Các bài suy niệm Chúa Nhật 2 PHỤC SINH (Năm A)
CHÚA NHẬT VỀ L̉NG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA
Lời Chúa: Cv 2,42-47; 1Pr 1,3-9; Ga 20,19-31
MỤC LỤC
14. Gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh- ĐTGM. Ngô quang Kiệt
15. Niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh-Lm Phạm Ngọc Ngôn
Chương 20 của Phúc Âm thứ tư được cấu tạo thành một khối duy nhất về phương diện văn thể và đề tài. Nó kể lại vài lần hiện ra của Đức Kitô Phục Sinh ở Giêrusalem. Ư chính của chương này: việc chuyển từ kinh nghiệm thể lư sang đức tin thiêng liêng.
Khi đă để ư đến yếu tố văn thể và giáo thuyết, chúng ta có thể thấy chương 20 được h́nh thành như sau:
+ Phần thứ nhất: buổi sáng Phục sinh (20,1-18)
- Đoạn 1: viên đá được lăn ra và ngôi mộ trống (c.1-10); xem Mt 28,1-10; Mc 16,1-8; Lc 14,1-10.
- Đoạn 2: Đức Kitô hiện ra với Maria Madalena (c.11-18; xem Mt 28,9tt; Mc 16,9)
+ Phần thứ hai: hiện ra cùng các môn đệ (20,19-21)
- Đoạn 1: hiện ra ngày phục sinh của Đức Kitô sống lại cho các môn đồ (c.19-23; x. Mc 16,14; Lc 24,36-49; 1Cr 15,5)
- Đoạn 2: hiện ra sau tám ngày cho Tôma, kẻ cứng tin (c.24-49)
+ Kết cục: (20,30-31)
1) Nh́n sơ qua, chúng ta thấy không những hai phần này được đặt gần nhau mà c̣n được cấu tạo một cách gần như đồng nhất, Tôma chiếm một chỗ quan trọng phần thứ hai. Trong lúc Maria Madalena, trong một giây phút buồn phiền, đă khóc khi thấy mồ trống, Tôma, cách tự phát nhưng bồn chồn, đă hồ nghi thực thể của Chúa Giêsu phục sinh. Vắng mặt khi Phêrô và môn đệ dấu yêu khám phá ra mồ trống và khi Gioan biểu lộ đức tin vào sự phục sinh của Đức Kitô (c.8-9), Maria tuyên xưng đức tin khi Chúa tự mạc khải cho bà (c. 18). Cũng thế, vắng mặt khi Chúa hiện ra ngày phục sinh khi các môn đệ tụ họp, Tôma đă tin cách phấn khởi khi Chúa Giêsu chiếu cố hiện ra với ông tám ngày sau.
Trong cả hai phần, sự kiện hay dịp sờ đến thân xác phục sinh Chúa đều được đặt nổi bật (đối với Maria, x.câu 17; với Tôma x.câu 25 và 27) với một cảm giác thật nhân bản. Ngoài ra đức tin của Maria đă làm bà được sứ mệnh loan báo cho các tông đồ sự sống lại (c.18), trong lúc việc tuyên tín của Tôma khai mào đức tin của những người không thấy mà tin (c.29).
Cuối cùng, mỗi đoạn đều nhắm đến kiệc chuyển từ kinh nghiệm thể lư sang đức tin thiêng liêng: môn đồ dấu yêu tin khi nh́n thấy tấm khăn liệm và dải vải (c.8), Maria tin khi nghe giọng nói quen thuộc của thày gọi tên bà (c.0, các môn đồ tin khi ngắm nh́n tay và cạnh sườn của Đức Kitô (c.20), cuối cùng Tôma tuyên xưng đức tin hoàn toàn vào Đức Kitô Phục Sinh (c.29) khi nh́n thấy tay chúa và thọc tay ông vào cạnh sườn Ngài (cc.25 và 27). Những tương hợp này chứng tỏ có sự đồng nhất trong việc sắp xếp và khai triển toàn bộ chương 20. Tuy nhiên bắt đầu phần thứ hai, đức tin vào Đức Kitô Phục Sinh có những chiều kích rộng lớn hơn. Thật vậy, ngoài các vị tông đồ, toàn thể Giáo hội được nổi bật nhờ được sai đi truyền giáo và nhờ việc Chúa Thánh Thần hiện xuống. Cũng thế, đức tin của một Tôma cứng ḷng nhưng đă ăn năn gợi lên đức tin của tất cả các tín hữu sau này.
2) “Đoạn Ngài phán cùng Tôma: hăy đem ngón tay ngươi đặt đây, này tay Ta; Hăy đem tay ngươi tra vào cạnh sườn Ta và đừng ở như người cứng tin mà là như người thành tín” (c.27). Phần đầu của câu nói hay là một sự hạ cố đến Tôma hầu như làm ta khó chịu. Chúa Giêsu chấp nhận thách thức mà Tôma đă đ̣i cho kỳ được: sờ đến Ngài để đảm bảo đó không phải là một hữu thể tưởng tượng nhưng là một con người thật, sống động. Ngược lại, phần thứ hai hàm chứa một lời khuyến cáo đích đáng. Tôma phải trở nên một tín hữu thật sự trong thực thể của Chúa Giêsu phục sinh.
Không có ǵ trong bản văn cho thấy là vị tông đồ hiểu lời Chúa theo nghĩa đen và thi hành điều mà thày dạy làm. Lời nói mạnh mẽ của Chúa Giêsu đă đủ cho ông. V́ thế Toma trả lời và nói: “Lạy Chúa tôi và là Thiên Chúa của tôi”. Lời tuyên xưng đức tin rạng rỡ này, lời xác quyết nặng về phương diện Kitô học phát xuất từ miệng Tôma cứng tin, nói lên sự hiển nhiên của việc phục sinh.
Từ đầu cho đến giờ, không có ai trong Phúc Âm Gioan gán tước hiệu này cho Chúa Giêsu Kitô. Một cách bộc phát và phấn khởi, Tôma phát biểu đức tin hoàn toàn của ḿnh vào thiên tính của Đức Kitô. Lời tuyên xưng đức tin này là chóp đỉnh, là cao điểm của toàn thể Phúc Âm thứ tư. Câu “Lạy Chúa tôi và là Thiên Chúa của tôi”, v́ nặng phần giáo thuyết, đă làm các nhà chú giải để ư nhiều. Tước hiệu “Chúa” (Curios) đă được nghiên cứu rất nhiều. Chỉ cần nhắc lại ở đây là nhiều lần các sách Tân Ước đă gán tước hiệu Curios cho Chúa Kitô. Nhưng trong mỗi trường hợp, cần phải xét kỹ để có thể xác định một cách rơ ràng nội dung Kitô học của tước hiệu đó.
Đức Kitô cũng được gọi là Thiên Chúa, nhất là trong các thư mục vụ (Có lẽ trong Rm 9,5 nữa), trong lúc thánh Gioan chỉ gán tước hiệu này hai lần trong 1,1.18 (x.5,18; 10,53). Trong trường hợp chúng ta đây, hai tước hiệu “Chúa” và “Thiên Chúa” đều được liên kết chặt chẽ trong cùng một câu. Để xác định ư nghĩa đích thực của hai tước hiệu này, một vài tác giả đă nói rằng văn chương ngoại giáo đă dùng tước hiệu đó (Deisman), đặc biệt trong việc sùng bái các hoàng đế vào thời đầu tiên của Kitô giáo (Bauer). Tuy nhiên, hầu như chắc chắn rằng môi trường của câu nói này phải được t́m trước hết trong văn chương Do thái và Thánh kinh. Thật vậy, câu nói này được t́m thấy nhiều lần trong bản dịch Hy lạp 70 (xem nhất là 2S 7,28; 1V 18,39; Tv 30,2; 35,5.24; 125,15; 138,1; Ga 18,17). Có ư nói là Tôma tôn thờ Đức Kitô, Chúa Con, với những lời mà người Do thái có thói quen dành để tôn thờ TC. Như thế, Tôma đi trước thánh Stephano, người khi chịu tử đạo, sẽ phó dâng tâm hồn ḿnh cho Chúa Giêsu như cho TC (Cv 7,59).
3) Theo từ ngữ nay thành cổ điển của Origène, Phúc Âm thứ tư là “Phúc Âm thiêng liêng” (x. Eusèbe de Kesarée, Hist.Eccl. VI,14,7). Hơn cả Phúc Âm nhất lăm, thánh Gioan, thần học gia, đă nhấn mạnh đến các thực thể cao quí nhất cấu tạo nên đời sống Kitô hữu: tin, đời sống thần linh, ân sủng, ánh sáng. Ông có tài hiểu được ư nghĩa thiêng liêng của các sự kiện và biến cố cùng khám phá ra những mầu nhiệm linh thiêng của chúng. Tất cả đều xảy ra trên b́nh diện cao quí của tâm hồn, của việc chúng ta được kết hợp trong ân sủng với Chúa Cha nhờ Đức Kitô. Tuy nhiên, sự sống của Thiên Chúa trong chúng ta dù cao quí đến đâu, cũng không xóa bỏ được bản tính cùng thực tại thể lư. Cần phải luôn lặp lại điều này: Gioan không giảng đến một thần học thiêng liêng mà không liên quan đến lịch sử; sứ điệp thiêng liêng của ông giả thiết và đ̣i hỏi phải có các chứng nhân mắt thấy tai nghe.
Như thế, một khi đă để ư đến công tŕnh khảo cứu hiện thời của khoa phê b́nh văn h́nh sử (Formgeschichte), và độc lập với mọi cuộc tranh luận về sự sống lại như một sự kiện lịch sử, chúng ta không thể hoài nghi là chính Gioan đă lưu tâm nhiều đến các chứng từ liên quan đến những lần hiện ra của Đức Kitô.
Những lần hiện ra của Đức Kitô ngày phục sinh và 8 ngày sau, việc nhấn mạnh đặc biệt về sự kiện Chúa Giêsu chỉ các thương tích và cạnh sườn Ngài cho các môn đệ và cho Tôma, chúng tỏ cách rơ ràng rằng đối với Gioan, Đức Kitô vinh hiển và Chúa Giêsu chịu đóng đinh và chịu chết là một. Gán cho những tŕnh thuật của Gioan về các lần hiện ra một ư nghĩa hoàn toàn tượng trưng là cưỡng chế bản văn. V́ thế chúng ta không chấp nhận lời chú giải nổi tiếng của Bultmann: “Bài tường thuật về Tôma cũng như bài tường thuật về Maria Madalena... chỉ có một giá trị tương đối...(chúng ta phải coi chúng) như là một lời trong đó các biến cố được kể lại đă trở thành những h́nh ảnh biểu tượng cho cộng đoàn” (R.Bultmann, The Gospel of John, Oxfort, Elackwell,1971 tr.696).
Lời xác quyết này lại càng đáng ngạc nhiên và gây sửng sốt khi tác giả Phúc Âm thứ tư, hơn các Phúc Âm nhất lăm, đặc biệt làm nổi bật tính cách thể lư của thân xác Đức Kitô trong những lần hiện ra. Tại sao Gioan, thần học gia, tác giả Phúc Âm có tính cách thiêng liêng nhất, lại nhấn mạnh nhiều đến đặc tính nhân loại của Đức Kitô sau khi sống lại? Ngoài ra chúng ta phải thành thật tự hỏi tại sao Gioan suốt cả cuốn Phúc Âm, thường chú trọng đến vinh quang hiển nhiên và thần linh của Đức Kitô, lại tránh ám chỉ đến vinh quang này trong những lần hiện ra, ngược hẳn với Matthêu? Khó có thể t́m ra câu trả lời. Đây là câu trả lời: v́ Gioan - tác giả Phúc Âm thiêng liêng nhất, tự cảm thấy cần phải nhấn mạnh phải đến sự kiện Đức Kitô đi vào vinh quang bên cạnh Chúa Cha, nhưng đến mọt sự kiện khác đă đánh động ông nhất với tư cách là nhân chứng tận mắt: Đức Kitô giờ đây, cũng như trước khi tử nạn, tiếp tục tiếp xúc cá nhân với các môn đồ của Ngài, với Tôma.
4) “C̣n nhiều dấu lạ khác nữa...": Gioan, khi kết thúc tác phẩm của ông, biết rằng tác phẩm đó chưa chấm dứt. Nhưng có khi nào người ta viết cạn ư một quyển sách không? hay hơn nữa, có bao giờ có thể minh chứng xong xuôi đức tin của ta không? Chúa Giêsu đă nói trong bài tạ từ: “Thày c̣n nhiều điều phải nói với các con...” (Ga 16,2). Với h́nh ảnh Chúa Giêsu ao ước mạc khải Chúa Cha cho thế gian - thế gian với tinh thần ích kỷ hay với tâm hồn quá tự măn để có thể đón nhận đức tin - Gioan nóng ḷng tŕnh bày cho độc giả con người của Chúa Giêsu trong chiều kích thật sự của Ngài, con người gây nhiều ngạc nhiên v́ là thần linh, Gioan có cảm tưởng tác phẩm của ḿnh chỉ là nét phác họa đơn sơ. Không phải là ông không nói hết: thật ra c̣n nhiều dấu lạ khác...(x. Hđ 43,27; 1M 9,22), nhưng nhất là v́ tŕnh thuật không bao giờ có thể tŕnh bày đủ.
Cuối cùng, ông có thể làm ǵ nếu không phải là thuật lại các dấu chỉ? Chúng ta hăy nhớ lại các dấu chỉ có tính cách thiên sai ở phần đầu trong đời công khai (Ga 2-4). Ở đây quan niệm này hiểu rộng ra: nó bao gồm những phép lạ (dấu chỉ và công việc 12,37) cũng như lời nói và cả cuộc đời công khai của Chúa Giêsu. Lời nói và phép lạ luôn đi đôi với nhau, tạo nên một khối (12,38); cả hai soi sáng cho nhau v́ phép lạ và lời nói chỉ là những dấu chỉ nói lên con người thiêng liêng của Chúa Giêsu. Người ta chỉ có thể dừng lại nơi những biểu lộ bên ngoài và kêu lên: “Phi thường thay, những phép lạ đó. Ư nghĩa tôn giáo sâu xa thay, những lời nói đó”. Bao lâu lời nói và phép lạ không gợi được cho độc giả con người thiêng liêng của Chúa Giêsu, bấy lâu chúng không đạt được mục đích. Gioan, với tư cách là tín hữu đích thực và văn sáng suốt, biết chắc rằng thực tại trổi vượt hơn h́nh ảnh được diễn tả. V́ thế ông tha thiết kêu xin độc giả đừng dừng lại nơi dấu chỉ, nhưng phải đạt đến sự vật được dấu chỉ diễn tả, như ông đă làm dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần.
Độc giả cần phải có đức tin, Phúc Âm không được viết ra như một lời biện hộ gởi đến người không tin, trong trường hợp này, Gioan có lẽ chứng tỏ ḿnh thiếu chiến thuật. Thật vậy, cho dù dá mắt vào các sự kiện, ông không quan sát chúng trên phương tiện thuần lư, nhưng dưới ánh sáng của đức tin do Thánh Thần cổ vơ và soi sáng. Gioan cho các tín hữu đă tin, nhưng ông báo cho biết không bao giờ họ đi đến mút cùng đời sống đức tin của họ đâu. Dấu chỉ luôn bao hàm một thực thể không bao giờ cạn đối với ai muốn tin nhiều hơn. Đi từ ḷng tin vào tính cách thiên sai của Chúa Giêsu, tính cách đă được đưa ra ánh sáng trong phần đầu của Phúc Âm (Ga 2-4) và được củng cố do phản ứng đức tin đầu tiên của cộng đoàn Kitô hữu (Cv 2,36), người Kitô hữu phải đào sâu ḷng tin vào tử hệ thần linh của Chúa Giêsu, mối tử hệ được mạc khải vào giờ tôn vinh. Và đức tin càng đâm rễ sâu, th́ sự sống thần linh và không thể phá hủy càng được trao ban nhờ danh - hay con người - Chúa Giêsu, v́ Chúa Cha đă ban cho Chúa Giêsu danh Người (17,11-12) và quyền thông sự sống thần linh vĩnh cửu. Ai tin vào danh Chúa Giêsu th́ nhờ Ngài sẽ được sống muôn đời (1,12; 3,15-18; 12,50; 1Ga 5,13)
Không! Tin Mừng không thể chấm dứt: là một tuyển tập các dấu chỉ, Phúc Âm vẫn c̣n là như vậy bao lâu ḷng tin của độc giả chưa đạt đến đích. Và đích này khi nào sẽ đạt được? Khi người tín hữu thấy vinh quang của Chúa Giêsu mà Chúa Cha ban cho Ngài khi Ngài trở về cùng Cha, thứ vinh quang thần linh đă hiện hữu trước mọi thời gian (17,24)
KẾT LUẬN
Từ đây đức tin không dựa trên cái nh́n, nhưng dựa trên chứng tá của những người đă thấy; chính nhờ đức tin này mà các tín hữu kết hiệp sâu xa với Đức Kitô Phục Sinh (17,20).
Ư HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Phản ứng của Toma khi thấy các tông đồ báo tin cho ông việc Chúa Giêsu hiện ra cho chúng ta thấy khía cạnh đầu tiên trong hoạt động của “thế gian”. V́ việc sống lại của Chúa Giêsu vừa khó tin vừa gây bực bội, nên ta thường bị cám dỗ không chấp nhận. Cũng thế, Tôma giới hạn tri giác về thực tại và khả năng tri thức vào tiêu chuẩn của kinh nghiệm hay của khả năng suy tư. Những ǵ ông không thể hiểu, không thể sờ đến, đo lường, đều bị ông từ chối. Đó là tinh thần của thế gian muốn kéo lôi tất cả đến với nó và chỉ chấp nhận những ǵ nó chứa đựng.
2. Đức tin luôn bao hàm sự liều lĩnh, bởi lẽ nó không tự áp dụng bằng kinh nghiệm hay lư luận. Đức tin trở nên khó khăn đối với Tôma, th́ cũng khó khăn đối với tấ cả chúng ta. Đức tin dạy điều khó tin v́ giả thiết một sự vượt quá thường xuyên con người chúng ta, v́ đức tin là một sự tăng trưởng, một bước tiến đến Đấng nào đó luôn bí ẩn, luôn gây ngạc nhiên.
3. Đức tin không những là một sự liều lĩnh mà c̣n là một cuộc chiến, một trận đấu. Đức tin không có ǵ là thoải mái tiện nghi; nếu đức tin xây dựng và tái tạo chúng ta, điều đó có thể thực hiện nếu chúng ta biết từ bỏ chính ḿnh. Thế gian mà đức tin sẽ toàn thắng không phải là một thực thể trừu tượng, xa vời. Thế gian đó, là chính chúng ta với những sợ hăi, lo âu, khoe khoang, ghen ghét, tham vọng và quyến luyến. Bao lâu c̣n bám chặt thế gian, bấy lâu chúng ta c̣n bị thống trị. Và chúng ta hoàn toàn giống nhau, nên chúng ta thường biện minh cho nhau, tự làm cho ḿnh ra vô t́nh và không áy náy trong việc bất tuân lời Chúa và khuyến khích nhau từ bỏ đức tin; thế gian cũng như năo trạng tập thể của xă hội thấm nhiễm vào chúng ta đến nỗi nếu phải suy nghĩ hay sống khác biệt với tập thể này, chúng ta có cảm tưởng là ḿnh theo tư tưởng của riêng ḿnh, là không liên đới với những người khác và phá hủy một cái ǵ cao quí và cần thiết.
4. Tôma thật đáng quí v́ tôi nhận ra tôi trong ông; nếu tôi gặp nhiều khó khăn thực sự khi phải chấp nhận tất cả dưới lư do là v́ Giáo hội dạy; tôi lại ít sẵn sàng chấp nhận khi thấy Giáo hội không sống như lời giáo hội nói. Nếu là chân lư, tại sao giáo hội không sống phù hợp hơn với điều Giáo hội giảng? Trong những lúc nghi ngờ và khủng hoảng như thế, hăy lặp lại ḷi nguyện khiêm nhường của Phúc âm “Lạy Chúa, con tin, nhưng xin ban thêm đức tin cho con”.
5. Chúa Giêsu 3 lần nói cùng chúng ta trong đoạn Phúc Âm này: “Bằng an cho các con”. Ngày nay, trong thế giới và Giáo hội với những lao động bất công và bạo hành, ước ǵ chúng ta sống trong b́nh an mà Đức Kitô Phục Sinh ban cho; chỉ khi nào đức tin toàn thắng thế gian trong con người chúng ta, khi đó chúng ta mới là kẻ xây dựng an b́nh.
Suy Niệm
Sau khi được phục sinh, Đức Giêsu được tôn vinh lên làm Chúa, nhưng Ngài vẫn dễ thương như xưa.
Nỗi bận tâm lớn nhất của Ngài là các môn đệ.
Việc làm quan trọng nhất của Ngài là đi thăm các ông.
Ngài đưa các ông ra khỏi nỗi sợ hăi co quắp, khỏi căn nhà đóng kín cửa âm u.
Ngài chúc cho họ b́nh an ba lần (c.19.21.26), thứ b́nh an ngay giữa những bất an, dao động.
Đức Giêsu phục sinh cho họ xem các vết thương. Thân xác chiến thắng của Ngài sẽ măi măi mang dấu tích của cuộc khổ nạn.
Các môn đệ vui mừng v́ được thấy Chúa, v́ được Ngài cho tham dự vào cùng một sứ mạng: "Như Cha đă sai Thầy, Thầy cũng sai anh em."
Chỉ có một người không vui, đó là ông Tôma. Ông này vốn có óc thực tiễn (Ga 11,16; 14,5). Chẳng rơ v́ sao ông hụt gặp Đức Giêsu phục sinh. Chỉ biết ông đă "không ở với" các môn đệ, lúc Ngài đến. Có vẻ giữa ông và cả nhóm có cái ǵ xa cách. Sự xa cách này trở nên rơ rệt hơn, khi ông thẳng thắn từ chối tin vào lời chứng của các bạn: "Chúng tôi đă thấy Chúa." Nhưng ông lại rất tin vào chính ḿnh, vào giác quan. "Nếu tôi không thấy... nếu tôi không xỏ ngón tay... nếu tôi không thọc bàn tay... tôi sẽ chẳng tin đâu." Ông có thái độ như một nhà khoa học thực nghiệm.
Đức Giêsu phục sinh đến với nhóm, nhưng không quên một ai. Ngài muốn cho Tôma được toại nguyện.
Tuần sau, khi Tôma ở với nhóm, th́ Ngài hiện đến. Ngài chê ông cứng ḷng trước những lời chứng của anh em, nhưng Ngài vẫn thoả măn từng điều ông đ̣i hỏi. Rốt cuộc Tôma cũng được thấy và tin như anh em.
Đức tin của chúng ta hôm nay dựa trên đức tin của những người đă thấy và đă tin, đă dám hy sinh mạng sống để nói rằng Ngài sống lại.
Quanh chúng ta vẫn có nhiều người giống Tôma. Họ đ̣i "thấy và chạm đến" những thực tại vô h́nh, như Thiên Chúa, linh hồn, đời sau.
Nếu "thấy và chạm" có nghĩa là "có cảm nghiệm", th́ đ̣i hỏi trên thật là chính đáng. Đức Giêsu đă cho Tôma được thấy và chạm đến Ngài.
Chúng ta cũng phải có khả năng giúp người khác thấy và chạm đến những điều vô h́nh nhưng có thật.
Chúng ta cần sống như người đang thấy Thiên Chúa, cần thanh thoát như người đă đụng đến trời cao, cần bay lên khỏi cái nặng nề của thân xác như người đă cảm được cái nhẹ bổng của linh hồn.
Truyền giáo là làm cho người ta tin, làm cho người ta thấy và chạm đến Thiên Chúa. Nhưng trước hết, mỗi người chúng ta phải nói được rằng: "Tôi đă thấy Chúa" (Ga 20,18). Và tất cả cộng đoàn chúng ta phải nói được rằng: "Chúng tôi đă thấy Chúa" (Ga 20,25).
Gợi Ư Chia Sẻ
1. Bạn nghĩ ǵ về đức tin của bạn? Có khi nào bạn thấy đức tin đó mạnh không? Nếu bạn thực sự tin vào Chúa, vào sự phục sinh, bạn có thấy cuộc đời bạn sẽ có những thay đổi và chuyển biến lớn lao không?
2. Có ai là Tôma trong nhóm của bạn không? Có ai chưa được hưởng niềm vui phục sinh? Bạn đă làm ǵ để nâng đỡ họ?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa đă sống đến cùng cuộc Vượt qua của Chúa, xin cho con biết sống cuộc Vượt qua mỗi ngày của con,
Vượt qua sự nhỏ mọn và ích kỷ.
Vượt qua những đam mê đang kéo gh́ con xuống.
Vượt qua nỗi sợ khổ đau và nhục nhă.
Vượt qua đêm tăm tối cô đơn của Vườn Dầu.
Vượt qua những khắc khoải của niềm tin.
Vượt qua những thành kiến con có về người khác...
Chính v́ Chúa đă phục sinh nên con vui sướng và can đảm vượt qua, dù phải chịu mất mát và thua thiệt.
Ước ǵ con biết noi gương Chúa phục sinh gieo rắc khắp nơi b́nh an và hy vọng, tin tưởng và niềm vui.
Ước ǵ ai gặp con cũng gặp thấy sự sống mănh liệt của Chúa.
Trong thành Giêrusalem, ai nấy đều rơ: Ông Giêsu, người làng Nagiaret, đă chết. Thế nhưng, việc Ngài đột ngột sống lại đă gây nên nhiều thái độ khác nhau: Tin và không tin, chấp nhận và chống đối. Chúng ta cùng nhau phân tích thái độ của Tôma, v́ nó rất gần gũi với chúng ta, cũng như soi sáng cho chúng ta tin vào Đức Kitô Phục sinh hơn.
Trước hết tin là phải chấp nhận có một thế giới khác vượt ngoài tầm tay và suy tưởng của chúng ta. Trong thời đại khoa học này, chúng ta dễ bị cám dỗ, chỉ tin vào những ǵ thấy được và hợp lư mà thôi.
Chính v́ thế một bác sĩ giải phẫu đă tuyên bố:
- Tôi đă mổ nhiều người nhưng chẳng thấy linh hồn ở đâu.
Hay như một phi hành gia sau lần bay quanh mặt trăng ba ṿng cũng tuyên bố:
- Tôi đă lên thật cao mà chẳng thấy Chúa nào ở trên trời cả.
Tôma cũng đ̣i phải thọc chính tay ḿnh vào cạnh sườn Chúa th́ ông mới tin. Thường t́nh con người vẫn muốn coi ḿnh là trung tâm điểm và bắt Thiên Chúa phải thế này thế nọ th́ chúng ta mới tin.
Tiếp đến, tin vào Chúa Phục sinh đ̣i chúng ta phải dám liều. Hai người yêu nhau dù có tâm sự tính toán kỹ với nhau, nhưng rồi cuối cùng cũng vẫn phải dám liều. Biết ngày mai sẽ ra như thế nào. Nếu chắc chắn th́ c̣n thề thốt làm chi.
Chẳng bao giờ con người có thể hiểu hết về Thiên Chúa cũng như về thế giới bên kia. Tin đây là tin Đấng đă chết mà nay sống lại, đồng thời Ngài đă hứa ban cho chúng ta đời sống vĩnh cửu sau khi chết.
Cũng như Tôma, chúng ta chỉ được nghe nói lại. Ngài là Đấng vô h́nh và dường như luôn vắng bóng và im tiếng, dù Ngài luôn ở bên cạnh chúng ta. Tin như vậy không phải là dám liều, dán trao cả cuộc đời và con người chúng ta vào tay Đấng vô h́nh đó sao. Với Tôma, tin Ngài sống lại có nghĩa là phải tiếp tục từ bỏ những dự định riêng tư để bước theo Ngài.
Sau cùng, tin đ̣i phải chiến đấu. Đức tin không đem lại sự yên ổn. Sở dĩ như vậy v́ đức tin đ̣i phải phá hủy con người cũ trong chúng ta. Bởi đó chúng ta phải chiến đấu với chính ḿnh. Con người vẫn có khuynh hướng ôm chắc lấy những ǵ có sẵn, không muốn đánh mất thế giới họ đă tạo ra như của cải, mạng sống.
Tin vào Chúa Phục sinh là hướng cả cuộc sống về đời sau Chúa hứa. Do đó, đức tin đ̣i chúng ta phải đặt lại giá trị tất cả những ǵ chúng ta đang có hay sẽ kiếm được, ngay cả đến mạng sống. Nhiều khi đức tin c̣n đ̣i chúng ta phải có thái độ dửng dưng và từ bỏ, nếu của cải, mạng sống ngăn cản Tin Mừng. Nếu không chiến đấu với những khuynh hướng đi xuống như vậy, chúng ta sẽ bị kéo gh́ và ở lại măi trong thế giới vật chất…
Hơn nữa, đó cũng chính là năo trạng chung của những người chung quanh. Họ sẽ trấn an để chúng ta sống như thể chẳng có Tin Mừng Phục sinh. Sống ngược với năo trạng trần thế ấy đ̣i chúng ta phải có một ư chí phấn đấu và mạnh mẽ. Đáp lại, Tin Mừng thường làm chúng ta có cảm giác lạc lơng và bơ vơ, không giống ai và bị thiệt tḥi ở đời này.
Sống đức tin và đón nhận niềm vui của Đấng đă sống lại là điều khó khăn, chúng ta luôn bị cám dỗ đặt lại vấn đề đức tin, linh hồn, đời sau, giống như người Do Thái ngày xưa luôn muốn trở lại với kiếp nô lệ nhưng no nê, bảo đảm, và bàn tay khỏi lo lắng và đ̣i hỏi.
Hăy vững niềm tin v́ Chúa đă sống lại, Ngài ở với chúng ta luôn măi.
Suy Niệm
Thân xác chúng ta thường mang những vết sẹo, hậu quả của những lần bị trầy trụa, té ngă. Có những vết sẹo gợi lại cả một vùng kỷ niệm.
Dù vui hay buồn th́ cũng là chuyện đă qua. Vết sẹo làm ta kém đẹp, nhưng không làm đau như xưa.
Khi Chúa Giêsu phục sinh hiện ra thăm các môn đệ, Ngài giúp họ nhận ra Ngài nhờ những vết sẹo.
Ngài cho họ xem những vết sẹo ở tay và cạnh sườn. Những vết sẹo nói lên một điều quan trọng: Thầy chính là Đấng đă bị đóng đinh và đâm thâu; Thầy đă chết nhưng Thầy đă thắng được cái chết.
Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy Chúa phục sinh có sẹo, dù điều đó chẳng đẹp ǵ.
Ngài không ngượng mà cho các môn đệ xem.
Những cái sẹo sẽ ở măi với Ngài trên thiên quốc. Chúng gợi lên những kỷ niệm buồn phiền, thất bại, đớn đau. Nhưng nếu không có chúng th́ cũng chẳng có phục sinh.
Chẳng cần phải xóa đi khỏi kư ức cuộc khổ nạn kinh hoàng và cái chết nhục nhă.
Chúng ta cũng lên thiên đàng với các vết sẹo của ḿnh.
Sống ở đời sao tránh khỏi những dập gẫy, thương tích.
Nếu chúng ta đón nhận mọi sự với t́nh yêu th́ mọi sự sẽ trở nên nhịp cầu cứu độ.
Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đă lành. Có những vết thương tưởng chẳng thể nào thành sẹo.
Chúng ta có dám cho người khác thấy sẹo của ḿnh không?
Cuộc khổ nạn của Thầy đă làm các môn đệ bị thương. Các vết sẹo của Thầy sẽ chữa lành những vết thương đó.
Hẳn Tôma đă nh́n thật lâu những dấu đinh. Chính lúc đó ông khám phá thật sâu một T́nh Yêu.
T́nh yêu hy sinh mạng sống và đủ mạnh để lấy lại.
T́nh yêu khiêm hạ cúi xuống để chinh phục ông.
Ông đâu dám mong Thầy sẽ đích thân hiện đến để thỏa măn những đ̣i hỏi quá quắt của ḿnh. Ḷng ông tràn ngập niềm cảm mến tri ân.
Ông ra khỏi được sự cứng cỏi, khép kín, tự cô lập, để bước vào thế giới của ḷng tin.
Tôma đă tin vượt quá điều ông thấy.
Ông chỉ thấy và chạm đến các vết sẹo của Thầy, nhưng ông tin Thầy là Chúa, là Thiên Chúa của ông.
Tin bao giờ cũng đ̣i một bước nhảy vọt khỏi cái thấy.
Chúng ta không được phúc thấy Chúa theo kiểu Tôma, nhưng chúng ta vẫn được thấy Chúa theo những kiểu khác.
Cần tập thấy Chúa để rồi tin.
Có khi phải tập nh́n lại những vết sẹo của ḿnh, của Hội Thánh, của cả thế giới, để rồi tin rằng Chúa phục sinh vẫn đang có mặt giữa những trăn trở và vấp váp, thất bại và khổ đau.
"Phúc cho những ai không thấy mà tin", và phúc cho những ai biết thấy nên tin.
Gợi Ư Chia Sẻ
Đọc lại bài Tin Mừng trên, bạn thấy Chúa Phục Sinh đă tặng cho các môn đệ những món quà nào?
Chắc các môn đệ khác đă thấy khó chịu trước thái độ của ông Tôma. Tập thể nào cũng có những Tôma! Thái độ của Chúa Giêsu có giúp bạn giải gỡ những xung đột trong nhóm của bạn không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa, xin cho con luôn vui tươi.
Dù có phải lo âu và thống khổ, xin cho con đừng bao giờ khép lại với chính ḿnh; nhưng biết nghĩ đến những người quanh con, những người - cũng như con - đang cần một người bạn.
Nếu như con nên yếu đuối, th́ xin cho con biết yêu thương và sáng suốt hơn, thông cảm và nhân từ hơn.
Nếu bàn tay con run rẩy, th́ xin giúp con luôn biết mở ra và cho đi.
Khi lâm tử, xin cho con biết đón nhận khổ đau và bệnh tật như một lời kinh. Ước chi con sẽ chết trong khiêm hạ và tín thác, như một lời xin vâng cuối cùng. Và con sẽ về nhà Chúa, để dự tiệc yêu thương muôn đời. Amen.
Tôi không ngạc nhiên trước lời đ̣i hỏi của Tôma. Điều làm tôi suy nghĩ trong lúc này đó là tại sao thân xác phục sinh của Đức Kitô lại c̣n mang những thương tích, những dấu ấn của đau khổ?
Tôi cứ nghĩ rằng: sau khi sống lại, thân xác vinh quang của Đức Kitô hẳn không c̣n vết tích nào của những cực h́nh phải chịu.
Bởi v́, sau cuộc thương khó là sự sống lại, sau đau khổ là vinh quang, sau ngày thứ sáu tuần thánh là sáng Chúa nhật phục sinh. Sự tương phản mănh liệt đến độ chúng ta tưởng như có một bước nhảy vọt, cắt đứt và chia ĺa giữa hai t́nh trạng kể trên, như thể sự phục sinh và vinh quang là phần thưởng cho những đau khổ Ngài đă phải chịu trong suốt cuộc thương khó, để rồi chúng ta sẽ dần dần quên đi những kỷ niệm bi đát ấy.
Trong cuộc sống chúng ta thấy người ta thường tặng thưởng huân chương cho những kẻ can đảm cứu vớt người bị chết đuối hạy gặp phải tai ương hoạn nạn. Tấm huân chương xứng đáng với những hy sinh mà kẻ ấy đă phải gánh chịu. Thế nhưng, đó cũng chỉ là một qui ước do xă hội đặt ra.
Sự phục sinh của Đức Kitô th́ khác. Đó không phải chỉ là một dấu chứng của chiến thắng, của phần thưởng mà thôi, nhưng c̣n là một diễn tiến liên tục nơi thân xác Đức Kitô. Chính Ngài đă cắt nghĩa:
- Như hạt lúa ḿ rơi xuống đất, có mục nát đi th́ mới trổ sinh nhiều bông hạt.
Giữa hạt giống được gieo trồng và bông lúa chín vàng dưới ắng nắng mặt trời có một sự liên tục trong phát triển. Bông lúa chỉ là kết quả của hạt giống được gieo trồng.
Nơi khác, Ngài cũng nói:
- Như người đàn bà lo âu khi giờ của ḿnh đă đến, nhưng sau đó th́ vui mừng v́ đă sinh được một người cho thế gian.
Sự sinh nở chỉ là kết quả của việc thai nghén. Giữa hai sự kiện này luôn có một sự liên tục trong phát triển.
Cũng thế, Đức Kitô đă bước vào sự chết và sống lại. Chúa nhật phục sinh không phải chỉ đến sau ngày thứ sáu tuần thánh, mà c̣n là một sự tiếp nối, một kết quả, một hoa trái.
Chính v́ thế, chúng ta hiểu được tại sao Tôma có thể nh́n thấy những dấu ấn của đau khổ, của cực h́nh trên thân xác sống lại của Đức Kitô.
Vinh quang xuất phát từ thập giá và những dấu đanh đă không làm xấu đi, trái lại c̣n làm đẹp thêm cho thân xác phục sinh của Ngài.
Cũng giống như trên khuôn mặt nhăn nheo của một cụ già. Những nếp nhăn ấy chính là kết quả những năm tháng dài của cuộc đời với những khổ đau và tang tóc, những hy sinh và gian khổ, những yêu thương và phục vụ. Những nếp nhăn ấy tạo nên vẻ đẹp của kinh nghiệm, của già dặn và chín chắn. Và rồi cặp mắt của cụ già sáng lên niềm hy vọng được gặp lại chính cái nh́n của Thiên Chúa.
Để kết luận, chúng ta hăy suy gẫm lời Chúa đă phán để hiểu được toàn bộ cuộc đời của Ngài, đó là Con người phải chịu đau khổ, và phải chết đi trước khi được bước vào vinh quang.
Bài Tin Mừng kể lại câu chuyện Chúa Kitô Phục sinh hiện ra với các môn đệ vào ngày thứ tám sau khi Chúa sống lại. V́ thế, hôm nay là ngày thứ tám sau lễ Phục sinh, tức là ngày cuối cùng của tuần bát nhật mừng đại lễ Phục sinh, chúng ta nghe đọc lại câu chuyện này. Thực vậy, vào buổi chiều chính ngày Chúa nhật Phục sinh, Chúa Kitô đă hiện đến với các môn đệ đang tụ họp nhau trong căn pḥng ăn bữa tiệc ly trước đó ba ngày, Chúa cho họ xem các thương tích ở tay và cạnh sườn Ngài để chứng thực Ngài đă sống lại. Nhưng hôm ấy không có mặt ông Tôma. V́ thế, khi nghe các bạn kể lại, ông không tin và khi nào tự tay kiểm chứng mới tin. Tám ngày sau, tức là Chúa nhật liền sau đó, Chúa Kitô hiện đến lần nữa và gọi ông Tôma ra kiểm chứng tay và cạnh sườn Ngài. Chúa đáp lại tất cả lời thách đố của Tôma. Khi ấy, ông cung kính và run sợ nói lên lời tuyên xưng ḷng tin: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”. Chúa âu yếm nh́n ông và nói: “Hỡi Tôma, v́ đă thấy Thầy, nên anh tin”. Rồi Chúa đưa mắt nh́n tất cả và nói: “Phúc thay những người không thấy mà tin”. Qua câu chuyện Tin Mừng kể lại, có người coi ông Tôma như là “bổn mạng” của những kẻ hoài nghi, cứng ḷng, hoặc như là “ông tổ” của phái duy lư, duy thực nghiệm, chỉ tin những ǵ nh́n thấy được, sờ mó được. Nói thế quả là quá đáng và bất công. Nhưng dầu sao trong thái độ của ông Tôma, chúng ta cũng thấy phản ảnh thái độ hoài nghi và kém ḷng tin của nhân loại, của mỗi người chúng ta. Trong đời sống hằng ngày, chúng ta dễ tin lời người ta nói, dễ tin quảng cáo, tuyên truyền, nhưng trong phạm vi tôn giáo, chúng ta lại dễ hoài nghi, yêu sách lư lẽ minh bạch và đ̣i bằng chứng rơ ràng. Cho nên đừng vội trách ông Tôma, vả lại, thái độ toàn diện của ông rất đáng cho chúng ta khâm phục. Quả thực, lúc ban đầu, ông Tôma tỏ ra một thái độ cứng ḷng, khó tin những điều các bà đạo đức, các bạn tông đồ kể lại, ông cho là ảo tưởng, không đáng tin. Chúa nhân từ và nhẫn nại, Ngài vui ḷng chờ đợi qua tám ngày rồi mới hiện ra để thỏa măn những yêu sách quyết liệt của ông. Nhưng trước bằng chứng quá hiển nhiên ấy, ông phục xuống và kêu lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”. Theo cha Larăng, một học giả Kinh thánh nổi tiếng: đây là lần thứ nhất Chúa Giêsu được gọi bằng danh hiệu “Thiên Chúa” rơ rệt. Cho nên đây là một tác động đức tin hoàn toàn và quyết liệt sau một thời gian hoài nghi và từ khước. Tác động đức tin này có giá trị, v́ thực sự ông Tôma đă vượt qua h́nh dáng bên ngoài để tới thực tại tiềm ẩn. Mắt ông chỉ nh́n thấy con người Chúa Giêsu, tay ông chỉ sờ tới những vết thương vật chất hữu h́nh, nhưng ông tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa của ông.
Lúc ấy Chúa phán một câu mà muôn đời sẽ suy niệm và trở nên nguồn an ủi phấn khởi cho mọi thế hệ về sau: “V́ đă thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin”. Nói điều ấy Chúa có ư nhằm đến chúng ta và muôn thế hệ sau nữa, là những người không được đặc ân chiêm ngưỡng dung nhan nhân loại của Chúa, không được đặc ân nghe tiếng Ngài, đụng chạm tới thân xác thánh thiện của Ngài. Chúng ta tin theo bằng chứng của các tông đồ và lời giảng dạy của Giáo Hội. Đức tin ở đây không phải là tin theo một học thuyết, một chân lư viễn vông, nhưng là tin vào một nhân vật lịch sử, sống động: Chúa Kitô chết và Phục sinh. Quả thực, sự hy sinh lớn lao của Chúa Kitô trên núi Sọ được Thiên Chúa đáp ứng, đó là Chúa Kitô đă sống lại. Nếu Chúa không sống lại th́ tất cả cuộc khổ nạn của Ngài chỉ là một đường hầm mù mịt, chẳng dẫn đến đâu hết. Thứ Sáu Tuần Thánh và Chúa nhật Phục sinh là hai mặt của chung một thực tại. Giả sử thiếu một trong hai biến cố: Chúa chết, Chúa sống lại, th́ sự việc thành vô nghĩa. Tất cả những điều trên đây làm cho chúng ta phấn khởi và tăng thêm niềm xác tín vào mầu nhiệm Phục sinh của Chúa Kitô. Tuy nhiên, thái độ cứng ḷng tin của ông Tôma cũng là điều có lợi cho chúng ta. Việc ông không tin lúc đầu là một bảo đảm làm cho niềm tin của chúng ta thêm vững chắc, v́ niềm tin Chúa sống lại của chúng ta không chỉ dựa trên những lời nói suông, nhưng được xây dựng trên đức tin của một người thực tế, b́nh dân, đă nh́n thấy tận mắt và sờ tới tận tay vào thân xác sống lại của Chúa. Do đó, cùng với thánh Gơrêgôriô, chúng ta có thể kết luận: “Ngón tay đa nghi của ông Tôma đă trở nên ông thầy của toàn thể thế giới; bàn tay đa nghi của ông Tôma đă dạy cho mọi người một sự thật rất chắc chắn, đó là thân xác Chúa Giêsu Kitô đă Phục sinh”.
Chứng lư về sự Phục sinh của Chúa Kitô, không chỉ dựa vào sự kiện ngôi mộ trống, mà c̣n phải kể đến những lần Đấng Phục sinh hiện ra với nhiều người, cũng như phải quan tâm đến những lời chứng của những người đă tận mắt nh́n thấy Chúa Kitô sống lại. Trang Tin Mừng hôm nay sẽ cung cấp cho chúng ta những chứng lư quan trọng và sống động ấy.
Chúa Kitô Phục sinh hiện đến vào lúc thánh Tôma vắng mặt, cho nên ông đă không tin rằng Chúa Giêsu sống lại. V́ thế, ông đ̣i hỏi một sự kiểm chứng. Thử hỏi 10 vị tông đồ kia, nếu không tận mắt nh́n thấy và đích thân gặp gỡ Đấng Phục sinh, các ông có thể dễ dàng chấp nhận lời của anh em khác không? Chúng ta rất hồ nghi. Bởi lẽ, chuyện kẻ sống lại là chuyện rất khó chấp nhận. Và chính các ông đă không ít lần tỏ ra nghi ngờ, nao núng, kể cả sau khi đă gặp Đấng Phục sinh.
Chúng ta không nên trách Tôma, ngược lại phải biết ơn ngài. Bởi v́ chính “sự cứng ḷng” của ngài lại làm kiên vững cho niềm tin yếu đuối của chúng ta, khi Đấng Phục sinh đáp trả đ̣i hỏi sự kiểm chứng bằng giác quan của thánh Tôma: “Tôma hăy đặt ngón tay vào đây và hăy xem tay Thầy; đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy”. Điều này không chỉ để thỏa măn đ̣i hỏi riêng của thánh Tôma, mà c̣n đáp trả cho yêu cầu của tất cả chúng ta, những kẻ “không thấy” mà được gọi là “tin”, nhất là trong thời đại khoa học thực nghiệm hôm nay.
Đồng thời, “sự cứng ḷng” của thánh Tôma cũng làm cho lời chứng của cộng đoàn thêm mạnh mẽ. Ngày nay, chúng ta đều là những người không thấy mà tin dựa vào lời chứng của các tông đồ – những kẻ dám sống, dám chết cho niềm tin của ḿnh.
Thánh Tôma là môn đệ cuối cùng tin Chúa sống lại, nhưng lại là người đầu tiên tuyên xưng đức tin. Sau khi được kiểm chứng về việc Phục sinh, ngài đă tin – một niềm tin đầy đủ nhất khi ông tuyên xưng: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con”. Khi ông tuyên xưng như thế, th́ lời chứng của các tông đồ thật sự trở thành “đắt giá”, thật sự trở thành nền tảng vững chắc cho việc tuyên xưng đức tin của bao thế hệ Kitô hữu.
Hơn thế nữa, Đấng Phục sinh hiện ra không chỉ để chứng minh Người đă sống lại, nhưng c̣n để ban cho các ông sự sống mới “Người thổi hơi vào các ông…”
Con người vốn chỉ là bùn đất và chỉ có thể trở nên sống động qua việc “thổi hơi” của Thiên Chúa. Th́ ở đây, chúng ta cũng nói được rằng chính Đấng Phục sinh đă thực hiện một cuộc sáng tạo mới, Ngài thổi hơi để biến đổi các tông đồ từ những con người yếu đuối, nhút nhát trở thành những con người mới với sức sống mới, trở thành những khí cụ sắc bén trong Thánh Thần để rao giảng Tin Mừng Phục sinh.
Đồng thời với việc ban sự sống mới là mệnh lệnh sai đi: “Như Cha đă sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”. Tiếng “như” ở đây không phải là so sánh, mà là nền tảng và cội nguồn: nguồn cội của mệnh lệnh là chính Chúa Cha và nền tảng của mệnh lệnh là sứ vụ cứu thế mà Đấng Phục sinh hoàn thành. Các tông đồ được sai đi để làm chứng về Đấng Phục sinh và để nối dài hành động của Người trong thế giới. Hành động này giải thoát thế giới khỏi sự thống trị của tội lỗi, mà sức mạnh lớn nhất của nó là sự chết đă bị vượt qua.
Mỗi chúng ta, nhờ bí tích Thêm sức cũng được mời gọi trở nên những tông đồ hăng say làm chứng cho Chúa ngay trong môi trường sống của ḿnh.
Trong thời đại hôm nay, chúng ta làm chứng cho Chúa Kitô Phục sinh không chỉ bằng lời rao giảng mà c̣n phải bằng chính cuộc sống của chúng ta. Cụ thể trong xă hội hôm nay, có rất nhiều người nhất là những người trẻ, họ luôn sống trong lo âu, sợ hăi, khủng hoảng hoặc không cần biết đến ư nghĩa cuộc sống, họ lao vào những tệ nạn xă hội mà không thoát ra được. Trước t́nh trạng đó, lẽ nào chúng ta ngồi yên? Là những con người của thiên niên kỷ mới này, chúng ta phải là những người đi bước trước đem sự b́nh an và đức tin sâu sắc giúp họ thoát khỏi thất vọng để t́m ra ư nghĩa cho cuộc sống.
Mỗi chúng ta cần phải mở rộng ḷng dám đi sâu vào thế giới để t́m hiểu và đem Chúa Phục sinh vào mọi lănh vực, không bo bo trong vỏ ốc nhưng phải mở rộng ra khắp thế giới.
Có một câu chuyện kể lại rằng, một nhà thông thái kia muốn sáng lập một tôn giáo mới. Ṛng ră nhiều năm, ông đem tất cả sự khôn ngoan của ḿnh ra thuyết phục thiên hạ mà chẳng thấy ai theo. Ông bèn than thở với một người bạn th́ nhận được một lời khuyên: “Nếu anh muốn người ta theo anh th́ dễ thôi, anh hăy làm thế này: Thứ năm anh ăn bữa tiệc cuối cùng, th́ thứ sáu anh để người ta đóng đinh anh trên khổ giá rồi chôn cất, Chúa nhật anh sống lại! Chắc chắn người ta sẽ theo anh rất đông?”.
Quả là lời khuyên độc đáo, và lại càng lư thú hơn, khi tác giả của lời khuyên này chính là Napôlêon!
Điều mà Napôlêon muốn nhấn mạnh ở đây, đều có sức lôi cuốn người ta chính là sự sống lại.
Thực vậy, biến cố Chúa Kitô Phục sinh chính là nền tảng và trung tâm của đời sống đức tin Kitô giáo chúng ta.
Đấng Phục sinh đă chọn “ngày thứ nhất trong tuần” làm ngày gặp gỡ các tông đồ. Như thế, “Ngày thứ nhất trong tuần” đă trở thành ngày của cộng đoàn, ngày của gặp gỡ, ngày hát mừng niềm vui Phục sinh, và nhất là ngày của cuộc “sáng tạo mới”. Xin cho mỗi ngày Chúa nhật cũng trở thành một ngày giúp chúng ta sống thánh thiện, hiệp thông, yêu thương… Để mỗi chúng ta trở thành một bằng chứng cho sự hiện diện sống động của Đấng Phục sinh.
“Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh, và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, th́ tôi không tin”. Tôma đang t́m kiếm sự tuyệt đối chắc chắn. Chúng ta có thể gọi ông là một người theo trào lưu chính thống. Đối với người theo trào lưu chính thống, vấn đề chỉ là trắng hoặc đen. Nếu có một điều ǵ đó chưa đích thực theo sát nguyên văn, th́ đúng là điều đó không hề có thật.
Ngày nay, trào lưu chính thống đang trên đà gia tăng. V́ sự thiếu chắc chắn gây ra nỗi e ngại, nên họ co rút lại vào trào lưu chính thống. Trào lưu này có thể rất hấp dẫn. Đối với người theo trào lưu chính thống, đường lối phải thẳng tắp, câu trả lời phải đơn giản. Nhưng trào lưu chính thống là một cách thức nghèo nàn trong việc nh́n nhận chân lư. Điều này có nghĩa là cuộc sống chỉ có một chiều kích mà thôi. Trào lưu này tước đoạt mất sự phong phú của ḷng tin, hậu quả là đưa đến một thứ tôn giáo cứng rắn, đơn giản, thuần theo luân lư và độc đoán. Điều này làm cho người ta biến thành một đám người chỉ đi theo đúng một đường lối, hơn là một nhóm người bao gồm những cá nhân, mỗi người đều có câu chuyện riêng của ḿnh để kể ra, và một đường lối đặc biệt riêng để đi theo.
Sau đây là một câu chuyện ngụ ngôn: có hai người đi đường tự nhận thấy ḿnh đang giáp mặt với một cánh rừng. Bởi v́ chung quanh đó không c̣n một con đường nào, nên họ không c̣n chọn lựa nào khác, ngoài cách phải băng qua cánh rừng đó. Tự nhiên họ cảm thấy khiếp sợ, họ e ngại rằng ḿnh có thể bị lạc lối trong rừng. Nhưng họ thật may mắn khi gặp được một người gác rừng, người này đă cho họ một bản đồ vạch ra những con đường ṃn đi xuyên qua rừng.
Sau khi xem xét tấm bản đồ, th́ người thứ nhất phát hiện được một con đường ṃn dường như có vẻ đi thẳng trực tiếp nhất, và anh ta đă kiên quyết đi theo con đường ṃn đó. Khi làm như vậy, anh đă tiết kiệm được nhiều th́ giờ, lo lắng và nguy hiểm. Nhưng anh ta cũng tự làm cho ḿnh mất đi cơ hội khám phá được vẻ phong phú của khu rừng.
Người thứ hai nghiên cứu từng chi tiết của tấm bản đồ một cách cẩn thận. Anh đă ghi nhận rằng những con đường ṃn chính không chỉ xuyên suốt được khu rừng, mà c̣n là những lối đi ngắn hơn nhiều. Đối với anh, không nhất thiết là phải tuyệt đối theo sát tấm bản đồ, nhưng mục đích chính của tấm bản đồ này là nhằm cung cấp cho anh những phương hướng, để mặc dù đang ở bất cứ chỗ nào trong rừng, anh cũng sẽ không bị lạc lối. Khi sử dụng bản đồ theo cách này, là mở ra cho anh toàn thể khu rừng, và giúp cho anh phát hiện được tất cả vẻ phong phú sẵn có của nó.
Khu rừng tiêu biểu cho thế giới của chân lư. Tấm bản đồ tiêu biểu cho đức tin của người Kitô hữu. Những con đường ṃn tiêu biểu cho các học thuyết về đức tin.
Người thứ nhất tiêu biểu cho loại người theo trào lưu chính thống. Anh ta suy nghĩ về các học thuyết đức tin theo một cách thế hẹp ḥi, theo sát từng chữ và dường như không liên quan ǵ đến những ǵ c̣n lại của cuộc sống. Người thứ hai đă sử dụng cũng những chân lư đó để cung cấp cho anh những phương hướng. Bằng cách này, những chân lư đó mở ra tất cả cho anh. Chúng giúp anh có thể tự đắm ḿnh vào cuộc sống, với tất cả những nét phong phú đa dạng và tuyệt vời của nó. Chúng đem đến cho anh một chiếc ch́a khóa, để giải mă mầu nhiệm của cuộc sống.
Đức tin của người theo trào lưu chính thống tạo ra một đường lối an toàn. Đức tin này bảo vệ người đó khỏi phải làm một công việc khó khăn, đó là t́m kiếm ư nghĩa và những giá trị của bản thân ḿnh. Nó giảm bớt cho người đó khỏi nỗi lo lắng phải đương đầu với sự chọn lựa, với trách nhiệm, và sự thay đổi liên tục trong ư thức về bản thân ḿnh. Trào lưu chính thống là một đức tin đă được xác nhận bằng sự thiếu tự tin.
Đối với một người theo trào lưu chính thống, tôn giáo chỉ là một phần của cuộc sống. C̣n đối với người không đi theo trào lưu chính thống, tôn giáo chính là cuộc sống được nh́n và sống theo viễn cảnh tôn giáo. Mỗi sự kiện đều được tiếp nhận gấp đôi, nếu không muốn nói là gấp ba lần ư nghĩa, và do đó, từng sự kiện lại được phong phú hơn và bí nhiệm hơn. Đức tin lấp đầy cuộc sống của chúng ta bằng những sự kiện mà, nếu không có chúng, th́ cuộc sống của chúng ta sẽ không có ư nghĩa, và linh hồn của chúng ta sẽ bị khô héo và chết đi.
Chúa Giêsu không cổ vũ cho trào lưu chính thống. Người không muốn những kẻ đi theo Người cách mù quáng. Trái lại, Người đă cố gắng mở mắt mọi người, mà không hề đe dọa hoặc ép buộc ai cả, Người chỉ mời gọi, mong muốn người ta tự nguyện đi theo Người, bằng tất cả sự sáng suốt của họ. Và người c̣n đi đến chỗ mong muốn chúng ta có thể có được sự sống, không chỉ ở cuộc sống mai sau, mà c̣n ở nơi đây, trên trái đất này nữa, để có được một cuộc sống dồi dào.
Có một chi tiết đặc biệt liên quan tới đoạn Phúc Âm vừa nghe, đó là cùng một đoạn Phúc Âm này đă được chọn để dùng cho Chúa Nhật thứ hai phục sinh cho ba năm liền A, B, và C, nghĩa là năm nào vào Chúa Nhật thứ hai phục sinh, chúng ta cũng đều đọc, nghe đoạn Phúc Âm này. Chi tiết này nói lên tầm quan trọng và ư nghĩa phong phú trong Mùa Phục Sinh. Chúa Giêsu Phục Sinh là trung tâm và là nguồn năng lực tái tạo cộng đoàn những đồ đệ của Chúa.
Ngay từ khởi đầu đoạn Phúc Âm, chúng ta được nhắc lại việc Chúa Giêsu hiện ra cho các tông đồ nhưng lại vắng mặt Tôma, và trong lần hiện ra này, Chúa đă ban cho các tông đồ sự b́nh an: "B́nh an cho các con". Sự b́nh an này làm cho các tông đồ thực sự được vui mừng. Các tông đồ được vui v́ thấy Chúa, rồi Chúa trao ban cho các tông đồ Chúa Thánh Thần, quyền năng tha tội và sai các ông ra đi làm chứng cho Chúa. Các tông đồ có thể nói được trong giai đoạn này - trong phần thứ nhất của đoạn Phúc Âm hôm nay - đă tin phần nào và đă chia sẻ cho Tôma: "Chúng tôi đă xem thấy Chúa", nhưng Tôma không tin và đ̣i kiểm chứng một cách cụ thể. Có thể nói, đây là giai đoạn thứ hai của cộng đoàn. Thái độ cứng ḷng tin của Tôma đă gây chia rẽ hay làm yếu kém đi sức mạnh làm chứng của cộng đoàn cho Chúa Phục Sinh. Một cộng đoàn chia rẽ như vậy th́ chắc chắn không thể nào có sự b́nh an, không thể nào có niềm vui để làm chứng cho Chúa Phục Sinh.
Cộng đoàn Kitô chúng ta ngày hôm nay là một cộng đoàn của những người tin Chúa Phục Sinh đă qui tụ lại. Chắc chắn Chúa Phục Sinh hiện diện ở giữa chúng ta, Ngài là trung tâm liên kết và nâng đỡ sự hiệp nhất của cộng đoàn chúng ta, Ngài là nguồn mạch của sự b́nh an và niềm vui của cộng đoàn chúng ta. Chúa Phục Sinh ban cho cộng đoàn các đồ đệ đầu tiên sự b́nh an, Chúa Thánh Thần và sức mạnh làm chứng cho Chúa. Đó là một cộng đoàn lư tưởng cho tất cả mọi cộng đoàn Kitô khác rải rác khắp nơi trên thế giới, qua muôn thế hệ. Đó là một cộng đoàn lư tưởng, trong đó niềm vui và sự b́nh an đă thay thế cho sự u buồn thất vọng: thấy Chúa các tông đồ đều vui mừng. Và niềm vui, sự b́nh an này luôn luôn là dấu chỉ cho sự hiện diện của Chúa. Nhưng v́ là những con người cụ thể, như chúng ta đây, mỗi người đều có những giới hạn của ḿnh và cộng đoàn của chúng ta, cộng đoàn của các môn đệ Chúa chắc chắn phải trải qua những thử thách, những trở ngại.
Sự vắng mặt, sự cứng ḷng tin của Tôma, thái độ của Tôma, tất cả những điều đó đă góp phần hay ảnh hưởng trên sự hiệp nhất của cộng đoàn. Sự vắng mặt của chúng ta, sự cứng ḷng tin của mỗi người chúng ta hay thái độ của chúng ta đối với Chúa Giêsu cũng như đối với anh chị em, thái độ đó cũng có ảnh hưởng trên sự hiệp nhất của cộng đoàn. Chúa Giêsu đă đáp lại khuyết điểm này của cộng đoàn các tông đồ để mang lại niềm vui và sự b́nh an, để trao ban sứ mạng qua việc Chúa đáp lại đ̣i hỏi của Tôma để biến đổi ông, và Tôma đă tin và tuyên xưng: "Lạy Chúa tôi, Lạy Chúa Trời tôi, Lạy Chúa và là Chúa Trời con". Và Chúa Giêsu dường như muốn cho các môn đệ của Ngài từ đó không nên thách thức như Tôma nữa: "Phúc cho những ai không thấy mà tin".
Cộng đoàn chúng ta hôm nay cần thực hiện lư tưởng của cộng đoàn Kitô tiên khởi của các đồ đệ. Hăy để cho Chúa Giêsu Phục Sinh qui tụ chúng ta lại trong t́nh yêu của Người, hăy đón nhận sự b́nh an của Chúa trong niềm vui nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần để làm chứng một cách xứng đáng cho Chúa. Nhưng như vừa nói chúng ta đây là những con người có giới hạn và Chúa Phục Sinh cũng đă hiểu như thế nên Ngài đă thiết lập và để lại cho chúng ta một phương thế để tái tạo sự hiệp nhất của cộng đoàn, để ǵn giữ cộng đoàn được luôn hiệp nhất với Chúa và giữa mọi người với nhau, phương thế đó là bí tích Ḥa Giải: "Các con tha tội cho ai th́ trên trời cũng tha; các con cầm tội ai th́ trên trời cũng cầm lại".
Không có phương pháp nhân loại nào khác có sức phục hồi và củng cố sự hiệp nhất cộng đoàn các môn đệ Chúa cho bằng phương thế siêu nhiên mà Chúa Giêsu đă thiết lập và muốn cho các tông đồ sử dụng, và chúng ta biết rất rơ phương thế đó là phương thế nào. Đó là sự tha thứ bí tích, và đó cũng là bí tích của sự tha thứ. Dĩ nhiên, để lănh nhận bí tích tha thứ của Chúa để chúng ta được tha thứ và tha thứ cho nhau, để xây dựng lại sự hiệp nhất cộng đoàn các môn đệ Chúa, để làm cho cộng đoàn chúng ta có thể chu toàn sứ mệnh Chúa đă trao phó "Hăy làm chứng cho Thầy", th́ mỗi người chúng ta cần hành động như Tôma, cần kiểm điểm lại đức tin của ḿnh và loại bỏ đi những ǵ không phù hợp với đức tin trong nếp sống của chúng ta, để có thể khiêm tốn tuyên xưng mỗi ngày, mỗi giây phút: "Lạy Chúa, Lạy Chúa Trời con, Lạy Chúa, con tin Chúa là Thiên Chúa và Đấng Cứu Độ của con." Cần phải canh tân đức tin hàng ngày để đức tin của chúng ta được củng cố thêm măi, để chúng ta có được sự b́nh an, niềm vui và sức mạnh làm chứng cho Chúa mọi nơi, mọi lúc.
Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta canh tân đức tin và củng cố đức tin.
Qua đoạn Tin Mừng vừa nghe, tôi muốn suy nghĩ về thái độ của Tôma. Tôma không phải là một kẻ cứng ḷng, ông chỉ muốn tin vào những ǵ là rơ ràng và hiển nhiên. V́ thế, khi nh́n thấy Chúa, ông đă vội vă kêu lên:
- Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi.
Và Chúa Giêsu đă nói một lời đem lại cho chúng ta nhiều an ủi và khích lệ:
- Phúc cho ai không trông thấy mà tin.
Có lẽ khi nói lời này Chúa Giêsu đă nghĩ tới hằng triệu triệu người tin tưởng và trung thành phụng sự Ngài, dù chưa một lần nh́n thấy.
Chúng ta cũng vậy. Chúng ta chưa một lần nh́n thấy Ngài, chưa một lần được đụng tới gấu áo Ngài, chưa một lần được nghe Ngài giảng, chưa một lần được chứng kiến phép lạ Ngài làm. Dầu vậy, chúng ta vẫn tin tưởng, yêu mến và thờ lạy Ngài.
Thế nhưng có kẻ đă bảo:
- Đó chỉ là một niềm tin tưởng mù quáng vào một người đă sống cách đây 2000 năm, niềm tin tưởng ấy không c̣n thích hợp với năo trạng của con người thời nay.
Tôi xin trả lời:
- Đức tin của chúng ta không mù quáng, nhưng dựa trên những cơ sở vững chắc.
Thực vậy, sự hiện diện của Chúa Giêsu là một sự kiện lịch sử như sự hiện diện của César, của Khổng Tử. Hàng ngàn năm về trước, các tiên tri đă loan báo và trong Tân Ước, cuộc đời Chúa Giêsu đă được xác định một cách rơ ràng và cụ thể, cùng với những lời Ngài đă dạy và những việc Ngài đă làm. Qua đó chúng ta thấy được rằng: Ngài là Thiên Chúa. Bởi vậy, chúng ta hăy tin tưởng vào lời Chúa, dù lời ấy nó không phù hợp với sở thích và nguyện vọng riêng tư của chúng ta.
Thế nhưng, có kẻ lại bảo:
- Nếu đó là những sự kiện cụ thể và hiển nhiên, tại sao không lôi kéo được hết mọi kẻ tài cao và học rộng?
Dĩ nhiên chúng ta không chối căi, ngày nay có nhiều người trí thức vỗ ngực tự xưng ḿnh là kẻ không tin tưởng. Để có một cái nh́n đứng đắn, chúng ta cần phải xác định: Những chân lư siêu nhiên không phải là những chân lư toán học như hai với hai là bốn. Để đón nhận, cần phải có một tâm hồn sẵn sàng. Đức tin măi măi vẫn là một hồng ân của Thiên Chúa. Những đam mê vẩn đục thường là những chướng ngại vật cản ngăn con đường đức tin.
Tôi xin lấy một thí dụ: Chúa Giêsu đă làm cho Lagiarô chết bốn ngày sống lại. Đó là một sự kiện lạ lùng, thế nhưng, những kẻ chứng kiến đă có phản ứng như thế nào? Phúc âm đă kể lại:
- Có những người đă tin vào Chúa, nhưng có những kẻ lại hậm hực tức tối, để rồi t́m mọi cách để giết Chúa. Trước một sự kiện hiển nhiên như thế, người th́ bảo: Ngài thực là Thiên Chúa hăy tin vào Ngài. Kẻ th́ bảo: Ông ta là một tay nguy hiểm, cần phải khử trừ.
Ngày nay cũng thế. Có những nhà bác học Công giáo th́ cũng có những nhà bác học vô thần. Và đây chính là vai tṛ của tác dụng ơn Chúa trong tâm hồn mỗi người. Người th́ công nhận, kẻ th́ từ khước và làm cho ơn Chúa trở nên vô hiệu quả, như một câu danh ngôn đă nói:
- Chính trái tim làm cho đầu óc bị hư hỏng.
Cho đến tận cùng thời gian, nhân loại này luôn luôn chia thành hai giới tuyến: Giới tuyến của những người tin tưởng vào Chúa và giới tuyến của những kẻ chối bỏ Ngài. Cũng như trên thiên đàng vào thời nguyên thủy đă có những thần lành và thần dữ. Vậy th́ chúng ta thuộc về giới tuyến nào? Hăy tuyên xưng đức tin như Tôma ngày xưa: Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi.
Hăy tha thứ cho chính ḿnh. Biết nh́n nhận con người tội lỗi của ḿnh và tha thứ cho chính ḿnh là điểm khởi đầu cho sự hoán cải. V́ không thể tha thứ được cho chính ḿnh, nên Giuđa mới tuyệt vọng treo cổ tự vẫn!
Sách Giáo lư Công giáo số 827 đă dùng lời của Công đồng Vatican II để khẳng định rằng: “Giáo Hội gồm những tội nhân trong ḷng ḿnh. Cho nên Giáo Hội vừa thánh thiện vừa được kêu gọi hăy tự thanh tẩy, và phải luôn nỗ lực sám hối và đổi mới. Tất cả thành viên của Giáo Hội, cả các thừa tác viên, đều phải nhận ḿnh là tội nhân”. (Lumen Gentium, đoạn 8).
Sau 94 lần xưng tội của Giáo Hội, ngày 12.3.2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă long trọng xưng tội tổng quát cho mọi lỗi lầm của Giáo Hội từ 2000 năm qua. Ngài đă liệt kê ra 6 loại tội: tội thiếu khoan dung gây ra các cuộc thánh chiến, ṭa án dị giáo, tội chia rẽ, ra vạ tuyệt thông và những cuộc chiến tranh tôn giáo, tội kỳ thị dân Do Thái, im lặng trước sự bắt bớ của Đức Quốc xă, tội không tôn trọng quyền các dân tộc, các văn hóa, các tôn giáo khác, tội không tôn trọng phẩm giá người phụ nữ và tính đơn nhất của nhân loại, tội chống lại những quyền căn bản của con người.
Hôm nay, Chúa nhật thứ hai Phục sinh, là lễ tôn kính Ḷng Thương Xót Chúa – the Feast of Divine Mercy. Lễ này đă được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thiết lập vào năm 2000, năm Nữ tu Maria Faustina được phong thánh. Năm 1930, Chúa Giêsu đă chọn Nữ tu Maria Faustina, người Ba Lan để làm cho thế giới chấp nhận Ḷng Thương Xót vô bờ của Ngài. Nữ tu đă được diễm phúc nh́n thấy Chúa Giêsu và diễn tả ra để vẽ lên bức h́nh của Ngài với hàng chữ: “Lạy Chúa Giêsu, Con phó thác nơi Ngài”. Trong y phục màu trắng, tay phải Chúa Giêsu đưa lên ban phép lành, và tay trái đặt vào ngực. Từ trái tim Ngài phát tỏa ra hai luống sáng, màu đỏ và xanh lợt, tiêu biểu cho Máu và Nước đă đổ ra trong cuộc khổ nạn khi Trái Tim Ngài bị đ̣ng đâm thâu qua trên thập giá. Anh sáng xanh lợt biểu tượng cho nước lau sạch và thanh tẩy linh hồn. Anh sáng đỏ biểu tượng cho máu, phát sinh sự sống mới cho linh hồn. Chúa Giêsu đă đặt Nữ tu Faustina là thư kư và tông đồ của Ḷng Thương Xót Chúa. Chị đă được chỉ đạo phải viết lại những lời hướng dẫn cho mọi người cùng học hỏi để tin tưởng và phó thác nơi Ḷng Thương Xót Chúa.
Chúa Giêsu đă mạc khải cho Nữ tu Faustina biết rằng Ḷng Thương Xót của Ngài luôn sẵn sàng tha thứ cho những tội nhân xấu xa nhất, ngay cả đối với người tuyệt vọng. Ngài mong muốn mọi người đi xưng tội và rước lễ để hoàn toàn được ơn tha thứ mọi tội lỗi và h́nh phạt trong ngày lễ Ḷng Thương Xót Chúa. Chúa Giêsu đă tuôn đổ cả đại dương ân sủng trên những linh hồn đến với Ḷng Thương Xót của Ngài. Mọi tội lỗi đều được Thiên Chúa tha thứ, bởi “t́nh thương mạnh hơn tội lỗi”.
Ngày nay, người ta muốn đặt lại tất cả các vấn đề, kể cả vấn đề niềm tin Chúa Kitô Phục sinh. Bởi thế, chúng ta không cảm thấy khó chịu với tông đồ Tôma, là người đă không muốn chấp nhận những ǵ người ta nói, và chống lại những điều được chấp nhận theo sự lôi cuốn của đám đông. Tôma khăng khăng muốn chính ḿnh kiểm chứng điều mà các tông đồ khác nói lại là chính họ đă được thấy, được gặp Chúa Kitô Phục sinh. Đúng ra ông không có lư do chính đáng để nghi ngờ nữa. Khiêm nhường một chút th́ chắc hẳn ông đă dễ dàng chấp nhận rồi. Nhưng như thế th́ lại thiệt cho chúng ta, mất một bằng chứng cụ thể, sống động về Chúa Kitô Phục sinh, và nhất là câu nói bất hủ của Chúa: “Phúc thay những người không thấy mà tin”.
Đàng khác, khiển trách Tôma kém ḷng tin th́ Chúa đă khiển trách với thái độ êm dịu và tŕu mến: “Tôma, đừng cứng ḷng nữa, nhưng hăy tin”. Chúng ta thấy khác hẳn khi Chúa khiển trách những người Pharisêu hay các tông đồ khác. Như thế, Chúa c̣n thông cảm nhiều với Tôma. Tại sao? V́ Chúa thấy những thiếu sót của Tôma: ông không chống đối để đi đến việc từ chối đức tin, nhưng là khát vọng thấy rơ hơn để tin. Bởi thế, trong thời đại chúng ta, có phản chứng chăng nữa th́ cũng đừng ngạc nhiên và lo lắng, ngược lại, phải hy vọng, v́ đó là thái độ t́m kiếm sâu xa, nó là dấu hiệu của ḷng tin hoạt động và tự do, của những người đang t́m kiếm, nhờ đó mà người ta khám phá ra những giá trị chân thực. Do sự t́m kiếm này người ta nhận ra được điều chính yếu của Kitô giáo là đức tin. Điều chính yếu ở đây là tin vào Đức Kitô.
Vậy đức tin là ǵ? Đức tin là tiếng kêu. Thật vậy, Tin Mừng đă nói lên như thế. Khi Chúa Giêsu hiện ra đứng trước Tôma, th́ ông run sợ và phát ra tiếng kêu này “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”. phải chăng chính những lời bộc phát đó đă diễn tả điều sâu thẳm nhất nơi tâm hồn người ta? Phải chăng đó là tiếng nói của trái tim, của tâm hồn, khắc hẳn với sự đắn đo so nghĩ của con người để t́m những lời lẽ hợp t́nh hợp lư, trước khi muốn nói lên?
Những nơi khác trong Tin Mừng cũng cho thấy cảnh tương tự, như lời tuyên xưng của Phêrô. Khi Chúa Giêsu hỏi các môn đệ: “Người ta bảo Thầy là ai?” Th́ Phêrô đă trả lời mà kêu lên: “Thầy là Đức Kiô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Và Chúa đă xác định ngay rằng đó là tiếng kêu đức tin: “Phêrô, con có phúc, v́ không phải xác thịt hay máu huyết tỏ cho con biết điều đó, nhưng là Cha Ta trên trời”.
Cũng vậy, đám đông tụ họp bên Chúa Giêsu sau phép lạ hóa bánh, lúc bấy giờ Chúa nói về bánh ban sự sống, Ngài làm cho họ chưng hửng khi Ngài quả quyết: “Phải ăn thịt và uống máu Ngài mới được sự sống đời đời”, nghe Chúa nói thế họ bỏ đi, c̣n các môn đệ ở lại, Chúa hỏi: “Anh em có muốn bỏ Thầy mà đi không?” Một lần nữa, tiếng kêu lại vang lên và cũng là tiếng kêu của Phêrô: “Chúng con sẽ theo ai, Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”.
Với Martha, chị của Lagiarô, Chúa đă hỏi bà: “Thầy là sự sống lại và là sự sống, con có tin điều đó không?” Martha trả lời: “Con tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến trong thế gian”. Đó cũng là một tiếng kêu tuyên xưng đức tin.
Đức tin là một tiếng kêu, nhưng sau đó là ǵ? Là nhận biết. Đối với một vật nào đó th́ người t́m ra, khám phá được. Nhưng đối với một người th́ người nhận biết. Đức tin là nhận biết một Đấng. Đức tin giống như tia chớp nơi một người chồng đang chờ đợi một người vợ tương lai mà anh ta đă yêu thương. Và rồi, giữa đám đông, anh đă nhận ra người anh thương yêu, chỉ có ḿnh nàng thôi. Đấng mà đức tin nhận biết là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, và chỉ ḿnh Ngài thôi.
Chúng ta tin Chúa Giêsu, chúng ta nhận biết Chúa rồi, chúng ta phải làm ǵ? Chúng ta phải sống niềm tin đó. Sống niềm tin có nghĩa là chúng ta phải th