấn mạnh tới con lừa con mà thôi)
cho hợp với trường hợp của Chúa Giêsu (thật sự có hai con lừa), mà không quan
tâm tới chuyện trục trặc”.
- hôsanna (9): Từ ngữ Híp-ri hôsư‘ah-nna’, hay hôsha‘-na có
nghĩa là “Xin trợ giúp (hay Xin cứu độ), con cầu nguyện”. Đây là một phần
trích từ câu Tv 118,25.26, sau này thành một lời tung hô.
- náo động (10): Động từ eseisthê (động từ seiô được dùng 3
lần trong Mt) diễn tả những hiện tượng đi theo việc khai mở thời đại cánh
chung. Ở Mt 27,51, động từ này loan báo hiện tượng động đất đi theo cái chết của
Đức Giêsu. Ở 28,4, động từ này diễn tả nỗi kinh hoàng đến nỗi ra như chết của
những người lính canh vào lúc Đức Giêsu sống lại (x. 2,3-7).
4.- Ư nghĩa cỦa bẢn văn
* Đức Giêsu tổ chức cuộc diễu hành (1-7)
Tác giả ghi nhận rằng chính Đức Giêsu muốn có cuộc diễu hành này, và Người đă lên kế hoạch thực hiện. Điều này cho hiểu là Đức Giêsu ư thức Người là Đấng Mêsia, Người làm chủ t́nh h́nh; Người có uy thế hơn các đối thủ của Người. Quả thế, Mt nêu bật rằng các môn đệ làm theo “lời Đức Giêsu đă truyền” (c. 6). Ngoài ra, vâng phục Đức Giêsu là nét tiêu biểu của người môn đệ. Lời tự xưng Đức Giêsu nói với hai môn đệ khi gửi họ đi (“Chúa”, c. 3) nhắc nhớ tới đức tin của Họi Thánh vào Đức Kitô Phục Sinh. Trong khi cộng đoàn nhắc lại một sự cố đầy ư nghĩa thuộc về Đức Kitô lịch sử, cộng đoàn lại loan báo sự hiệp thông của ḿnh với Đức Kitô Phục Sinh (“Chúa”). Quang cảnh sắp được kể tự nó đă khá rơ, nhưng tác giả theo thói quen thấy cần minh họa bắng hai câu trích Kinh Thánh (Is 62,11: “Hăy bảo thiếu nữ Sion” và Dcr 9,9 nói về đức vua ḥa b́nh). “Thiếu nữ Sion”trong truyền thống ngôn sứ là Israel cánh chung được nhân cách hóa, ở đây là dân cư Giêrusalem. Ở Dcr 9,9, vị ngôn sứ nói “Nào thiếu nữ Sion, hăy vui mừng hoan hỷ”, Mt tránh lời mở đầu này bằng cách dùng công thức của Is 62,11. Ông không cảm thấy sẵn sàng mời thành thánh vui lên khi mà chẳng bao lâu nữa ông sẽ phải lên án thành này. Bản văn Is có giọng kiên quyết “Hăy bảo” nhằm nhắc nhở dân Thiên Chúa. Bản văn của Dcr th́ chi tiết hơn, nhưng Mt chỉ nhắc đến những chi tiết nào phù hợp với đề tài ông đang bàn. Ông chủ ư bỏ những tên gọi “Đấng Công Chính và Đấng Toàn Thắng” để tránh làm cho người ta nghĩ đến một chiến binh hay một nhà chinh phục. Giêrusalem là thành vua Đavít, nhưng từ lâu đă phải quy phục Dân Ngoại; nay thành thấy tái xuất hiện bên trong ṿng tường thành vị vua của chính ḿnh, đă được Thiên Chúa hứa ban từ thời xa xưa (x. 2 Sm 7,14). Tuy nhiên, để dân chúng đừng hiểu lầm Đức Giêsu đến trong t́nh trạng khiêm nhu hiền hậu, chịu suy phục. Người là đức vua của các anawưm (những người nghèo), hơn là vua của những ghibborưm (những người mạnh) vẫn chầu quanh vua Đavít (x. 2 Sm 1,19.21).
* Đức Giêsu tỏ ḿnh tỏ ḿnh (7-11)
Ư nghĩa thiên sai của cuộc biểu dương lại c̣n được nêu bật bởi con số đông đảo dân chúng tham gia (chỉ Mt ghi nhận điểm này), bởi những cử chỉ họ làm (trải áo và vẫy các cành lá) và bởi các lời tung hô. Khi trải áo của ḿnh trên con lừa và trên đường, các môn đệ và đám đông chỉ làm một điều là xác nhận phẩm cách của Người (x. 2 V 9,13). Khi ghi nhận rằng người ta “chặt nhành chặt lá mà rải lên lối đi” (khác với Lc 19,17 và Mc 11,8), Mt muốn nhắc lại Tv 118,25-26 trong đó gợi tới những nghi thức người ta làm trong dịp Lễ Lều: dân chúng đi rước lên Đền thờ, tay vừa phất các cành lá linh thánh (lubab) vừa hát các câu tung hô rút từ Tv 118 (x. thêm 2 Mcb 1,9; 10,6). Lễ Lều nhắc lại thời gian sống trong sa mạc, nên cũng gợi đến cuộc xuất hành và giải phóng khỏi Ai-cập; do đó, cuộc cử hành Lễ Lều làm thức tỉnh lại những nỗi niềm chờ mong Đấng Mêsia cả nơi dân chúng lẫn cấp lănh đạo. Trong khung cảnh này, bài tường thuật việc Đức Giêsu vào Thành thánh là một sứ điệp rất khéo bố trí mà Mt gửi đến cho cộng đồng Israel.
Các lời tung hô xác nhận ư nghĩa của cuộc diễu hành đang diễn tiến. Tiếng ḥ la
là một thể văn thuộc về nghi thức các cuộc tôn vương (x. 1 V 1,39). Lời
cầu chúc của đám đông được diễn tả lặp đi lặp lại bằng từ ngữ Híp-ri
hôsư‘ah-nna’, hay hôsha‘-na (Hy-Lạp hôsanna) cũng rút từ Tv
118,25, ghép với danh xưng “con vua Đavít” không có trong Tv. Lúc đầu “hôsanna”
là một tiếng kêu khẩn cầu và nài van (“xin ban ơn cứu độ”), nhưng với
thời gian đă trở thành một lời diễn tả niềm vui và sự chờ đợi Đấng Mêsia.
Tên gọi “con vua Đavít” được làm giảm nhẹ và được sửa chữa bởi câu diễn giải của
Tv 118,21: “Nguyện xin Chúa tuôn đổ phúc lành cho người tiến vào đây nhân danh
Chúa”. Để tránh mọi hiểu lầm, Mt đă bỏ bản văn Mc 11,10 (“Chúc tụng triều
đại đang tới, triều đại vua Đavít, tổ phụ chúng ta. Hoan hô trên các tầng
trời”). Đức Giêsu là con vua Đavít, nhưng triều đại Người không thuộc về thế
gian này (x. Ga 18,36). Câu cuối cùng “Hoan hô trên cơi trời cao” xác nhận mối
bận tâm này. Cuộc diễu hành rất có thể trở thành một cuộc duyệt binh thật
ra là một cuộc rước mang tính phụng vụ trong đó người ta khẩn khoản thỉnh
cầu Thiên Chúa thực hiện những lời hứa ban ơn cứu độ. Đấng Mêsia là một
sứ giả của Thiên Chúa, sẽ mang đến cho loài người không phải là các của cải trần
gian nhưng là các phúc lành của trời cao.
Đám đông tham dự vào cuộc rước dường như là đoàn người đă đi lên với Đức Giêsu
từ Giêrikhô (20,29.34). Mt phân biệt họ với dân cư Giêrusalem đang lănh
đạm chứng kiến sự cố. Phản ứng của dân chúng Giêrusalem (“cả thành” là một
lời phóng đại, nhưng nói lên ư muốn kéo toàn thể khối đông dân chúng vào
việc loại trừ Đấng Mêsia) được diễn tả bằng những từ ngữ đầy kịch tính (“náo
động”). Sự rúng động này không phải là về thiên nhiên nhưng về tinh thần. Tất cả
Giêrusalem biết rằng họ đang ở vào khoảnh khắc cuối cùng của lịch sử và đang ở
trước một biến cố lạ lùng: gặp gỡ với Đấng Cứu độ hoặc Đấng Thẩm phán của
họ. Câu hỏi họ đặt ra cho đoàn người đang tiến đi chứng tỏ điều này. Đám đông
đang đi rước đă làm chứng, nhưng chứng từ của họ quá nghèo nàn: “Ngôn sứ Giêsu,
người Nadarét, miền Galilê đấy”. Danh xưng “ngôn sứ” th́ không rơ ràng ǵ mấy,
bởi v́ Gioan Tẩy Giả cũng được gọi như thế (11,9; 14,5; 21,26; x. 16,14; 21,11;
21,46), và lại c̣n là một ngôn sứ cao cả (11,9). Lời nhắc đến Nadarét và
Galilê chỉ càng khiến cho người ta bớt tín nhiệm Đức Giêsu (13,57; x. 23,37; Ga
1,46). Ngoại trừ ở 2,23 (để dùng Kinh Thánh mà biện minh cho xuất xứ của Đức
Giêsu) vẫn tránh gọi Đức Giêsu là người Nadarét hoặc Galilê; nếu tên ấy có trở
lại, là trên môi miệng các đối thủ Đức Giêsu (26,69). Tuy nhiên, ở đây Mt
vẫn để cho đám đông nhắc đến: “Vị ngôn sứ Nadarét”, đối tượng khiến người
Giêrusalem phải ngạc nhiên hay gai chướng, cũng chính là con cháu vua Đavít vừa
mới được hoan hô.
+ Kết luận
Cuộc biểu dương này ngay tại trụ sở của Do-Thái giáo chính thức là bằng chứng tối hậu Đức Giêsu cung cấp cho quốc gia Do-Thái. Tại toà án Rôma, chính Philatô đă giới thiệu Đức Kitô-vua cho người Do-Thái Giêrusalem (x. Ga 19,14). C̣n ở đây lại chính là những người Do-Thái bán ngoại giáo của miền Galilê làm công việc đó. Cả hai lần giới thiệu đó đều được kết thúc bằng một sự phủ nhận, nhưng lịch sử dân Do-Thái không thể xoa bỏ quang cảnh này đi được nữa. Chỉ khi Israel cũng tham gia vào cuộc khải hoàn của Đấng Mêsia Nadarét, họ mới có thể được thừa hưởng ơn cứu độ (x. Mt 23,39).
5.- GỢi ư suy niỆm
1. Đức Giêsu đă đứng ra tổ chức cuộc tiến vào Giêrusalem. Như thế, không phải là Người đă “hớ hênh” để rồi bị bắt và đưa đi xử tử. Chính cách thức Người chọn (ngồi trên lưng lừa, không có quân lính tiền hô hậu ủng) cho hiểu là Người là Đấng Mêsia thuộc nhà Đavít, nhưng không như Đấng Mêsia dân Israel hằng mong đợi.
2. Vũ khí của Người là sự hiền hậu; với vũ khí này, Người sẽ đánh bại sự ngạo
mạn của những kẻ tội lỗi và nhất là ban sự tin tưởng lại cho những người yếu thế
(x. 18,1-6), cho những người nghèo (x. 5,3-4; 11,28-30), những người bị áp bức.
Con vật Người cưỡi phù hợp với sứ mạng này. Đấng Mêsia đă đi vào Giêrusalem,
không phải như một nhà giải phóng quốc gia, nhưng như một đưa vua
ḥa b́nh. Đức Giêsu là đức vua thiên sai được ngôn sứ loan báo, nhưng ngược lại
với các nỗi niềm chờ mong, Người không đến ban tặng cho dân cư Giêrusalem chiến
thắng trên quân thù, nhưng ban tặng ơn cứu độ và t́nh bằng hữu của Thiên Chúa.
3. Hôm nay, chúng ta thấy ḿnh ở trong đám đông nào? Đoàn người đi theo Đức
Giêsu từ Giêrikhô hay dân cư Giêrusalem? Chúng ta thấy ḿnh được tượng trưng bởi
đoàn người vẫn đang đi theo Đức Giêsu: đây là Họi Thánh lữ hành đang tiến đi mà
loan báo cho cà người Do-thái (cc. 10-11) lẫn Dân ngoại (x. 28,19) biết Đức
Giêsu là “con cháu vua Đavít”, là Đấng Cứu độ loài người. Chúng ta mời gọi mọi
người đón tiếp một Đấng Mêsia nghèo hèn và khiêm nhường.
Lm PX Vũ Phan Long, ofm
ĐỨc Giêsu là ngưỜi tôi tỚ cỦa Thiên Chúa
(Mt 21,9)
Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái
I. DẪn vào Thánh lỄ
(Dùng bài dẫn vào phụng vụ Lễ Lá được soạn sẵn trong Sách Lễ Rôma)
II. GỢi ư sám hỐi
- Đă bao lần chúng ta nghe đọc bài Thương Khó, nhưng có khi nào chúng ta cảm được t́nh thương bao la của Đức Giêsu khiến Ngài phải chịu bao đau khổ như thế v́ chúng ta không?
- Trong cuộc Thương khó, Đức Giêsu đă hạ ḿnh xuống đến mức thẳm sâu nhất. Phần chúng ta, chúng ta lại thường thích nâng ḿnh lên.
- Đức Giêsu đă phán "Ai muốn theo Ta, hăy bỏ ḿnh và vác thập giá mà theo". Chúng ta có thực hiện lời Ngài dạy không?
III. LỜi Chúa
1. Bài Tin Mừng khi kiệu lá (Mt 21,1-11)
Trong tŕnh thuật của ḿnh, Thánh Matthêu giới thiệu một Đấng Messia mà toàn dân trông đợi. Nhưng đó không phải là một Đấng Thiên sai sử dụng quyền lực để thống trị, mà là một vị Thiên sai khiêm nhu, hiền hậu, không một vũ khí trong tay. H́nh ảnh Đấng Thiên sai hiền ḥa đó đă được ngôn sứ Dacaria miêu tả: "Hăy bảo thiếu nữ Sion: Ḱa Đức vua của ngươi đến với ngươi, hiền hậu ngồi trên lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ". Thánh Matthêu cố ư không trích dẫn câu "Ngài là người công minh và hiển hách" để tránh cho người nghe ư nghĩ về một Đấng Thiên sai quyền lực lẫm liệt uy phong. Đối với Matthêu, Đức Giêsu là Đấng Thiên sai khiêm tốn, giản dị, hiền ḥa như con cừu người ta đem đi sát tế. Ngài luôn luôn vâng theo thánh ư Đức Chúa Cha với tất cả tâm t́nh của người con thảo. (Trích số đặc biệt của Báo Công giáo và dân tộc, Giáng sinh 98, trang 140-141).
2. Bài đọc Cựu Ước (Is 50,4-7)
Đây là phần đầu bài ca thứ ba của Người Tôi Tớ trong sách Isaia. Có 3 ư chính:
- Người Tôi Tớ không chống lại Thiên Chúa. Ngược lại luôn tỉnh táo nghe Lời Ngài.
- Người Tôi Tớ không dùng bạo lực để chống lại bạo lực.
- Người Tôi Tớ đặt trọn niềm tin cậy phó thác vào Thiên Chúa là Đấng sẽ đến giải thoát ḿnh.
3. Đáp ca: Tv 21
Tv này là tiếng than van của người đang phải chịu khổ đến cùng cực, đến nỗi có lúc người đó tưởng như Thiên Chúa cũng bỏ rơi ḿnh. Dù vậy, tác giả cũng vẫn một niềm trông cậy vào Chúa, nên sau những lời than thống thiết đă cất tiếng ca tụng Thiên Chúa và c̣n kêu gọi mọi người hăy cùng ḿnh chúc tụng Chúa.
Trong lúc bị đóng đinh trên Thập giá, Đức Giêsu đă dùng Tv này để cầu nguyện.
4. Bài thánh thư (Pl 2,6-11)
Đức Kitô có thể làm một Đấng Messia chiến thắng buộc mọi người phải công nhận uy quyền của ḿnh. Thế nhưng Ngài muốn làm một Người Tôi Tớ hạ ḿnh cho đến tận cùng.
Đáp lại thái độ hạ ḿnh khiêm tốn ấy, Thiên Chúa đă tôn Ngài lên làm Đức Chúa của muôn loài muôn vật.
5. Bài Thương khó (Mt 26,14--27,66)
Bốn bài thương khó trong các sách Tin Mừng đều có chất liệu và bố cục gần giống nhau, nhưng mỗi quyển Tin Mừng nhấn mạnh một ư tưởng khác nhau: Máccô sử dụng như một bài giảng truyền giáo; Luca nhấn mạnh đến ḷng nhân hậu của Đức Giêsu; Gioan nhấn mạnh đến sự tự do và vương quyền của Đức Giêsu; c̣n bài thương khó của Mátthêu th́ giống như một bài giáo lư cho biết Giêsu là ai.
Bài thương khó trong Mátthêu có thể chia làm 2 phần: Đức Giêsu với các môn đệ, và Đức Giêsu với các nhà cầm quyền Do Thái và Rôma.
- Đức Giêsu với các môn đệ: phần này diễn ra trong pḥng tiệc ly và vườn Cây Dầu. Mặc dù Ngài rất thương mến các ông, nhưng Phêrô chối Ngài, Giuđa nộp Ngài và các môn đệ kia bỏ Ngài.
- Đức Giêsu với các nhà cầm quyền: Mátthêu muốn cho thấy trách nhiệm của các nhà cầm quyền đối với cái chết của Đức Giêsu. Giuđa đă mang tiền trả lại cho các thượng tế nhưng các ông không nhận và tiếp tục ung dung xúc tiến vụ án. Bà vợ của Philatô khuyên chồng đừng nhúng tay vào vụ án. Nhưng sự can thiệp này không kết quả.
Khi Đức Giêsu tắt thở, lời của viên đại đội trưởng chính là câu trả lời cho câu hỏi giáo lư ("Giêsu là ai"): "Quả thật người này là Con Thiên Chúa".
IV. GỢi ư giẢng
1. Lên và xuống
Đoạn thư Philipphê ngầm so sánh Đức Giêsu với Ađam và nói lên cái nghịch lư giữa "lên" và "xuống": Ađam đă muốn lên "bằng Thiên Chúa" và kết quả là đẩy loài người xuống vực sâu. C̣n Đức Giêsu "tuy vẫn là Thiên Chúa mà không nhất quyết phải đ̣i cho ḿnh được ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đă khước từ tất cả, mặc lấy thân nô lệ thấp hèn". Kết quả là "Thiên Chúa đă siêu tôn Ngài và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu...". Thật đúng như lời Đức Giêsu đă nói "Ai nâng ḿnh lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ ḿnh xuống sẽ được nâng lên".
Chúng ta cũng thường theo con đường của Ađam, tưởng rằng khẳng định được ḿnh khi nâng ḿnh lên trước mặt những người khác. Nhưng cái "ḿnh" mà ta khẳng định ấy chỉ là những dáng vẻ bề ngoài chứ không phải là bản thân thực sự của ḿnh. Hăy theo con đường của Đức Giêsu, con đường vâng lời và từ bỏ. Qua con đường này, Ngài đă được Thiên Chúa tôn lên làm Đức Chúa. Thánh Phanxicô Assisi đă xác tín điều ấy: "Chính lúc quên ḿnh là lúc gặp lại bản thân".
2. Bài học của Đức Giêsu chịu đau khổ
Chúng ta nghĩ ǵ khi nghe bài tường thuật cuộc thương khó của Đức Giêsu? Phải chăng chúng ta xúc động v́ một người vô tội mà phải gánh chịu biết bao đau khổ như thế? Phải chăng chúng ta giật ḿnh nh́n lại bản thân để xem coi ḿnh thuộc về loại "cây khô" gồm những kẻ lạnh lùng hành khổ Ngài, hay "cây xanh" đang vui ḷng chịu khổ như Ngài?
Nhưng c̣n một bài học khác đáng chúng ta để ư hơn: Đức Giêsu đă tha thứ cho tất cả những kẻ làm khổ Ngài, những người có mặt hôm đó cũng như những người của các thế hệ về sau, trong đó có chính chúng ta nữa. Bài học Chúa dạy là phải liên kết lại cả 3 yếu tố: đau khổ, t́nh yêu và tha thứ.
3. Lời nguyện xin tha
Trong trại tù Auschwitz, một trại tù nổi tiếng của Đức Quốc Xă giam giữ những người Do Thái, người ta đă t́m được một lời cầu nguyện rất cảm động như sau:
Lạy Chúa, xin đừng chỉ nhớ đến những người thiện chí, mà hăy nhớ cả những kẻ ác tâm.
Đừng chỉ nhớ những nỗi khổ đă đổ dồn xuống chúng con. mà cũng hăy nhớ đến những hoa trái mà các đau khổ ấy đă sinh ra cho chúng con: t́nh bạn chân thành, sự khiêm tốn, ḷng can đảm, tính quảng đại và con tim nhân ái.
Khi những người hành hạ chúng con phải ra trước toà Chúa phán xét, xin cho tất cả những hoa trái ấy thành những lời xin ơn tha thứ cho họ.
4. Xử án Thiên Chúa
Tôi có một giấc mơ. Tôi mơ thấy ngày tận thế. Hàng tỉ tỉ người tập trung tại một cánh đồng rộng lớn trước toà Thiên Chúa để chờ Ngài xét xử. Nhiều người sợ hăi. Nhưng nhiều khác nổi giận.
Một phụ nữ nói: "Sao Chúa có thể xét xử chúng tôi được? Ngài có biết ǵ về đau khổ đâu! Chúng tôi đă phải chịu khủng bố, đánh đập, tra tấn và giết chết." Vừa nói bà vừa vạch tay áo cho thấy một con số do một trại tập trung Đức quốc xă xâm vào cánh tay bà.
Tiếp theo, một người đàn ông da đen cúi đầu xuống, để lộ một sợi dây thừng đang quấn quanh cổ ông: "Tôi đă bị buộc cổ như thế này chỉ v́ tội làm người da đen, bị rứt khỏi những người thân yêu, rồi bị dẫn xuống chiếc tàu chật cứng như nêm, bị bán làm nô lệ, làm việc nặng nhọc cho đến chết".
Sau đó, một cô gái với ḍng chữ "con hoang" khắc trên trán lên tiếng: "Tôi phải chịu đựng sự sỉ nhục này vượt sức... vượt sức...". Cô nghẹn ngào không nói tiếp được.
Nhiều tiếng nói khác tiếp theo... Mọi người đều trách Chúa v́ những khổ đau họ đă gánh chịu khi c̣n sống. Ngài sung sướng quá v́ cứ sống ở trên trời chỉ toàn ngọt ngào và sáng láng, chẳng hề có một chút mồ hôi, nước mắt, đói khát, sợ hăi, hận thù. Bởi vậy Ngài có biết ǵ về những nỗi khổ của loài người đâu!
Thế rồi họ nhất trí xử Ngài phải xuống sống ở trần gian. Tuy nhiên phải làm sao cho Ngài sống y như một người thường không ai biết Ngài là Thiên Chúa, và cũng không cho Ngài sử dụng quyền phép Thiên Chúa của Ngài. Rất nhiều góp ư được đưa ra:
- Hăy cho Ngài làm một người Do Thái.
- Làm sao cho người ta nghĩ Ngài là một đứa con hoang, để không ai biết Cha thật của Ngài là ai.
- Ngài phải làm việc rất bận rộn đến nỗi bà con Ngài tưởng Ngài bị mất trí.
- Ngài phải nếm nỗi đau bị những bạn thân nhất phản bội.
- Ngài phải bị đưa ra một toà án có sẵn bảng luận tội Ngài.
- Ngài phải bị kết án là tay lừa đảo và bị xử tử.
- Trước khi chết, Ngài c̣n phải nếm mùi tra tấn và lăng nhục.
- Cuối cùng phải cho Ngài biết cảnh chết trong hoàn toàn cô đơn là khủng khiếp đến mức nào.
Lời góp ư cuối cùng đưa ra xong, mọi người im lặng... Và bỗng nhiên họ nhận ra rằng Chúa đă thi hành bản án ấy của họ từ lâu! (Flor McCarthy)
V. LỜi nguyỆn cho mỌi ngưỜi
CT: Anh chị em thân mến
Để chuẩn bị Tuần Thánh, trong suốt Mùa Chay chúng ta đă cầu nguyện, thống hối, chia sẻ t́nh thương và cơm áo cho nhau. Hôm nay phụng vụ tung hô Chúa Giêsu khải hoàn, đồng thời mời gọi ta bước theo Người trên con đường thập giá. Với tâm t́nh biết ơn và chia sẻ sự đau khổ của Đức Giêsu, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.
1. Đức Kitô đă lên Giêrusalem chịu khổ h́nh để cứu độ nhân loại và bước vào vinh quang / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Hội Thánh Chúa / sau khi vượt qua cơi đời này / được đạt tới vinh quang bất diệt.
2. Hiện nay / bạo lực vẫn tràn lan trên khắp thế giới / người ta sẵn sàng lao vào giết chóc nhau / nhiều khi chỉ v́ những lư do rất nhỏ nhặt / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa / thay ḷng đổi dạ con người trên trái đất hôm nay / để mọi người biết yêu thương và tôn trọng nhau hơn.
3. Không nên tự phụ vào sức riêng ḿnh / nhưng phải trông cậy vào ơn Chúa trợ giúp / Đó phải là điều tâm niệm hằng ngày của mọi kitô hữu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các kitô hữu / đừng tự cao tự đại / nhưng phải khiêm tốn / tin tưởng vào ơn phù trợ của Chúa / v́ bản tính con người vốn yếu đuối mỏng ḍn.
4. Bước theo Đức Kitô trên con đường thập giá / là điều xem ra không phải lúc nào cũng dễ dàng thuận lợi / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết cố gắng vượt qua mọi thử thách gian nan / để có thể dấn thân theo Chúa đến cùng.
CT: Lạy Chúa Giêsu, xin cho mầu nhiệm thập giá là mầu nhiệm của t́nh thương luôn sống động trong cuộc đời chúng con, để trong cuộc sống thường ngày, lúc nào chúng con cũng biết yêu thương và tôn trọng lẫn nhau, đồng thời không bao giờ trở nên thánh giá cho người chung quanh. Chúa hằng sống...
Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái
ChẾt đỂ vinh quang
Mt 27, 11-54
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi CSsR
Đọc đọan Tin Mừng của Thánh Matthêu 27, 11-54 hôm nay chúng ta như đang là những
nhân vật tham gia vào cuộc xử án Chúa Giêsu. Bởi v́ suốt ba năm giảng đạo giới
thiệu Nước Trời, giới thiệu chính Ngài cho nhân loại và hơn thế nữa cả thời gian
ẩn dật ở làng quê Nagiarét với cha mẹ của Ngài, Chúa Giêsu đă chuẩn bị cho cuộc
đời cứu thế của ḿnh bằng sự hiếu thảo vâng phục Thiên Chúa Cha. Những năm giảng
đạo đă nhiều lần Chúa nói gần nói xa về con đường khổ h́nh của Ngài để cứu độ
nhân lọai. Nhưng các môn đệ nào đâu có hiểu thế nào là con đường thập giá, thế
nào là con đường đau khổ Chúa Giêsu phải kinh qua để cứu độ con người, cứu độ
nhân lọai, cứu độ từng người
MỘT CON ĐƯỜNG. MỘT CUỘC ĐỜI:
Con đường mà bà cụ già trong truyện phim Sám Hối của Liên Xô nói lên cách công khai, trịnh trọng:” Con đường này dẫn tới đâu ? Con đường này đưa về đâu ? Nếu con đường không dẫn tới nhà thờ, con đường nào có giá trị ǵ ! “. Tôi vẫn suy đi nghĩ lại câu nói đó: con đường dẫn tới Chúa, con đường dẫn tới Thiên Đàng, con đường Thập Giá đưa tới vinh quang là con đường tuyệt vời, con đường người Kitô hữu đang đi. Vâng, Chúa Giêsu năm xưa đă nói với người Do Thái: Con đường Ngài đi họ không đi được. C̣n đối với các môn đệ thân tín, Chúa Giêsu cũng đă có lần nói với họ: con đường Ngài đang đi họ chưa đi được con đường đó. Chúa Giêsu nói tới con đường nào vậy ? Thiết tưởng trong tâm trí đời thường nhưng đầy đức tin của bà già trong phim Sám Hối đă nói lên ư nghĩa Chúa muốn nói ? Một con người sống hoàn toàn thánh thiện, là Chúa là Người, nhưng người Do Thái đâu có hiểu. Họ đă tự nói với nhau:Hay ông ta muốn tự tử ? Chúa Giêsu chẳng chối cũng chẳng nhận. Ngay các môn đệ cũng vậy:” Chúa chỉ nói sau này các con sẽ hiểu”.Vâng, con đường ấy là con đường Thập Giá.Chúa Giêsu đă khẳng địng trong Tin Mừng Ga 8, 21-30:” Khi các ông giương cao con Người lên, các ông sẽ biết tôi là ai”. Giương cao lên có nghĩa là bị treo trên Thập Giá. Chúa trở nên vị Thiên Chúa cứu độ. Chúa chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa v́ người Do Thái không tin. Một con người có tên Giêsu đă đi con đường Thập Giá ngươc với sự suy nghĩ của con người, ngược với ước muốn, suy tư của loài người. Con đường của Ngài là con đường đau khổ của thế gian. Giữa gian trần mà con người thích ham danh vọng, tiền tài, giầu sang phú quí th́ con đường của Chúa chọn, Chúa đi lại là con đường đau khổ. Chúa nói với con người hăy nh́n vào sự thật v́ cuộc đời không phải chỉ trong mơ tưởng, trong huyền thọai mà cuộc đời luôn có đắng cay, khổ cực. Con đường này chẳng ai muốn đi nhưng thực tế lại là cuộc đời bao lâu con người c̣n ở gian trần, c̣n sống ở thế giới này. Nhận ra con đường Chúa đi là cả một sự cố gắng sống ḷng tin. Và cuộc thương khó của Chúa giúp con người có đức tin hiểu được con đường Thập Giá của Chúa.
MỘT ĐÁM NGƯỜI. MỖI SUY NGHĨ CỦA TỪNG NHÓM, TỪNG NGƯỜI:
Thế gian như một đám người ô hợp và bức tranh của họa sĩ Rambrandt: ” Ba Cây Thập Giá”, chúng ta vẫn có thể nh́n ra từng gương mặt của mỗi người chúng ta đứng trước cái chết của Chúa Giêsu. Vâng, hai bên Thập Giá của Chúa Giêsu là hai tên trộm cắp và cây Thập Giá ở giữa là chính Chúa Giêsu. Cái chết cô đơn của Chúa Giêsu trái nghịch với ngày Chúa Nhật lễ lá khi Ngài khải hoàn vào thành thánh Giêrusalem. Đám đông người trước đó tung hô Chúa th́ nay im bặt, họ né tránh, họ xa Chúa, để Chúa ḥan toàn cô đơn trên cây Thập H́nh.Sau cùng, Chúa đă thốt lên:” Lạy chúa, sao Chúa bỏ rơi con ?”. Chúa đă im lặng hoàn toàn, một sự im lặng thánh thiện. Mặc trần gian, mặc nhân loại, mặc mọi người la ó, kêu gào, mắng nhiếc Chúa. Cái đau đớn vẫn là sự dă tâm của con người. Một Thiên Chúa làm người đă sống gần gũi, đă giúp đỡ con người, đă làm biết bao điều tốt đẹp cho con người. Thiên Chúa ấy ngày hôm nay im lặng, trần trụi nằm giữa đồi vắng, trên cây khổ giá giữa hai tên trộm cướp chỉ v́ yêu và cứu độ con người.
· Vâng, chỉ có Mẹ Maria can đảm, kiên tŕ đứng dưới chân Thập Giá, yêu thương Con ḿnh, đồng lao đau khổ với Con của ḿnh.
· Chỉ có thánh Gioan trung thành với Thầy Chí Thánh của ḿnh.
· Chỉ có những người phụ nữ đạo đức yêu thương Chúa chân t́nh mới đứng xa xa mà cảm thông với Chúa.
Bài thương khó của Chúa Giêsu gợi lên trong ta nhiều ư tưởng: Chúa v́ yêu thương ta nên gánh tội cho ta dẫu người hoàn toàn vô tội. T́nh yêu này là t́nh yêu tự hiến, hy sinh:” Không có t́nh yêu nào cao vời bằng t́nh yêu của người hiến mạng sống v́ người ḿnh yêu”( Ga 15, 13 ).
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm ḷng tin cho chúng con, để chúng con chỉ một
ḷng mến Chúa, yêu người và chấp nhận cuộc đời, chấp nhận thử thách với tất cả
ḷng tin của ḿnh. Xin cho chúng con biết vác Thập Giá mỗi ngày mà theo chân
Chúa. Amen.
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi CSsR
Đau KhỔ và SỰ SỐng
Is 50,4-7; Pl 2,6-11; Mt 26,14-27
Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR
Sau bao nhiêu công phu trên động vật, các nhà sinh vật học cho biết: một con cá
sấu có thể sống được 250 năm; con quạ hay con két có thể sống được 200 năm; cá
chép thọ được 100 năm, riêng loài rùa, 100 tuổi vẫn c̣n rất xuân v́ chúng có thể
sống được đến 300 năm.
Tôi tự hỏi: những con vật chẳng đáng giá là bao mà sao được hưởng đời lâu thế,
đang khi con người là loài cao quí mà sự sống nơi dương gian lại không bằng một
góc các con vật kia vậy?
Đành rằng cũng có người sống được đến tuổi 100, nhưng con số đó đâu có nhiều.
Cộng đi tính lại, người ta có được bản thống kê: năm 1900 tuổi thọ trung b́nh
của nhân loại là 49; năm mươi năm sau, tuổi trung b́nh là 67; đến năm 2000 th́
cao hơn 70 một chút.
Cuộc đời kéo dài 60,70 năm nhưng có phải tất cả đều được an lành vui sướng hết
chăng? Những tháng ngày ḿnh sống đều là những mùa xuân tươi thắm, hay vừa vào
xuân đă thấy thu, mới được thanh b́nh đă gặp khổ đau?
Không ít người cảm thấy đời người sao có quá nhiều bất hạnh, tiếng khóc dường
như nhiều hơn tiếng cười, khổ đau tràn đầy hơn niềm vui. Thế rồi phản kháng nảy
sinh. Không chỉ nơi kẻ vô thần, nhưng c̣n từ những người tin nhận có Thượng đế.
Không ít người uất ức đặt câu hỏi: Tại sao Thiên Chúa không loại trừ sự dữ và
khổ đau? Phải chăng Ngài bất lực?
Trước những đau khổ và mất mát, một câu trả lời triết lư thế nào đi nữa cũng khó xoa dịu ḷng người. Chi bằng cứ nh́n vào khổ đau và cái chết của một con người có tên Giêsu hầu t́m gặp một sự cảm thông chia sẻ, hơn là một sự tránh né hay phản kháng.
Doăn qua cuộc đời Chúa Giêsu, tôi thấy Ngài cũng từng trải qua một cuộc vượt
biên gian nan và vĩ đại. Vượt từ thế giới vô h́nh sang thế giới hữu h́nh, từ cao
sang tột đỉnh qua nghèo hèn cùng đinh, từ Nước Trời vào nước Palestine. Ngài
vượt biên không phải để t́m tự do, hạnh phúc, hay sự sống, nhưng đúng hơn, là để
trao ban tự do, hạnh phúc và sự sống phong phú cho con người. Để làm nên chuyện
đó, Ngài đă phải đánh đổi tự do và cả sự sống rất xuân của ḿnh.
Đức Giêsu chấp nhận cái chết để mầm sống được nảy sinh. Nhưng cái chết của Ngài
đâu có oai phong hay yên lành cho cam. Trái lại đó là một cái chết đầy tính bạo
động, đau đớn, đơn côi, và quằn quại trên thập giá với những vết thương sâu hoắm
hận thù.
Ngay trong chính khổ đau tận cùng của Đức Giêsu trên thập giá lại bừng lên chân
lư sống của Tin Mừng: "Ai mất sự sống v́ Ta th́ sẽ sống."
Điểm then chốt trong chân lư này không phải là "mất sự sống," bởi v́ ai lại
không bị mất sự sống. Và sự mất mát đó đâu phải chỉ thuần túy xảy đến trong giờ
chết, nhưng c̣n ngay trong giờ sống hàng ngày của con người. Mỗi ngày sống là
một ngày chết. Người ta đang mất sự sống từng giờ, từng phút, từng giây. Thế nên
"mất sự sống" là điều không thể tránh khỏi. Đau khổ v́ phải chết hàng ngày là
điều tất nhiên. Thế nhưng, trong sự tất nhiên và không tránh khỏi đó vẫn ánh lên
một niềm hy vọng: t́m gặp sự sống mới, không phải chỉ kéo dài 60,70 năm,
nhưng là vĩnh hằng trong Đức Kitô.
Hy vọng đó được kết tinh khi con người chấp nhận "mất sự sống" hàng ngày trong
tâm t́nh phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa. Đây chính là bài học diệu kỳ nơi
thập giá: ngay lúc sắp chết, với những hơi thở thoi thóp, cùng những cơn co giật
nhức buốt, vậy mà Đức Giêsu đă thốt lên: "Lạy Cha, Con phó thác mạng sống con
trong tay Cha."
Sự sống gần như tắt ngấm, đau khổ đă tiến đến đỉnh cao, cuộc đời của con người
như thế th́ c̣n ǵ nữa! Vậy mà vẫn c̣n đó một tâm t́nh tín thác, gắn bó trọn vẹn
với Thiên Chúa. Phải chăng từ khởi điểm của sự phó thác này mà mầm phục sinh hay
sự sống mới đă bắt đầu thành h́nh, và như thế, u sầu tang thương không c̣n sức
mạnh thống trị, nhưng bắt đầu nhường chỗ cho niềm vui phục sinh lên ngôi?
Khi không thể tránh khỏi đau khổ và mất mát sự sống mỗi ngày th́ sự b́nh an sâu
thẳm và mầm Phục sinh vinh quang chỉ có thể đến được với tâm hồn nếu con người
biết
sống và chết v́ Chúa, với Chúa, trong Chúa.
Thế nên, dù đang phải vất vả lăn lộn với bệnh tật, tai ương, khốn khó cuộc sống, hay bao trái ư do tha nhân mang lại, cho dù ngày đời bị pha trộn với bao buồn vui, sướng khổ, thành công, thất bại, hoặc chết chóc chia ly, tôi vẫn quyết giữ măi cho ḿnh một niềm cậy trông tín thác vào Thiên Chúa.
Chính khi biết đón nhận tất cả trong tin yêu và phó thác vào Đấng đă từng gánh vác, chia sẻ, để thánh hóa khổ đau, nước mắt con người, tôi sẽ t́m thấy ư nghĩa của sự sống trong những cái chết đang xảy ra.
Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR
ĐưỜng thẬp giá
Lm Trần Thanh Sơn
Hôm nay, Chúa Nhật lễ Lá, khởi đầu cho tuần Thánh, tuần lễ
quan trọng nhất trong cả năm Phụng vụ của Kitô giáo, tôi muốn được cùng quư
OBACE suy niệm về con đường thập giá.
1. Con đường thập giá của Đức Kitô:Khi nói đến con đường thập giá, trong trí
chúng ta thường xuất hiện khuôn mặt của những tên lư h́nh lạnh lùng, hung dữ,
vói những đ̣n roi, và những vết đinh. Tuy nhiên, không chỉ là những nỗi đau trên
thân xác, tâm hồn Đức Giêsu c̣n phải gánh chịu một nỗi đau khác, đau đớn hơn,
chua chát hơn, đủ làm nên những giọt máu đổ ra trộn lẫn với mô hôi của Ngài.
Trước hết là nỗi đau khi bị người thân yêu nhất phản bội. Chúng ta biết trong ba
năm trời rao giảng, Đức Giêsu đă qui tụ quanh ḿnh được một nhóm nhỏ 12 người.
Nhóm người này có thể nói được là những người thân tín nhất của Đức Giêsu. Ngài
đă dành nhiều thời gian để gặp gỡ riêng tư, để giải thích, hướng dẫn và dạy dỗ
các ông nhiều điều. Và trong nhóm đó, có hai môn đệ Ngài tin tưởng nhất: một là
Phêrô, hai là Giuđa. Với Phêrô, Đức Giêsu đă tin tưởng ông, nên đặt ông làm thủ
lănh của các tông đồ; c̣n với Giuđa, Đức Giêsu đă tin tưởng đến nỗi đă giao cho
ông cả “khúc ruột” của Ngài, khi trao cho ông nhiệm vụ quản lư.
Thế nhưng, sự thể thật trớ trêu. Khi được giao giữ túi tiền, Giuđă liền đem cả
Thầy ḿnh mà bán đi với cái giá thật rẻ mạt chỉ với giá “ba mươi đồng bạc”. C̣n
Phêrô cũng chả hơn ǵ, là thủ lănh của cả nhóm, vậy mà khi Thầy ḿnh bị bắt, chỉ
trong một đêm, “trước khi gà gáy”, ông đă lớn tiếng thề thốt, và chối chẳng có
quan hệ, cũng chẳng phải là đồng hương với Thầy ḿnh. Cho dù, người đối diện với
ông chỉ là một người đầy tớ gái, chẳng có chút thế giá nào trong xă hội lúc bấy
giờ. Đức Giêsu đă bị chính những “đệ tử ruột” của ḿnh phản bội.
Kế đó là nỗi đau khổ bởi cô đơn. Sau bữa tiệc, nh́n thấy trước gánh nặng của con
đường thập giá, Đức Giêsu nói với các tông đồ: “Linh hồn Thầy buồn sầu đến nỗi
chết được, các con hăy ở lại đây và thức với Thầy”. Thế nhưng, có lẽ v́ mỏi mệt,
v́ những chén rượu các ông vừa uống trong bữa ăn, và có lẽ cũng v́ các ông không
thể hiểu và thông cảm với những nỗi đau khổ đang dằn vặt trong tâm hồn của Đức
Giêsu, nên các ông ngủ cả, không một ai thức cùng Đức Giêsu. Đức Giêsu đang phải
trải qua một nỗi đau khổ, cô đơn không biết chia sẻ với ai, c̣n Chúa Cha th́ lại
im lặng.
1. Đúng là một nỗi dằn vặt, cô đơn đến cùng cực.
Dưới gánh nặng cùng cực đó của con đường thập giá, đă có lúc Đức Giêsu kêu lên với Chúa Cha “Lạy Cha, nếu được, xin cho Con khỏi chén này!”. Nhưng rồi trong t́nh yêu và niềm tin, Ngài liền thưa tiếp với Chúa Cha “Nhưng đừng như ư Con muốn, một theo ư Cha muốn”. Và không chỉ là một lần, sau lần cầu nguyện thứ hai, Đức Giêsu lại kêu lên: “Lạy Cha, nếu chén này không thể qua đi được mà Con phải uống, th́ xin theo ư Cha”. Và không chỉ có thế, ngay cả khi đă bị đóng đinh trên thập giá, th́ những tên cướp bị đóng đinh với Đức Giêsu, tức là những kẻ mạt hạng cuối cùng trong xă hội cũng lớn tiếng nhục mạ Ngài. Thật, chẳng c̣n nỗi đau khổ nào, hay sự oan ức, sự sỉ nhục nào mà Đức Giêsu đă không phải gánh chịu đúng như lời ngôn sứ Isaia đă báo trước: “Tôi đă đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đă đưa má cho kẻ giật râu, tôi đă không che giấu mặt mũi tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi”. Đức Giêsu quả thật đă “huỷ bỏ chính ḿnh,… đă tự hạ ḿnh, vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá”.
Thế nhưng, cho dù con đường thập giá có khủng khiếp và nặng nề đến đâu đi chăng
nữa, th́ với ḷng tin tưởng và nhất là nhờ sức mạnh t́nh yêu của Ngài đối với
Chúa Cha và đối với toàn thể nhân loại, cuối cùng, Đức Giêsu cũng đă đi trọn con
đường thập giá cho đến tận đỉnh đồi Canvê. Chính v́ thế “Thiên Chúa đă tôn vinh
Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên
Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong địa ngục phải quỳ gối xuống và mọi
miệng lưỡi phải tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa”.
Như thế, thập giá trên đỉnh đồi Canvê trước đây là một biểu tượng của ô nhục,
biểu tượng của tội lỗi, th́ giờ đây, nhờ Đức Giêsu, đă trở nên cây Thánh Giá,
biểu tượng cho sức mạnh và ḷng thương xót của Thiên Chúa. Nhờ Thánh giá, chúng
ta được giao hoà với Thiên Chúa. Tin mừng thuật lại khi Đức Giêsu trút hơi thở,
th́ “màn đền thờ xé ra làm đôi từ trên xuống dưới”. Màn đền thờ đă xé ra, giao
ước cũ chấm dứt, để bắt đầu một giao ước mới, giao ước được kư kết không phải
bởi máu chiên ḅ, nhưng bằng chính Máu của Đức Giêsu, Máu của chính Con Thiên
Chúa.
Đức Giêsu đă đi trọn con đường thập giá, và đă phục sinh vinh hiển để đem lại ơn
cứu độ cho mỗi người chúng ta. Do đó, để nhận được ơn cứu độ của Ngài, mỗi người
chúng ta chắc chắn cũng phải đi trọn con đường thập giá của ḿnh.
2. Con đường thập giá của chúng ta:
Bước đi theo Đức Giêsu trên con đường thập giá hôm nay, cho dù chúng ta không bị đ̣n vọt, tù tội, không có măo gai, không bị đóng đinh vào tay chân, không bị lưỡi đ̣ng đâm thâu, nhưng cũng không kém phần khốc liệt. Đi con đường thập giá của Đức Giêsu, chúng ta vẫn phải đối diện với nỗi đau đớn của sự phản bội, vu khống, bội bạc của những người đang cùng sống với chúng ta. Thậm chí, có khi sự vô ơn, bội bạc đó c̣n đến bởi những người thân yêu nhất của chúng ta như: anh chị em, con cái, hoặc đến từ những người bạn từ thuở c̣n thơ.
Mặt khác, nếu để ư, chúng ta sẽ thấy, nền luân lư của thế giới hôm nay đang bị
rối loạn. Tôi nói là “rối loạn”, bởi lẽ người ta dễ dàng “khóc”, và lớn tiếng
kêu gọi “chia sẻ” khi thấy những nạn nhân của sóng thần, thiên tai, nhưng lại
cho phép và cổ vơ việc giết những con người vô tội, vô phương chống cự, đó là
những thai nhi c̣n nằm trong bụng mẹ, hay những người già yếu, bệnh tật, với
những tên gọi thật đẹp như “kế hoạch hoá gia đ́nh”, “chết êm dịu”. Chẳng lẽ,
mạng sống của những người này lại “rẻ”, hơn mạng sống của những người kia!!! Do
đó, một khi dám đi ngược lại những trào lưu thực dụng của xă hội hôm nay, để đấu
tranh dành quyền cho sự sống, cho công b́nh, lẽ phải, là lúc chúng ta đang đi
con đường thập giá của Đức Giêsu.
Khôn ngoan trần thế c̣n dạy chúng ta “phụ người hơn để người phụ ḿnh”. C̣n
đường thập giá của Đức Giêsu th́ lại mời gọi chúng ta yêu thương, cầu nguyện và
tha thứ cho kẻ thù, kẻ làm hại chúng ta thà “người phụ ḿnh, hơn là ḿnh phụ
người”. Con đường thập giá mà chúng ta phải đi mỗi ngày, c̣n là cuộc đấu tranh
để có những quyết định chẳng phải là dễ dàng, trong từng biến cố lớn nhỏ của
cuộc sống khi phải đối diện với những đ̣i hỏi của công b́nh, bác ái, chẳng hạn
như việc: đút lót, tham nhũng, hay đơn giản hơn, việc “quay” bài của các em học
sinh.
Và bởi v́ đi ngược với suy nghĩ, với cách sống của con người hôm nay, nên lắm
lúc người kitô hữu chúng ta cảm thấy ḿnh như cô đơn, như đang đứng bên lề của
xă hội. Nhưng cho dù vậy, chúng ta cũng không được phép nản ḷng, thối chí, bởi
v́ chúng ta không vác thập giá một ḿnh, chúng ta có Đức Giêsu, người Thầy, và
là Chúa của chúng ta cùng vác với chúng ta. Và nếu chúng ta dám đi trọn con
đường thập giá với Ngài, th́ chắc chắn, cuối cùng chúng ta cũng sẽ được cùng
Ngài hưởng trọn niềm vui của cuộc Phục Sinh vinh hiển. Amen.
Lm Trần Thanh Sơn
"Xin Cha Tha cho hỌ
v́ hỌ lẦm không biẾt viỆc hỌ làm"
Lm. Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh
Tại sao dân chúng vừa nghênh đón Chúa Giêsu sau đó lại trở mặt truất phế Người?
Nếu Mùa Chay, bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro, kéo dài 40 ngày, th́ ngày thứ 40, tức ngày cuối cùng của Mùa Chay hôm nay đây là Chúa Nhật Lễ Lá. Tuy nhiên, ngày cuối cùng của Mùa Chay này cũng lại là ngày mở đầu của một Tuần Thánh, được gọi là Ngày Chúa Nhật Thương Khó. Bởi thế, theo Phụng Vụ, Mùa Chay được kết thúc vào một ngày vừa vui lại vừa buồn: vui ở việc cử hành biến cố Chúa Giêsu vinh quang tiến vào thành thánh Giêrusalem, buồn ở việc cử hành biến cố Chúa Giêsu khổ nạn và tử giá. Thật ra, theo thứ tự thời gian, biến cố khổ nạn và tử giá của Chúa Giêsu chỉ xẩy ra giữa hai biến cố, biến cố Người vinh quang tiến vào thành thánh trước mấy ngày và biến cố Người sống lại từ trong cơi chết sau mấy ngày. Nghĩa là biến cố khổ nạn và tử giá của Chúa Giêsu chỉ chính thức xẩy ra vào Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, một ngày trong Tam Nhật Thánh, thời gian tột đỉnh của cả một Phụng Niên, v́ là thời gian Giáo Hội cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô, một mầu nhiệm được kết thúc ở Đêm Phục Sinh. Chính v́ Chúa Nhật Lễ Lá là Chúa Nhật Thương Khó mà từ Chúa Nhật này đến Đêm Phục Sinh cũng được gọi là Tuần Thánh.
Vẫn biết Giáo Hội sẽ chính thức cử hành Biến Cố Khổ Nạn và Tử Giá của Chúa Kitô
vào Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng v́ Biến Cố Khổ Nạn và Tử Giá của Chúa Giêsu không
thể tách rời khỏi Biến Cố Phục Sinh, cả hai chỉ là một biến cố, Biến Cố Vượt
Qua, mà Biến Cố Khổ Nạn và Tử Giá của Chúa Giêsu cần phải được long trọng cử
hành vào Ngày Chúa Nhật, Ngày Phục Sinh hằng tuần của Kitô Giáo, chứ không phải
vào một ngày thường, dù ngày thường ấy có là chính ngày kỷ niệm của Biến Cố Khổ
Nạn và Tử Giá này của Chúa Giêsu đi nữa. Đó là lư do chúng ta thấy Phụng Vụ Chúa
Nhật kết thúc Mùa Chay và mở đầu Tuần Thánh hôm nay có hai phần, phần đầu là
phần Lễ Lá, cũng có bài Phúc Âm, và phần sau là phần Thánh Lễ, phần được mở màn
bằng lời nguyện đầu lễ và sang ngay phần Phụng Vụ Lời Chúa, v́ phần Lễ Lá đă
thay cho phần đầu lễ thường lệ rồi. Thế nhưng, qua Phụng Vụ Lời Chúa của bài
Phúc Âm cho Lễ Lá, cũng như của bài Phúc Âm cho Thánh Lễ Chúa Nhật Thương Khó
hôm nay, chúng ta thấy một sự kiện hết sức mâu thuẫn, cần phải t́m hiểu, đó là
việc dân Do Thái vừa hân hoan nghênh đón Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem như một
vị anh hùng cứu tinh dân tộc, th́ liền sau đó họ đă quay ra phản chống Người,
truất phế Người, không công nhận Người là vua của họ nữa, và cuối cùng đă hô
hoán vang trời đ̣i phải đóng đanh Người cho bằng được…
Vấn đề ở đây là, qua biến cố nghênh đón Chúa Giêsu vào thành thánh, dân Do Thái
chứng tỏ là họ đă công nhận Người là Đấng Thiên Sai, "Đấng nhân danh Chúa mà
đến". Và sở dĩ, như bài Phúc Âm Lễ Lá cho thấy, dân chúng có thể công nhận một
nhân vật vô danh tiểu tốt như Giêsu Nazarét ở Gialilêa, một miền đất không hề
xuất hiện một vị tiên tri nào (xem Jn 7:52), "là tiên tri Giêsu xuất thân từ
Nazarét xứ Galilêa". Họ đă thần tượng và tôn vinh vị tiên tri Thiên Sai này hơn
tất cả mọi vị tiên tri trong Cựu Ước, kể cả Gioan Tẩy Giả. Ở chỗ, như bài Phúc
Âm của phần Lễ Lá hôm nay cho biết, đến nỗi, "một đám rất đông trải áo ḿnh trên
đường, một số khác cắt cành cây lót đường cho Người đi. Có những nhóm đi trước
Người và sau Người reo ḥ rằng "… Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến…"". Lư do
họ tỏ ra những hành động bat thường này, những hành động làm cho thành phần lănh
đạo tinh thần của họ hoảng sợ kinh hồn, đến nỗi đă phải thốt lên: "Coi ḱa, quí
vị đành phải chịu bó tay thôi! Cả thiên hạ đă xô nhau chạy theo hắn mất rồi" (Jn
12:19), là v́ việc Người làm cho Lazarô cải tử hoàn sinh: "Đám dân chúng có mặt
khi Người lên tiếng gọi Lazarô bước ra khỏi mồ và hồi sinh anh ta từ trong cơi
chết cứ mang sự kiện này ra kể lại. Dân chúng đi nghênh đón Người v́ họ đă nghe
thấy Người thực hiện dấu lạ này" (Jn 12:17-18).
Vậy th́ tại sao sau khi đă công nhận vị "tiên tri Giêsu xuất thân từ Nazarét xứ
Galilêa" một cách chính thức công khai và hết sức long trọng chưa bao giờ có như
thế, dân chúng lại quay ra truất phế Người một cách trắng trợn và phũ phàng hơn
ai hết như vậy? Ở chỗ, như Phúc Âm Thánh Mathêu hôm nay thuật lại, họ chẳng
những đă coi Người không bằng tên tội đồ nổi tiếng Baraba, mà c̣n đ̣i đóng đanh
Người vào thập giá nữa. Như thế, phải chăng dân Do Thái nói chung đă cố t́nh
giết chết Đấng Thiên Sai mà họ đă nhận biết? Nếu vậy th́ tại sao, theo Phúc Âm
Thánh Luca, câu nói đầu tiên trên thập giá, Chúa Giêsu lại thưa cùng Cha của
Người: "Xin Cha tha cho họ v́ họ lầm không biết việc ḿnh làm" (Lk 23:34). "Họ"
ở đây là ai? Phải chăng là thành phần lănh đạo dân Do Thái bấy giờ mà thôi, v́
theo Phúc Âm Thánh Mathêu hôm nay, chính họ là những kẻ xui bẩy và giật giây dân
chúng (xem Mt 27:20)?? Hay là chính dân Do Thái lúc ấy nói chung, v́ dù có được
xui bẩy, họ vẫn có quyền chống trả như cự tuyệt chước cám dỗ, v́ nó nghịch lại
với niềm tin của họ??? Hoặc bao gồm cả thành phần Dân Ngoại Rôma, thành phần
trực tiếp nhúng tay vào việc lên án và đóng đanh Người vào thập giá????
Hay thậm chí bao gồm cả loài người, v́ nếu họ không sa ngă phạm tội th́ Người đâu phải "hiến thân làm giá chuộc cho nhiều người" (Mt 20:28) như vậy?????
Tại sao dân Do Thái muốn sát hại Chúa Giêsu?
Căn cứ vào sự kiện lịch sử: "Những đau khổ của Chúa Giêsu mặc một h́nh thức lịch sử cụ thể là Người đă "bị các vị kỳ lăo và trưởng tế cùng luật sĩ" nộp "cho Dân Ngoại nhạo báng, hành h́nh và đóng đanh" (Mk 8:31; Mt 20:19)" (số 572), Giáo Lư của Giáo Hội Công Giáo chủ trương rằng: "Đức tin nhờ đó mới cố gắng cứu xét những hoàn cảnh về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu được các Phúc Âm trung thực truyền lại (x Hiến Chế Mạc Khải Thần Linh, đoạn 19), cũng như được các nguồn sử liệu khác soi chiếu, để hiểu rơ hơn về ư nghĩa của Việc Cứu Chuộc" (số 573). Giáo Lư của Giáo Hội Công Giáo đă trưng dẫn lư do chính (gồm ba phần) tại sao dân Do Thái đă muốn giết và cần giết Chúa Giêsu Kitô như sau.
"Trước con mắt của nhiều người dân Yến Duyên th́ Chúa Giêsu đă tỏ ra tác hành phản lại với các cơ cấu làm nên Dân Chúa Chọn, đó là việc phục tùng toàn thể lề luật được viết thành văn, và c̣n được giải thích theo truyền khẩu nữa như chủ trương của những người Pharisiêu; Đền Thờ ở Gialiêm chiếm địa vị chủ yếu như là một nơi thánh, nơi Thiên Chúa đặc biệt hiện diện; niềm tin tưởng một Thiên Chúa duy nhất là Đấng không ai có thể chia sẻ vinh quang của Ngài được". (số 576).
Về "việc phục tùng toàn thể lề luật được viết thành văn, và c̣n được giải thích theo truyền khẩu nữa theo chủ trương của những người Pharisiêu", Chúa Giêsu đă có vẻ tác hành phản lại đến nỗi đă khiến dân Do Thái muốn giết và cần giết Người như sau:
"Việc hoàn toàn làm trọn Lề Luật chỉ có thể là việc của nhà ban bố luật thần linh mà thôi, vị được sinh ra theo Lề Luật qua bản thân của Người Con (x. Gal 4:4). Nơi Chúa Giêsu, Lề Luật không c̣n như thể được ghi khắc trên các bia đá nữa mà là "trên cơi ḷng" của Người Tôi Tớ, vị trở nên "giao ước của dân", v́ Người sẽ "hoàn toàn mang lại đức chính trực" (Jer 31:33; Is 42:3,6). Chúa Giêsu làm trọn Lề Luật đến độ đă phải lănh đủ "cái bất hạnh của Lề Luật" dành cho những ai không "suy giữ những ǵ được viết ra trong Lề Luật", v́ Người chết để cứu họ "khỏi những vấp phạm nơi giao ước thứ nhất" (Gal 3:13, 3:10; Heb 9:15)". (số 580)
"... Chúa Giêsu đă không hủy bỏ Lề Luật mà là làm trọn lề luật bằng việc giải thích Lề Luật đúng ư nghĩa nhất theo đường lối thần linh (Mt 5:33-34)... Người cũng bác bỏ một số tục lệ nhân tạo của những người Pharisiêu đă làm "vô hiệu lời của Thiên Chúa" (Mt 7:13; x 3:8)" (số 581). "... Trong việc lấy quyền bính thần linh để tŕnh bày việc giải thích ư nghĩa tối hậu của Lề Luật, Chúa Giêsu đă phải đối đầu với một số thày dạy Lề Luật, thành phần không chấp nhận việc Người giải thích Lề Luật bằng những dấu hiệu thần linh bảo đảm kèm theo (x Jn 5:36, 10:25,37-38, 12:37). Đặc biệt là trường hợp đối với các luật về ngày hưu lễ (x Num 28:9; Mt 12:5; Mk 2:25-27; Lk 13:15-16, 14:3-4; Jn 7:22-24)...". (số 582)
Về "Đền Thờ ở Gialiêm chiếm địa vị chủ yếu như là một nơi thánh, nơi Thiên Chúa đặc biệt hiện diện", Chúa Giêsu đă có vẻ tác hành phản lại đến nỗi đă khiến dân Do Thái muốn giết và cần giết Người như sau: "Như các tiên tri trước Người, Chúa Giêsu đă tỏ ra cho thấy việc Người hết ḷng tôn kính Đền Thờ ở Gialiêm... Chính sứ vụ công khai của Người cũng được dựa theo hành tŕnh lên Gialiêm vào những dịp lễ lớn của dân Do Thái (x Jn 2:13-14, 5:1,14, 7:1,10,14, 8:2, 10:22-23)" (số 583). "Chúa Giêsu lên Đền Thờ như là một nơi đặc biệt để gặp gỡ Thiên Chúa. Đối với Người, Đền Thờ là nơi ngự của Cha Người, là nhà để cầu nguyện, và Người đă nổi giận khi thấy phần ngoại vi của Đền Thờ trở thành nơi buôn bán (x Mt 21:13)..." (số 584). "Chẳng những không thù oán Đền Thờ, nơi Người đă ban bố phần giáo huấn chính yếu của ḿnh, Chúa Giêsu c̣n sẵn ḷng nộp thuế đền thờ nữa... Thậm chí Người c̣n đồng hóa ḿnh với Đền Thờ khi tự cho ḿnh là nơi Thiên Chúa thực sự ở với loài người (x Jn 2:21; Mt 12:6)...". (số 586)
"Trước thời điểm Khổ Nạn của ḿnh, Chúa Giêsu đă loan báo việc các lâu đài tráng lệ này sẽ bị hủy hoại đến không c̣n "ḥn đá nào chồng trên ḥn đá nào" (x Mt 24:1-2). Nói điều ấy là Người đă loan báo dấu hiệu của những ngày cuối cùng được bắt đầu từ Cuộc Vượt Qua của Người (x Mt 24:3; Lk 13:25). Thế nhưng, lời tiên tri này đă bị các nhân chứng dối trá bóp méo ư nghĩa của nó trong cuộc đối chất của Người ở nhà vị thượng tế, với kết quả là Người đă bị sỉ nhục v́ lời nói của ḿnh khi bị đóng đanh trên cây thập giá (x Mk 14:57-58; Mt 27:39-40)". (số 585)
Về "niềm tin tưởng một Thiên Chúa duy nhất là Đấng không ai có thể chia sẻ vinh quang của Ngài được", Chúa Giêsu đă có vẻ tác hành phản lại đến nỗi đă khiến dân Do Thái muốn giết và cần giết Người như sau: "Nếu Lề Luật và Đền Thờ Gialiêm đă trở thành những dịp cho các vị giáo quyền dân Yến Duyên chống đối Chúa Giêsu, th́ vai tṛ của Người trong việc chuộc tội, một việc thần linh hơn hết, thực sự mới là cớ vấp ngă cho họ (x Lk 2:34, 20:17-18; Ps 118:22)". (số 587).
"Chúa Giêsu đă khiến cho những người Pharisiêu vấp phạm khi nhập bọn ăn uống thân t́nh với các người thu thuế và tội nhân (x Lk 5:30, 7:36, 11:37, 14:1)... Thậm chí Người c̣n tuyên bố trước mặt các người Pharisiêu rằng, những ai cho rằng ḿnh không cần ơn cứu độ cho khỏi tội lỗi phổ quát là con người mù quáng (x Jn 8:33-36, 9:40-41)". (số 588)
"Chúa Giêsu đă gây nên dịp vấp phạm nhất là khi Người cho rằng thái độ nhân từ của ḿnh đối với các tội nhân cũng là thái độ của Thiên Chúa đối với họ (x Mt 9:13; Hos 6:6). Thậm chí Người c̣n ngầm cho thấy rằng việc Người đồng bàn với các tội nhân là việc Người công nhận họ vào bàn tiệc thiên sai (x Lk 15:1-2,22-32). Thế nhưng, đặc biệt nhất là ở chỗ việc Chúa thứ tha tội lỗi đă khiến cho các vị giáo quyền dân Yến Duyên bị bối rối khó xử (Mk 2:7)... Khi thứ tha tội lỗi th́ có thể Chúa Giêsu đă phạm thượng, v́ Người là con người mà lại cho ḿnh ngang hàng với Thiên Chúa...". (số 589)
"Chúa Giêsu xin các vị giáo quyền ở Gialiêm hăy tin vào Người v́ các việc Người hoàn tất như Cha đă trao phó cho Người (Jn 10:36-38). Thế nhưng, muốn thực hiện một tác động đức tin như vậy con người cần phải chết đi cho chính ḿnh một cách thiêng liêng để được tái "sinh từ trên cao" dưới tác động của ân sủng thần linh (x Jn 3:7, 6:44). Một đ̣i hỏi hoán cải như vậy để hướng về việc hoàn tất các lời hứa (x Is 53:1) hết sức lạ lùng như thế khiến người ta có thể thông cảm về những hiểu lầm thê thảm của Hội Đồng Do Thái đối với Chúa Giêsu, ở chỗ, họ đă cho rằng Người đáng bị án tử h́nh như là một kẻ lộng ngôn phạm thượng (x Mk 3:6; Mt 26:64-66)...". (số 591)
Ai Là Thủ Phạm Chính Trong Việc Sát Hại Thiên Chúa Làm Người?
Về vấn đề hết sức tế nhị này, Giáo Lư của Giáo Hội Công Giáo đă công minh nhận định và dạy rằng thủ phạm chính trong việc sát hại Con Thiên Chúa làm người không phải là dân Do Thái nói chung, mà là chính tất cả mọi tội nhân.
Thủ phạm chính trong việc sát hại Con Thiên Chúa làm người không phải là dân
Do Thái nói chung.
"Các tŕnh thuật Phúc Âm đă cho thấy tính cách lịch sử phức tạp nơi vụ án Chúa Giêsu. Tội lỗi riêng tư của những người dự phần (như Giuđa, Hội Đồng Do Thái và Philatô) chỉ có một ḿnh Thiên Chúa biết. V́ thế, cho dù đám dân chúng bị xúi giục có lên tiếng kêu gào, cùng những lời trách móc chung nơi lời của các vị tông đồ khi kêu gọi họ hăy ăn năn hoán cải sau biến cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (x Mk 15:11; Acts 2:23,36, 3:13-14, 4:10, 5:30, 7:52, 10:39, 13:27-28; 1Thes 2:14-15), chúng ta cũng không thể ghép tội cho toàn thể khối người Do Thái ở Gialiêm về vụ án này. Chính Chúa Giêsu, khi tha tội cho họ trên thập giá, và thánh Phêrô theo chiều hướng đó, cả hai đều công nhận các người Do Thái ở Gialiêm và ngay cả các vị lănh đạo của họ là "vô thức" (x Lk 23:34; Acts 3:17). Chúng ta lại càng không thể đổ trách nhiệm cho những người Do Thái ở những thời điểm khác và ở những nơi khác, chỉ v́ tiếng kêu gào: "Máu của hắn sẽ đổ lên đầu lên cổ chúng tôi và con cháu chúng tôi!" (Mt 27:25; x Acts 5:28, 18:6), như là một câu nói chung để biện minh cho việc ḿnh kết án họ. Giáo Hội đă tuyên bố ở Công Đồng Chung Vaticanô II rằng: "…
Không thể hàm hồ ghép tội ác chung cho tất cả mọi người Do Thái bấy giờ hay những người Do Thái ngày nay đă nhúng tay vào cuộc Khổ Nạn của Người… Không được coi những người Do Thái bị phế bỏ hay bị nguyền rủa như là những ǵ bởi Thánh Kinh mà ra" (Tuyên Ngôn Nostra Aetate, đoạn 4)" (số 597)
Thủ phạm chính sát hại Con Thiên Chúa làm người chính là tất cả mọi tội nhân.
"Theo giáo huấn đức tin thuộc Huấn Quyền của ḿnh, cũng như theo chứng từ của các thánh, Giáo Hội không bao giờ quên rằng "các tội nhân là tác giả và là tác nhân gây nên tất cả mọi đau khổ bắt Vị Cứu Chuộc thần linh phải chịu" (Sách Giáo Lư Rôma I, 5, 11; x. Heb 12:3). Chú trọng đến sự kiện là tội lỗi của chúng ta phạm đến chính Chúa Kitô (x Mt 25:45; Acts 9:4-5), Giáo Hội không ngần ngại qui cho Kitô hữu trách nhiệm nặng nhất đối với những h́nh khổ giáng xuống trên Chúa Giêsu, một trách nhiệm mà tất cả những người Kitô thường chất lên vai cho một ḿnh những người Do Thái thôi: "Chúng ta phải coi những ai tiếp tục đầm đ́a trong tội lỗi của ḿnh là có lỗi. V́ tội lỗi của chúng ta mà Chúa Kitô phải chịu cực h́nh thập giá, th́ những ai lặn ngụp trong những hư hỏng và tội ác chính là những kẻ đóng đanh Con Thiên Chúa một lần nữa nơi ḷng ḿnh (v́ Người ở trong họ) cùng làm cho Người bị nhục nhă. Tội ác của chúng ta trong trường hợp này có thể được coi như lớn hơn cả của người Do Thái nữa. Theo chứng từ của Thánh Tông Đồ, đối với họ, "Không một nhà lănh đạo nào của thời đại này hiểu được điều ấy; v́ nếu họ hiểu được th́ họ đă không đóng đanh Chúa hiển vinh". C̣n chúng ta tuyên xưng là biết Người. Nên khi chúng ta chối bỏ Người bằng việc làm của ḿnh là chúng ta hành hung Người một cách nào đó (Sách Giáo Lư Rôma I, 5, 11; x Heb 6:6; 1Cor 2:8). "Cả đến ma quỉ cũng không phải là kẻ đóng đanh Người; chính các bạn là kẻ đă đóng đanh Người và vẫn c̣n đang đóng đanh Người, khi các bạn vui sướng với các tính mê nết xấu và tội lỗi của ḿnh" (Thánh Phanxicô Assisi, Admonitio 5, 3)". (số 598)
Vấn đề thực hành sống đạo:
Thánh Viện Phụ Aelred, trong vấn đề Mẫu Gương Yêu Thương đă nhận định về lời nói đầu tiên của Chúa Giêsu trên cây thập giá như sau: "Ai nghe lời cầu nguyện tuyệt vời, hết sức nồng nàn, hết sức yêu thương, hết sức trầm tĩnh - Lạy Cha, xin tha cho họ - mà c̣n ngần ngại không ôm lấy kẻ thù của ḿnh bằng một t́nh yêu chan chứa hay chăng? Người xin: Lạy Cha, xin tha cho họ. Lời cầu xin này có thiếu dịu dàng, thiếu yêu thương hay chăng? Tuy nhiên, Người c̣n đưa vào trong lời cầu xin này một điều hơn thế nữa. Cầu xin cho họ mà thôi chưa đủ, Người c̣n muốn chữa tội cho họ nữa. Lạy Cha, xin tha cho họ, v́ họ lầm không biết việc họ làm. Phải, họ là những đại tội nhân, thế nhưng họ kém phán đoán; bởi thế, Lạy Cha, xin tha cho họ. Họ đóng đanh Con vào thập giá, thế nhưng họ không biết Đấng họ đóng đanh vào thập giá là ai: nếu họ biết, họ đă không bao giờ dám đóng đanh vị Chúa của vinh quang, bởi thế, Lạy Cha, xin tha cho họ. Họ nghĩ rằng đó là một tên phạm luật, một kẻ tưởng ḿnh là Thiên Chúa, một tay dụ dỗ dân chúng. Con đă giấu kín chân tướng của ḿnh không cho họ biết, nên họ không nh́n ra vinh hiển của Con, do đó, Lạy Cha, xin tha cho họ, v́ họ lầm không biết việc họ làm" (Lib. 3,5: PL 195, 582. Trích dịch từ The Office of Readings, St Paul Editions, 1983, trang 369).
Lm. Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh
Thánh giá ĐỨc Kitô
Lm Augustine, S.J
Vinh quang của tôi là Thánh Giá Đức Kitô
Từ tàu chở than, một chiếc xuồng đưa người khách lạ hoắc lên băi biển xứ Biên Tường (Bretagne) của nước Pháp. Hai ngư dân địa phương ṭ ṃ hỏi khách, liền được cho biết điều ước ao của ông là được tham dự Thánh Lễ ở một nhà thờ gần đấy. Đó là sáng sớm lễ Giáng Sinh 1643.
Khách không những được dẫn tới nhà thờ mà c̣n được lo cho có mũ đội đầu, có khăn
ấm quàng cổ. Vừa tới thánh đường, ông liền đi xưng tội để chuẩn bị mừng lễ sốt
sắng. Trở về căn nhà ở băi biển đă đón tiếp ông, khách được mọi người quí mến
lắng nghe sau bữa ăn. Không ai dám hỏi thẳng vấn đề liên quan tới thân h́nh
khách, nhưng ai cũng thấy hai bàn tay ông mang đầy sẹo với một số ngón cụt tới
phân nữa, một số ngón mất móng, c̣n ngón cái tay trái th́ không c̣n. Hai g̣ má
nơi dung mạo ông lơm với làn da nhăn nheo.
Cho dầu khách muốn ẩn danh nhưng cuối cùng cũng phải cho chủ nhà biết ḿnh là
linh mục thừa sai Ḍng Tên với danh xưng An Sang Giang (Isaac Jogues), người
thành phố Orleans nước Pháp, đi truyền giáo ở Bắc Mỹ và bị người Da Đỏ Uông Tinh
(Iroquois) bắt giữ từ hơn một năm; nhờ người Hà Lan giúp mới thoát cảnh nô lệ,
để về thăm quê hương.
Nghe chuyện cảm động, ai nấy đều rướm lệ. Riêng hai cô bé chủ nhà bàn tính với
nhau và đă đập con heo đất lấy số tiền nhỏ kính tặng vị thừa sai.
Thế là từ căn nhà tranh, tin đến tai nhà buôn giàu có của thành phố Rennes, đó
là ông Bùi Văn Sơn (Berson). Ông đến tận nơi gặp cha An Sanh Giang và lấy ngựa
chở ngài về nhà các cha Ḍng Tên tại Rennes sáng sớm ngày 5 tháng 1, năm 1644.
Từ Rennes, cha An Sanh Giang về Orléans thăm mẹ và gia đ́nh hai ngày. Sau đó cha
tới Paris. Đâu đâu cha cũng được theo dơi và thán phục như một vị tử đạo, đến
nỗi Hoàng Hậu Anna nhiếp chính cai trị nước Pháp thay vua Luy XIV, con của bà
c̣n nhỏ tuổi, cũng muốn gặp cha. Cha t́m mọi cách để tránh né nhưng không thành
công. Hoàng hậu yêu cầu cha vui ḷng kể lại những cực h́nh cha đă chịu do người
Da Đỏ hành hạ, cùng với những cuộc mạo hiểm, để thoát khỏi tay họ. Bà đă đặt hai
bàn tay bị biến dạng của cha trong ḷng bàn tay của bà, để nh́n cho kỹ dấu vết
của cuộc khổ nạn cha đă trải qua. Nhân cơ hội, cha yêu cầu và được Hoàng hậu kư
sắc lệnh nhân danh vua Luy XIV, gởi một đại đội Pháp Quốc tới canh giữ đồn binh
đang được xây dựng để bảo vệ Sainte-Marie là tiền thân của thành phố Minh Sơn
(Montréal) của Canada hiện nay.
Nơi Ngài ơn cứu độ của tôi
Theo giáo luật, cha An Sanh Giang không được dâng thánh lễ, v́ ngón tay của tay trái hoàn toàn bị mất, c̣n ngón trỏ th́ bị cụt ngủn nên cha không thể cầm Ḿnh Thánh Chúa theo luật phụng vụ. Cha nhân cơ hội ở Paris, đă xin Đức Urbanô VIII cho cha được phép dâng thánh lễ. Đức Thánh Cha rất lấy làm cảm động về những đau khổ cha đă phải chịu nên đă đồng ư ngay về ơn cha xin với lời Đức Thánh Cha nói: “Thật sẽ là điều xấu hổ để cho vị tử đạo của Chúa Kitô bị mất quyền uống Máu Thánh Người!”
Đầu tháng 5 năm 1644, cha An Sanh Giang lên đường trở về xứ truyền giáo Canada
với chính đại đội lính trẻ mà cha đă yêu cầu chính phủ Pháp gởi sang Canada.
Giữa biển cả, tàu gặp băo lớn với những lưỡi sóng cao ngất như muốn chôn vùi
hành khách xuống đáy biển. Mọi người đều hoảng sợ trong tuyệt vọng. Một ḿnh cha
An Sanh Giang kiên tŕ cầu nguyện giờ kinh phụng vụ. Cha sử dụng ngay lời ngôn
sứ Isaia để khuyên mọi người thống hối ăn năn và tin tưởng vào quyền năng và
t́nh yêu của Thiên Chúa, đoạn cha ban phép giải tội chung. Lập tức, mọi người
đều nhận ra cơn băo đă lắng xuống. Thoát khỏi hiểm nguy, ai nấy đều được khuyến
khích để tạ ơn Thiên Chúa. Họ cũng tỏ ḷng biết ơn cha An Sanh Giang, người mà
họ kể như một vị thánh. Những ngày kế tiếp bọn lính trẻ đều lần lượt đến xưng
tội và nhận bí tích hoà giải.
Khi tàu cập bến Canada, cha An Sanh Giang hết đỗi vui mừng đước thấy ngoài các
bạn cùng Ḍng, c̣n có nhiều người dân tộc An Dương Kinh (Al Gonquins) ra đón.
Cha rất thương hại dân tộc An Dương Kinh và Hướng Dương (Hurons) là hai dân tộc
đang bị đe dọa tuyện chủng v́ nạn đói và nạn dịch cũng như v́ dân tộc Uông Tinh
sát hại họ cách tàn nhẫn. Do đó cha lại xung phong đến với dân tộc Uông Tinh là
dân tộc đă từng giam giữ cha, v́ cha mong trở nên dụng cụ Chúa dùng hoán cải
người Uông Tinh, hầu mang lại b́nh an giữa các dân tộc ít người.
Sức sống của tôi
Vào mùa xuân 1645, một biến cố xảy ra, trở nên cơ hội quan trọng cho sứ mạng cha An Sanh Giang. Đó là hai người Uông Tinh bị người An Dương Kinh bắt làm tù binh. Một trong hai người này lại là cháu của người mà cha An Sanh Giang nhận làm bà cô. Chao liền vận động để hai người này được trả tự do. Người Pháp nhân cơ hội tổ chức cuộc hoà đàm ba phía, gồm người Pháp, người An Dương Kinh và người Uông Tinh. Cuộc hoà đàm diễn ra từ tháng 6 năm 1645 đến tháng 5 năm 1646. Ba bên đều nhất trí trả tù binh và không tấn công nhau. Sau hội nghị, mỗi bên gởi phái đoàn đi thăm hai bên kia. Cha An Sanh Giang tự nguyện làm đại sứ cho người Pháp sang thăm người Uông Tinh. Chuyến đi thành công tốt đẹp, mang lại hy vọng lớn cho công cuộc truyền giáo giữa những dân tộc liên hệ.
Nhưng bóng tối hăy c̣n bao phủ mối tương quan giữa hai dân tộc Hướng Dương và
Uông Tinh. Cùng với một số thủ lănh của dân Hướng Dương, cha An Sanh Giang tự
nguyện đi đến với dân Uông Tinh để hoà giải. Cùng đi với cha, c̣n có hiến sinh
giáo dân người Pháp là anh Gioan Lâm Điền (Jean de la Lande) 25 tuổi.
Điều không may xảy ra là tại đó mới có cơn dịch sát hại nhiều người. Liền sau đó
là nạn hạn hánh khiến mùa bắp thất thu nặng. Các thầy pháp cắt nghĩa cho thấy lư
do của cả hai tai nạn đều do lá bùa cha An Sanh Giang c̣n để lại trong chiếc
rương khi ngài chạy thoát thân nhờ sự giúp đỡ của người Hà Lan.
Cuộc họp để xét xử cha An Sanh Giang ngày 17.9.1646 chưa ngă ngũ. Các tù binh
hiện bị giữ làm con tin. Cha An Sanh Giang và anh Lâm Điền được giao cho bà cô
giữ. Nhưng chiều hôm ấy, cha được mời đi ăn cơm tối, trên đường ngài bị một nhát
búa ŕu giáng trên đầu nên chết lập tức. Được tin, anh Lâm Điền đang đêm đi t́m
xác cha, cũng lănh một nhát búa ŕu kết thúc cuộc đời. Cả hai vị đều đuợc Giáo
Hội mừng kính cùng với các thánh Tử Đạo Bắc Mỹ. Nơi cha