Vọng Phục Sinh
Đêm nay, đêm cực thánh, đêm của mọi đêm. Chúng ta không thể không nghĩ đến những đêm quan trọng của lịch sử cứu độ.
1. Đêm đầu tiên, khi Lời Chúa phán ra, ánh sáng bừng lên, xé toạc màn đêm đầu tiên, đêm của Tạo dựng. Thiên Chúa đă xuất hiện ra như là Thiên Chúa của ánh sáng. Điều này đă được thánh Gioan, tác giả TM IV, viết: “Thiên Chúa là ánh sáng; nơi Người, không có một chút bóng tối nào (1 Ga 1,5). Ngài cũng là nguồn của mọi điều thiện hảo: “Người đă sáng tạo muôn loài cho chúng hiện hữu, mọi loài thọ tạo trên thế giới đều hữu ích cho sinh linh, chẳng loài nào mang độc chất huỷ hoại. Âm phủ không thống trị địa cầu” (Kn 1,14).
Tuy nhiên tội lỗi đă đến, Ađam và Evà đă phạm tội; do đó đêm tạo dựng trông chờ đêm Phục Sinh, để Ađam mới là Đức Giêsu từ trời đến hầu trở thành hoa quả đầu mùa của nhân loại mới.
2. Một đêm nữa cũng là nền tảng trong lịch sử Ít-ra-en: đó là cuộc Xuất hành kỳ diệu ra khỏi Ai-cập. Chúng ta vừa nghe đọc trong phần Canh thức. “Đức Chúa cho một cơn gió đông thổi mạnh suốt đêm, dồn biển lại, khiến biển hoá thành đất khô cạn. Nước rẽ ra, và con cái Ít-ra-en đi vào giữa ḷng biển khô cạn, nước sừng sững như tường thành hai bên tả hữu” (Xh 14,21-22). Đi qua Biển Đỏ, dân Chúa như “được rửa tội”: chính Thiên Chúa quyền năng đă cứu họ thoát kiếp nô lệ để đưa họ về miền Đất hứa của tự do, công lư và ḥa b́nh. Đây là đêm thứ hai, đêm của Xuất hành, đêm báo trước đêm Phục Sinh.
3. Điều Dân Chúa ngày xưa được hưởng dưới quyền lănh đạo của Môsê, hôm nay chúng ta là dân Ít-ra-en theo Thần Khí, hậu duệ của Abraham do bởi đức tin (x. Rm 4,16), chúng ta cũng được hưởng. Là Môsê mới, Đức Giêsu dẫn đưa chúng ta vượt qua kiếp nô lệ tội lỗi để đến với sự tự do của con cái Thiên Chúa. Nếu chúng ta cùng chết với Chúa Kitô, chúng ta sẽ vươn tới cuộc sống mới, nhờ quyền năng Thánh Thần của Người.
Hôm nay chúng ta nhớ lại cuộc “xuất hành thiêng liêng” chúng ta đă trải qua: hăy bỏ lại phía sau cuộc sống trước đây của chúng ta và tiến vào “miền đất của sự sống”. Đây là đêm thứ ba, đêm của sự Phục Sinh.
4. “Ôi! Đêm thật diễm phúc, đêm duy nhất biết được thời giờ Đức Kitô từ cơi chết phục sinh”. Chúng ta đă nghe công bố như thế vào đầu buổi Canh thức long trọng, mẹ của mọi đêm canh thức.
Sau đêm thảm kịch của ngày thứ sáu thánh, khi “quyền lực của bóng tối” (Lc 22,53) dường như thắng thế trên Đấng là “ánh sáng thế gian” (Ga 8,12), sau sự yên lặng bao trùm ngày thứ bảy thánh, khi đó Đức Kitô, sau khi hoàn tất công việc của Người trên trần gian, nghỉ ngơi trong mầu nhiệm của Chúa Cha và mang sứ điệp sự sống vào trong cơi âm, cuối cùng ta được sống cái đêm trước “ngày thứ ba” mà theo Kinh Thánh, Đấng Mêsia sẽ trỗi dậy, như Người đă tiên báo cho các môn đệ. “Ôi! Đêm thật diễm phúc, trời cùng đất kết giao, Chúa với người gặp gỡ” (Công bố TM Phục Sinh).
5. Đây là đêm của các đêm, đêm của niềm tin và hy vọng. Trong khi tất cả đang ch́m trong bóng đêm, Thiên Chúa-Ánh sáng vẫn thấy. Cùng với Ngài, những người đặt hy vọng và tin tưởng nơi Ngài, cũng sẽ được thấy.
Lạy Mẹ Maria, đây thật là đêm của Mẹ! Khi những ánh sáng cuối cùng của ngày sabát tắt dần, và hoa quả của ḷng Mẹ đă nằm trong mộ đá, trái tim của Mẹ cũng đang thấy! Đức tin và hy vọng của Mẹ đang nh́n tới trước. Đàng sau tảng đá nặng nề, niềm tin và hy vọng của Mẹ đă thấy trước ngôi mộ trống không; đàng sau màn đêm dày đặc, niềm tin và hy vọng của mẹ đă như hé trước buổi ban mai của cuộc Phục Sinh.
Lạy Mẹ Maria, xin cho chúng con cũng chiêm ngắm trong sự yên lặng của đêm nay, tin tưởng và hy vọng vào Lời Thiên Chúa. Như thế, chúng con sẽ gặp, trong ánh sáng và sự sống viên măn, Đức Kitô, hoa quả đầu mùa của sự sống lại.
FX Vũ Phan Long, OFM
KINH TIN KÍNH CỦA TÊN TRỘM
Nhiều người thường nghĩ, trước giờ chết, xưng tội xong th́ chết lên thiên đàng ngay. Họ lư luận đơn giản là Chúa tha tội, hết tội là ta được lên thiên đàng. Tôi đă đặt vấn đề trong suy bài suy niệm về nhân quả. Thí dụ, tôi xưng tội nói xấu, tội tôi được tha. Nhưng hậu quả của việc nói xấu là cả cộng đoàn cứ đinh ninh người đó xấu, họ dè bỉu, họ coi thường, khinh chê, tránh xa người ấy. Bí tích Giải Tội tha tội cho tôi nhưng không có năng lực thay đổi lối suy nghĩ của cộng đoàn về người tôi gây bất công. Như thế hậu quả tội tôi gây ra vẫn c̣n.
- Dân chúng đứng nh́n.
Nếu Chúa nhận việc đền tội bằng mấy kinh tôi đọc, cho tôi lên thiên đàng rồi cứ để người khác chịu oan ức th́ đâu là vẻ đẹp của bí tích Giải Tội. Tội th́ giải mà không giải được hậu quả của tội th́ tôi định nghĩa thế nào về cách tôi nhận ơn sủng của bí tích này. Một lư luận đơn sơ, một người ăn cắp của tôi hàng trăm ngàn, chỉ cần xưng tội, Chúa tha! Rồi tôi lại đi lấy cắp của người khác hàng trăm ngàn, chỉ cần xưng tội, Chúa tha! Ai dám khẳng định giáo lư của Chúa là như thế?
Tôi đă đưa thí dụ. Một người không chịu học hành, ăn gian nối dối, trộm cắp, x́ ke ma túy, bệnh hoạn, vào tù. Khi được tha tù, họ sám hối, mọi người tha tội cho anh ta. Tội anh ta không c̣n. Nhưng v́ không học nên vẫn dốt, hết tội không có nghĩa là tự động thông minh. Hậu quả vẫn c̣n. Anh ta phải đi học lại. Tha tội không có nghĩa là anh ta hết bệnh hoạn. Anh ta phải uống thuốc, phải tập thể thao. Tội th́ hết nhưng hậu quả không hết.
Tôi được tha tội, nhưng tôi phải "học" mới lấy lại được kiến thức nơi học đường. Tôi được tha tội, nhưng tôi phải "tập dượt" mới lấy lại được sức khỏe. V́ có như vậy th́ các "việc lành" mới có giá trị hiện hữu.
Người trộm lành
Có thể có người đặt vấn đề. Thế c̣n người trộm chết bên Chúa th́ sao. Anh ta đâu có đền tội mà cũng được tha, chết lên thiên đàng ngay! Trong lối suy nghĩ ấy, nhiều người cổ súy một nền tu đức "ḿ ăn liền". Chỉ cần tích tắc xưng tội là Chúa cho lên thiên đàng ngay. Ta hăy nghe lại những ǵ xảy ra ở vùng đất Jerusalem hai ngh́n năm xưa theo Phúc Âm:
Dân chúng đứng nh́n, c̣n các thủ lănh th́ buông lời cười nhạo: "Hắn đă cứu người khác, th́ cứu lấy ḿnh đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn!" Lính tráng cũng chế giễu Người. Chúng lại gần, đưa giấm cho Người uống và nói: "Nếu ông là vua dân Do Thái th́ cứu lấy ḿnh đi!" Phía trên đầu Người, có bản án viết: "Đây là vua người Do Thái."
Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: "Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hăy tự cứu ḿnh đi, và cứu cả chúng tôi với!" Nhưng tên kia mắng nó: "Mày đang chịu chung một h́nh phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, v́ xứng với việc đă làm. Chứ ông này đâu có làm điều ǵ trái!" Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!" Và Người nói với anh ta: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng" (Lc. 23:34-43).
Phúc Âm cho thấy toàn cảnh bấy giờ như sau:
- Thủ lănh buông lời cười nhạo.
- Lính tráng chế giễu.
- Một tên trộm nhục mạ.
Trong ba năm, Chúa chữa biết bao nhiêu người bệnh tật. Những người này bây giờ ở đâu.
Không ai lên tiếng bênh vực Chúa.
Tôi xin đặt vấn đề. Anh ta là tên trộm, tại sao không nói như người trộm bên cạnh: "Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hăy tự cứu ḿnh đi, và cứu cả chúng tôi với!" Trái lại anh ta mắng ngược lại tên trộm kia: "Mày đang chịu chung một h́nh phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, v́ xứng với việc đă làm. Chứ ông này đâu có làm điều ǵ trái!"
Qua cuộc đối thoại này ta thấy hai tên trộm không nói cùng một ngôn ngữ của kẻ trộm:
- Một người biết kính sợ Thiên Chúa, một người không.
- Một người biết chịu h́nh phạt là đích đáng, một người không.
- Một người biết cuộc đời của Chúa không làm ǵ sai trái, một người không.
- Một người biết Chúa Giêsu bị đóng đinh là sự bất công, một người không.
- Một người lội ngược ḍng với đám đông, một người ùa theo.
Tâm đức người trộm lành
Sự khác biệt lớn lao là một người trộm có "tâm đức", một người không. Cái tâm đức này không phải bây giờ anh ta mới có. Nó phải là ḷng thao thức từ lâu. Những ngày đi ăn trộm anh ta phải biết về Đức Kitô rồi, nên mới xác định được là "Ông này đâu có làm điều ǵ trái." Ăn trộm mà biết về Chúa rơ như thế sao? Ăn trộm mà c̣n lương tâm nhận là ḿnh đáng tội, có nghĩa là lúc ăn trộm, lương tâm anh ta cũng đă ngời sáng rất rơ ràng. Một người như thế không có "tâm" sao. Bởi đó, ta mới có truyền thống gọi anh ta là người "trộm lành". Trong lối sống "trộm lành" này rất có thể anh ta không ăn trộm chuyên nghiệp. Biết đâu bị bắt ăn trộm trong lúc quá túng nghèo của một sa cơ? Và biết đâu trong lối sống đó anh ta đă làm nhiều việc lành đền tội rồi.
Lời chứng trong băo tố
Nguyên việc trước công chúng mà anh ta dám xác nhận Đức Kitô vô tội th́ anh cũng đáng bị người Do Thái đánh gẫy ống chân. Trong khi Phêrô chạy trốn, bao nhiêu người được Chúa chữa lành, được Chúa thi ơn không dám bênh Chúa c̣n anh ta có được hưởng ơn ǵ của Chúa đâu mà dám bênh Chúa? Việc tuyên xưng Chúa vô tội trên thập giá của một tên trộm lại là lời tuyên xưng duy nhất của nhân loại. Toàn thể bấy giờ im lặng. Tất cả thế lực tôn giáo, chính quyền đều chảy xuôi một chiều là nhạo báng Chúa.
Người tuyên xưng Chúa duy nhất lại là tên trộm. Sự tuyên xưng này mang một ư nghĩa rất sâu là anh xác tín vào đời sau. Như thế có nghĩa là tất cả xă hội kia đang đánh mất ân sủng của ḿnh. Toàn thể đám đông kết án Chúa là sai. Anh ta đi ngược lại đám đông, người trộm này dám xưng ḿnh tin Chúa là Đấng vô tội. Một người b́nh thường không thể tuyên xưng như thế. Chúa đang chết rất nhục nhă, bởi đó người ta mới cười. "Nó đă cứu người khác th́ tự cứu ḿnh đi." Lời đó đối với con mắt người thường là đúng thôi. Vậy tại sao tên trộm lại không tin như thế. Làm cách nào tên trộm này tin Chúa sẽ vào Nước Thiên Chúa? Làm cách nào tên trộm này tin Chúa sống lại? Ai dạy anh ta có sự sống đời sau? Ai dạy anh ta tin rằng Chúa đang chết kia là Thiên Chúa thật? Người khôn ngoan th́ đến với kẻ quyền năng chứ đến với một người cũng chết như ḿnh th́ được ǵ?
Cái sám hối của anh không đến từ một "tâm đức nhất thời" mà nó phải có căn tính bằng cả một cuộc sống của quá khứ. Anh phải biết về lời rao giảng của Chúa lúc đương thời. Anh phải theo Chúa trong tâm đức của anh từ lâu lắm rồi. Giáo lư và niềm tin không thể đến bất ưng không vun trồng. Cuộc trở về của tên trộm tương tự như quá khứ t́m kiếm lề luật của người thu thuế Dakêu.
Tư cách thay cả nhân loại tuyên xưng Chúa vô tội. Tư cách xin chấp nhận bị đóng đinh v́ xứng với tội của ḿnh để làm tương phản đảo lộn việc đóng đinh Chúa là sai trái, không là bài giảng hùng hồn nhất giữa trời đất trước mặt toàn quyền thượng tế và chính quyền hay sao? Đấy không phải là cách đền trả công lư của anh sao?
Đền trả là tuyên xưng đức tin
Hậu quả tội lỗi của anh có đó chứ. Nhưng anh đă đền. Không phải một tích tắc ăn năn, Chúa tha tội là lên thiên đàng. Anh ta đă đền. Cái đền anh dũng trên thập giá của anh cho tôi tin rằng anh cũng đă nhiều lần đền trong lương tâm của một thời quá khứ băn khoăn thao thức. Vấn đề đặt ra ở đây không phải là anh ta không đền. Anh ta đă đền. Cuộc tuyên xưng này không những là đền trả bây giờ mà thôi nhưng nó là kết quả của những trăn trở trong quá khứ rồi. Chỉ có vấn nạn là, đền như thế mà đủ sao? Lỗi đức công b́nh sao anh không đền trả cho người? "Sao các người không tự ḿnh xét xem cái ǵ là phải? Thật vậy, khi anh đi cùng đối phương ra toà, th́ dọc đường hăy cố gắng giải quyết với người ấy cho xong, kẻo người ấy lôi anh đến quan toà, quan toà lại nộp anh cho thừa phát lại, và thừa phát lại tống anh vào ngục" Tôi bảo cho anh biết: Anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng kẽm cuối cùng" (Lc. 12: 58-59). Phải trả đến đồng kẽm cuối cùng. Theo mạch văn th́ không phải là trả cho Thiên Chúa mà cho đối phương. Ta cũng nên lưu ư một suy nghĩ, đây là ư tưởng Phúc Âm Luca. Phúc Âm Luca được mệnh danh là Phúc Âm của ḷng thương xót. Luca luôn luôn đề cao ḷng thương xót. Tại sao ở đây Luca viết bằng ngôn ngữ mạnh như thế.
Tất cả hậu quả của tội đều phải đền. Chỉ có vấn nạn là đền ít hay nhiều, đền bao nhiêu mới đủ, đền không đủ th́ sao, làm cách nào đền. Tôi sẽ đề cập tới đền như thế nào mới đủ trong đề tài Chúa làm phép bánh hóa ra nhiều ở biển hồ Galilê.
Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!" Và Người nói với anh ta: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng." Lời cầu xin của anh ta là:
- Anh tin có Nước Thiên Chúa và sự sống đời sau.
- Anh tin người ta sẽ sống lại.
- Anh không là người vô thần. Anh kính sợ Thiên Chúa.
- Anh tin Đức Kitô là Thiên Chúa, có sự sống nơi Chúa.
- Anh tin vào Đấng Cứu Độ. Đức Kitô là Đấng có thể cứu anh.
- Anh tin có sự cứu chuộc. Con người cần được cứu chuộc.
- Anh tin vào luân lư có đúng, có sai.
- Anh tin những người kết án Chúa, họ là kẻ là sai lầm.
- Anh tin Thiên Chúa có thể sửa sai. Anh tin một niềm hy vọng.
Sự tuyên xưng này anh phải trả giá v́ nó đi ngược lại những người đang kết án Chúa. Đây không là lời tuyên xưng dễ dăi biếng nhác. Sự đền trả của người mù ở đây mang một ư nghĩa khác nữa. Nó làm trọn Lời rao giảng của Đức Kitô: "Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, th́ Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời" (Mt. 10:32).
Hành tŕnh thiêng liêng
"Tên trộm," mà hôm nay người ta thường gọi danh xưng như thế đă là nhân chứng của niềm tin giữa giờ vô cùng băo tố. Băo tố nhất. Ta có thể nói, trước khi có Kinh Tin Kính th́ anh trộm đă tuyên xưng trước chúng ta rồi. Một lời tuyên xưng công khai trước toàn thể quyền thế nhân loại. Lời tuyên xưng sau cùng trước khi Chúa giă từ trần gian. Trong lúc cả nhân loại im tiếng th́ một người duy nhất tuyên xưng lại là anh. Hành tŕnh thiêng liêng của người trộm này không là tích tắc được Chúa cho vào Nước Chúa, nhưng là một hành tŕnh đă chuẩn bị từ tháng ngày trong quá khứ.
Ta nên nh́n con đường trưởng thành thiêng của người trộm này không đến từ ngẫu hứng "ḿ ăn liền." Không nên dễ dăi kết luận, chỉ cần tích tắc nói với Chúa vài câu là được lên thiên đàng. Ta nên nh́n con đường trưởng thành thiêng liêng của người trộm này trong cái nh́n t́m hiểu đoạn Kinh Thánh tường thuật về anh. Có thể nói cách khác, chính lời tuyên xưng của "tên trộm" viết thành lời đoạn Kinh Thánh này.
Nguyễn Tầm Thường (Trích tập suy niệm KẺ ĐI T̀M, sẽ xuất bản năm 2010)