Các bài suy niệm
Chúa Nhật 3 PHỤC SINH (Năm A)
Lời Chúa: Cv 2,14.22-33; 1Pr 1,17-21; Lc 24,13-35
MỤC LỤC
1. Chú giải của Gíao Hoàng Học Viện Đalat
8. Đường hy vọng – ĐTGM. Ngô quang Kiệt
15. Mời Ông ở lại với chúng tôi
HAI MÔN ĐỆ LÀNG EMMAU
"Một làng kia cách Giêrusalem sáu mươi dặm, tên là Emnmau": địa điểm này hăy c̣n được tranh luận. Người ta nghĩ đó là Amwas, cách Giêrusalem độ 30km về hướng Tây. "60 dặm" là cách đọc thông thường được chấp nhận (tương ứng với 12 km); nhưng nhiều chứng từ đáng tin cậy (như bản Sinaiticus, 5 trong các thủ sao khá nhất của bản Phổ thông và 3 thủ sao của bản syri-palestin) lại đọc 160, là điều phù hợp với địa danh Amwas.
"Ông là cư dân duy nhất ở Giêrusalem": Cách dịch này không đúng mấy v́ làm ta tưởng các môn đồ xem Chúa Giêsu như là người thường trú tại Giêrusalem. Nhưng động từ Hy lạp được dùng ở đây, paroikéô, chắc hẳn có nghĩa thông thường như trong bản 70: "cư ngụ với tư cách ngoại kiều, lưu trú như người ngoại quốc". Các môn đồ coi Chúa Giêsu như khách hành hương đến Giêrusalem dịp Lễ Vượt Qua.
"Một ngôn sứ quyền năng trong việc làm": Các môn đồ cho tới bày giờ vẫn c̣n xem Chúa Giêsu như một ngôn sứ thôi.
"Nhưng với ngần ấy cơ sự, nay đă là ngày thứ ba rồi kể từ khi các việc ấy diễn ra": Các môn đồ đă thất vọng v́ Chúa Giêsu bị nhà cầm quyền Israel tuyên án tử h́nh thập giá. Họ cũng thất vọng v́ đă ba ngày sau vụ đóng đinh rồi mà Thiên Chúa chẳng hề can thiệp ǵ để cứu giúp vị ngôn sứ cả.
"Khởi từ Môisen và rảo qua hết thảm các ngôn sứ": Môisen, nghĩa là Lề luật, với các Ngôn sứ tạo thành chất liệu chủ yếu của Thánh Kinh (16, 16. 29- 31; 24, 44; Cv 24, 14; 28, 2) người ta đọc sánh các vị trong phụng tự ở Hội đường (Cv 13, 15).
"Người cầm lấy bánh, chúc tụng, đoạn bẻ ra trao cho họ”: Không chắc là bấy giờ Chúa Giêsu tái diễn bữa Tiệc ly. Nhưng Luca dùng ở đây một ngữ vựng có tính cách Thánh Thể (x 22, 19 và 9, 16) để cho độc giả cảm thấy rằng việc "bẻ bánh" (Cv 2, 42.46; 20,7.11) làm họ gặp gỡ Đấøng Phục Sinh, như trường hợp các môn đồ Emmau.
"Người đă hiện ra cho Simon": Biến cố này được đề cập tới trong bản liệt kê cổ xưa của 1 Cr 15, 5, cũng như đă được loan báo ở 22, 31- 32, nơi người ta cũng gặp tên Simon.
“Lúc bẻ bánh": tiếng Hy lạp cho phép ta hiểu: lúc bẻ bánh hoặc nhờ việc bẻ bánh.
KẾT LUẬN
Sự hiện diện của Đấng Phục sinh thâm nhập vào tâm thức tôn giáo, vào trong đời sống đức tin, nhờ Thánh Kinh được giải thích theo ư nghĩa sứ điệp Vượt Qua, nhờ bữa ăn Thánh Thể nung đốt tâm hồn và giúp tâm hồn nhận ra Chúa.
Ư HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Tâm trạng của các môn đồ Emmau mấy ngày sau cái chết của Chúa Giêsu không phải là đặc biệt lắm. Lúc ấy cũng như bấy giờ, có nhiều người đă đặt niềm hy vọng vào Chúa hay vào Giáo Hội và họ đă thất vọng v́ diễn tiến các biến cố. Họ nghĩ Chúa Kitô phải ban cho họ niềm trông cậy và b́nh an, Giáo Hội phải đem đến cho họ những điều vững chắc và nhiều gương mẫu thật đáng phục; thế nhưng chẳng có ǵ được thực hiện. Chúa không được mọi người thành tâm thiện chí nhận ra, và Giáo Hội chẳng tai tiếng th́ cũng làm nhiều kẻ nản ḷng ... Dĩ nhiên, sự việc không bao giờ xảy ra như đă hứa và niềm hy vọng của chúng ta đôi khi như bị dối lừa.
2) Các môn đồ Emmau và những ai đă trông cậy vào Chúa Giêsu mà thất vọng, là v́ niềm hy vọng của họ quá trần tục, dựa trên cái nh́n nhân loại về các biến cố. Để thắng nỗi ô nhục, cớ vấp phạm gây ra do sự thất bại của Chúa Giêsu, niềm hy vọng đó phải biến thành niềm hy vọng đốt thần, đặt cơ sở trên cái nh́n của Thiên Chúa về lịch sử. V́ thế, trong cuộc đàm thoại với hai môn đồ Emmau, Chúa Giêsu đă sửa đổi nhăn giới của các vị bằng cách giúp họ hiểu rằng cái chết của Người có ư nghĩa xét về quan điểm của Thiên Chúa. Quan điềm này được diễn tả trong Thánh Kinh. “Bắt đầu từ Môisen và hết thảy các ngôn sứ, Người dẫn giải cho họ các điều đă viết về Người trong toàn bộ Thánh Kinh".
Chúng ta không rơ hai môn đồ nghe ǵ lúc ấy, chỉ biết vài ngày sau đó họ nói vắn tắt thế này: ḷng chúng ta đă chẳng bừng cháy lên khi Ngươi tṛ chuyện cùng ta trên đường đi đó sao? Có lẽ Chúa Giêsu đă nhắc lại cách vắn tắt và sống động toàn bộ lịch sử của tuyển dân, với bao biến cố thăng trầm, bao phen trung thành và bội phản của họ; nhắc lại những chuỗi can thiệp của Chúa mà, mỗi thế hệ, qua mọi mọi biến cố đau thương hay hạnh phúc, đă làm dấy lên nhiều ngôn sứ với nhiệm vụ khêu lại ḷng trung thành nhạt phai, đă hứa ban Đấng cứu thế mà một ngày nào đó sẽ đến tai lập tất cả trong b́nh an và trật tự. Ta có thể nghĩ rằng người lữ khách vô danh này đă nhắc lại cho họ các thi ca về người Tôi tớ của Isaia và các Thánh vịnh, như Phêrô đă làm trong ngày lễ Ngũ tuần trước mặt người Do thái. Tắt một lời, khi gợi lại 12 thế kỷ lịch sử này, Người cho họ thấy “Đấng Messia phải chịu đau khổ đă rồi mới vào trong Vinh quang".
Cuối cuộc chiêm niệm này, sau khi đă dấn bước đi theo, các bậc tiền tổ trong đức tin, tức là các ngôn sứ, hiền nhân, thi sĩ của Thiên Chúa toàn năng, hai môn đồ mới bắt đầu khám phá ra rằng có lẽ tất cả không đến nỗi phải thất vọng, rằng mọi sự có lẽ nằm trong trật tự, cho dù trật tự ấy khác với trật tự mà tự nhiên họ đă mong chờ. Đức tin vào Giêsu Nadarét của họ. Niềm tin của họ có lẽ đă thoát ra khỏi một thứ lư luận trần tục nào đó, th́ lư luận đă giam hăm họ và đẩy họ đến chỗ thất vọng ê chề; nhưng dầu sao niềm tin ấy xem ra không phi lư nữa, mà c̣n có thể phù hợp với cái nh́n của Thiên Chúa về thế gian, cái nh́n đă được loan báo dần dần bởi các hiền nhân và các ngôn sứ trong suốt 1200 năm lịch sử.
3) Nhờ lại Thiên Chúa được khám phá trong Thánh Kinh, các môn đồ Emmau đă có một năo trạng khác; họ đă mở rộng quan điểm, hay đúng hơn đă loại bỏ quan điểm của ḿnh dể đi vào quan điểm của Thiên Chúa. Chỉ sau đấy họ mới nhận ra Chúa Giêsu. Muốn tin vào Chúa Kitô tử nạn, chiến bại và Phục sinh, th́ phải chấp nhận ra khỏi cái kiểu lư luận thế nhân, để đặt ḿnh trong kế hoạch của Thiên Chúa, kế hoạch mà mọi phương hướng luôn luôn làm lư trí nhỏ bé của con người choáng ngợp, và để Ngài hướng dẫn. Bấy giờ mọi sự sẽ trở nên đơn giản, sẽ biện thành niềm vui. Như thánh Phêrô đă nói khi kết thúc một đoạn trong thư của ngài mà chúng ta vừa nghe lúc năy: nhờ Chúa Kitô, anh em tin vào Thiên Chúa. Đấng đă cho Người sống lại từ cơi chết và đă ban vinh quang cho Người, ngơ hầu anh em đặt cả ḷng tin và niềm hy vọng của anh em nơi Thiên Chúa" (1Pr 1, 21).
Đoạn độc nhất đầy đủ chi tiết mà chúng ta có được của một giai đoạn liên quan đến sự sống lại, là bài tường thuật kỳ diệu kể việc Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ trên đường Emmau. Nó tạo nên một trường hợp điển h́nh về tính cách bất ngờ đột ngột của những lần Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ, điều này có vẻ củng cố giả thuyết về ảo giác thỉnh thoảng được đưa ra; tuy nhiên ảo giác là một hiện tượng thường xảy ra khi người ta chờ đợi, mong ước mănh liệt một điều ǵ. Sự đồng hoá làng Emmau gây ra những khó khăn; nhưng các nhà chuyên môn nghĩ rằng đó là nơi hiện nay gọi là El-Kubebe, ở cách Giêrusalem chừng mười ba cây số. Dơi theo bài tường thuật, chúng ta nêu lên một vài nhận xét.
1) Mắt họ bị ngăn che không nhận ra được Ngài.
Người ta có thể tự hỏi tại sao và như thế nào? Nên nhớ rằng lối hiện hữu thể xác của Chúa Giêsu sống lại khác với lối hiện hữu trước khi chết. Chúa Giêsu có được một sự tự do tuyệt đối trong việc lựa chọn dáng vẻ bề ngoài, cũng như trong cách thế di chuyển… Một cách loại suy, chúng ta có thể nghĩ rằng Chúa Giêsu đôi khi gần bên chúng ta và v́ một lư do nào đó chúng ta không nhận ra Ngài. Chẳng hạn có thể xảy ra trường hợp trong cơn bị thử thách cùng cực, chúng ta không thể nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa; và lắm lúc sau đó chúng ta mới nhận ra sự can thiệp của Thiên Chúa.
2) Chúng tôi đă hy vọng rằng chính Ngài là Đấng sẽ giải thoát Israel.
Câu nói ngắn ngủi này che dấu thảm kịch sâu xa bên trong của các môn đệ và tông đồ. Niềm hy vọng của họ nơi Chúa Giêsu diễn tiến trên b́nh diện trần thế. Trong những tháng dài, cố gắng sư phạm của Chúa Giêsu là đưa niềm hy vọng của họ lên một b́nh diện cao hơn, b́nh diện Nước vĩnh cửu. Phải đợi đến lễ Hiện Xuống, để có thể đạt được mức độ niềm tin thật nơi Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Trong lúc chờ đợi, niềm tin này bị thử thách một cách ghê gớm.
3) Những trí ḷng chậm tin vào mọi điều các tiên tri đă nói.
Khi nói với các môn đệ, Chúa Giêsu cho họ một bài học bằng sự vật. Ngài dẫn đưa tâm trí họ đến một sự khám phá: Ngài thật là ánh sáng làm cho người ta hiểu Kinh Thánh. Ngày nay cũng đừng quên rằng, Chúa Kitô là ch́a khoá mở sách Kinh Thánh. Ngài là lời của Thiên Chúa, lời mang lại sức sống cho các đoạn sách, cho các lời nói trong Kinh Thánh.
4) Ḷng chúng ta lại đă không cháy bừng bừng.
Từ câu này ta hăy giữ lại vài bài học thiêng liêng. Trước hết Chúa Giêsu không mang cho các môn đệ một lời giải thích Kinh Thánh trên b́nh diện thuần tuư tri thức; nhưng Ngài đánh động vào chiều sâu. Khi đọc Kinh Thánh, chúng ta đừng bằng ḷng với việc t́m kiếm tri thức, nhưng hăy đặt trong tinh thần cầu nguyện. Tiếp đến, trong cách thức đồng hành với con người thời đại, trong ước muốn mặc khải Chúa Kitô, hăy nhớ rằng chúng ta chỉ có thể đánh động tâm hồn họ theo mức độ Chúa Giêsu Phục Sinh sống và chiếu toả trong chúng ta.
5) Hăy lưu lại với chúng tôi… Và xảy ra là khi vào bàn với họ Ngài cầm lấy bánh…
Chúng ta hăy để ḿnh chiều theo sức gợi cảm kỳ diệu chứa đựng ở đoạn cuối câu chuyện các môn đệ thành Emmau. Đặc biệt chúng ta tự hỏi: với người xa lạ nào chúng ta nói: “Hăy lưu lại với chúng tôi”, ‘hăy chia sẻ cơm bánh của chúng tôi’? Trong đời sống, chúng ta có biết thật sự tiếp đón và chia sẻ đáp lại lời nói của Đức Phaolô VI, chúng ta có thể nói rằng: “Giáo Hội hôm nay phải chia sẻ nhiều hơn để Chúa Kitô được biết đến nhiều hơn. Mà ‘Giáo Hội’ tức là mỗi một người trong chúng ta.
Theo tŕnh thuật của thánh Luca, Chúa hiện ra lần đầu tiên với các môn đệ trên đường đi Emmau, tác giả tŕnh bày nhiều chi tiết hơn mọi lần và nêu rơ đoạn văn diễn tả nỗi buồn phiền được chuyển thành niềm vui nơi những người tưởng rằng ḿnh bị bỏ rơi, một đoạn văn cho thấy việc Chúa phục sinh là một sự kiện tỏ tường không chỉ đối với các môn đệ trên đường Emmau mà c̣n với mọi Kitô hữu nữa.
1) Nếu không có Chúa.
Các môn đệ không phải là những người không tin tưởng, tức là những người không hề nghe nói về Chúa Giêsu hoặc chẳng hề nhận được sứ điệp của Ngài. Họ là những tín hữu, những người có niềm tin. Họ đă nhận Ngài ‘như một vị tiên tri, quyền năng trong việc làm và lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân’. Hơn nữa, họ c̣n hiểu rằng: ‘chính Ngài là Đấng sẽ giải thoát Israel’. Nhưng cuộc khổ nạn của Ngài làm cho ḷng tin của họ bị lung lạc. Họ không thể hiểu nổi một vị cứu thế lại phải chịu khổ nạn. Nói cho cùng, họ chối không nhận sự kiện. Họ không hề tin vào biến cố phục sinh. Họ đă nghe các bà loan tin về biến cố ấy, nhưng họ vẫn lưỡng lự, hồ nghi. Thực tại thập giá đă khiến họ phải tháo chạy, hơn nữa họ đă phải rời bỏ Giêrusalem, và v́ thất vọng họ đă để mất ḷng cậy trông.
Khổ đau vẫn luôn là chướng ngại vật, là cớ vấp phạm lớn lao, khiến những người đă tin tưởng cũng dễ lung lay. Người ta khó có thể dung hoà đau khổ với ḷng tin vào quyền năng và t́nh yêu của Thiên Chúa, ḷng tin từ thời ấu thơ của họ dường như trở thành ảo tưởng, hăo huyền bởi sự khổ đau ấy, v́ gắn bó với những chán chường do cuộc sống khắt khe gây ra nên đi đến chỗ cứng tin, chán ngán. Con đường các môn đệ đi về Emmau xa cách Giêrusalem, cũng chính là con đường mà biết bao người đang gặp phải.
2) Chúa Giêsu hiện ra
Ngài giải thích Kinh Thánh cho họ, và qua Kinh Thánh, Ngài giải thích ư nghĩa của đau khổ như điều Chúa dùng để thực hiện chương tŕnh cứu độ. “Hỡi những kẻ ngu độn và trí ḷng chậm tin vào mọi điều các tiên tri đă nói! Thế th́ Đức Kitô không phải chịu khổ nạn như thế đă, rồi mới vào vinh quang của Ngài sao?” Cuộc khổ nạn và thập giá của Đấng Thiên Chúa Xức Dầu đáp lại kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa. Và suốt cả Kinh Thánh đều tỏ rơ kế hoạch ấy. “Và khởi từ Môsê và hết thảy các tiên tri, Ngài dẫn giải cho họ những điều đă viết về Ngài trong toàn bộ Kinh Thánh”. Chắc chắn rằng, lối chú giải đích thực phải nhắm đến Đức Kitô. Ngài nhấn mạnh rơ rằng chính Môsê cũng như mọi tiên tri và ‘toàn bộ Kinh Thánh’ đều nói về Đấng Thiên Sai. Ai giải thích Cựu Ước theo nhăn quan lấy Đức Kitô làm trung tâm ắt không phải là g̣ áp bản văn, trái lại giải thích bản văn theo cách thức của nhà chú giải đích thực. Lối giải thích dựa trên Đức Kitô, lối chú giải Cựu Ước lấy Ngài làm trung tâm bắt nguồn từ chính Đức Kitô, và chính Ngài đă biện minh cho lối chú giải ấy. Chỉ dưới cái nh́n ấy mới hiểu được ư nghĩa đích xác của Kinh Thánh, bất cứ lối giải thích nào chỉ căn cứ vào nghĩa chữ bề ngoài, th́ không hiểu được sâu xa mầu nhiệm và tinh thần sâu đậm nhất của Kinh Thánh.
Hơn nữa, Đức Giêsu mặc khải chính ḿnh qua việc bẻ bánh “Khi ấy mắt họ mở ra và nhận biết Ngài” thêm vào những lời giải thích Kinh Thánh là mầu nhiệm bẻ bánh, cả hai sự việc ấy đều là một sự hy sinh mà nhờ đó Chúa tỏ ḿnh ra. Con người có thể t́m hiểu, suy nghĩ, kiếm t́m và cầu nguyện để nhận ra Chúa. Nhưng dù sao, con người cũng cần được Chúa ban ơn cách riêng mới nhận ra Chúa Kitô. Nếu Chúa chẳng ban cho đặc ân ấy, con mắt ta vẫn khép kín. Và chỉ khi nào Chúa tỏ ḿnh ra cho biết th́ mới được, cũng như đă xảy ra cho các môn đệ trên đường Emmau: “mắt họ mở ra và nhận biết Ngài”. Bẻ bánh chính là dự phần vào bàn tiệc của Chúa. Chỉ ai được Chúa mời tham dự yến tiệc mới nhận ra Ngài cách đích thực.
3) Với Chúa Giêsu.
Trước khi các môn đệ thành Emmau nhận ra Ngài, th́ Ngài đă ở giữa họ và đă có ảnh hưởng nơi họ rồi: “Ḷng chúng ta lại đă không cháy bừng bừng lúc dọc đàng Ngài ngỏ lời với ta, và giải nghĩa Kinh Thánh cho chúng ta đó sao?” Tâm hồn họ ngầm cháy. Theo nguỵ thư ghi lại: “Ta là lửa cháy, Ngài nói, ai gần Ta là gần lửa cháy”. Sự kết hợp với Chúa Kitô nung nấu các linh hồn mà nếu không có Ngài, các tâm hồn đó sẽ lạnh ngắt và chết mất.
Khi nhận ra Chúa Giêsu họ liền “chỗi dậy trở về Giêrusalem”. Đó là một kết quả trước mắt, một biến đổi tận gốc rễ đă xảy ra: họ đổi buồn thành vui, sầu tan vui đến, tuyệt vọng biến thành hy vọng, tản lạc quy tụ về, nhát sợ kinh hoàng thành tin tưởng sướng vui. Khi họ gặp được nhóm Mười Một trong pḥng hội, họ hiểu rằng Chúa đă hiện ra với ông Simon. Các tŕnh thuật khác nhau đều quả quyết sự kiện không thể chối căi được: Chúa đă sống lại thật. Tŕnh thuật về các môn đệ đi làng Emmau cho thấy cuộc sống khi không có Chúa, sự can thiệp của Ngài, và sức biến đổi trọn vẹn cuộc đời. Sau kinh ngạc trước ngôi mộ trống, sau sững sờ trước sứ điệp các thiên thần, giờ đây thực sự đă hoàn tất: Chúa đă sống lại thật và c̣n hiện ra cho những kẻ thân cận: trước nhất và đặc biệt nhất là hiện ra với ông Simon rồi với hai môn đệ thành Emmau và sau với toàn thể các môn đệ đang hội họp.
Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên đường Emmau, biến đổi con người từ thái độ ngờ vực đến thái độ tin nhận một cách xác tín và làm chứng cho Tin Mừng Phục Sinh.
Chúa Giêsu tiến đến gặp hai môn đệ đang phân vân về ơn gọi và sứ mệnh theo Chúa. Sau biến cố Chúa bị đóng đinh và chết trên Thập giá, hy vọng về tương lai mà họ muốn xây dựng xem ra bị tiêu tan. Không c̣n ǵ giữ họ lại Giêrusalem, nơi Chúa đă dẫn họ đến và cũng là nơi sẽ khởi đầu sứ mệnh làm chứng cho Chúa, nên hai môn đệ quay trở lại Emmau với tâm hồn thất vọng và niềm tin bị thử thách nặng nề. Mô tả về cuộc gặp gỡ này, tác giả Luca đă chú ư đến ba yếu tố: Kinh Thánh, Bí Tích Thánh Thể, Cộng Đoàn Tuyên Xưng Đức Tin. Hai môn đệ nhận ra Chúa Giêsu Phục Sinh sau khi nghe Chúa trong dung mạo người khách đồng hành giải thích Kinh Thánh và bẻ bánh, rồi hai môn đệ trở về Giêrusalem và cũng được củng cố thêm bởi lời tuyên xưng của cộng đoàn: “Chúa sống lại thật rồi, và đă hiện ra với Simon”.
Để làm sống động lại đức tin đă bị lung lay, người môn đệ cần có ba yếu tố: Kinh Thánh, Bí Tích Thánh Thể, Cộng Đoàn Sống Đức Tin. Lời Chúa là của ăn nuôi sống đức tin. Toàn bộ Kinh thánh đều qui về Chúa Giêsu Kitô. Khi bị thử thách, người môn đệ không nên cắt đứt với Lời Chúa, nhưng hăy kiên tŕ đọc, suy niệm và khiêm tốn xin Chúa giải thích lời Chúa cho ḿnh hiểu. Tâm hồn hai môn đệ Emmau đă bừng cháy lên khi nghe Chúa giải thích Kinh Thánh mới chỉ là khởi đầu của một cuộc trở về; một cuộc phục hồi đức tin c̣n được thể hiện khi hai môn đệ nhận ra Chúa Giêsu lúc Ngài bẻ bánh. Từ ngữ “bẻ bánh” trong cộng đoàn Kitô tiên khởi có nghĩa là cử hành Bí tích Thánh Thể: Bí tích Thánh Thể hoàn tất điều mà Lời Chúa khơi dậy trong tâm hồn con người. Cuối cùng, đích điểm của cuộc trở lại là cộng đoàn đức tin: đức tin được nuôi dưỡng bởi lời Chúa và Ḿnh Chúa không thể chỉ dừng lại hoặc giới hạn nơi cá nhân, mỗi môn đệ là thành phần của cộng đoàn đang tuyên xưng đức tin; đức tin không bao giờ chỉ là đức tin riêng rẽ, nhưng là đức tin trong một cộng đoàn: “Tôi tin”, đồng thời cũng là “Chúng tôi tin”.
Khi đức tin của chúng ta bị lung lay, bị thử thách, chúng ta cần kiểm điểm xem chúng ta có thái độ nào đối với lời Chúa? Chúng ta sống Bí tích Thánh Thể thế nào? Chúng ta hiệp nhất với cộng đoàn tuyên xưng đức tin thế nào?
Xin Chúa giúp chúng ta lớn lên trong đức tin để có thể làm chứng cho Chúa trong mọi hoàn cảnh.
Hôm nay chúng ta chú ư tới một sự kiện trong đoạn Tin mừng, đó là Chúa Giêsu Phục Sinh đă dừng chân ở lại quán trọ làng Emmau với hai môn đệ khi họ ngỏ ư mời Ngài.
Quả thực, đây không phải là lần đầu Chúa Giêsu dừng lại. Ngài luôn luôn dừng lại khi được yêu cầu và sẵn sàng ở lại với những ai cần đến Ngài. Các sách Tin mừng đă ghi lại cho chúng ta biết: Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Chúa Giêsu luôn luôn dừng chân và ở lại với tất cả những ai cần đến Ngài, chẳng hạn: Ngài đă dừng chân và ở lại với người phụ nữ mắc bệnh băng huyết mười hai năm, đang theo Ngài trong đám đông. Ngài đă dừng chân lại nhà ông Giakêu trong khi ông chỉ mong muốn được nh́n thấy Ngài thôi cũng đủ măn nguyện rồi. Ngài đă dừng chân lại với các trẻ em khi chúng đến với Ngài, mặc dù các môn đệ xua đuổi chúng. Ngài đă dừng chân và ngồi ăn uống với những người tội lỗi và thu thuế. Trên đường đi Giêrusalem nhận cái chết, Ngài cũng đă dừng chân để cứu giúp một người hành khất ngồi bên lề đường. Cuối cùng, trên thập giá, trong lúc hấp hối, Ngài c̣n dừng lại với một tử tội cũng đang hấp hối bên Ngài để ban ơn tha thứ và hứa cho anh được ở với Ngài trong nước trời… Tóm lại, Chúa luôn luôn ở lại với những ai cần đến Ngài. Chúa luôn luôn quan tâm và thương xót tất cả mọi người.
Tuy nhiên, những chuyện xảy ra trong khi Chúa Giêsu c̣n sống ở trần gian, th́ cũng xảy ra như vậy sau khi Ngài đă sống lại, cho đến chúng ta hôm nay. Trong đời sống của chúng ta, đă biết bao lần chúng ta cảm thấy bản thân ḿnh chẵng được ai để ư tới và cũng chẳng ai thèm nghe ḿnh khiến chúng ta cô đơn lại càng cô đơn hơn, đă buồn chán lại càng buồn chán hơn. Nhưng có một điều chắc chắn là không có ǵ có thể ngăn cản được Chúa đến với chúng ta, và cũng chẳng có ǵ làm cho Ngài phải từ chối để rờài xa chúng ta. Ngài sẽ ở lại với chúng ta như Ngài đă ở lại với hai môn đệ trên đường Emmau, nếu chúng ta biết đến với Ngài và nh́n lên Ngài.
Nói rơ hơn, tâm sự chán nản và sầu buồn của hai môn đệ ấy cũng là tâm sự sầu buồn, chán nản mà chúng ta thường gặp trong cuộc sống. Bởi v́ nỗi buồn cuộc đời nào ai thiếu: chúng ta buồn v́ mục đích đời ḿnh không đạt hay chưa đạt được như ư. Chúng ta buồn v́ không ai hiểu tâm tư của ḿnh, chúng ta buồn v́ người khác nghi ngờ, ghen ghét, chơi xấu ḿnh, chúng ta buồn v́ không ai nâng đỡ ḿnh, không ai về phe với ḿnh để một ḿnh cô đơn… Đó là chưa kể những chuyện không may, thất bại, thua lỗ, bất ḥa, đắng cay… có khi lẻ tẻ, có khi dồn dập xảy đến trong gia đ́nh hay bản thân chúng ta… vào những giờ phút đó, chúng ta rất dễ bị cám dỗ nghi ngờ về sự có mặt của Chúa và nghi ngờ về t́nh thương của Ngài.
Có lẽ chúng ta cho rằng Chúa biết th́ biết vậy thôi, chứ bóng dáng Ngài chả thấy đâu cả, có thấy Ngài giúp đỡ được ǵ đâu… nhưng suy nghĩ và lư luận như thế là chúng ta đă mắc phải cái lỗi lầm thiếu ḷng tin của hai môn đệ Emmau mất rồi. Đáng lẽ những lúc như thế, chúng ta phải vận dụng đức tin để đổi buồn thành vui, th́ chúng ta đă không làm mà lại để t́nh cảm lấn át. Ai phản ứng theo t́nh cảm th́ sẽ bị t́nh cảm chi phối, che khuất, quật đổ, vùi dập. Chúng ta hăy nhớ rằng: Chúa đến với hai môn đệ kia cách rất b́nh thường và nhẹ nhàng như một người bạn đường tự nhiên, th́ Chúa cũng sẽ đến an ủi và ở bên chúng ta cách nhẹ nhàng như thế. Có thể là một lời Kinh thánh, một lời giáo huấn giảng dạy ở nhà thờ, một lời khuyên răn của cha mẹ, một lời an ủi, động viên của bè bạn, hay cũng có thể là một sự b́nh an êm dịu nào đó Chúa ban trong tâm hồn… chỉ cần chúng ta mở rộng tâm hồn sẵn sàng đón nhận… Cho nên, chúng ta cần phải b́nh tĩnh và tỉnh thức để nhận diện ra Chúa, và đừng bao giờ v́ một nỗi buồn thường t́nh nào đó mà quên Chúa, bỏ Chúa hay xa cách Chúa. Trái lại, càng buồn càng cầu xin Chúa, càng buồn càng neo chặt ḷng tin vào Chúa hơn.
Có một câu chuyện nhỏ về một nhà sư Phật giáo khi sắp chết, đă yêu cầu một vị linh mục Công giáo hướng dẫn ông về những chân lư đức tin. Vị linh mục này làm hết sức ḿnh để thỏa măn những mong ước đó của nhà sư.
Sau đó, nhà sư này cám ơn vị linh mục, nhưng ông c̣n nói thêm “Ông đă đem đến cho tâm trí tôi đầy những tư tưởng hay đẹp, nhưng ông vẫn để cho tâm hồn tôi c̣n trống rỗng” – Như vậy, tâm hồn nhà sư này vẫn c̣n trống rỗng – trống rỗng cái ǵ thế? Ông thực sự mong muốn điều ǵ? Tôi đặt giả thiết là ông bị trống rỗng niềm an ủi và sự an tâm. Nói tóm lại, ông bị trống rỗng t́nh yêu. Những tư tưởng đẹp có thể nuôi dưỡng tâm trí. Nhưng chúng không thể nuôi dưỡng tâm hồn. Chỉ có cảm nghiệm về t́nh yêu mới nuôi dưỡng được tâm hồn.
Câu chuyện về cuộc hành tŕnh của hai môn đệ đi Emmau chủ yếu là một câu chuyện về tâm hồn. Trong khi hai môn đệ này lên đường trở về nhà, họ nói chuyện về Đức Giêsu. Tương tự như chúng ta không thể ngưng nói về một người mà chúng ta yêu dấu đă qua đời, cũng vậy, hai môn đệ này không thể không nói về Đức Giêsu. Người đă đem đến ư nghĩa, hy vọng và niềm vui cho cuộc sống của họ. Và bây giờ, Người đă chết, họ đă bị ám ảnh v́ sự vắng mặt của Người.
Khi c̣n đang trên đường đi, tâm hồn họ lạnh lẽo và trống trải, nặng trĩu ưu phiền, bị thương tích v́ nỗi thất vọng, và tê liệt do nỗi đau khổ. Họ tin tưởng chắc chắn rằng Đức Giêsu là Đấng Mêsia. Nhưng cái chết của Người, và đặc biệt là cách thức Người chết, đă làm cho niềm hy vọng nơi họ bị tan tành. Một Đấng Mêsia bị sỉ nhục, chịu đóng đinh! Đó là một điều không thể được, thật không thể hiểu nổi.
Nhưng Đức Giêsu đă cùng đi với họ, và Người mở tâm trí họ đến với ư tưởng về một Đấng Mêsia chịu đau khổ. Nhờ những lời của Đức Giêsu, ánh sáng và hơi ấm bắt đầu thấm nhập vào tinh thần tăm tối và lạnh lẽo của họ. Đến bữa ăn tối, ngay khi Người tự mặc khải chính Người, họ đă được biến đổi, và biến đổi quá nhiều, đến nỗi họ quay trở lại Giêrusalem ngay tức khắc. Ngay cả mặc dù bóng đêm tối tăm, nhưng trái tim của họ vẫn bừng sáng. Ngay cả cho dù đôi chân của họ c̣n nặng nề, nhưng trái tim của họ vẫn nhẹ nhỏm.
Điều ǵ xảy ra với họ? Đức Giêsu làm ǵ cho họ? Chắc chắn Người đă soi sáng tâm trí họ – không c̣n thắc mắc ǵ về điều đó nữa. Nhưng Người c̣n làm một điều ǵ đó tốt đẹp hơn nữa. Người nhóm lửa trong tâm hồn họ. “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh thánh cho chúng ta, phải chăng tâm hồn của chúng ta không bừng cháy lên sao?”.
Đức tin liên quan đến trí tuệ, đến nỗi tác động đến các chân lư, giáo điều, học thuyết, ḷng tin, giáo lư. Nhưng đức tin thậm chí c̣n liên quan nhiều hơn đến tâm hồn. Đức tin cốt yếu hệ tại ở tương quan t́nh yêu với Thiên Chúa, Đấng đă yêu thương chúng ta trước. Nếu không có t́nh yêu, th́ đức tin giống như một ḷ sưởi không có lửa.
“Chúng ta sẽ không bao giờ biết tin tưởng bằng một đức tin mạnh mẽ và không hề đặt vấn đề, trừ phi Thiên Chúa tác động vào trái tim của chúng ta . Tiếng gọi của Thiên Chúa xuất phát từ chính tâm hồn con người”.
Điều chính yếu đă đến với hai môn đệ trên đường Emmau là ǵ? Đó là niềm tin rằng Đức Giêsu yêu thương họ. Chính niềm tin này làm cho tâm hồn họ bùng cháy lên. Câu chuyện trên chứng tỏ ḷng từ ái của Thiên Chúa Đấng làm cho những ước mơ sâu thẳm nhất nơi chúng ta trở thành hiện thực, bằng một cách thức đáng kinh ngạc nhất. Và câu chuyện trên cũng cho chúng ta biết tất cả sứ vụ của Đức Giêsu Người luôn song hành với con người, hiện diện bên cạnh họ, và lắng nghe họ – đây chính là những “công tŕnh tốt đẹp” chủ yếu của thời đại ngày nay.
Tin Mừng hôm nay ghi lại cảm nghiệm về Đấng Phục Sinh của hai môn đệ đang trên đường tiến về làng Emmau. Cuộc gặp gỡ của họ với Chúa Kitô Phục Sinh đă diễn ra trong lúc họ trên đường về làng cũ. Chúa Kitô đă xuất hiện không phải để chỉ mang lại giải đáp cho những câu hỏi được đặt ra, nhưng như một người nêu lên thắc mắc và giúp họ đi đến tận cùng sự t́m kiếm của ḿnh.
Cảm nghiệm về Đấng Phục sinh của hai môn đệ cũng có thể diễn ra trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người chúng ta. Chúa Kitô Phục Sinh luôn là người đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường của cuộc sống; Ngài luôn đi bên cạnh để chuyện văn, hỏi han, tra vấn và tham dự vào mọi sinh hoạt của chúng ta. Cuộc sống mỗi ngày chính là nơi Ngài đến gặp gỡ con người, là nơi hẹn ḥ của Đấng Phục Sinh với con người. Bên kia niềm vui là nỗi khổ, bên kia thành công là thất bại, con người vẫn nhận ra sự vong thân và thân phận nghèo hèn của ḿnh, để rồi từ đó nêu lên câu hỏi đâu là ư nghĩa của thân phận con người.
Chúa Kitô Phục Sinh xuất hiện, nhưng không phải để mang lại câu giải đáp, mà trước hết như một người giữa chúng ta, một người cũng đă từng nêu lên câu hỏi ấy về thân phận con người. Ngài đă từng mơ ước về một nhân loại tốt đẹp hơn, Ngài đă nói với tất cả và đă làm hết sức có thể để xây dựng nhân loại ấy, và cuối cùng, với cái chết đau thương trên thập giá xem ra Ngài cũng đành bỏ cuộc. Thế nhưng, chính lúc ấy, v́ đă vâng phục Chúa Cha một cách tuyệt đối để sống tận kiếp người và sống trọn vẹn cho con người, Ngài đă mang lại ư nghĩa cho cuộc sống. Ngài chính là kinh nghiệm mà người bạn đồng hành là Chúa Kitô Phục Sinh đă chia sẻ với hai môn đệ trên đường Emmau. Tâm hồn họ nóng bừng lên khi Ngài chia sẻ kinh nghiệm của Ngài, và nhất là khi Ngài nói lên ư nghĩa cái chết của Ngài qua cử chỉ bẻ bánh và trao ban. Mắt của hai môn đệ đă mở ra để nhận ra Ngài, hiểu được các biến cố vừa xảy ra, và dĩ nhiên thấy được ư nghĩa của chính cuộc sống của họ.
Ngày nay, trong từng biến cố cuộc sống của chúng ta, Chúa Kitô Phục Sinh cũng đang đến. Ngài đồng hành với chúng ta trong từng sinh hoạt và gặp gỡ, Ngài có mặt trong từng niềm vui và nỗi khổ của chúng ta. Nếu chúng ta đón nhận Ngài như một người bạn đồng hành để chia sẻ và chuyện văn, th́ đôi mắt đức tin của chúng ta sẽ mở ra, và lúc đó trong ánh sáng Phục sinh của Ngài, chúng ta sẽ t́m thấy ư nghĩa của cuộc sống.
Ước ǵ sự hiện diện của Đấng Phục sinh mà hai môn đệ trên đường Emmau đă cảm nhận được cũng lấp đầy tâm hồn chúng ta, để trong mọi cảnh huống của cuộc sống, chúng ta không lầm lũi bước đi trong đơn độc, nhưng hân hoan tiến bước với Ngài.
I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Lc 24,13-35
II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
Bài Tin Mừng hôm nay thật đẹp. Đẹp v́ lời văn óng ả. Đẹp v́ t́nh tiết ly kỳ. Đẹp v́ t́nh nghĩa đậm đà. Đẹp v́ những tư tưởng thần học thâm sâu. Nhưng đẹp nhất là v́ bài tin Mừng chất chứa một niềm hy vọng trong sáng, xua tan mọi bóng tối thất vọng năo nề.
Hai môn đệ rời Giêrusalem trở về làng cũ. Giêrusalem là trung tâm tôn giáo. Rời Giêrusalem là dấu hiệu của sa sút niềm tin. Giêrusalem là trung tâm hoạt động. Rời Giêrusalem là dấu hiệu của chán nản buông xuôi. Trước kia hia ông đă bỏ nhà cửa, gia đ́nh để đi theo Chúa Giêsu. Nay hai ông trở về như hai kẻ thua cuộc. Ngày ra đi ôm ấp giấc mộng thành đạt. Ngày trở về ôm nặng một mối sầu. Sầu v́ đă mất Người Thầy yêu quí. Sầu v́ giấc mộng không thành. Hai linh hồn sầu năo, thất vọng lê bước trong ánh mặt trời chiều.
Những giữa lúc buồn tủi, thất vọng ấy, Chúa Giêsu đă xuất hiện. Lập tức ánh sáng rực lên giữa màn đêm đen. Niềm vui rộn ră xoá tan u sầu. Ngọn lửa bừng lên sưởi ấm những trái tim lạnh giá. V́ Chúa Giêsu đă đem đến cả một trời hy vọng.
Đọc trong bài Tin Mừng, ta thấy Chúa Giêsu đă nhen nhúm niềm hy vọng trong tâm hồn các môn đệ Emmau bằng ba loại ánh sáng.
1) Ánh sáng đức tin thắp lên niềm hy vọng.
Hai môn đệ đă chứng kiến cuộc sống và cái chết của Chúa Giêsu từ đầu cho đến cuối. Các ông đă thấy biết bao nhiêu phép lạ Người làm. Các ông đă nghe biết bao lời hay ư đẹp từ miệng Người phán ra. Các ông đă công nhận Người là một “Ngôn sứ đầy uy thế xét về việc làm cũng như lời nói”. Các ông đă hy vọng Người là Đấng giải thoát Israel. Nhưng cuộc thương khó và cái chết của Đức giêsu khiến các ông chán nản và thất vọng. Đến nỗi khi các phụ nữ ra mộ, gặp Thiên Thần báo tin Chúa đă phục sinh, về kể lại cho các ông vẫn không tin.
Bấy giờ Chúa Giêsu bảo các ông “Ḷng trí các anh sao mà chậm tin lời các ngôn sứ vậy”. Chúa Giêsu kêu gọi đức tin trở về. Chúa Giêsu khơi dậy đức tin đă lụi tàn bằng cặp mắt phàm trần và các ông không hiểu ǵ. Khi có đức tin, các ông sẽ hiểu tất cả. Đức tin là nguồn ánh sáng giúp ta nh́n ra ư nghĩa của các biến cố trong cuộc đời. Đức tin là đốm lửa thắp lên niềm hy vọng giữa đêm đen tuyệt vọng.
2) Ánh sáng lời Chúa gieo mầm hy vọng.
Hai môn đệ đă đọc Kinh Thánh. Các ông thuộc vanh vách sách Lề Luật Môsê, các Ngôn sứ và Thánh vịnh. Thế nhưng các ông vẫn thất vọng. V́ các ông đọc Kinh Thánh mà không hiểu Kinh Thánh. Các ông học Kinh Thánh như học một bài thuộc ḷng. Các ông đọc Kinh Thánh như đọc một bản văn cổ, chỉ có những con chữ vô hồn.
Chúa Giêsu phải giải thích Kinh Thánh cho các ông. Bắt đầu từ sách Lề Luật, rồi lời các Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh. Khi nghe Chúa nói, tim các ông rộn ràng niềm vui, trí các ông bừng sáng như thể một ngọn lửa nhen nhúm trong ḷng. Chúa Giêsu đă dạy các ông một cách đọc Kinh Thánh mới mẻ. Phải đọc giữa những hàng chữ để thấy rơ những ư nghĩa nhiệm mầu. Phải t́m sau những hàng chữ để thấy được ư định kỳ diệu của Thiên Chúa. Phải đọc Kinh Thánh dưới sự hiện diện của Thiên Chúa. Phải thấy bóng dáng Thiên Chúa thấp thoáng suốt những trang sách. Và phải đọc Kinh Thánh với một trái tim yêu mến tha thiết.
Khi trái tim mở rộng đón nhận, lời Chúa sẽ gieo vào hồn ta những mầm mống hy vọng. Và cuộc đời sẽ thấy lại ư nghĩa, t́m được niềm vui.
3) Ánh sáng Thánh Thể nuôi dưỡng niềm hy vọng
Niềm hy vọng trở thành hiện thực khi Chúa Giêsu bẻ bánh. Chính qua cử chỉ bẻ bánh mà các môn đệ nhận ra ChúaGiêsu Phục Sinh. Niềm hy vọng không c̣n là hy vọng nữa, nhưng đă trở thành hiện thực. Hết c̣n những bàn tin bán nghi. Hết c̣n những hoang lo lắng. Hết c̣n những thấp thỏm lo âu. V́ các ông đă gặp được chính niềm hy vọng.
Cuộc gặp gỡ chỉ thoáng qua, nhưng các ông đă măn nguyện. Chúa Giêsu bẻ bánh là nhắc lại cử chỉ khi lập phép Thánh Thể. Nhờ phép Thánh Thể toàn bộ con người các ông đổi mới. Dường như một linh hồn mới vừa nhập vào những xác thân mệt mỏi ră rời. Dường như ḍng máu đă trở nên đỏ thắm. Dường như những tế bào đă trở nên tươi trẻ. Dường như trái tim đă trở nên rộn ră nhịp yêu đời. Lập tức các ông trở lại Giêrusalem. Đường đi khi trời c̣n sáng mà thấy xa xôi ngại ngùng. Đường đi về lúc trời đă tối đen mà sao thấy tươi vui gần gũi. Lúc đi có Chúa ở bên mà v́ con mắt đức tin mù tối nên vẫn thấy buồn sầu. Lúc về tuy vắng bóng Chúa vẫn an tâm v́ con mắt đức tin đă mở ra, v́ vẫn biết có Chúa ở bên. Thánh Thể Chúa chính là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng.
Nhờ có Thánh Thể, đường xa trở nên gần. Nhờ có Thánh Thể, đường buồn trở nên vui. V́ nhờ có Thánh Thể, ta luôn được ở bên Chúa.
Đời sống ta không thiếu những giờ phút khó khăn. Cuộc đời đầy thử thách nhiều lúc đẩy ta vào hố thẳm tuyệt vọng. Ta hăy học bài học Chúa dạy các môn đệ trên đường Emmau: Hăy biết nh́n các biến cố trong cuộc đời bằng con mắt đức tin. Dưới ánh sáng đức tin, mị đau khổ sẽ xuất hiện với một ư nghĩa tốt đẹp cho cuộc đời. Ánh sáng đức tin sẽ thắp sáng niềm hy vọng. Hăy biết nghe, đọc và suy gẫm Lời Chúa. Đừng đọc Kinh Thánh như đọc tiểu thuyết. Đừng học hỏi Kinh Thánh như học một lư thuyết. Hăy đọc với t́nh yêu. Hăy t́m bóng dáng Chúa xuyên qua các hàng chữ. Hăy mở rộng tâm hồn đón nhận Lời Chúa. Lời Chúa sẽ như một hạt giống gieo vào ḷng ta mầm hy vọng xanh tươi. Và sau cùng hăy đến với Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể.
Hăy kết hiệp với Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Thánh Thể sẽ là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng của ta.
Đường đời chúng ta cũng như quăng đường từ Giêrusalem đi Emmau. Khi ta không có niềm hy vọng th́ con đường ta đi thật dài, thật xa, thật buồn, thật tối dù ta đi giữa ban ngày. Nhưng khi ta có niềm hy vọng, con đường sẽ trở nên gần gũi, vui tươi, và sáng sủa dù ta đi trong bóng đêm.
Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh là niềm hy vọng của con. Xin cho đường con đi trở thành đường hy vọng v́ luôn có Chúa ở bên con.
III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU
1) Chúa Giêsu đă chiếu soi các môn đệ Emmaus bằng những ánh sáng nào?
2) Có khi nào đang buồn, bạn cảm nhận được niềm vui v́ gặp Chúa không?
3) Bạn đọc Kinh Thánh thế nào? T́m kiến thức hay t́m Chúa?
4) Khi tham dự Thánh Lễ, bạn có cảm nhận mănh liệt sự hiện diện của Chúa trong phép Ḿnh Thánh không?
Đức Kitô phải chịu nhiều đau khổ trước khi được bước vào chốn vinh quang. Chúng ta thường nghe nói:
- Đă là người th́ ai cũng phải đau khổ, cũng như bông hồng nào mà chẳng có gai, cuộc đời nào mà chẳng có những đắng cay của nó.
Hơn thế nữa, những người đạo đức thánh thiện lại thường gặp phải nhiều gian nan và thử thách, như một câu danh ngôn đă bảo:
- Khi yêu thương ai chúng ta thường gởi tặng họ những bông hồng. Nhưng đối với Thiên Chúa th́ khác, khi yêu thương ai, Ngài thường gửi tặng họ những gai nhọn.
Hẳn chúng ta c̣n nhớ câu chuyện ông Gióp trong Cựu ước. Ông là một người đạo đức luôn trung thành với Chúa, nhưng rồi Chúa đă thử thách ông. Của cải th́ bị mất mát. Con cái th́ bị chết chóc, c̣n chính bảøn thân th́ lại bị ghẻ chốc, đến nỗi ông đă phải thở than:
- Vô phúc thay cho cái ngày tôi được sinh ra.
Tiên tri Eâlia sau nhiều năm hăng hái bênh vực cho đường lối của Thiên Chúa nơi dân Do Thái, thế nhưng về cuối đời, ông đă bị hoàng hậu Giêdaben t́m giết, khiến ông nản chí và muốn t́m cái chết cho xong chuyện.
Tiên tri Giêrêmia cũng vậy, sau những tháng ngày chu toàn bổn phận chuyển đạt thánh ư Thiên Chúa cho dân chúng, để rồi cuối cùng ông đă bị dân chúng đánh đập, tống giam và t́m cách giết chết, khiến ông đă phải than thở:
- Tôi sinh ra mà làm ǵ để rồi phải chứng kiến những tang thương khổ cực và nhục nhă.
Bước sang Tân ước, chúng ta cũng sẽ ghi nhận được sự thật ấy: Ai là người thánh thiện tuyệt vời cho bằng Mẹ Maria, thế mà cuộc đời của Mẹ cũng chất đầy những hy sinh gian khổ. Nào là phải xuống Bêlem để đăng kư hộ khẩu giữa lúc đang mang thai và sắp đến ngày sinh nở. Nào là giữa đêm khuya phải lên đường chạy trốn sang Ai Cập để thoát khỏi sự lùng bắt của Hêrôđê. Nào là những hy sinh âm thầm dưới mái nhà Nagiaret. Nào là những khổ đau khi mẹ con phải chia ĺa và nhất là những tê tái và tan nát khi Mẹ đứng dưới chân cây thập giá, chứng kiến cái chết ê chề của người con yêu dấu.
Ngay cả Chúa Giêsu cũng đả không miễn trừ cho ḿnh cái định luật ấy: Phải đau khổ để được vào chốn vinh quang. Sinh ra trong nghèo túng. Lớn lên trong lao động cực nhọc. Rao giảng trong lang thang vất vưởng:
- Con cáo có hang, chim trời có tổ nhưng Con Người không có cả chỗ tựa đầu.
Và nhất là Ngài đă chết đi trong tủi nhục. Chúa chính là Đấng xuống thế để cứu chuộc nhân loại, chính là Đấng hiểu rơ giá trị của sự khổ đau hơn ai hết, thế mà đối diện với cái chết Ngài cũng đă lo sợ:
- Lạy Cha, xin cất chén đắng này cho con, nhưng không theo ư con, một théo ư Cha mà thôi.
Thế nhưng cùng với cái chết này, Ngài đă bước vào chốn vinh quang và hoàn tất công cuộc cứu độ mà Chúa Cha đă trao phó.
Một khi Chúa đă đi con đường thập giá, th́ chúng ta, những người môn đệ của Ngài, cũng sẽ không có một con đường nào khác, ngoài con đường thập giá, như lời Ngài đă phán:
- Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ ḿnh vác thập giá ḿnh hằng ngày mà theo Ta.
Thập giá cuộc đời chúng ta là những vất vả cực nhọc, những hy sinh gian khổ, những đớn đau buồn phiền. Thế nhưng, nếu chúng ta biết chấp nhận v́ ḷng yêu mến Chúa, th́ thập giá sẽ là con đường dẫn chúng ta vào vinh quang.
Qua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay chúng ta nhận thấy mặc dù Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên đường về Emmaus, nhưng các ông đă không nhận ra Ngài. Vậy tại sao các ông lại không nhận ra Ngài?
Nếu không lầm, th́ chúng ta thấy hai môn đệ này cũng như phần đông các tông đồ và những người Do Thái khác có một quan niệm lệch lạc về Đức Kitô… Họ nghĩ rằng Đấng Thiên Chúa sai đến để cứu vớt dân tộc họ phải là một người hùng mạnh như Đavid, khôn ngoan như Salomon, với binh đội hùng hậu, giải thoát họ khỏi sự ḱm kẹp của đế quốc La mă và dẫn đưa dân tộc họ tới một thời đại hoàng kim.
Trong khi bước theo Chúa, hai môn đệ này, cũng như phần đông các tông đồ khác, đều ươm mơ một giấc mộng phù phiếm, nặng mùi địa vị và xôi thịt. Một mai khi Chúa thành công, th́ họ sẽ được ngồi bên tả và bên hữu Chúa, nghĩa là họ sẽ được nắm giữ những vai tṛ, những chức vụ quan trọng trong triều đ́nh, trong vương quốc của Chúa.
Thế rồi Chúa đă bị bắt và bị giết trên thập giá, như một tên tội phạm, như một kẻ phản loạn. Giấc mơ mà họ đă vun xới từ bấy lâu nay, bỗng dưng sụp đổ và tan theo mây khói. Giữa lúc chán nản và tuyệt vọng ấy, họ đă tính đến chuyện ră ngũ, trở về quê cũ để làm ăn, với một giấc mộng b́nh thường mà thôi. Chính nỗi tuyệt vọng ấy đă che lấp cặp mắt của họ, và họ đă không nhận ra Chúa, mặc dù Ngài đang đồng hành, đang sóng bước, đang cùng đi với họ.
Từ kinh nghiệm của hai môn đệ ấy, chúng ta dọi chiếu vào cuộc đời, và chúng ta cũng nhận thấy, có nhiều lúc Chúa ở thật gần với chúng ta mà chúng ta vẫn không nhận biết Ngài. Ngài cùng bước đi với chúng ta mà cơi ḷng chúng ta vẫn nguội lạnh băng giá. Sở dĩ như vậy là v́ có những đam mê mù quáng đă che lấp cặïp mắt chúng ta.
Đam mê ấy có thể là giấc mộng vinh quang về chức tước, về địa vị xă hội, như hai môn đệ Emmaus. Chúng ta muốn có một chỗ đứng ngoài xă hội với bất cứ giá nào, mặc dù có phải bỏ quên Chúa, mặc dù có phải chà đạp lên kẻ khác. Tuy nhiên chúng ta nên nhớ, danh vọng và chức tước như của đồng lần được chuyển từ người này sang người khác, như tục ngữ đă nói:
- Quan nhất thời, dân vạn đại.
Đam mê ấy có thể là giấc mộng về tiền tài. Chúng ta vật lộn, nai lưng ra để t́m tiền kiếm bạc, cho dù có phải vùi dập bản thân, gia đ́nh và hành động bất công với những người chung quanh. Tuy nhiên chúng ta nên nhớ, chữ tiền thường đi đôi với chữ bạc. Khi c̣n là một tên đầy tớ, nó sẵn sàng phục vụ chúng ta. Nhưng một khi đă lên ngôi ông chủ, nó sẵn sàng bóp nghẹt con tim chúng ta, để rồi chúng ta quên lăng Thiên Chúa, và cư xử bất công với những người anh em.
Sau cùng đam mê ấy có thể là những vui thú phần xác. V́ nó mà đời sống đạo đức của chúng ta trở nên nhếch nhác, v́ nó mà chúng ta sẵn sàng bỏ ngoài tai những dư luận, những lời nhắc bảo và cảnh cáo của người khác. Phần đông giới trẻ ngày nay mất đức tin, không phải v́ thiếu hiểu biết, nhưng v́ đă sống một đời sống bê bối và sa đọa về luân lư.
Tất cả những đam mê ấy đă bịt chặt đôi mắt tâm hồn, để chúng ta không c̣n nhận ra Chúa, và có nhận ra th́ cũng chẳng có đủ can đảm bước theo Ngài.
Thành phố Pleiku, đồi núi chập chùng, sương mù dầy đặc. Tác giả mượn khung cảnh đó để vẽ lên bối cảnh của cuộc đời. “Anh Khách Lạ”. Nếu ví đời là cuộc lữ hành, th́ mỗi người sẽ là người lữ khách đang rảo bước trong cuộc hành tŕnh đó. Cảnh “đi lên đi xuống” của một thành phố trên núi tượng trưng cho sự thăng trầm của cuộc đời. “May mà có em, đời c̣n dễ thương”. May mà có anh, có em, có cha, có mẹ, có bạn bè và nhất là Thiên Chúa cùng đồng hành với ta để chung niềm vui: “Niềm vui góp lại, niềm vui lớn”. Và nếu có âu lo: “Nỗi lo chia sẻ, nỗi lo vơi”. Được như vậy th́ may mắn quá, dù cuộc đời có ra sao cũng vẫn đẹp như thường!
Bài Phúc âm hôm nay, diễn tả câu chuyện hai môn đệ trên đường về Emmau, với những tâm trạng giống như bài hát ở trên. Theo Luca, tất cả chúng ta là những người lữ khách trên cuộc hành tŕnh về quê trời. Trong cuộc hành tŕnh đức tin đó có Chúa Giêsu cùng đồng hành với chúng ta. Ngài nói với chúng ta qua Thánh Kinh và Bàn tiệc Thánh Thể.
Đoạn đường từ Giêrusalem về Emmau, có lúc đă đầy hân hoan phấn khởi. Khi rời Emmau lên đường theo Chúa Giêsu, hai môn đệ ra đi với bao nhiêu hoài băo và mơ ước về tương lai. Bây giờ trở về, tâm hồn của họ chất đầy buồn phiền, chán nản và thất vọng. Cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu trên thập giá làm tiêu tan niềm hy vọng của họ. Đoạn đường thăng trầm này biểu tượng cho đời sống đức tin của người Kitô hữu, người lữ khách đang tiến bước về quê trời.
Thời xưa, ở Hy Lạp có một trường phái triết học định nghĩa cuộc đời là sự chuyển động. Bất cứ sự ǵ trong trạng thái tĩnh, bất động đều không tồn tại. Cuộc sống nhân sinh gồm những hoạt động về thể lư, tâm lư, t́nh cảm, xă hội và tinh thần luôn thay đổi và chuyển tiếp.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong cuốn sách Tiến Về Ngàn Năm Thứ Ba cũng đă nói: “Đời sống trên trái đất là một cuộc lữ hành. Chúng ta ư thức rằng ḿnh đang qua thế giới này. Đời sống con người chắc chắn có khởi đầu và có kết thúc. Nó bắt đầu khi ta sinh ra và kéo dài cho tới lúc chết. Con người là một hữu thể chuyển tiếp
Archimandrite Kallistos Ware kể lại: “Một trong những Giáo Phụ sống ở sa mạc Ai Cập vào thế kỷ thứ 4, thánh Sarapion the Sindonite xưa kia đă đi hành hương tới Rôma. Tại đây, người ta đă kể cho ngài nghe về một nữ ẩn tu, sống trong một căn pḥng nhỏ, không bao giờ bước ra ngoài. Trong khi đó thánh Sarapion lại là một người lữ hành nổi tiếng đi lang thang khắp các nơi. Bi quan về cách sống của người nữ ẩn tu, thánh Sarapion đă đến viếng thăm bà và hỏi: “Tại sao chị lại ngồi ở đây?” Bà trả lời rằng: “Tôi không ngồi yên. Tôi đang đi trên cuộc hành tŕnh cơ mà!”
“Tôi không ngồi yên. Tôi đang đi trên cuộc hành tŕnh”". Mỗi người Kitô hữu có thể áp dụng những lời này cho chính ḿnh. Là một người Kitô hữu có nghĩa là một người lữ khách. T́nh trạng của chúng ta giống t́nh trạng của dân Do Thái bước đi trong sa mạc Sinai. Chúng ta đang hành tŕnh đi qua khoảng không gian nội tâm của tâm hồn, một cuộc hành tŕnh không được đo lường bởi giờ giấc của chiếc đồng hồ, hay ngày tháng của cuốn lịch, bởi v́ nó là cuộc hành tŕnh từ thời gian đi vào vĩnh cửu.
“Sáng mai, ta sẽ mổ tim của cháu ra”, bác sĩ giải phẫu tim nói với em bé trai. Em trả lời, “Ông sẽ t́m thấy Chúa Giêsu ở đó”. Bác sĩ ngước mặt lên nh́n, buồn bă. “Tôi sẽ mổ tim của em ra”, ông nói tiếp, “để xem xem nó đă bị bệnh ǵ”. “Nhưng khi ông mở tim của cháu ra”, em bé nói, “ông sẽ t́m thấy Chúa Giêsu ở đó”. Bác sĩ giải phẫu lại nh́n vào cha mẹ của em đang ngồi im lặng bên cạnh giường bệnh và nói: “Khi tôi trông thấy trái tim bị bệnh như thế nào, tôi sẽ khâu trái tim và ngực cháu lại, rồi tôi sẽ dự định phải làm ǵ”. Nhưng ông sẽ t́m thấy Chúa Giêsu đang ở trong trái tim của cháu”, em bé cố nhấn mạnh. “Thánh Kinh nói rằng Người ở đó mà. Tất cả những bài ca Thánh Vịnh đều nói Người sống ở đó. Ông sẽ t́m thấy Người trong trái tim của cháu”. Bác sĩ cảm thấy đă đủ, bèn lạnh lùng nói: “Ta sẽ nói cho cháu biết ta sẽ t́m thấy cái ǵ trong trái tim của cháu. Ta sẽ t́m thấy cơ bắp nào bị hỏng, làm cho máu chảy chậm và những động mạch nào bị yếu. Và ta sẽ t́m ra cách để làm cho cháu khỏe lại”, “Ông sẽ thấy Chúa Giêsu ở đó”, đứa bé tiếp tục nói, “Người sống ở đó mà!” Bác sĩ giải phẫu bỏ pḥng bệnh nhân bước ra đi.
Sau cùng, bác sĩ đă ngồi trong văn pḥng làm việc, ghi lại những chi tiết về cuộc giải phẫu, “Van tim bị hỏng, động mạch phổi bị hỏng, sự suy thoái của cơ bắp thịt trong tim lan rộng. Thay tim không hy vọng ǵ, cũng không mong điều trị được. Phương pháp điều trị: thuốc giảm đau và nghỉ ngơi. Tiên đoán…” Viết tới đây, ông ngừng lại suy nghĩ, “chết trong ṿng một năm”. Ông ngừng bản báo cáo, nhưng cảm thấy c̣n có điều ǵ nữa để nói. Ông hỏi lớn: “Tại sao?” Rơ ràng rằng ông đang nói chuyện với Thiên Chúa. “Tại sao Ngài đă làm như vậy? Ngài đă mang nó tới đây; Ngài đă đặt nó vào cơn đau đớn này; và chính Ngài đă chúc dữ cho nó chết sớm. Tại sao?” Những giọt nước mắt nóng hổi chảy xuống, nhưng cơn giận của ông c̣n nóng hơn nữa. “Ngài đă tạo dựng nên em bé, và Ngài đă làm nên trái tim đó. Nó sẽ chết trong ṿng vài tháng nữa. Tại sao?”
Cuộc đối thoại giữa ông bác sĩ giải phẫu và Thiên Chúa đă bắt đầu. Trong cuộc đối thoại đó, ông bác sĩ tuyệt vọng này đă khám phá ra sự hiểu biết mới về t́nh yêu và sự quan pḥng của Thiên Chúa. Rồi ông khóc. Bây giờ ông đang ngồi bên cạnh giường bệnh của em bé trai; cha mẹ của em ngồi đối diện với ông. Bỗng chú bé thức dậy th́ thầm, “Ông đă mổ trái tim của cháu ra chưa?” “Rồi”, Bác sĩ trả lời. “Ông đă t́m thấy cái ǵ?” em bé hỏi. “Tôi đă t́m thấy Chúa Giêsu ở đó”. Bác sĩ thành thật trả lời.
Trong cuộc hành tŕnh trên trần gian, Thiên Chúa luôn hiện diện để đồng hành với con người, nhưng nhiều khi con người không nhận ra Ngài. Thánh Luca diễn tả “Đang lúc họ tṛ chuyện và bàn tán, th́ chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ c̣n bị ngăn cản, không nhận ra Người”. Mắt họ bị ngăn cản bởi cái ǵ? Có lẽ bởi sự buồn rầu và tuyệt vọng v́ cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu. “Trước đây chúng tôi vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel”.
Theo sự giải thích của Wiliam Barlay, Emmau ở hướng tây của Giêrusalem. Hai môn đệ đi về Emmau vào lúc trời chiều. Aùnh mặt trời chiếu chói ḷa vào mắt họ nên họ đă không nhận ra Chúa Giêsu. Mang tính cách biểu tượng, người Kitô hữu luôn lên đường hướng về ánh b́nh minh với hy vọng, không bao giờ quay trở về phía hoàng hôn với bóng tối, buồn rầu, và thất vọng! Xưa kia, dân Israel đă du hành trong hoang địa đi về phía ánh b́nh minh để tiến vào đất hứa.
Điểm cốt yếu của câu chuyện là việc Chúa Giêsu đă làm họ nhận ra Ngài. Ngài đă cắt nghĩa cho họ hiểu ư nghĩa của khổ nạn: “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ h́nh như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” Và chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa đă được mạc khải trong Thánh Kinh: “Bắt đầu từ Môsê và các tiên tri, Người giải thích cho hai ông tất cả lời Thánh Kinh nói về Người”. Rồi họ ngồi vào bàn tiệc: “Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông”. Sau cùng họ đă nhận ra Người. Sự hiện diện của Ngài đă làm cho cuộc đời trở nên có ư nghĩa, đêm tối trở thành ánh sáng.
“Trong khi con người cố gắng t́m biết Thiên Chúa, nh́n thấy thánh nhan Ngài, và cảm nghiệm được Ngài hiện diện th́ Thiên Chúa hướng tới con người và cho con người nhận biết sự sống của Ngài. Công đồng Vatican II bàn rất rộng răi về tầm quan trọng của việc Thiên Chúa can thiệp vào thế giới. Công đồng giải thích rằng: “Qua mạc khải, Thiên Chúa muốn tỏ ḿnh ra và thông ban chính Ḿnh Ngài, cũng như những điều Ngài đă muốn ấn định từ muôn thuở về phần rỗi của con người”.
Qua lời Chúa và Bàn tiệc Thánh Thể, hai môn đệ đă t́m thấy ư nghĩa của biến cố. Họ đă quay trở lại Giêrusalem nơi cuộc khổ nạn và cái chết bi đát đă xảy ra và can đảm đối diện với nó bằng đức tin và niềm hy vọng.
Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể “làm thành một hành vi phụng tự duy nhất” của Giáo Hội. Người hướng dẫn ta qua lời Chúa được ghi chép trong Kinh Thánh, và trở nên nguồn sức mạnh nuôi dưỡng linh hồn ta trong Bí tích Thánh Thể.
V́ thế, thánh Giêrônimô đă nói: “Không hiểu biết Thánh Kinh là không hiểu biết Chúa Kitô”. Và Bí tích Thánh Thể làm cho mầu nhiệm của Chúa Kitô “trở nên hiện tại” cho chúng ta, để “đặt chúng ta trong niềm hiệp thông” với Thiên Chúa, hầu giúp chúng ta “sinh nhiều hoa trái”.
Đối với con mắt trần gian của chúng ta th́ chết thật là buồn thảm, thật là chán nản, v́ chết là hết, chết th́ không c̣n ǵ nữa trong trần gian này. Sự nghiệp của một người thường chấm dứt khi người ấy nhắm mắt xuôi tay. Giả như sự nghiệp của người ấy có vĩ đại, công tŕnh của người ấy có lớn lao và quan trọng, th́ may ra c̣n để lại ảnh hưởng nào đó cho những người kế tiếp. Nhưng khi chết như một tên trộm cướp, một tên đại gian ác, vỏn vẹn chỉ có dăm ba người thân thích dám có mặt lúc bị hành h́nh, th́ thực không c̣n ǵ mà tin tưởng nữa. Đó là trường hợp của Chúa Giêsu. Thập giá đă kết liễu cuộc đời đầy hứa hẹn của Chúa, thập giá đă chôn vùi mọi hy vọng và tin tưởng trong ḷng những người theo Chúa, mọi sự đă sụp đổ và tiêu tan hoàn toàn.
Đối với các môn đệ của Chúa Giêsu, sau khi Chúa chết, tâm trạng của các ông là như thế. Nhưng thực sự chưa hẳn thế, biết đâu Chúa đă sống lại thật như Ngài đă nhiều lần tuyên bố trước đây? Nhất là sáng sớm hôm nay, ngày Chúa nhật đầu tiên sau khi Chúa chết, mấy người phụ nữ đến viếng mộ Chúa, họ không thấy xác Chúa, và họ quả quyết Chúa đă hiện ra với họ. Đó là những điều đang làm cho các môn đệ của Chúa băn khoăn suy nghĩ. Cụ thể là hai môn đệ mà bài Tin Mừng kể lại, hai ông không hiểu ra sao nữa, thôi đành tạm rời Giêrusalem về quê cũ, rồi sau sẽ hay, nhưng trên đường về làng Emmau, Chúa Giêsu hiện ra cùng đồng hành với hai ông và tṛ chuyện với hai ông.
Nhưng hai ông chưa nhận ra đó là Chúa Giêsu Phục Sinh mà chỉ tưởng là một người bộ hành nào đó t́nh cờ gặp trên đường, nên các ông mời ghé lại quán bên đường dùng cơm và tiếp tục câu chuyện. Vào quán, khi dùng bữa, Chúa Giêsu phải dùng đến những cử chỉ quen thuộc, cầm lấy bánh, nói lời chúc tụng Thiên Chúa, bẻ ra, trao cho hai ông, lúc ấy hai ông mới nhận ra Ngài. Vừa nhận ra th́ Chúa Giêsu “tàng h́nh” đă biến mất. Các ông vui mừng quá, quay trở lại Giêrusalem để báo cho các bạn khác biết: Chúa Giêsu đă sống lại thật rồi.
Câu chuyện hai môn đệ đi về làng Emmau cũng là câu chuyện của hết thảy chúng ta, của mỗi người chúng ta. Chúng ta cũng đi theo Chúa Giêsu, cũng đă tin tưởng vào Ngài. Trong biết bao ngày tháng chúng ta đă nghe những lời Chúa giảng dạy, nhưng cũng như các môn đệ, nhiều khi chúng ta chán nản, v́ điều chúng ta trông mong, điều chúng ta cầu xin, mặc dầu rất thiết thân, nhưng cầu măi, trông hoài mà vẫn chưa được, có khi chúng ta cảm thấy thất vọng, Chúa Giêsu mà chúng ta tin tưởng, xem ra không thắng nổi cuộc thử thách: chúng ta đau, chúng ta chán, chúng ta buồn, chúng ta khổ, đủ thứ cả, thế mà nghe giảng, cầu nguyện cũng không làm cho chúng ta hy vọng ǵ hơn, giống như hai môn đệ nói: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel, nhưng việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi”, hai ông đợi đến ngày thứ ba th́ đâm ra thất vọng. Cũng thế, chúng ta đợi, chúng ta chờ, có khi đă hơn ba ngày, ba tuần, ba tháng, ba năm mà vẫn không thấy ǵ, chúng ta đâm ra thất vọng, chán nản, phàn nàn, kêu trách Chúa, thậm chí có người c̣n ra điều kiện với Chúa hoặc bỏ Chúa.
Nhưng thế nào chăng nữa chúng ta cũng hăy bắt chước hai môn đệ này, hai ông đă thưa với Chúa: “Xin Ngài ở lại với chúng tôi”. Dù hoàn cảnh ra sao, chúng ta cũng hăy xin Chúa: Xin Chúa luôn ở lại với chúng con trên đường đời đầy chông gai và gian khổ này. Xin Chúa ở lại với chúng con trong cái thế giới nhiều hận thù và ghen ghét, c̣n muốn đóng đinh Chúa nữa này. Xin Chúa lưu lại đây với chúng con, để dạy chúng con biết sống như những Kitô hữu “hồi sinh” và “biết chết” như những kẻ thừa kế của nước trời.
Chúng ta cần phải biết nhạy cảm ngạc nhiên trước mỗi bất ngờ Chúa gửi đến, để trước hết chúng ta cất tiếng ngợi khen cảm tạ Chúa, cũng như khám phá được điều Chúa muốn và rồi đến lượt chúng ta cũng trở thành những bất ngờ cho anh em, trong mục đích hướng ḷng họ về với Chúa là Thiên Chúa t́nh yêu. Và như vậy, trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, chúng ta không bao giờ chán nản, thất vọng, buồn phiền, v́ biết rằng Chúa luôn có những bất ngờ cho chúng ta, v́ Thiên Chúa là Đấng toàn năng và là Cha nhân từ thương yêu chúng ta vô cùng.
Các bạn sẽ làm ǵ khi một ước mơ bị tan vỡ? Con đường Emmau đă được khai mở và các khách hành hương đến Đất Thánh ngày nay đều có thể bước đi trên cũng con đường mà hai môn đệ xưa kia đă từng sải bước trên đó như trong bài Tin Mừng hôm nay thuật lại. Hầu hết chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được sự chia sẻ kinh nghiệm sống của các môn đệ xưa kia. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ sẵn sàng nói lên là chúng ta có được sự cảm nhận trong tinh thần và thể xác mà các môn đệ xưa đă có khi họ bước đi trên con đường với cơi ḷng tan vỡ giấc mộng.
Họ là những người đă từng chia sẻ giấc mộng vinh quang với các người khác cho đến lúc này; họ đă ở với Chúa Giêsu và cảm nhận tâm hồn được ấm áp khi có Ngài hiện diện bên cạnh. Tai họ đă từng được nghe lời Ngài giảng dạy, và mắt họ đă từng mục kích những phép lạ Ngài làm. Họ đă từng tin rằng những lời tiên tri xưa nay đă sắp trở thành hiện thực. Tâm hồn họ đă cảm thấy được sự chiến thắng vinh quang khi cùng với Chúa Giêsu bước vào Thành Thánh trong ngày Lễ Lá; đó là lúc tâm hồn họ tràn ngập niềm hân hoan. Tôi thiết nghĩ rằng khi các môn đệ được nghe dân chúng ca khen Chúa Giêsu th́ họ đă nghĩ rằng, "Chà chà, nếu Thầy hành động đúng đắn, đừng có đả động con tầu th́ đây là lúc thành công vinh quang để giải phóng dân tộc". Tuy vậy dĩ nhiên Chúa Giêsu đă lay động con tầu và "thổi bay" nó đi mất theo như kiểu nói của đám thanh niên thời nay. Có câu nói: Tên những nhân vật quan trọng trong lịch sử xưa không làm "đắm tầu" có thể được in trên phía sau của con tem. Tôi không biết điều ấy đúng hay sai, nhưng tôi biết chắc một điều là Chúa Giêsu là một người làm rung động con tầu cách tuyệt hảo. Ngài vào Đền Thờ và lật đổ bàn ghế những kẻ đổi tiền. Ngài làm cho những người nắm giữ chính quyền và những vị tôn giáo Lập Pháp phải tức giận -- và như thế giấc mơ bắt đầu bị tan vỡ. Trước ngày thứ Sáu đến không những Ngài biết chắc Ngài phải chết, tuy vậy Ngài c̣n muốn cuộc tử nạn của Ngài thật đau đớn trong con đường Thánh giá, đến độ chịu lấy án của một kẻ tử tội ghê tởm nhất. Nỗi đau đớn ấy quá độ đến nỗi Ngài đă phải kêu lên lúc gần chết: "Lạy Chúa Tôi! Lạy Thiên Chúa của Tôi! Sao Ngài đă bỏ tôi?" Khi mọi sự đă chấm dứt th́ các môn đệ rơi vào hố sâu thất vọng. Không c̣n câu nào trong Thánh Kinh có thể diễn tả nỗi chua cay, buồn chán hơn được nữa như câu mà người môn đệ đă nói trong bài Tin Mừng hôm nay: "Chúng tôi đă hy vọng Ngài là Đấng phải đến để giải phóng dân Israel!"
Sau giấc mơ đến than khóc. Chúng ta than khóc về những nỗi thất vọng, ngă thua, mặc cảm tội lỗi: "Chúng tôi hy vọng Ngài là Đấng giải thoát Israel"... "Chúng tôi hy vọng cuộc sống hôn nhân của chúng tôi sẽ mỹ măn"... "Chúng tôi hy vọng là nó sẽ học xong"... "Chúng tôi hy vọng là kết quả của nội soi sẽ tốt"... vân vân và vân vân!!! Nhưng Các bạn sẽ làm ǵ khi các giấc mộng bị tan vỡ?
Thường thường chúng ta mang theo cái cảm tưởng như một chú bé được ông bố khuyến khích cậu đặt câu hỏi. Vào buổi đẹp trời nọ, hai bố con đang đi dạo với nhau th́ cậu bé bất ngờ hỏi bố: "Ba à, ánh sáng đến từ đâu vậy ba?" Ông bố trả lời: "À, ba không biết. Ba cũng thường thắc mắc về vấn đề đó nữa". "Vậy rađa nó như thế nào hả ba?" "Ừ, ba cũng không biết nữa". Sau một hồi hỏi qua đáp lại, chú bé biết rằng ba nó cũng chẳng biết khoảng cách giữa trái đất và hỏa tinh cũng như chiều cao của Empire State Building là bao nhiêu, nên nó nói: "Con xin lỗi ba nhá. Con nghĩ là con không nên hỏi ba nhiều như vậy". Ông bố trả lời: "Ái dà, con có lỗi ǵ đâu; hơn nữa, nếu như con không hỏi th́ làm sao con biết thêm các điều được". Nhiều lúc trong cuộc sống chúng ta cũng đặt nhiều câu hỏi nhưng chẳng có câu trả lời, và nó làm cho chúng ta phải nhào lộn trong những cái thất vọng khó chịu, chán chường và mặc cảm; nhưng nó không dừng ở đó. Chúng ta có thể tụ họp như là những phần tử trong một cộng đoàn thờ phượng và xem ḿnh như những môn đệ của Chúa Giêsu xưa trên con đường vỡ mộng. Chúng ta sẽ thấy rằng Thiên Chúa đă dự bị sẵn cho họ những kinh nghiệm hữu ích cho cuộc đời họ ngay trong những mộng vàng tan nát đó. Họ sẽ cảm nghiệm sự Phục Sinh! Họ sẽ tiến tới sự hiểu biết rơ ràng hơn Thiên Chúa là ai, cách thức Ngài hành động, và Ngài đă làm ǵ cho thế giới trong Đức Giêsu Kitô. Bấy giờ họ chưa sẵn sàng, nhưng Thiên Chúa yêu họ đến nỗi Ngài đă dùng chính nỗi thất vọng và đắng cay của họ để sửa soạn cho họ có thể lănh nhận sự cảm nghiệm của niềm vui Phục Sinh.
Hai môn đệ trên đường Emmau chân bước mà hồn họ như lạc mất bởi sự chán chường và đau xót đến nỗi họ đă không nhận ra Chúa Giêsu khi Ngài đến bên họ. Suốt đoạn đường dài bảy cây số, Chúa Giêsu cùng đàm luận thế mà họ cũng chẳng biết là Ngài, chỉ thấy là một người xa lạ. Nếu họ là những người như thế sao có thể sẵn sàng hy hiến mạng sống ḿnh v́ Tin Mừng Phúc Âm? Ở đây có một điểm rất hay trong câu truyện này, đó là hai môn đệ kia c̣n lại trong họ sự quan tâm đến người khác để có thể thi hành phong tục xưa của người Trung Đông là lịch sự mời mọc người xa lạ. Khi họ đă đến Emmau và sắp sửa quẹo vào con đường về nhà ḿnh th́ tự động nói với Người Khách lạ rằng: "Xin ông hăy ngụ lại nhà chúng tôi v́ trời sắp tối rồi" (Lk 24:29). Ngay khi họ vừa mới làm cử chỉ tự nhiên, mỏng manh của sự lịch sự đó th́ t́nh trạng được thay đổi. Họ đă nhận ra Chúa Giêsu tựa như ánh sáng tỏa sáng cho họ vậy. Sự Phục Sinh đă đến nhưng chỉ có ban cho họ khi họ biết mở rộng tấm ḷng của họ ra đối với nhu cầu của người khác; và từ đó họ đă chỗi dậy và chạy. Câu chuyện thuật lại cho chúng ta biết rằng họ đă chạy đi suốt con đường trở lại Giêrusalem để loan báo cho các môn đệ khác. Nhưng họ vẫn không ngừng ở đó, như theo Thánh Luca người đă viết Phúc Âm này cùng với sách Tông Đồ Công Vụ, họ đă ra đi loan báo khắp vùng Địa Trung Hải, Đamascô, Antiôkia, Tiểu Á, Rôma và khắp nơi mà họ có thể để thi hành sứ vụ Chúa Kitô giao phó cho họ. Tuy vậy như đă nói trước các công việc đó, họ cần phải bị làm cho "trốn